Những rào cản trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam
Trang 1Những rào cản trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam
ThS Trịnh Thanh Huyền1
Thập kỷ đầu tiên trong thế kỷ 21, thị trường Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ trong thanh toán không dùng tiền mặt (KDTM) với sự ra đời của nhiều phương tiện và dịch vụ thanh toán mới, hiện đại, tiện ích đáp ứng được các nhu cầu của người sử dụng với phạm
vi tiếp cận mở rộng tới các đối tượng cá nhân và dân cư Từ nền tảng thanh toán hoàn toàn thủ công (mọi giao dịch thanh toán đều dựa trên cơ
sở chứng từ giấy) chuyển dần sang phương thức xử lý bán tự động sử dụng chứng từ điện tử, đến nay, các giao dịch thanh toán được xử lý điện
tử chiếm tỷ trọng khá lớn Thời gian xử lý hoàn tất một giao dịch được rút ngắn từ hàng tuần như trước đây xuống chỉ còn vài phút (đối với các khoản thanh toán khác hệ thống, khác địa bàn) và thậm chí chỉ trong vòng vài giây hoặc tức thời (đối với các khoản thanh toán trong cùng hệ thống hoặc cùng địa bàn)
Từ chỗ chỉ có khoảng 135.000 tài khoản vào năm 2000, đến cuối năm 2004, đã tăng gần 10 lần, lên 1.297.000 tài khoản và năm 2007 là trên 7 triệu tài khoản Tốc độ tăng trung bình mỗi năm từ 130% - 150%
về số tài khoản và 120% về số dư Theo Vụ Thanh toán - NHNN, hiện nay, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đã được thiết lập, kết nối
63 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố Từ chỗ chỉ có hơn 300 máy ATM (Automatic Teller Machine) và khoảng 7000 POS (Point of Sale) năm
2003, đến cuối tháng 5/2010, cả nước có gần 11.000 máy ATM, hơn 37.000 các điểm chấp nhận thẻ POS được lắp đặt, trên 24 triệu thẻ với 48
tổ chức phát hành thẻ và hơn 190 thương hiệu thẻ (Bảng 1a, 1b) Hệ thống ATM, POS đã được kết nối thành một hệ thống trong đó 3 liên minh thẻ Banknet, Smartlink, VNBC đã kết nối liên thông 10 thành viên
là những NHTM có số lượng thẻ phát hành chiếm 87% tổng số thẻ phát hành của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và 75% số lượng ATM trên toàn quốc1
Bảng 1a
1 Trường Đào tạo và PTNNL VietinBank
Trang 20 2000
4000
6000
8000
10000
12000
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 5/2010
301 843
1.777 2.154
3.820
7.670
8.800
11000
Số lượng máy ATM
Bảng 1b
0 5000
10000
15000
20000
25000
30000
35000
40000
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 5/2010
7.040 8.750
11.000 14.000
22.959 24.912
28.300 37000
Số lượng POS
Nguồn: Báo cáo hàng năm của NHNN và Hiệp hội thẻ ngân hàng
Chiếc thẻ ngân hàng giờ đã mang lại khá nhiều tiện ích khác như chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ tại POS, trả phí định kỳ với các khoản thanh toán thường xuyên (tiền điện, tiền nước, điện thoại, internet), mua hàng trực tuyến tại các siêu thị online, v.v Ngoài dịch vụ thẻ, các ngân hàng cũng chú trọng tới các loại sản phẩm, dịch vụ hiện đại, tiện lợi hơn như ngân hàng điện tử, ngân hàng tại nhà, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động, ví điện tử Các tổ chức không phải là đơn vị tín dụng chuyên cung cấp các giải pháp trung gian, hỗ trợ dịch vụ thanh toán như MobiVi, VietUnion, M_Service đã được hình thành và ngày càng
có sự liên kết chặt chẽ với ngân hàng, công ty viễn thông
Trang 3Tuy nhiên, việc mở rộng và sử dụng tài khoản thanh toán qua ngân hàng trong khu vực dân cư vẫn còn ở mức khiêm tốn Tỷ trọng tiền mặt
so với tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần từ mức 23,7% năm 2001 xuống còn 19,55% năm 2008 nhưng vẫn còn ở mức cao so với thế giới (Bảng 2) Tỷ trọng này ở các nước phát triển như Thụy Điển là 0,7%, Nauy là 1%, còn ở các nước đang phát triển như Trung Quốc cũng chỉ ở mức 9,7%, còn Thái Lan là 6,3%
Bảng 2: Tỷ trọng thanh toán trong nền kinh tế
Nguồn: Báo cáo hàng năm của NHNN
