Từ điển Bách khoa Việt Nam Tập I, Hà Nội, 1995 quan niệm "chính trị" là: Toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản độngcho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ biến mất vào cuối thế kỷ XX và chậm nhất
là đầu thế kỷ XXI Chủ nghĩa t bản sẽ tồn tại vĩnh hằng, chiến tranh lạnhchấm dứt thì thế giới đi vào kỷ nguyên hòa bình, nạn binh đao chấm dứt,các dân tộc đợc sống trong bình yên, hạnh phúc Nhng điều đó đã khôngxảy ra Từ khi thế giới trở thành thế giới một siêu cờng, siêu cờng ấy là Mỹthì nền hòa bình thế giới lại bị đe dọa bị xâm phạm hơn bao giờ hết Mỹlàm ma làm gió, ban ơn, sai khiến, trừng trị các quốc gia dân tộc Các nớc tbản vẫn cứ thi nhau sản xuất và buôn bán vũ khí Chiến tranh cục bộ giữcác dân tộc nhỏ yếu, giữa các sắc tộc, các tôn giáo liên tục nổ ra hết nơi này
đến nơi khác trên thế giới với quy mô càng rộng lớn và với tính chất quyếtliệt hơn Bớc sang thế kỷ XXI, ngay trong năm đầu tiên, cả thế giới t bảnhoảng loạn sau vụ khủng bố vào nớc Mỹ (11/9/2001) Sự mất ổn định chínhtrị, xã hội đã đến gõ cửa thánh đờng thiêng liêng nhất, đợc bảo vệ nghiêmngặt nhất của thế giới t bản Sự mất ổn định chính trị, ổn định xã hội đâuchỉ là việc riêng của các nớc nghèo, bị phụ thuộc mà nay hậu quả của mất
ổn định chính trị, xã hội cũng đã làm cho những ngời giàu phải khóc Vìvậy vấn đè ổn định chính trị - xã hội trở thành một vấn đề nóng bỏng củatoàn cầu, trở thành:
"Mục tiêu của hầu hết các nớc trên thế giới Bởi vì nhân loại tiến bộ
đã nhận ra rằng nếu không có ổn định thì không làm đợc bất cứ việc gì cótầm cỡ quốc gia cho dù đó là việc bình thờng, dễ dàng nhất" [ tr 22]
ở nớc ta, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề ổn định chính trị xã hội Ngay từ những ngày đầu đổi mới đất nớc (1986), Đảng ta đã đề ranhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội Đảng ta xác định rõ có ổn
Trang 2-định chính trị - xã hội mới có điều kiện để ổn -định và phát triển kinh tế - xãhội Suốc 15 năm đổi mới đất nớc, không một phút nào Đảng ta lơi lỏngnhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội Do vậy công cuộc đổi mới của
ta đã có những bớc đi rất vững chắc, đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng,thắng lợi sau to lớn hơn thắng lợi trớc Sau 15 năm đổi mới đất nớc, tìnhhình chính trị - xã hội của nớc ta: "Cơ bản ổn định, quốc phòng và an ninh
đợc tăng cờng" [ tr 70]
Sau cuộc khủng hoảng tài chính ở châu á và gần đầy sau sự kiện11/9/2001, nớc ta đợc đánh giá là một trong những nớc ổn định nhất trongkhu vực và trên thế giới Nhng hiện nay nớc ta cũng còn có những nhân tốtiềm ẩn gây ra mất ổn định chính trị - xã hội Nớc ta nằm trong khu vực
Đông Nam á, châu á Thái Bình Dơng, một khu vực có nhiều nhân tố tiềm
ẩn gây mất ổn định Sau 11/9/2001, khu vực này có nhiều dấu hiệu mất ổn
định ở những năm tới ở trong nớc, bốn nguy cơ ngày càng có nhiều tác
động tiêu cực có thể gây ra mất ổn định chính trị - xã hội Nguy cơ thamnhũng đang là một mối đe dọa đến việc sống còn của chế độ xã hội chủnghĩa ở nớc ta:
"Trong lịch sử thế giới xa nay không ít trờng hợp một nhà nớc, mộtchế độ mặc dù có quá khứ vẻ vang nhng sụp đổ mau chóng một khi thoáihóa tham nhũng, quan liêu, xa rời nhân dân, đánh mất niềm tin và sự ủng
hộ của nhân dân" [ tr 12]
Xã hội nớc ta hiện nay cũng nổi lên một số vấn đề xã hội nổi cộm,bức xúc mà nếu không ngăn chặn kịp thời cũng sẽ gây ra những hậu quả xãhội khôn lờng Vì vây, việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, hơn bao giờhết, lại là vấn đề đợc đặt lên hàng đầu, là nhiệm vụ sinh tử mà toàn Đảng,toàn dân phải tập trung giải quyết
Trong lý luận cũng nh trên thực tiễn hiện nay, việc nhận thức "ổn
định chính trị - xã hội" và hành động nhằm thực hiện giữ vững ổn định
Trang 3chính trị - xã hội cũng cha đợc thống nhất Để thực hiện nhiệm vụ hàng
đầu, sinh tử này đòi hỏi phải có sự thống nhất nhận thức về "ổn định chínhtrị - xã hội", từ đó có sự thống nhất hành động nhằm thực hiện thành côngnhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội Đây là một yêu cầu kháchquan và cấp thiết
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thốngvấn đề "ổn định chính trị - xã hội" ở nớc ta là việc làm cấp thiết cả về lýluận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài này
Trớc đây và hiện nay đã có nhiều công trình khoa học cấp Nhà nớc,cấp Bộ, những luận án PTS nghiên cứu vấn đề có liên quan ít nhiều với vấn
đề "chính trị - xã hội"
Đề tài cấp Nhà nề tài cấp Nhà nớc: KX05: "Đổi mới và tăng cờng hệ thống chính
trị của nớc ta trong giai đoạn mới" Đề tài này đã đợc nghiệm thu và đợcxuất bản thành sách: "Đổi mới và tăng cờng hệ thống chính trị của nớc tatrong giai đoạn mới" do tập thể tác giả GS Nguyễn Đức Bình, GS TrầnNgọc Hiên, GS Đoàn Trọng Truyến , H Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1999, 168 trang
Các đề tài cấp bộ:
1 "Khái lợc lịch sử t tởng XHCN, ý nghĩa lý luận và thực tiễn đốivới công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay" Chủ nhiệm đề tài: GS.TS TrịnhQuốc Tuấn
Viện chủ nghĩa xã hội khoa học Thời gian thực hiện 1992 - 1993
2 "Những bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của Liên Xô trớc đây Triển vọng của CNXH và phong trào Cộng sản Quốc tế" Chủ nhiệm đề tài:
TS Nguyễn Xuân Sơn, Viện Quan hệ Quốc tế Thời gian thực hiện: 1992 1993
Trang 4-3 "Đảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ratrong công cuộc đổi mới, chỉnh đốn Đảng ta" Chủ nhiệm đề tài: GS ĐậuThế Biểu Viện Khoa học chính trị Thời gian thực hiện 1993 - 1994.
Các tác phẩm
1 Đào Duy Tùng: Quá trình hình thành con đờng đi lên CNXH ởViệt Nam, Nxb chính trị - quốc gia, Hà Nội, 1994
2 Trần Xuân Trờng: Định hớng XHCN ở Việt Nam, một số vấn đề
lý luận cấp bách, Nxb Chính trị - quốc gia, Hà Nội, 1996
3 Nguyễn Phú Trọng: Về định hớng XHCN và con đờng đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị - quốc gia, Hà Nội, 2001
4 Nguyễn Đức Bách: Một số vấn đề về định hớng XHCN ở ViệtNam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998
5 Nguyễn Duy Quý: Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội vàcon đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị - quốc gia, HàNội, 1998
Ngoài ra, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế Đảnglãnh đạo, Nhà nớc quản lý, nhân dân làm chủ, vấn đề Nhà nớc và pháp luật,vấn đề cải cách hành chính Cũng có rất nhiều những bài báo trong các tạpchí những lý luận, trên báo Nhân dân bàn về các vấn đề chính trị, dân chủ,công bằng xã hội, tiêu cực xã hội, xóa đói giảm nghèo, những vấn đề vănhóa, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa dân tộc, vấn đề tiếp thu nềnvăn minh nhân loại Những công trình trên cũng có liên quan đến vấn đề ổn
định chính trị - xã hội nhng không đặt ra mục đích nghiên cứu riêng về vấn
đề này dới góc độ CNXH khoa học
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
a Mục đích:
Nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề ổn định chính trị xã hội ở nớc ta cả về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đa ra một số giải pháp
Trang 5-để giữ vững ổn định chính trị - xã hội nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH trongcông cuộc đổi mới đất nớc ta theo định hớng XHCN.