Với số dân khoảng 85 triệu người, 65% dân số có độ tuổi trẻ (dưới 30) và số người dân Việt Nam sử dụng internet là 24,3 triệu người2 nhưng tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư Đánh giá này thể hiện qua khảo sát thực trạng thanh toán năm 2003, kết quả cho thấy: tại 750 doanh nghiệp Việt Nam ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam thì việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán diễn ra như sau3:
- Các doanh nghiệp tư nhân có trên 500 công nhân có khoảng 63%
số giao dịch của họ được tiến hành qua hệ thống ngân hàng;
- Những doanh nghiệp có ít hơn 25 công nhân thì tỷ lệ này là 47%;
- Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước mới chỉ có hơn 80% giao dịch được thực hiện qua ngân hàng;
Trang 4- Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân đều sử dụng 100% tiền mặt để trả lương;
- 82% số hộ kinh doanh vẫn chi trả hàng hoá bằng tiền mặt;
- 72% số hộ kinh doanh tư nhân nộp thuế bằng tiền mặt
Những con số này cho thấy, những biến chuyển trong hoạt động thanh toán ở Việt Nam dường như vẫn chưa bắt kịp với những biến động nhanh chóng của toàn bộ nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng Vậy đâu là những rào cản đối với sự phát triển thanh toán KDTM ở Việt Nam
Thứ nhất, thói quen sử dụng tiền mặt của người dân.
Sau đổi mới ngành Ngân hàng, toàn bộ những yêu cầu quản lý tiền mặt áp dụng trước đó được loại bỏ Tiền mặt trở thành một công cụ thanh toán không hạn chế về đối tượng và phạm vi sử dụng Hầu hết chi phí liên quan đến tiền mặt trong lưu thông như in ấn, phát hành, thu huỷ, vận chuyển, bảo quản, an ninh là chi phí xã hội và do Nhà nước phải chịu Cá nhân người thanh toán chỉ phải chịu phần chi phí nhỏ trong đó (kiểm đếm, vận chuyển), trong khi đó, tiền mặt có điểm ưu việt rất lớn là thanh toán tức thời và vô danh, thủ tục đơn giản Vì vậy, tiền mặt đã trở thành một công cụ rất được ưa chuộng trong thanh toán và từ lâu đã trở thành thói quen khó thay đổi của người tiêu dùng và nhiều doanh nghiệp Việt Nam Đây là lực cản lớn trong việc phát triển thanh toán KDTM
Đến nay, tỷ lệ đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản là 45,5%, nhưng thực tế là có không ít tài khoản
mà thời gian số dư tồn tại trên tài khoản chỉ tính bằng giờ không chỉ bởi
họ cần rút tiền để tiêu mà vẫn còn tâm lý “để tiền trong tài khoản ngân hàng thì không yên tâm” Còn không ít người dân cho rằng, cứ phải tiền trong tay mới là tiền của mình, còn để trong tài khoản thì không biết thế nào Trong mua sắm cũng vậy, phần đông người mua và người bán vẫn quen thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại khi mua hàng qua mạng có thể sẽ mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạt như mong muốn hoặc thậm chí là không nhận được hàng hoá mặc dù tiền đã được chuyển khoản, trong khi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam vẫn chưa thực sự hiệu quả Thói quen này cộng với tâm lý ngại công khai hoá thu nhập, doanh thu đang cản trở, hạn chế phát triển thanh toán KDTM ở Việt Nam
Ngoài ra, niềm tin của người dân vào chiếc máy ATM cũng còn thấp sau không ít những vụ việc mất an ninh, giao dịch lừa đảo nên người dân cũng ngại thực hiện các giao dịch trên máy ATM, mà khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt4 và cũng vì thế, chiếc máy ATM ở Việt Nam được gọi là máy rút tiền tự động trong khi bản chất của ATM
là máy giao dịch tự động
Thứ hai, những bất cập trong hành lang pháp lý
Trang 5Như trên đã phân tích, sau khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế nói chung, đổi mới hoạt động ngân hàng nói riêng thì tất cả những quy định về quản lý tiền mặt đã từng được sử dụng trước đó đều bị loại bỏ hoặc các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành nhưng không đi vào cuộc sống Tiền mặt nghiễm nhiên trở thành một công cụ thanh toán không hạn chế về đối tượng và phạm vi sử dụng Do vậy, tình trạng nền kinh tế tiền mặt ở Việt Nam đã kéo dài trong nhiều năm là do không có một hành lang pháp lý ngay từ đầu; Nhà nước không quản lý và cũng không kiểm soát việc thanh toán giữa các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
và giữa các tầng lớp dân cư với nhau, vô hình chung đã tạo cho kinh tế
“ngầm” phát triển
Thời gian qua, mặc dù hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán
đã cải thiện khá nhiều, song, vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thanh toán điện tử và thương mại điện tử Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua ngày 19/11/2005 nhưng vẫn chưa đủ cơ sở để các ngân hàng tổ chức triển khai các kênh giao dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trong ngành Ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ giao dịch điện tử, chứng từ điện tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan (như Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, ) Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực thanh toán vẫn còn những điểm cần phải tiếp tục được chỉnh sửa, thay thế để có thể phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu của người sử dụng, kể cả các loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không phải là ngân hàng, các tổ chức công nghệ thông tin cung ứng những sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho các ngân hàng, các tổ chức làm dịch vụ thanh toán, chẳng hạn như những công ty cung cấp giải pháp công nghệ qua mạng Internet, các công ty kinh doanh dịch
vụ thẻ, các tổ chức chuyên làm dịch vụ thanh toán bù trừ
Gần đây, để đẩy mạnh hoạt động thanh toán KDTM, Chính phủ đã
có văn bản chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét xây dựng phương án miễn giảm thuế và phí cho những trường hợp thanh toán qua thẻ tín dụng Song, vấn đề đặt ra là nên miễn giảm những loại thuế nào và giảm bao nhiêu để cả người tiêu dùng và doanh nghiệp được hưởng lợi khi giao dịch qua thẻ ATM
Hệ thống pháp lý bảo vệ thông tin cá nhân vẫn còn thiếu những quy định, chế tài cụ thể về bảo vệ đối tượng sử dụng thương mại điện tử (TMĐT) Nhìn chung, việc phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát, đầu tư cho TMĐT ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào tầm nhìn, quan điểm của lãnh đạo doanh nghiệp, có nhiều cá nhân, doanh nghiệp thành lập những website TMĐT để giành vị thế tiên phong, tuy nhiên, tình hình chung là các website này chưa thực sự được marketing tốt và phát triển tốt để mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể Hơn nữa, thực
tế hiện nay, có những website bán hàng trực tuyến khá uy tín và hoạt
Trang 6động mua bán trên mạng cũng khá phát triển nhưng vẫn chỉ mang tính tự phát, manh mún do chưa có những chế tài để xử lý đối với các hành vi gian lận khi tham gia TMĐT, khi mua bán hàng hóa qua mạng, nên khi xảy ra tranh chấp, gian lận, người mua là người phải chịu thiệt
Thứ ba, những hạn chế của các sản phẩm dịch vụ được cung cấp
Bên cạnh những bất cập về hệ thống pháp lý và thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, kinh phí để thúc đẩy thanh toán KDTM cũng là vấn đề không nhỏ đối với các ngân hàng Thực tế cho thấy, đầu tư một máy ATM hiện quá tốn kém mà phí bù đắp lại quá ít Đơn cử, với mỗi chiếc máy ATM, ngoài chi phí lắp đặt, duy trì thiết bị, thuê địa điểm thuận lợi, chi phí an ninh và số tiền nạp trong máy, ngân hàng phải dự trữ một lượng vốn tiếp với tổng số tiền lên tới 500 triệu đồng/máy Số tiền này sau khi nhân với tổng số máy ATM sẽ là không nhỏ và đây lại là
số vốn không sinh lời cho ngân hàng, vì thế, có thể gây khó khăn cho vốn lưu động của ngân hàng, đặc biệt trong những thời điểm ngân hàng đang
“khát vốn” Chính vì lý do này, nhiều chi nhánh hiện không dám nhận triển khai Auto-bank mà lại trả về trung tâm thẻ của ngân hàng