b Nhiệm vụ của luận án là:
1 Làm rõ các khái niệm cơ bản dới góc độ chuyên ngànhCNCSKH: "Chính trị", "Xã hội", "Chính trị - xã hội", "ổn định chính trị - xãhội" trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN ở nớc ta
2 Phân tích rõ những thành tựu về ổn định chính trị - xã hội (t ơngquan với kinh tế ); đồng thời khảo sát, phân tích những mặt hạn chế, bấtcập, những vấn đề chính trị - xã hội bức xúc đang hoặc có khả năng nảysinh
3 Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục ổn định
về chính trị - xã hội ở nớc ta trong quá trình CNH, HĐH đất nớc những nămtới
4 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trình bày một cách có hệ thống quan niệm về: "Chính trị - xãhội", "ổn định chính trị - xã hội", nêu ra vai trò ổn định chính trị - xã hộitrong sự phát triển của xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm về ổn địnhchính trị - xã hội
- Phân tích thực trạng tình hình chính trị - xã hội ở nớc ta hiện nay,phân tích thực trạng ổn định chính trị - xã hội theo định hớng XHCN ở nớc
ta đồng thời nêu ra một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi
5 Cơ sở phơng pháp luận của luận án
- Luận án dựa trên những phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, lấy t tởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềcách mạng XHCN và xã hội CNXH ở Việt Nam; những quan điểm đổi mớicủa Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay làm cơ sở lý luận
Trang 6- Sử dụng các tài liệu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến ổn
định chính trị - xã hội (cả tài liệu Quốc tế và trong nớc); sử dụng phơngpháp thống kê xã hội
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,mục lục, nội dung luận án gồm 3 chơng
Trang 7Chơng 1
ổn định chính trị - xã hội
và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội
1.1 Quan niệm về ổn định chính trị - xã hội
1.1.1 Quan niệm về chính trị - xã hội
Chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh đều có quan niệm vềchính trị Đó là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nớc ViệtNam vận dụng sáng tạo và đúng đắn trong việc nhận thức cũng nh tổ chứcthực tiễn về chính trị đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng của nớc ta đi đếnthắng lợi
Nhng để hiểu rõ hơn quan niệm về chính trị trong thời đại ngày nay,chúng ta cũng cần phải biết rõ cả những quan niệm về chính trị từ nhữngnguồn t liệu khác nhau
Theo từ điển Anh: "Engglish Language DicTionary (Lonđon, 1990)chính trị (Politics) hay "chính thể" (Polity, Politi) là một xã hội có tổ chức,nổi bật là tổ chức Nhà nớc mà do đó mọi ngời phải hoạt động trong một trật
Trang 8hay xã hội, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giữa cácgiai cấp, các dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhâncủa nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nớc Cáiquan trọng nhất trong chính trị, theo Lênin, là tổ chức chínhquyền nhà nớc; chính trị là sự tham gia vào các công việc nhà n-
ớc, định hớng nhà nớc, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dunghoạt động của nhà nớc Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng có tínhchất chính trị, nếu nh việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếpgắn với lợi ích giai cấp, gắn với vấn đề quyền lực [ , tr 507]
Từ điển Bách khoa Việt Nam (Tập I, Hà Nội, 1995) quan niệm
"chính trị" là:
Toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan
hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốtlõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyềnlực nhà nớc, sự tham gia vào các công việc nhà nớc, sự xác địnhhình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nớc []
Các t liệu trên đều nhấn mạnh yếu tố nhà nớc và vai trò của nó trongquan niệm về chính trị Nhng ta cũng thấy rõ sự khác nhau cơ bản giữaquan điểm t sản và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính trị Quan
điểm t sản không đề cập đến bản chất giai cấp của chính trị Còn chủ nghĩaMác - Lênin coi quan hệ giai cấp, bản chất giai cấp là cái "gốc" của chínhtrị
Trong lịch sử phát triển của xã hội, "chính trị" đã từng là lĩnh vựchoạt động, là công cụ đặc quyền của tầng lớp "bên trên" thậm chí là mộtngời "thiên tử" bắt những ngời bị trị phải thuần phục, phải phục vụ cho lợiích của ngời thống trị Platôn, nhà Triết học cổ đại Hy lạp, trong tác phẩm
"chính trị" đã xem chính trị là nghệ thuật cung đình liên kết trực tiếp các
Trang 9chuẩn mực của ngời anh hùng và sự thông minh, sự liên kết đó đợc thựchiện bằng sự thống nhất t tởng và tinh thần hữu ái Ông còn cho rằng chínhtrị là sự thống trị của trí tuệ, là quyền tối thợng của sự thông thái Nếu caitrị bằng trí tuệ, thuyết phục bằng lý trí là chính trị đích thực Theo Platôn,chính trị phải là sự chuyên chế Tất cả các cá nhân phải phục từng quyền
uy Một nền dân chủ chính trị với tự do không hạn chế sẽ bị xâu xé từ nhiềuhớng và cuối cùng sẽ dẫn đến độc tài chính trị A-ri-xtốt (384 - 322 TCN)cho rằng nếu cai trị vì lợi ích cộng đồng thì đó là nền chính trị chân thật,phổ biến, khách quan Còn nếu cai trị vì lợi ích cá nhân ngời cầm quyền sẽlàm cho nhà nớc biến chất Ông còn nêu ra t tởng: Chính trị là khoa họclãnh đạo con ngời, là khoa học làm chủ, là khoa học kiến trúc xã hội củamọi công dân
Sau này, trong giới học giả t sản, đã có thời kỳ xem "chính trị" làmột nhà hát Trong nhà hát chính trị ấy, mỗi ngời dù vô tình hay cố ý đều
đóng một vai trò nhất định nhng sự tồn tại của nhà hát lại không phụ thuộcvào cá nhân ấy Mỗi công dân đều có quan tâm thiết thân tới xu hớng vận
động và phát triển của nhà hát chính trị Trong nhà hát chính trị, mặc dùvẫn có những đạo diễn, song lại có nhiều "ngẫu hứng" nào cũng hoạt độngdới khẩu hiệu "phục vụ nhân dân" Bất cứ hoạt động chính trị nào cũngkhông thể đáp ứng nh nhau đối với nhu cầu của mọi tầng lớp xã hội, củamọi công dân
Chỉ đến chủ nghĩa Mác - Lênin, quan niệm về "chính trị" mới đợcxem xét đúng đắn V.I.Lênin đòi hỏi phải xây dựng một "lý luận chính trịduy vật" quan điểm duy vật lịch sử về chính trị, đòi hỏi cách tiếp cận chínhtrị phải từ học thuyết kinh tế - xã hội Nếu thoát ly khỏi cách tiếp cận này sẽdẫn đến quan niệm duy tâm về "chính trị" Với cách tiếp cận ấy, "chính trị"không phải là hiện tợng xã hội vĩnh hằng mà là một khái niệm lịch sử có
mở đầu và kết thúc "chính trị" là tính thứ hai, là hiện tợng nằm trong kiếntrúc thợng tầng, là cái nảy sinh và thích ứng với điều kiện kinh tế nhất định
Trang 10Chính trị xuất hiện cùng với chế độ t hữu và phân công lao động xã hội Từ
đó, các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Chính trị làsản phẩm của xã hội phân chia thành giai cấp, gắn với giai cấp Nếu nhkhông làm rõ khái niệm "giai cấp" thì sẽ không nhận thức đầy đủ về kháiniệm "chính trị" V.I.Lênin đã đa ra một định nghĩa khoa học và "giai cấp"trong đó nổi lên là sự khác nhau về lợi ích Nh vậy "chính trị" là cuộc đấutranh giữa các giai cấp Những xung đột về chính trị là những cuộc đấutranh vì lợi ích Sự đối kháng về lợi ích sẽ làm xuất hiện sự đối kháng vềchính trị Để thống trị xã hội, giai cấp thống trị phải tự tổ chức thành bộmáy thống trị, Nhà nớc Do đó, "chính trị" của giai cấp thống trị là xâydựng, củng cố, hoàn thiện bộ máy nhà nớc của mình và sử dụng bộ máy ấylàm công cụ duy trì các giai cấp bị áp bức dới sự thống trị của mình Chonên "chính trị" còn đợc hiểu là quyền thống trị của giai cấp này hay giai cấpkhác trong xã hội Còn đối với giai cấp bị trị thì "chính trị" là toàn bộ hoạt
động nhằm chống lại quyền lực chính trị của giai cấp thống trị và giành lấychính quyền về tay mình, cách mạng là hoạt động chính trị cao nhất củagiai cấp bị trị Sự đối kháng lợi ích, do đó là sự đối kháng về chính trị là cơ
sở của cuộc đấu tranh chính trị giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Đấutranh chính trị do đó đợc quan niệm là đấu tranh giai cấp để giữ lấy quyềnthống trị cho giai cấp này và để giành lấy chính quyền thống trị cho giai cấpkhác Cuộc đấu tranh giai cấp có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ tựphát trở thành tự giác khi cuộc đấu tranh ấy có cơng lĩnh, chiến lợc hoặcsách lợc cụ thể trên mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội Cho nên chủ nghĩaMác - Lênin quan niệm rằng cái căn bản nhất trong chính trị, tức là chínhquyền nhà nớc!
Chủ nghĩa Mác thừa nhận rằng chỉ khi nào đấu tranh giaicấp không những bao trùm lĩnh vực chính trị, mà nó còn nắm lấycái căn bản nhất trong chính trị, tức là việc tổ chức chính quyềnnhà nớc, thì khi đó mới là một cuộc đấu tranh giai cấp phát triển
Trang 11đầy đủ, có quy mô toàn dân tộc [ , tr 301].
Lênin còn viết: " khi cuộc đấu tranh chống t bản trên toàn thế giới
đã trở nên đặc biệt quyết liệt thì vấn đề nhà nớc trở thành vấn đề nóng hổinhất, trở thành trung tâm của mọi vấn đề chính trị và mọi cuộc tranh luậnchính trị trong thời đại hiện nay" [ , tr 91]
Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Chính trị là sự thống trịgiai cấp, là quyền lực thống trị của giai cấp đợc tổ chức thành Nhà nớc, làchính quyền Những phạm trù cơ bản nhất của chính trị là: Cơng lĩnh, chiếnlợc, sách lợc
Trong lịch sử, từ khi xuất hiện giai cấp đã có những hình thức chínhtrị khác nhau, chính trị của giai cấp bóc lột là hình thức chính trị của thiểu
số thống trị đa số Còn từ khi giai cấp công nhân nắm chính quyền thì cũngxuất hiện một hình thức chính trị mang một nội dung mới về chất Đó làchính trị của đa số quần chúng lao động chống lại thiểu số áp bức bóc lột,một chính trị quá độ, một chính trị thủ tiêu dần chính trị, một quyền lựcngày càng thoát khỏi hình thức nhà nớc Chính từ ý nghĩa này, V.I.Lêninviết: "Chính trị là sự tham gia vào công việc nhà nớc, là việc vạch hớng đicho nhà nớc, việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt độngcủa Nhà nớc" [ , tr 404] Lênin còn phát triển thêm: "Trong thời kỳ đó(quá độ) hình thức chính trị của Nhà nớc là chế độ dân chủ nhất" [ tr.23 ]
Từ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về "chính trị" ta cóthể nhận thức về khái niệm "chính trị" nh sau:
Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dântộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành, giữ, sử dụngquyền lực nhà nớc; là những phơng hớng, những mục tiêu đợcquy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt
động thực tiễn chính trị của các giai cấp, các đảng phái, các Nhànớc để thực hiện đờng lối đã đợc lựa chọn nhằm đi tới mục tiêu
Trang 12đã đặt ra.