Chất lượng, tiện ích và tính đa dạng về dịch vụ thanh toán KDTM cũng chưa phong phú, chưa đáp ứng nhu cầu của nhiều loại đối tượng sử dụng Các phương tiện thanh toán KDTM chưa đạt được tính tiện ích và phạm vi thanh toán để có thể thay thế cho tiền mặt Phương thức giao dịch chủ yếu tiếp xúc trực tiếp và mặt đối mặt Để được nhận một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, các chủ thể tham gia thường phải đến các điểm giao dịch của ngân hàng Phương thức giao dịch từ xa, dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại như giao dịch qua internet, mobile, homebanking chưa phát triển hoặc mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp Tính cạnh tranh trên thị trường dịch vụ vẫn ở mức thô sơ và phát triển dưới mức tiềm năng Cạnh tranh bằng thương hiệu, chất lượng dịch vụ chưa phổ biến Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, thay vì sáng tạo
ra sản phẩm mới hoặc tạo ra giá trị gia tăng trên sản phẩm cùng loại trên thị trường lại tập trung vào yếu tố giá cả nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh Điều đó không chỉ làm tổn hại chính lợi nhuận của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán mà còn tổn hại tới sự gắn kết chính bản thân
họ và khách hàng Hơn nữa, khi cạnh tranh bằng giá, các tổ chức cung ứng dịch vụ sẽ tìm mọi cách giảm giá thay vì phải tăng chất lượng dịch
vụ và cải tiến phương thức phục vụ, tạo ra sự khác biệt về sản phẩm dịch
vụ và điều này sẽ hạn chế sự phát triển thị trường này Khi khách hàng không nhận thấy sự khác nhau, họ sẽ dễ dàng từ bỏ một sản phẩm dịch vụ
để chuyển sang sản phẩm khác chỉ đơn giản vì phí rẻ hơn, và như vậy, các tổ chức cung ứng sẽ rất khó duy trì được cơ sở khách hàng của mình
Thứ tư, những hạn chế về hạ tầng kỹ thuật
Một trở ngại không nhỏ nữa đối với quá trình thúc đẩy thanh toán KDTM là sự thiếu thống nhất trong hệ thống các thiết bị tiếp nhận thẻ tại
Trang 7Việt Nam Người dùng thẻ thanh toán tại Việt Nam gặp khó khăn do hệ thống chấp nhận thẻ của các ngân hàng chưa có sự liên thông đầy đủ Thực tế hiện nay ở một số trung tâm mua sắm và siêu thị có trang bị POS nhưng lượng khách thanh toán qua thẻ chỉ đếm trên đầu ngón tay5 bởi các máy POS này chỉ chấp nhận thẻ VISA và Master chứ chưa dùng được cho các thẻ nội địa, vì thế gây bất tiện cho người dùng cũng như lãng phí trong đầu tư Có một thực tế những năm trước đây, cơ sở vật chất của nhiều NHTM còn yếu kém do không có nhiều vốn để đầu tư trang bị máy móc thiết bị và công nghệ nên khi thực hiện công tác thanh toán giữa các
tổ chức kinh tế thường chậm trễ, ảnh hưởng đến chu chuyển vốn của nền kinh tế nói chung và từng doanh nghiệp, cá nhân nói riêng, vì vậy, họ lựa chọn phương thức thanh toán bằng tiền mặt
Thời gian gần đây, trước sự đòi hỏi của thị trường và cạnh tranh trong dịch vụ ngân hàng, tình hình đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng đã được cải thiện Tuy nhiên, vì trong phát triển hoạt động thanh toán, vốn đầu tư đòi hỏi rất lớn mà thời gian thu hồi lại lâu mà hiệu quả đầu tư cũng chưa đạt hiệu quả như mong muốn, nên thường các ngân hàng lớn mới có khả năng tập trung vốn đầu tư trang thiết bị phục vụ hoạt động thanh toán
Trước hết, hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán phát triển chưa đồng bộ, mới tập trung ở các đô thị, chưa vươn đến các vùng nông thôn, miền núi; hệ thống POS chưa phát triển và thiếu hệ thống chuyển mạch, dịch vụ cho hệ thống ATM còn nghèo nàn, vẫn chủ yếu là để rút tiền mặt Số lượng máy ATM tuy có tăng, nhưng phân bổ chủ yếu ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp Vẫn còn tình trạng tại các trung tâm thương mại hay siêu thị lớn, khách hàng có trong tay thẻ tín dụng nhưng thay vì sử dụng thẻ tín dụng, thì lại ra các máy ATM rút tiền
để thanh toán bởi họ chưa nhận thấy cái lợi của việc thanh toán qua thẻ tín dụng Hay tình trạng một đơn vị chấp nhận thẻ cùng tồn tại nhiều thiết