Quan niệm về "xã hội"
Theo từ điển tiếng Pháp "Petit larousse en couluer-librarie larousse"(Pari, 1997) thì xã hội (Sociéte) là:
- Tập hợp những ngời hoặc vật cùng sinh sống thành các nhóm có tổchức
- Sự liên hợp của nhiều ngời dới sự chỉ đạo của một nguyên tắcchúng
Theo từ điển xã hội học (do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, Hà Nội,1994) thì xã hội là một thuật ngữ rất thông dụng để chỉ một tập hợp ngời cónhững quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau Vềmặt không gian, xã hội đợc chia thành những xã hội lớn và nhỏ; nói chung,gắn với quốc gia vì bất cứ một tập hợp ngời nào muốn đợc gọi là xã hội
đều có nhà nớc của mình với t cách là ngời quản lý, điều tiết những quanhệ
Từ điển tiếng Nga (Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô) có hai loạikhái niệm "xã hội" Thứ nhất là:
Trang 13Tác giả GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên)trong tác phẩm "Xã hội học", Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 1999, tr 206
- 207 có nêu ra xã hội là gì?
Trên thực tế, ta sử dụng khái niệm xã hội rất nhiều Chẳng hạn tanói "Xã hội Việt Nam", "Xã hội Nhật", "Xã hội Mỹ" v.v mà không cầndừng lại để giải thích thế nào về xã hội Có một định nghĩa khác nhau về xãhội Nhng khi nói về xã hội, điều quan trọng là chỉ ra những đặc điểm bảnchất của xã hội nh sau:
Thứ nhất là đặc điểm về lãnh thổ Ví dụ, khi nói "Xã hội Việt Nam"
ta cần xác định vị trí lãnh thổ địa lý, kinh tế, chính trị, hành chính của ViệtNam Đặc điểm thứ hai liên quan tới tái sản xuất dân c và di c Điều này cóchức năng tạo ra những thành viên mới cho xã hội Đặc điểm thứ ba liênquan tới hệ thống luật pháp, văn hóa và bản sắc dân tộc "
Từ quan niệm khác nhau về xã hội nên việc phân loại xã hội cũng rấtkhác nhau Một số tác giả lấy thời gian làm tiêu chí đã chia xã hội thành:
"Xã hội nguyên thủy", "xã hội truyền thống", xã hội hiện đại" Cónhiều nhà nghiên cứu lại lấy tiêu chí khác để phân loại xã hội Thí dụ nếulấy trình độ lý luận sản xuất làm tiêu chí, ngời ta phân biệt thành xã hộinông nghiệp, xã hội công nghiệp, xã hội hậu công nghiệp Hoặc lấy tôngiáo làm tiêu chí, ngời ta phân biệt thành xã hội Kitô giáo, xã hội Hồi giáo,xã hội khổng giáo v.v Gần đầy có xu hớng lấy văn hóa văn minh làm tiêuchí Thuyết "ba làn sóng văn minh" của Tofflen lấy sản xuất nông nghiệp,sản xuất công nghiệp và sản xuất hậu công nghiệp làm cơ sở cho 3 giai
đoạn văn minh của loài ngời, tuyệt đối hóa nhân tố kỹ thuật bỏ qua nhân tốquan hệ sản xuất Đã có những nhà nghiên cứu xã hội đa ra cách phân loạicủa mình với những giá trị khoa học nhất định Lewis Morgan (1818 -1881) trong tác phẩm "xã hội cổ xa" (1877) chia lịch sử xã hội loài ngờilàm 7 giai đoạn: 3 giai đoạn hoang dã, ba giai đoạn man dã, giai đoạn văn
Trang 14minh (từ khi có chữ viết) Durkheim (1858 - 1917) dựa vào sự tiến hóa lịch
sử để phân loại xã hội theo những cấu trúc của chúng: Từ "Bầy đàn" đến
"thị tộc" đến "bộ lạc" Gurvich (1894 - 1965) phân loại xã hội thành: 1) Cácxã hội thẩm quyền; 2) Các xã hội gia trởng; 3) Các xã hội phong kiến; 4)Các xã hội tổng thể trong đó các quốc gia - thành phố biến thành các đếchế; 5) Các xã hội tổng thể dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa t bản và chế độchuyên chế sáng suốt; 6) Các xã hội tổng thể dân chủ - tự do; 7) Các xã hội
có chỉ huy; 8) Các xã hội phát xít lấy chế độ quan liêu - kỷ trị làm nền tảng;9) Các xã hội kế hoạch hóa theo nguyên tắc nhà nớc tập trung hóa theo chủnghĩa tập thể; 10) Các xã hội kế hoạch theo chủ nghĩa tập thể phi tập trunghóa GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng trong tác phẩm "xã hội học"
có nêu ra 4 kiểu xã hội; xã hội săn bắn, xã hội làm vờn, xã hội nông nghiệp,xã hội công nghiệp
Để nắm vững quan niệm "xã hội", chúng ta cần phải hiểu rõ quanniệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về "xã hội" Chủ nghĩa Mác - Lênin chorằng xã hội là hình thái vận động cao nhát của vật chất Hình thái vận độngnày lấy mối quan hệ của ngời và sự tác động lẫn nhau giữa ngời với ngờilàm nền tảng Mác cho rằng: "Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xãhội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân
đối với nhau" [ , tr 355]
Theo Mác: "Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Làsản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con ngời" [ tr 657]
Xã hội cũng có quá trình phát triển lịch sử của mình, thể hiện bằng
sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng trong cơ cấu xã hội ở mỗigiai đoạn lịch sử cụ thể, có một dạng cơ cấu xã hội cơ bản đặc thù Nềntảng chung của các cơ cấu cụ thể này là những mối quan hệ sản xuất vậtchất những mối quan hệ kinh tế giữa ngời và ngời, trên đó sẽ hình thànhnên một kiến trúc thợng tầng phù hợp Mác cho rằng: Tổng hợp lại thì
Trang 15những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà ngời ta gọi là những quan hệ xãhội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn pháttriển lịch sử nhất định.
Mỗi một xã hội đều đợc đặc trng bởi một tổng thể quan hệ sản xuất.Nhng cái quyết định nội dung của lực lợng sản xuất lại chính là lực lợngsản xuất Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phơng thức sảnxuất Trong phơng thức sản xuất, lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất cómối quan hệ biện chứng với nhau trong đó lực lợng sản xuất giữ vai tròquyết định Lực lợng sản xuất mang tính khách quan, tất yếu do đó, xã hộivới t cách là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa ngời với ngờicũng đợc hình thành một cách khách quan và tất yếu Sự vận động, biến đổicủa xã hội phải tuân theo những quy luật nội tại của nó, trớc tiên là quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực lợng sảnxuất
Cho nên để có quan niệm đúng về "xã hội" chúng tôi cho rằng cầnphải hiểu xã hội ở các điểm sau:
- Xã hội là biểu hiện tổng số mối liên hệ và những quan hệ của cánhân với nhau
- Xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con ngời
- Mỗi một xã hội đều đợc đặc trng bởi một tổng thể quan hệ sảnxuất Song quan hệ sản xuất chỉ là biểu hiện bề ngoài là hình thức xã hộicủa một phơng thức sản xuất nhất định còn cái quyết định nội dung của nólại chính là lực lợng sản xuất
- Sự vận động phát triển của xã hội phải tuân theo quy luật nội tạicủa nó với nghĩa thông thờng thì có thể quan niệm về "xã hội" nh sau:
Xã hội không phải là phép cộng giản đơn các cá nhân mà là một hệthống các hoạt động và quan hệ của con ngời, có đời sống kinh tế, văn hóa
Trang 16chung, cùng c trú trên một lãnh thổ ở một giai đoạn phát triển nhất định củalịch sử.