bị POS của các ngân hàng khác nhau để phục vụ cho các giao dịch bằng thẻ, gây lãng phí trong đầu tư của các ngân hàng và khiến đơn vị chấp nhận thẻ cũng chưa mặn mà với việc thanh toán bằng thẻ Điều này thu hẹp đáng kể phạm vi sử dụng các phương tiện thanh toán KDTM Việc giao dịch thanh toán giữa các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh
cá thể và cá nhân ngay tại các đô thị vẫn còn phổ biến chuyện dùng tiền mặt Trong khi đó, việc phổ biến, hướng dẫn, quảng bá về công dụng, tính tiện lợi và cách sử dụng các phương tiện thanh toán KDTM của các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chưa đầy đủ, kịp thời tới công chúng
Thứ năm, công tác thông tin tuyên truyền chưa được quan tâm, chú trọng và định hướng đúng đắn
Những mục tiêu chiến lược, định hướng và các chính sách lớn để phát triển hoạt động thanh toán chưa được công bố đầy đủ cho công
Trang 8chúng Vì vậy, không chỉ người dân mà thậm chí nhiều doanh nghiệp còn rất ít hiểu biết hoặc hiểu biết mơ hồ về các dịch vụ thanh toán và phương tiện thanh toán KDTM Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn phản ánh thiên lệch, khai thác những yếu điểm, lỗi kỹ thuật hoặc những yếu tố tiêu cực mang tính cá biệt để đưa lên công luận, khiến cho thông tin đến với những người tiêu dùng thường một chiều, thậm chí sai lạc, gây mất lòng tin vào một công cụ thanh toán nào đó ngay từ khi mới bắt đầu phát triển
Như vậy, có thể thấy rằng, phát triển thanh toán KDTM không chỉ
là vấn đề của ngành Ngân hàng bởi thực chất ngân hàng chỉ là tổ chức trung gian Thanh toán KDTM chỉ có thể thực hiện được khi các chủ thể thanh toán mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng Việc mở tài khoản này lại phụ thuộc vào thu nhập và nhu cầu thanh toán của chính chủ thể thanh toán nhưng nhu cầu này, thói quen này chỉ có được khi các chủ thể nhìn thấy những tiện ích, những thuận lợi trong thanh toán KDTM mà điều này có được hay không lại nhờ vào hệ thống ngân hàng Tất nhiên, chỉ riêng những nỗ lực của hệ thống ngân hàng thì không thể đẩy nhanh thanh toán KDTM trong nền kinh tế mà cần và rất cần có hỗ trợ của Chính phủ để có những chủ trương quyết liệt hơn, những chủ trương mang tính chất bắt buộc phải triển khai đồng bộ trên diện rộng tại tất cả các tổ chức và phải giám sát chặt chẽ việc thực hiện Đồng thời, cũng cần áp dụng các mức phí ưu đãi đối với các tổ chức sử dụng hình thức thanh toán KDTM nhằm tạo ra sự chênh lệch với nơi sử dụng tiền mặt Bên cạnh đó, cần tổ chức tuyên truyền rộng rãi lợi ích của thanh toán KDTM là nhiệm vụ không chỉ một mình các ngân hàng mà vấn đề này là công tác chung của các Bộ, ngành, cộng đồng xã hội, doanh nghiệp đang
tổ chức bán hàng điện tử thanh toán online Có như vậy mới thay đổi được thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, mới thay đổi được tư duy
“rút tiền mặt từ ATM để thanh toán tiền hàng” và từng bước xây dựng văn hoá thanh toán KDTM trong quảng đại dân chúng
chuyên cung cấp dịch vụ giám sát hoạt động của website, máy chủ cho tổ chức, doanh nghiệp - Việt Nam đứng thứ 20 trong danh sách các quốc gia
có số người sử dụng internet nhiều nhất
Trang 9Báo cáo 6 tháng đầu năm của NHNN
2 Theo Báo cáo “Hiện trạng internet toàn cầu” do Pingdom - hãng
3 TS Võ Minh Tâm: Làm thế nào để mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán qua ngân hàng?
4 Nguồn: Taåp chñ Ngên haâng, söë 19, thaáng 10/2009, trang 6.
5 “Theo quan sát tại siêu thị Pico Plaza (Hai Bà Trưng), phóng viên nhận thấy, mặc dù siêu thị đã lắp tới 3 máy POS tại các quầy thanh toán và lượng khách đến mua hàng khá đông nhưng số lượng khách thanh toán qua thẻ lại rất ít, ngày nhiều nhất cũng chỉ hơn 10 khách hàng, có ngày không có khách hàng nào sử dụng” - Thời báo Ngân hàng số ra ngày 1/9/2010, trang 12.