Tóm lại, về ngữ nghĩa, với nội dung cơ bản nhất và với nghĩa rộngnhất thì khái niệm "xã hội" rộng hơn khái niệm "chính trị" Bởi vì mọi vấn
đề có liên quan đến các quan hệ và hoạt động của con ngời thì đều là nhữngquan hệ và những hoạt động xã hội mang "tính xã hội" trong đó có cả chínhtrị, kinh tế, văn hóa v.v Nhng trên thực tế cũng có khái niệm "xã hội" theonghĩa hẹp hơn, ngang cấp với khái niệm "'chính trị", "kinh tế", "văn hóa"
đó là khái niệm "xã hội" phản ánh những quan hệ những hoạt động, nhữngmặt cụ thể hơn, của toàn xã hội đã và đang nảy sinh một cách khách quancùng với kinh tế, chính trị, văn hóa ta thờng gọi là "những vấn đề xã hội"
Ví dụ: Các vấn đề thất nghiệp, thất học, đói, nghèo, bệnh tật, tệ nạn, hủ tục,bất công, đạo lý, nhân cách v.v Đó là những vấn đề gắn trực tiếp hơn đếnnhu cầu vật chất và tinh thần của mỗi ngời và mọi ngời trong quan hệ giữangời với ngời trên những cơ sở kinh tế, chính trị, lịch sử và văn hóa xác
định Những vấn đề xã hội đó luôn có liên quan chặt chẽ với kinh tế, chínhtrị nhng lại không thể "xếp vào" các vấn đề kinh tế, chính trị (với các quyluật của kinh tế, chính trị) Do vậy hiểu quan niệm về "xã hội" cần phảihiểu theo nghĩa rộng (gồm nhiều lĩnh vực nh chính trị, kinh tế, văn hóa )chứ không chỉ là những "vấn đề xã hội" theo nghĩa hẹp
1.1.2 Quan niệm về chính trị - xã hội
Về thuật ngữ, từ điển Pháp - Việt (Nhà xuất bản khoa học xã hội,
Hà Nội, 1992) có sử dụng một từ ghép "Socvo politique" dịch là "xã hội chính trị" hay "chính trị - xã hội"
-Từ điển tiếng Nga (Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô) có khái niệmghép: "Colsuarбŭ иo - norutureckuŭ" - dịch là "chính trị - xã hội" hoặc "xãhội - chính trị"
Trong giáo trình, sách giáo khoa Bộ môn CNXHKH ở nớc ta có
Trang 17dùng thuật ngữ "chính trị - xã hội", tính quy luật "chính trị - xã hội" Trongcác văn kiện của Đảng và Nhà nớc, các bài phát biểu của những ngời đứng
đầu Đảng, Nhà nớc ở nớc ta có nói nhiều đến thuật ngữ "chính trị - xã hội".Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng có dùng thuật ngữ "chính trị -xã hội" Cho đến nay cũng cha có một định nghĩa khoa học nào về thuậtngữ "chính trị - xã hội" Để làm rõ quan niệm về "chính trị - xã hội", chúng
ta cần phân tích nội dung của các khái niệm ghép trớc đó Thí dụ nh kháiniệm "kinh tế - chính trị" chẳng hạn (mà do đó có môn khoa học riêng là bộmôn kinh tế - chính trị học)
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa chínhtrị và kinh tế là:
- "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế" chỉ có đến mộttrình độ phát triển kinh tế nào đó làm nảy sinh giai cấp và đấu tranh giaicấp thì mới có chính trị và cũng chỉ đến trình độ phát triển hết sức cao củalực lợng sản xuất khiến sự xóa bỏ giai cấp và đấu tranh giai cấp trở thànhhiện thực thì chính trị cũng sẽ không còn Mặt khác trong suốt thời kỳ tồntại của xã hội có đấu tranh giai cấp thì chính trị cũng không ngừng thay đổitùy theo sự phát triển của kinh tế, chế độ chính trị nằm ở kiến trúc thợngtầng phải thích ứng với cơ sở kinh tế Giai cấp thống trị về kinh tế bao giờcũng là giai cấp thống trị về chính trị và cuối cùng là lợi ích kinh tế luônluôn là nội dung của hành động chính trị
- Nhng sẽ là sai lầm nếu coi nhân tố kinh tế quyết định tất cả Phảichú ý đến sự tác động trở lại của chính trị, pháp lý đối với quan hệ sảnxuất,đối với sự phát triển kinh tế, biểu hiện rõ nhất ở chức năng kinh tế củaNhà nớc hiện đại Trong th gửi Cônrát Smít, đề ngày 27/10/1890, Ph
Ăngghen viết:
Tác động ngợc lại của quyền lực Nhà nớc đối với sự pháttriển kinh tế có thể có 3 loại Nó có thể tác động cùng hớng, khi
Trang 18ấy sự phát triển diễn ra nhanh hơn; nó có thể tác động ngợc lại sựphát triển kinh tế - khi ấy thì hiện nay ở mỗi dân tộc lớn, nó sẽtan vỡ sau một khoảng thời gian nhất định, hoặc là có thể cản trở
sự phát triển kinh tế ở những hớng nào đó và sẽ thúc đẩy sự pháttriển ở những hớng khác Trờng hợp này rốt cuộc dẫn đến mộttrong hai trờng hợp trên Tuy nhiên, rõ ràng là trong trờng hợpthứ hai và thứ ba, quyền lực chính trị có thể gây tác hại lãng phí
to lớn về sức lực và vật chất
Nh vậy chính trị,kinh tế liên hệ chặt chẽ với nhau Từ ghép "chínhtrị - kinh tế" đợc hiểu là những khía cạnh, những mặt, những biểu hiện,những ý nghĩa về chính trị của các quan hệ, các hoạt động kinh tế chứkhông phải nh "kinh tế học" thuần túy chỉ xét riêng các quan hệ kinh tế.Thực chất của khái niệm "kinh tế - chính trị" là phản ánh mối quan hệ biệnchứng giữa quan hệ sản xuất trong mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lạivới lực lợng sản xuất và kiến trúc thợng tầng Đây cũng chính là đối tợngnghiên cứu của môn chính trị - kinh tế học
Từ cách hiểu khái niệm ghép "kinh tế - chính trị", chúng ta cần làm
rõ khái niệm ghép "chính trị - xã hội" hay "xã hội - chính trị"
Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, chơng trình cao cấp, Nhà xuấtbản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 có viết:
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu các tính quy luậtchính trị - xã hội trong quá trình vận động của xã hội tiến lên chủnghĩa xã hội Nói cách khác, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiêncứu sự tác động của các quan hệ xã hội nh giữa các lực lợng xãhội và chính trị, giữa Nhà nớc với các giai cấp, các đảng phái, các
dân tộc, các tập thể, các cá nhân v.v Các quan hệ xã hội này trong xã hội có giai cấp đều có tính chất chính trị nên gọi là các quan hệ chính trị- xã hội Cần chú ý rằng việc nghiên cứu các
Trang 19quan hệ chính trị - xã hội rất phức tạp về cơ cấu và có quan hệmật thiết với các quan hệ xã hội khác trong lĩnh vực kinh tế và
đời sống tinh thần của xã hội [ , tr 15]
ở đoạn lập luận này, tác giả của giáo trình có giải thích "quan hệchính trị - xã hội" là: Các quan hệ xã hội này trong xã hội có giai cấp đều
có tính chất chính trị nên gọi là các quan hệ chính trị - xã hội Cách giảithích này đã cho chúng ta hiểu đợc phần nào khái niệm ghép "Chính trị - xãhội" Chúng ta cần phân tích mối quan hệ giữa "chính trị" và "xã hội"
"Chính trị" là một bộ phận nằm ở thợng tầng kiến trúc của một hìnhthái kinh tế - xã hội Chính trị là một mặt, một bộ phận của một hình tháikinh tế - xã hội (của một xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định)
"Chính trị" có tác động rất lớn đối với xã hội
"Chính trị" có ảnh hởng rất rõ đối với các yếu tố khác ở thợng tầngkiến trúc nh Pháp luật, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật và có tác động rất lớn
đối với cơ sở kinh tế V.I.Lênin nhấn mạnh: "Chính trị là sự biểu hiện tậptrung của kinh tế" do đó "chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu
quan hệ biện chứng này Vậy theo chúng tôi, khái niệm "chính trị - xã hội"
Trang 20đợc hiểu là một khái niệm ghép phản ánh một trong những quy luật khách quan của một xã hội có giai cấp mà trong xã hội đó mọi hoạt động xã hội của con ngời, những cộng đồng ngời đều có dấu ấn chủ đạo của một giai cấp cầm quyền thông qua hệ t tởng chính trị và những thiết chế quyền lực của nó trong một chế độ cụ thể.
Phân tích cặn kẽ hơn về khái niệm "chính trị - xã hội" thể hiện trêncả mặt thực tiễn và lý luận, chúng ta có thể thấy rõ, đó là: Những định hớngchính trị, những ý nghĩa chính trị, những tác động chính trị, do giai cấp cầmquyền tác động lên những quan hệ, những hoạt động của con ngời trên cáclĩnh vực cơ bản của xã hội nh: Lĩnh vực chính trị, lĩnh vực kinh tế, lĩnh vựcvăn hóa, lĩnh vực quốc phòng - an ninh, lĩnh vực đối ngoại Trong lịch sửnhân loại, các chế độ xã hội khác nhau đều có những lĩnh vực chủ yếu nhtrên Nhng ở các xã hội khác nhau thì các lĩnh vực chủ yếu đó lại có nhiều
đặc điểm, nội dung, hình thức khác nhau Suy cho cùng là do các giai cấpthống trị ở mỗi chế độ xã hội đã có những định hớng chính trị khác nhautrên các lĩnh vực của xã hội, theo hình ảnh của mình, tức là phải phù hợpvới mục tiêu và lợi ích của mình, tức là phải phù hợp với mục tiêu và lợi íchcủa mình Thí dụ cùng là lĩnh vực kinh tế nhng lĩnh vực kinh tế TBCN là
đem lại lợi ích kinh tế nhiều nhất cho nhà t bản, lĩnh vực kinh tế XHCN làmang lại lợi ích cho chính ngời lao động Thí dụ nh cùng là sử dụng thànhtựu khoa học nh nguyên tử, la de nhng chủ nghĩa đế quốc dùng thành tựunày để xâm lợc các dân tộc khác chủ nghĩa xã hội dùng thành tựu này đểbảo vệ hòa bình Thí dụ, cùng là vấn đề giúp đỡ ngời thất nghiệp, ngờinghèo, nhng ở CNTB, Chính phủ t sản chủ yếu là trợ cấp, phát chẩn suốtmấy thế kỷ qua (dù mức trợ cấp rất cao) nhng không đặt ra mục đích giảiquyết triệt để vấn đề đó vì nếu xã hội thực sự có bình đẳng TS - VS thìkhông còn giai cấp t sản, chủ nghĩa t bản Trong CNXH, dù bớc đầu sảnxuất, đời sống còn thấp nhng giai cấp công nhân, Đảng, Nhà nớc chủ trơng
"xóa đói giảm nghèo", hỗ trợ ngời nghèo để ngời nghèo tự vơn lên để giàu
Trang 21có nh những ngời khác Rõ ràng là cùng một vấn đề, nhng giai cấp t sản vàgiai cấp chủ nghĩa đã có định hớng chính trị - xã hội khác nhau theo mục
đích, lợi ích của mình
Với cách hiểu này thì các xã hội có giai cấp: Xã hội chiếm hữu nô
lệ, xã hội phong kiến, xã hội t sản, xã hội XHCN đều có mặt chính trị - xã hội Mặt chính trị - xã hội, do đó, mang bản chất giai cấp (mang bản chất
của giai cấp đang thống trị xã hội) Các học giả t sản tuy thừa nhận mặtchính trị - xã hội của xã hội t sản (không ngừng củng cố tăng cờng các tổchức bạo lực nhằm duy trì xã hội theo trật tự t sản) nhng vẫn bỏ qua tínhchất giai cấp t sản Họ cố tình che đậy bản chất t sản về mặt chính trị - xãhội của xã hội t sản Còn những ngời theo chủ nghĩa Mác - Lênin, kháiniệm "chính trị - xã hội" đã bao hàm bản chất của giai cấp công nhân, đồngthời cũng bao hàm tính nhân bản rộng rãi và tính nhân đạo nhân văn sâusắc "Chính trị - xã hội" mang bản chất giai cấp công nhân với nội dung là:Giải phóng giai cấp công nhân đồng thời giải phóng mọi ngời lao động, làcùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp không có ngời bóc lột, không có bấtcông, mọi ngời đều đợc sống tự do, hạnh phúc
1.1.3 Quan niệm về "ổn định chính trị - xã hội"
Hiện nay, thuật ngữ "ổn định" đợc dùng khá phổ biến trong mọilĩnh vực của đời sống xã hội
Thí dụ nh: ổn định đời sống, ổn định thu nhập, ổn định gia đình
Từ "ổn định" thờng kết hợp với một danh từ khác để tạo thành một từ ghépnhằm để chỉ một trạng thái, một tính chất, một đặc điểm của sự vật trongquá trình phát triển của sự vật đó Nói "ổn định" là nói đến trạng thái cânbằng, hài hòa trong sự phát triển của sự vật ổn định trong phát triển, pháttriển trong ổn định để đạt đợc sự ổn định và phát triển ở mức cao hơn
Quan niệm về "ổn định chính trị - xã hội".
Trong các văn kiện của Đảng, Nhà nớc, trong các tác phẩm nghiên
Trang 22cứu lý luận của nhiều tác giả, trong ngôn ngữ thờng dùng, chúng ta bắt gặprất nhiều cụm từ: ổn định chính trị - xã hội, điều kiện chính trị - xã hội, tổchức chính trị - xã hội, chế độ chính trị - xã hội Riêng cụm từ "ổn địnhchính trị - xã hội" đợc xuất hiện rất nhiều, cách dùng, cách hiểu cụm từ nàycũng rất khác nhau Có tác giả cho rằng cụm từ "ổn định chính trị - xã hội"chỉ đợc dùng khi nói đến trạng thái chính trị, xã hội của các nớc XHCN, làcái riêng có của xã hội xã hội chủ nghĩa Có tác giả lại dùng cụm từ này chocả xã hội t bản chủ nghĩa Thí dụ nh khi nói về tình hình chính trị của cácNIES, có tác giả cho rằng các nớc đó đã giữ đợc ổn định chính trị - xã hộitrong quá trình công nghiệp hóa Cách hiểu, cách dùng khác nhau ấy ắt sẽdẫn đến sự nan giải trong việc đa ra một định nghĩa chính xác nhất về "ổn
định chính trị - xã hội" Vì thế cho đến nay việc sử dụng cụm từ này đãmang tính phổ biến nhng vẫn cha có ai đa ra một định nghĩa khả dĩ có thểchấp nhận đợc về "ổn định chính trị - xã hội" Chúng tôi cho rằng để đi đếnmột định nghĩa về "ổn định chính trị - xã hội" cần phải làm sáng tỏ một sốvấn đề sau:
- Mặt chính trị - xã hội ở các xã hội có áp bức bóc lột mang tính đốikháng giai cấp nên giai cấp thống trị chỉ có thể tạo ra ổn định chính trị chứkhông có thể đảm bảo đợc ổn định chính trị - xã hội Nếu phân tích quan hệgiữa nhà nớc và cá nhân dới chế độ bóc lột thì thấy rất rõ điều này Kể từkhi Nhà nớc ra đời (Nhà nớc là công cụ duy trì sự thống trị chính trị củagiai cấp thống trị, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị ), quan hệ giữa cdân thuộc quyền quản lý của Nhà nớc và nhà nớc dần dần đợc hình thành.Mối quan hệ ấy có bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên haykhông, điều đó phụ thuộc vào bản chất của mỗi chế độ Nhà nớc (thực chất
là bản chất của giai cấp thống trị xã hội) Dới chế độ chiếm hữu nô lệ, nhànớc chủ nô là:
Tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô, do giaicấp chủ nô thiết lập và đợc giai cấp chủ nô sử dụng nh là một
Trang 23công cụ có hiệu lực nhất để đàn áp, bóc lột nô lệ và những ngờilao động khác Nô lệ không đợc coi là con ngời mà chỉ là "công
cụ lao động biết nói" và hoàn toàn lệ thuộc vào giai cấp chủ nô vềthân thể, kinh tế, chính trị t tởng, xã hội [ , tr 26]
Quan hệ giữa Nhà nớc của giai cấp chủ nô với nô lệ là bất bình đẳngcả về quyền lợi và nghĩa vụ Có thể lấy thí dụ về thân phận nô lệ ở Aten (Hylạp cổ đại) để chứng minh:
Dù là nô lệ của t nhân hay của nhà nớc, luật pháp Atenquy định nô lệ là sở hữu riêng, tài sản riêng của chủ nô Nô lệ là
"công cụ biết nói" - không có tài sản, không có gia đình không cótên gọi (thờng đợc gọi theo quê quán) Để phân biệt và để nhậnbiết nô lệ của mình, chủ nô thờng khắc dấu trên trán mỗi nô lệ.Chủ nô bỏ tiền ra mua nô lệ, nô lệ hoàn toàn thuộc về sở hữu của
họ, có nghĩa vụ lao động sản xuất và phục dịch Luật pháp thừanhận và bảo vệ quyền sở hữu này, chủ nô có quyền bán, mua, nh-ợng đổi, thừa kế cho ngời khác nô lệ của họ, hành hạ đánh đập,thậm chí có thể giết chết nô lệ của mình Việc bán, mua, đổi chácnô lệ là việc thờng ngày, công khai và đậm tính thơng mại Nô lệ
ở Aten đã thành một món hàng hóa Aten có những chợ chuyênbán nô lệ Nô lệ đợc đem bán nh ngời ta bán gia súc Ngời muaxem xét, xoi mói từ dáng dấp, cái răng, cái tóc đến những khảnăng có thể có đợc của nô lệ Giá cả không ổn định, phụ thuộcvào số tù bình có đợc sau mỗi cuộc chiến, số lợng ngời bị bắttrong các vụ cớp biển và vào khả năng, nghề nghiệp của nô lệ.Những nô lệ vốn là thợ thủ công giỏi, vũ nữ, nhạc công bao giờcũng cao giá hơn [ tr 221]
ở xã hội phong kiến, quan hệ giữa Nhà nớc phong kiến và nông dâncũng là quan hệ không bình đẳng Ngời nông dân sống trên lãnh địa của
Trang 24phong kiến và phải lao động cho phong kiến Tuy lệ thuộc vào phong kiếnnhng so với thân phận của ngời nô lệ thì ngời nông dân có khá hơn Nôngdân ở thời đại phong kiến có kinh tế cá thể, họ là ngời sản xuất nhỏ Tuynhiên, sự bóc lột của địa chủ đối với nông dân cũng rất nặng nề Nông dânphải nộp tô cho phong kiến và còn phải chịu hình thức lao động cỡng bứcnhà nớc phong kiến bảo vệ lợi ích của địa chủ phong kiến tăng cờng chuyênchính đối với nông dân Lênin viết rằng:
Giai cấp phong kiến cần một bộ máy tập hợp và thu phụcrất đông ngời, bắt họ phải tuân theo những luật pháp và quy chếnhất định; về căn bản tất cả các luật pháp đó chung quy chỉ mộtmục đích duy nhất Duy trì chính quyền của chúa phong kiến đốivới nông nô [ , tr 87]
Trong xã hội t bản, về mặt hình thức giữa nhà nớc t sản và công dân
có vẻ bình đẳng vì Hiếp pháp t sản có ghi nhận đầy đủ quyền tự do, dân chủcủa công dân và nghĩa vụ của Nhà nớc t sản với công dân Nhng đây chỉ làbình đẳng trên lý thuyết Trên thực tiễn, nhà nớc t sản tìm mọi cách trốntránh nghĩa vụ đó hoặc hạn chế tối đa quyền tự do dân chủ của công dân.Lênin đã phân tích rất rõ bộ mặt giả hiệu của nền dân chủ t sản, một nềndân chủ bị cắt xén
Sự bất bình đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ của Nhà nớc vớinhững ngời bị trị ở các xã hội có áp bức bóc lột đã dẫn đến tình trạng xã hộithờng xuyên không ổn định Tầng lớp thống trị luôn tìm cách tăng cờng bộmáy bạo lực để đè bẹp sự nổi dậy của kẻ bị trị Những ngời bị trị thì liên tụcvùng lên lật đổ ách thống trị của giai cấp thống trị Các cuộc khởi nghĩa củanô lệ trong thời chiếm hữu nô lệ; các cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giaicấp t sản trong xã hội t sản trong lịch sử đã minh chứng cho điều này Đểduy trì sự thống trị lâu dài của mình, giai cấp thống trị rất chú trọng đếnviệc ổn định chính trị mà giải pháp cơ bản là tăng cờng bộ máy nhà nớc,
Trang 25tăng cờng cơ quan bạo lực trấn áp, kiện toàn pháp luật xử phạt nghiêm khắcvới ngời chống đối Tất nhiên để giữ vững ổn định chính trị, giai cấp bóc lộtcũng rất quan tâm đến chức năng xã hội của Nhà nớc đặc biệt là trong giai
đoạn mà xung đột xã hội căng thẳng Nhng nhìn chung, việc thực hiện chứcnăng xã hội của Nhà nớc bóc lột chỉ có tác dụng làm dịu xung đột xã hộichứ không có thể tạo ra ổn định xã hội Khi nào có sự đối lập về lợi ích giaicấp thì không thể có sự ổn định xã hội Từ sự phân tích trên chúng ta thấy
rõ rằng, giai cấp bóc lột có khả năng giữ đợc ổn định chính trị (đó là duy trì
sự thống trị giai cấp của mình) nhng do hạn chế giai cấp (có áp bức bóc lộtmới tồn tại đợc) nên đã không thể giữ đợc ổn định xã hội Một câu hỏi đặt
ra là vì sao không giữ đợc ổn định xã hội mà vẫn duy trì đợc ổn định chínhtrị? Trả lời câu hỏi này quả là không dễ! Nhng vẫn có thể giải thích đợc làvì mất ổn định xã hội cha có đủ sức mạnh để làm mất ổn định chính trị.Những ngời bị trị cha đoàn kết lại thành một sức mạnh để chống lại mộtnhóm thống trị vì nhóm thống trị này giữ trong tay sức mạnh kinh tế, sứcmạnh chính trị lịch sử đã từng chứng minh rằng do khủng hoảng xã hội sâusắc mà chế độ chiếm hữu nô lệ đã nhờng chỗ cho chế độ phong kiến, chế độphong kiến đã nhờng chỗ cho xã hội t bản và xã hội t bản đã và sẽ bị xã hộiXHCN thay thế
- Mặt chính trị - xã hội trong xã hội XHCN không mang tính đốikháng nên giai cấp công nhân có khả năng giữ vững ổn định chính trị và giữvững ổn định chính trị - xã hội
Chuyển sang xã hội XHCN, quan hệ giữa Nhà nớc XHCN với côngdân đã thay đổi về chất, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
Sự bình đẳng này đợc thể hiện qua hai mặt sau:
+ Nhà nớc đối với công dân, ở đây Nhà nớc mang hai t cách: Vừa là
tổ chức công quyền quản lý công dân bằng pháp luật, vừa là công cụ (phơngtiện) hữu hiệu nhất bảo đảm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 26+ Công dân đối với Nhà nớc, ở đây, công dân cũng mang hai t cách:Vừa là chủ thể của quyền lực Nhà nớc (ngời làm chủ Nhà nớc) vừa là đối t-ợng tác động của quyền lực đó.
Nh vậy, xét từ hai góc độ quan hệ nêu trên:
Cả nhà nớc và công dân đều có quyền và nghĩa vụ đối vớinhau Các quyền và nghĩa vụ đó do Hiến pháp và pháp luật quy
định Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đó tất yếu và cần thiếttrong điều kiện nhà nớc và pháp luật đã là của dân, do dân, vì dâncòn công dân đã trở thành chủ nhân của Nhà nớc và xã hội [ , tr.29]
Do quan hệ bình đẳng giữa Nhà nớc XHCN và công dân nên giaicấp công nhân, giai cấp lãnh đạo Nhà nớc XHCN vừa giữ đợc ổn định chínhtrị, vừa giữ đợc ổn định xã hội Trạng thái vừa giữ đợc ổn định chính trị, vừagiữ đợc ổn định xã hội sẽ tạo ra trạng thái giữ vững "ổn định chính trị - xãhội" Giai cấp công nhân giữ đợc ổn định chính trị ở việc giai cấp công dânduy trì và tăng cờng vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội bằng việc tăngcờng chuyên chính vô sản thực hiện sức mạnh lịch sử của giai cấp côngnhân Giai cấp công nhân giữ vững đợc ổn định xã hội ở việc: Do lợi íchcủa giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của dân tộc, thống nhất với lợiích với đại đa số nhân dân lao động nên xã hội không còn đối kháng lợi ích.Xung đột xã hội không phải là xung đột của lợi ích đối kháng Xã hội về cơbản là thống nhất lợi ích nên có thể giữ vững ổn định xã hội Tất nhiênnhững sự khác biệt giai cấp vẫn còn, những cuộc đấu tranh xung đột trongxã hội vẫn còn nhng những xung đột này không gây ra mất ổn định xã hội
Từ sự phân tích trên, chúng tôi xin nêu ra định nghĩa về "ổn địnhchính trị - xã hội" nh sau:
ổn định chính trị - xã hội là một trạng thái của xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua vai trò lãnh
Trang 27đạo của Đề tài cấp Nhà nảng Cộng sản đợc duy trì và tăng cờng trên tất cả các mặt hoạt
động cơ bản của xã hội, đảm bảo cho xã hội luôn luôn có sự thống nhất về lợi ích, đảm bảo cho xã hội giữ đợc nền nếp, kỷ cơng và phát triển trong sự cân đối, hài hòa.
Nếu theo định nghĩa này thì ở xã hội có áp bức bóc lột, khi giai cấpthống trị đang lên, đang là giai cấp tiên tiến thì có thể tạo ra và giữ vững ổn
định chính trị - xã hội trong một khoảng thời gian nào đó Thí dụ nh giaicấp t sản trong những ngày tiến hành cách mạng t sản và ở những ngày đầutiên xây dựng CNTB Lúc này lợi ích của giai cấp t sản thống nhất với lợiích của nông dân và những ngời lao động Nhà nớc t sản bảo vệ cho tự docạnh tranh, tự do làm giàu Nhng ngời nào thắng trong cạnh tranh, là ngờigiàu - chính là giai cấp t sản Vì vậy trạng thái ổn định chính trị - xã hội bịphá vỡ bởi vì lợi ích t sản dần dần trở thành đối lập với lợi ích của toàn thểcông dân Cho nên nếu xét trong điều kiện giai cấp t sản đang là giai cấpcách mạng thì ổn định chính trị - xã hội do giai cấp t sản tạo ra rất ngắnngủi Nhìn suốt các giai đoạn phát triển tiếp theo của CNTB thì phổ biến là:Giai cấp t sản chỉ giữ vững ổn định chính trị, không giữ đợc ổn định chínhtrị - xã hội Giai cấp t sản ở NIES Đông á trong khi tiến hành công nghiệphóa TBCN cũng có thời gian tạo ra sự thống nhất lợi ích (lợi ích dân tộc)nên cũng có lúc tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội nhng sự ổn định nàynhanh chóng bị phá vỡ cũng do lợi ích của giai cấp t sản Đông á đối lập vớilợi ích của toàn thể nhân dân Nói cho chính xác thì NIES Đông á chỉ mớitạo ra điều kiện thuận lợi cho việc ổn định chính trị - xã hội chứ ch a phải là
Trang 28lập ngay từ những ngày đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành
đợc chính quyền và không ngừng đợc củng cố phát triển trong tiến trình xâydựng xã hội XHCN
ổn định chính trị - xã hội trong điều kiện XHCN mang tính phổbiến nhng do mỗi nớc có hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên ổn định chính trị
- xã hội ở mỗi nớc cũng có nét đặc thù riêng ổn định chính trị - xã hội ở
n-ớc ta cũng có những nét riêng ổn định chính trị - xã hội ở nn-ớc ta tiếp thunhững t tởng chính trị - xã hội quý báu của dân tộc Đó là tính cộng đồng
"bầu ơi thơng lấy bí cùng Tuy rằng khác dậu nhng chung một giàn", "Gàcùng một mẹ chớ hoài đá nhau", "Trong ấm ngoài êm" "Nớc mất nhà tan"
Đó là đờng lối trị nớc của các anh hùng dân tộc: Lấy dân làm gốc, coi trọngchữ "Hòa", "Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn", đặt quyền lợi của Tổ quốc lêntrên hết Đó là sự chịu đựng trong khó khăn, lòng bao dung trong xử thế củangời Việt Nam, đó là khát vọng về sự yên ổn để làm ăn sinh sống, khátvọng hòa bình bởi đất nớc luôn luôn phải tự vệ để tồn tại Những truyềnthống này đã làm cho ổn định chính trị xã hội ở nớc ta có sắc thái riêng,
có độ vững bền và phát triển có sắc thái riêng, có độ vững bền và phát triểnvững chắc trong tiến trình xây dựng CNXH ở nớc ta
Nhận dạng ổn định chính trị - xã hội
- Một xã hội đợc đánh giá là xã hội có ổn định chính trị - xã hộiphải đảm bảo đợc yếu tố quan trọng nhất đó là: Giai cấp thống trị xã hội códuy trì và tăng cờng đợc vai trò thống trị của mình đối với xã hội haykhông? Vai trò thống trị này đợc thể hiện qua vai trò lãnh đạo của Đảngchính trị, vai trò của Nhà nớc do giai cấp thống trị lập ra đối với lĩnh vực cơbản của xã hội
- Lợi ích của giai cấp thống trị xã hội về cơ bản phải thống nhất lâudài với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, thống nhất lâu dài với
Trang 29lợi ích dân tộc, xã hội không còn tình trạng ngời bóc lột ngời, mọi ngời,mọi giai cấp trong xã hội đều bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ.
- Xã hội duy trì đợc nền nếp, kỷ cơng và luôn luôn phát triển trong
sự cân đối, hài hòa Tính cân đối, hài hòa thể hiện rõ ở việc các lĩnh vực cơbản của xã hội đều phát triển trong mối liên hệ biện chứng Không có tìnhtrạng chỉ giữ đợc ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị mà kinh tếhay các mặt khác mất ổn định, hoặc chỉ ổn định trên lĩnh vực kinh tế màcác mặt còn lại mất ổn đinh
Với ba yêu cầu này thì chỉ có xã hội XHCN mới có đủ điều kiệnkhả năng tạo ra và giữ vững ổn định chính trị - xã hội Nhng cũng cần nhớrằng ổn định chính trị - xã hội với những yêu cầu trên ở các chặng đờngphát triển của CNXH cũng có mức độ khác nhau Trong thời kỳ quá độ tiếnlên CNXH thì ổn định chính trị - xã hội tuy vẫn đảm bảo ba yêu cầu trênnhng ở mức độ thấp Giai cấp công nhân, thông qua vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản mới bớc đầu là giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội Phải cómột khoảng thời gian khá dài để giai cấp công nhân thiết lập, củng cố sựthống trị của mình trong xã hội XHCN Vì vậy sự thống trị của giai cấpcông nhân ở giai đoạn đầu là cha vững chắc nên ổn định chính trị - xã hội ởgiai đoạn đầu chỉ ở mức thấp
Về mặt lợi ích thì xã hội còn nhiều lợi ích, vấn còn sự khác biệt lớn
về lợi ích Thí dụ nh nớc ta hiện nay do phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần có ngời giàu, có ngời nghèo Sự thống nhất lợi ích cũngchỉ ở mức độ thấp nên ổn định chính trị - xã hội cũng ở mức độ thấp Trongnhững năm đầu của thời kỳ xã hội XHCN, xã hội cha có thể có đợc nềnnếp, kỷ cơng của trật tự XHCN Sự phát triển các mặt cơ bản của xã hội cha
có thể tạo ra sự cân đối, hài hòa, vẫn còn tình trạng mất cân đối vì vậy ổn
định chính trị - xã hội cũng chỉ ở mức độ thấp Cùng với sự tăng cờng vaitrò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong công cuộc xây dựng CNXH, cùng
Trang 30với việc tạo ra sự thống nhất ngày càng cao về lợi ích của xã hội, cùng vớiviệc củng cố trật tự XHCN và sự phát triển xã hội ngày càng cân đối, hàihòa thì ổn định chính trị - xã hội cũng ngày càng đạt ở mức phát triển caohơn Cho nên để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, ở từng chặng đờng xãhội CNXH, chúng ta phải thấy rõ những yêu cầu cụ thể của từng chặng đ-ờng này Từ đó mới định rõ mức độ phù hợp của ổn định chính trị - xã hộitrong từng chặng đờng phát triển để không ngừng củng cố phát triển ổn
định chính trị - xã hội ở các chặng đờng phát triển tiếp theo
1.2 Nội dung của ổn định chính trị - xã hội trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội
- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh
- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực đối ngoại
1.2.1 Nội dung ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị
Công cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta đợc bắt đầu từ việc xây dựngCNXH ở miền Bắc sau năm 1954 và ở cả nớc từ sau 1975 đến nay Thựctiễn của công cuộc xây dựng CNXH đã chỉ ra rằng muốn giữ vững đợc sự
ổn định trên lĩnh vực chính trị thì phải thực hiện đợc những nội dung sau:
- Đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội
- Phải phát huy đợc vai trò quản lý của nhà nớc XHCN, nhà nớc củadân, do dân và vì dân, đặt dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 31- Phải phát huy đợc vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động.
Có đảm bảo đợc những nội dung này mới tạo ra và giữ vững đợc ổn
định chính trị xã hội Vì vậy khi xem xét nội dung của ổn định chính trị xã hội trên lĩnh vực chính trị, chúng ta cần phân tích rõ những nội dungtrên
- Thứ nhất là muốn giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam thông qua sự lãnh đạo của Đề tài cấp Nhà nảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội
Ngay từ khi ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định:
"Bản chất giai cấp công nhân là nguyên lý cơ bản nhất trong học thuyếtMác - Lênin về Đảng cộng sản, là vấn đề cốt lõi trong công cuộc xây dựng
Đảng" [ ] Đảng ta luôn nhấn mạnh: giữ vững bản chất của giai cấp côngnhân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ta, Điều lệ Đảng (đã đợc
Đại hội VIII thông qua) ghi rõ: Đảng là đội tiền phong của giai cấp côngnhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhândân lao động và của cả dân tộc Trong công cuộc xây dựng CNXH, với tcách là ngời đại diện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đại diện cho lợiích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Vì rằng, dới
sự lãnh đạo của Đảng, lợi ích của giai cấp công nhân và của cả dân tộc làthống nhất Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc không chỉ trớc mắt và cả lâu dài Cho nên ĐảngCộng sản Việt Nam là ngời giữ vị trí lãnh đạo nhân dân Việt Nam trongcông cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Cũng quavai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân ViệtNam thực hiện vai trò và sứ mệnh lịch sử của mình
Đảng ta là một đảng cầm quyền Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh có viết: "Đảng ta là một đảng cầm quyền Phải giữ gìn Đảng ta thậttrong sạch, xứng đáng là ngời lãnh đạo, là ngời đầy tớ thật trung thành của
Trang 32nhân dân" [ , tr 510].
Vị trí cầm quyền này đã đợc khẳng định trên thực tế và đợc xác
định trong Hiến pháp Điều đó cũng có nghĩa là: "Sự cầm quyền của Đảng
ta đợc toàn dân và toàn xã hội ủng hộ và thừa nhận" [ , tr 11]
Thông qua sự cầm quyền, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý
đối với toàn xã hội Đảng phải gánh trách nhiệm lớn hơn trớc Mọi thànhcông hay thất bại trong xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, trong công tácquốc phòng - an ninh, đối nội, đối ngoại đều gắn với trách nhiệm của
Đảng, với đội ngũ, cán bộ, đảng viên đợc Đảng giao quyền, giao tráchnhiệm Trở thành Đảng cầm quyền, nh Lênin nhấn mạnh: "Ngày nay,nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm [ , tr 209]
"Là thời kỳ lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn" [ , tr 243]
Tình hình và nhiệm vụ mới, đòi hỏi Đảng phải đổi mới nội dung,phơng pháp lãnh đạo, không ngừng nâng cao trí tuệ, năng lực tổ chức, quản
lý, phẩm chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, đủ khả năng lãnh đạo mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội
Để thực hiện vai trò là Đảng cầm quyền, Đảng không chỉ phải thờngxuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch mu toàngiành lại chính quyền, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, màcòn phải bắt tay vào việc giải quyết những căn bệnh, những nguy cơ từtrong Đảng và trong xã hội mà lúc cha cầm quyền không mắc phải nh quanliêu, tham nhũng, ham quyền, ham lợi
ở nớc ta, Đảng ta chủ trơng nhất nguyên chính trị, không chấp nhận
đa nguyên chính trị Từ năm 1930 đến nay, Đảng ta luôn giữ vai trò độcquyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam Xu thế độc tôn:
Ngày một phát triển và củng cố cùng với sự trởng thànhcủa phong trào và thắng lợi của cách mạng Địa vị độc tôn nàymang tính khách quan bởi sự bất lực của các lực lợng chính trị
Trang 33khác và uy tín chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày mộtnâng cao, bởi quần chúng qua kinh nghiệm bản thân ngày càngtín nhiệm Đảng cộng sản, gắn bó máu thịt với Đảng cộng sản.
Đảng trở thành ngời đại diện chân chính duy nhất của dân tộc; và,nhân dân trở thành cơ sở xã hội của Đảng [ , tr 171]
Năm 1946, khi tiến hành tổng tuyển cử tự do, dân chủ, chính nhândân qua lá phiếu của mình đã một lần nữa xác lập địa vị độc tôn lãnh đạocách mạng Việt Nam của Đảng cộng sản Cũng cần nói thêm rằng, do chínhsách đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, do chủ trơng tập hợp mọi lực l-ợng, mọi cá nhân thành một khối để chống kẻ thù chung, giữ vững chủquyền quốc gia nên Quốc hội đã tán thành đề nghị của Chủ tịch Hồ ChíMinh giành 72 ghế cho các đảng phái, các tổ chức chính trị đối lập và traocho họ một số chức vụ quan trọng trong các cơ quan quyền lực của Nhà nớc
ta Nhng một lần nữa các tổ chức chính trị đối lập đã bộc lộ bản chất phản
động trong tất cả các hành động trên cơng vị họ phụ trách Lần lợt những
đại biểu "u tú" nhất của các đảng phái đối lập đã phải rời bỏ vũ đài chính trịtrớc sự phỉ nhổ và căm ghét của nhân dân Lịch sử đã khẳng định vai tròlãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những năm 30 đếnkhi Nhà nớc Cộng hòa Dân chủ Việt Nam ra đời, thì không còn một đảngphái chính trị nào đủ sức tham gia hệ thống tổ chức quyền lực với t cách làmột đảng đối lập hay là một liên minh Mặc dù vậy, Đảng Cộng sản ViệtNam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo vẫn bằng mọi cách mở rộng khối
đoàn kết toàn dân, phát huy tiềm năng của các tầng lớp nhân dân nhằm đấutranh cho sự nghiệp độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc nên trong nhữngnăm 40, đã giúp đỡ cho hai đảng xã hội và Đảng Dân chủ ra đời Hai Đảngnày đã thu hút đợc nhiều trí thức, nhân sĩ, các nhà công thơng có tinh thầnyêu nớc, tha thiết với nền độc lập, tự do của Tổ quốc Nhận rõ vai trò của
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, hai Đảng Xã hội và Dânchủ đã tự nguyện đặt mình dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Trang 34nguyện phấn đấu theo tôn chỉ, mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam.Trên thực tế, trong mấy chục năm ở nớc ta đã có 3 Đảng (Đảng cộng sản,
Đảng xã hội, Đảng dân chủ) cùng tồn tại nhng cũng chỉ có Đảng cộng sảngiữ vai trò lãnh đạo Suốt từ khi mới ra đời cho tới ngày nay Đảng Cộng sảnViệt Nam đã đợc nhân dân và tất cả các tổ chức chính trị - xã hội của nhândân kính trọng, thừa nhận là tổ chức chính trị duy nhất xứng đáng đại diệncho trí tuệ, lơng tâm và danh dự của dân tộc Vì vậy, Đảng Cộng sản ViệtNam đã là Đảng cầm quyền, là đang đã đợc xác lập giữ vai trò lãnh đạo nhànớc trong suốt quá trình hình thành hệ thống quyền lực ở nớc ta Trongcông cuộc xây dựng CNXH, Đảng ta luôn giữ vững vai trò độc tôn củamình, nên đã trở thành nhân tố quyết định đến việc ổn định chính trị - xãhội của đất nớc
Sự vững mạnh hay suy yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết
định trực tiếp đến việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội Để liên tục giữvững đợc ổn định chính trị - xã hội của đất nớc, Đảng Cộng sản Việt Namcần phải thờng xuyên thực hiện tốt các nội dung sau:
- Thờng xuyên giữ vững, củng cố và phát triển hệ t tởng của giai cấpcông nhân
ở nớc ta, Đảng ta luôn kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng HồChí Minh Trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đảng ta luôn xác
định chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh là nền tảng t tởng tinhthần của xã hội Giữ vững, củng cố, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và t t-ởng Hồ Chí Minh là sự đảm bảo cho ổn định t tởng chính trị của đất nớc
Xa rời hoặc đi ngợc lại chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh đềudẫn đến sự rối loạn về hệ t tởng và sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội
- Đờng lối, chủ trơng chính sách của Đảng phải ổn định về mặtchiến lợc nhng luôn luôn có sự đổi mới về sách lợc, về biện pháp thực hiện
ổn định về mặt chiến lợc là đờng lối chính sách của Đảng phải nhất quán
Trang 35về mục tiêu xây dựng CNXH, không đợc xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và ttởng Hồ Chí Minh Có sự đổi mới về sách lợc, biện pháp thực hiện là phảixuất phát từ thực tế khách quan để kịp thời điều chỉnh, tìm ra sách lợc, biệnpháp phù hợp nhằm thực hiện sự ổn định chiến lợc Chỉ thay đổi sách lợcchứ không đợc thay đổi chiến lợc Đờng lối đổi mới để có CNXH chứkhông phải đổi màu CNXH Đờng lối đổi mới của Trung Quốc về cơ bảnvẫn giữ đợc mục tiêu XHCN nên đã xây dựng đợc CNXH mang màu sắcTrung Quốc Đờng lối đổi mới của Liên Xô và các nớc XHCN Đông Âu vìthay đổi mục tiêu XHCN nên đã dẫn đến khủng hoảng chính trị - xã hội,dẫn đến sụp đổ.
- Phải thờng xuyên kiện toàn bộ máy Đảng từ Trung ơng đến địa
ph-ơng Phải thờng xuyên thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt
động của Đảng Phải thờng xuyên chăm lo đến công tác cán bộ, nâng caotrình độ chính trị, chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đảng viên Cóthực sự thờng xuyên thực hiện những việc này thì tổ chức Đảng và đảngviên mới mạnh, đảm nhận đợc vai trò lãnh đạo của Đảng
- Thờng xuyên đổi mới phơng thức lãnh đạo của Đảng Đổi mới
ph-ơng thức lãnh đạo của Đảng phải lấy mục tiêu là Đảng lãnh đạo Nhà nớcXHCN, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức của quần chúng, lãnh đạotoàn thể nhân dân ngày càng có hiệu quả hơn
- Phải liên hệ mật thiết với nhân dân Chỉ có dựa vào dân, gắn bómáu thịt với nhân dân, đợc nhân dân tin yêu kính trọng Đảng mới có cơ sởxã hội vững chắc để tồn tại Và, đó chính là cái bảo đảm vững chắc nhấtcho vị trí lãnh đạo của Đảng trong hệ thống quyền lực
Nếu nh nhiệm vụ của Đảng là lãnh đạo Nhà nớc để Nhà nớc thực sự
là công bộc của nhân dân, để Nhà nớc đúng là của dân, do dân và vì dân thìtrớc hết Đảng cần làm cho tổ chức của mình không phải là một tổ chức đểlàm quan phát tài, nhà tổ chức phải "làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
Trang 36làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sớng [ , tr 463].
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng Đảng muốn giữ vững đợcvai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội thì: "Phải tỏ ra là một bộ phậntrung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh vàcông tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng
đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành đợc địa vị lãnh đạo"[ , tr 115]
Thực hiện đợc những nội dung này thì mới đảm bảo đợc việc giữvững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội Chỉtrên cơ sở giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mớigiữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị cũng nh giữvững ổn định chính trị - xã hội trên tất cả các lĩnh vực khác của xã hội
Thứ hai là: muốn giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực
chính trị thì phải phát huy vai trò quản lý của Nhà nớc XHCN Nhà nớcXHCN ở ta vừa là tổ chức do giai cấp công nhân thiết lập nên để thực hiệnquyền lãnh đạo của mình, vừa là tổ chức thông qua đó nhân dân lao độngthực hiện quyền làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, Nhà nớc là trung tâm của quyền lựcchính trị, là trung tâm của hệ thống chính trị XHCN Vị trí trung tâm này đ-
để bảo đảm thực hiện chủ quyền đó
- Nhà nớc là cơ quan quyền lực duy nhất đợc sử dụng luật pháp đểquản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm các quyền tự do dân chủcủa nhân dân, đa toàn bộ sinh hoạt xã hội vào trật tự kỷ cơng
Trang 37- Nhà nớc là chủ sở hữu những tài nguyên và cơ sở vật chất, kỹ thuậtchủ yếu của quốc gia; do đó có sức mạnh vật chất để thực hiện quyền lựccủa mình.
Trong công cuộc xây dựng CNXH, Nhà nớc có vững mạnh thì mớigiữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội Nhà nớc suy yếu thì dẫn đến mất ổn
định chính trị - xã hội Cho nên để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, Đảng
ta đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng Nhà nớc XHCN vững mạnh làm trụcột cho việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội
Để xây dựng Nhà nớc XHCN ở nớc ta vững mạnh, cần phải thựchiện những nội dung sau:
- Phải giữ vững bản chất của Nhà nớc XHCN Nhà nớc của ta là Nhànớc mang bản chất của giai cấp công nhân, là nhà nớc của dân, do dân và vìdân Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Nhà nớc XHCN có một số đổi mới về
tổ chức và hoạt động "song những đổi mới ấy đều phải dựa trên cái bất biếnthuộc về bản chất Nhà nớc ta" [ , tr 116]
Bản chất của Nhà nớc ta hiện nay là sự hòa hợp, đúc kết từ 4 nguồn:
- Truyền thống dân tộc mấy nghìn năm lịch sử
- T tởng nhân ái trong cộng đồng (phơng Đông)
- Quan niệm nhân văn trong t tởng dân chủ, nhân quyền (phơngTây)
- Chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
Thay đổi bản chất của nhà nớc sẽ trực tiếp gây ra mất ổn định chínhtrị - xã hội
- Phải thờng xuyên kiện toàn bộ máy nhà nớc từ Trung ơng đến địaphơng Kiện toàn cơ quan lập pháp (Quốc hội và Hội đồng nhân dân cáccấp); kiện toàn cơ quan hành pháp (Chính phủ và ủy ban nhân dân cáccấp); kiện toàn cơ quan t pháp (Tòa án, Viện kiểm sát tối cao và các cấp)
Trang 38Xây dựng nhà nớc theo nguyên tắc quyền lực thống nhất, có phân công,phân chia chức năng rành mạch Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủtrong mọi hoạt động của bộ máy nhà nớc.
- Phải thờng xuyên hoàn thiện hệ thống luật pháp tiến bộ, giữnghiêm luật pháp, tăng cờng pháp chế XHCN
- Phải thờng xuyên chăm lo đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ côngchức Đội ngũ cán bộ công chức phải đủ tài, đủ đức hoàn thành công việc đ-
ợc giao
- Phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối vớiNhà nớc XHCN Chỉ có dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, Nhà nớcXHCN mới đảm bảo đợc bản chất của giai cấp công nhân, mới thực sự làNhà nớc của dân, do dân, vì dân, mới phát huy vai trò trụ cột của mìnhtrong hệ thống chính trị XHCN
Xây dựng nhà nớc vững mạnh thì mới thờng xuyên giữ vững đợc ổn
định chính trị - xã hội của đất nớc
Thứ ba là muốn giữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị thì phải phát huy đợc vai trò làm chủ của nhân dân lao động
Quần chúng nhân dân là ngời sáng tạo ra lịch sử Trong sự nghiệpxây dựng CNXH, chỉ khi nào có sự tham gia đầy đủ, tích cực của nhân dânthì sự nghiệp xây dựng CNXH mới đi đến thắng lợi Với lực lợng đông đảocủa mình trong xã hội, họ có tác động cực kỳ to lớn đến việc giữ vững haylàm mất ổn định chính trị - xã hội Để giữ vững ổn định chính trị - xã hộicủa đất nớc trong sự nghiệp xây dựng CNXH, Đảng và Nhà nớc phải pháthuy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân Cần phải thực hiện những việcsau:
- Mở rộng nền dân chủ XHCN Phải thực sự đảm bảo cho nhân dânlao động đợc hởng và thực hiện quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, văn
Trang 39hóa Phải đảm bảo trên thực tế quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Phảikhông ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Có nghĩa
là phải đảm bảo đợc việc "yên dân"
- Phải tổ chức, thực hiện cho đợc việc làm chủ bằng nhà nớc củanhân dân lao động Làm chủ bằng nhà nớc là con đờng có hiệu quả nhấtnhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động mới thực sự đảm bảoNhà nớc của ta là của dân, do dân, vì dân Thực hiện đợc làm chủ bằng nhànớc là sự đảm bảo vững chắc nhất cho việc giữ vững ổn định chính trị - xãhội
- Phải thờng xuyên duy trì, củng cố, hoàn thiện các tổ chức quầnchúng, đặc biệt là các tổ chức chính trị - xã hội Qua các tổ chức này, nhândân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình
- Phải duy trì phong trào cách mạng của quần chúng Đó là phongtrào thi đua trong sản xuất, học tập, chiến đấu của các tầng lớp nhân dân
Đó là các phong trào cách mạng nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng CNXH
Đảm bảo đợc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối vớitoàn xã hội, phát huy vai trò quản lý của Nhà nớc XHCN, phát huy vai tròlàm chủ tập thể của nhân dân lao động là những nội dung cơ bản nhất choviệc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị Trong đó nộidung đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với toàn xã hội là quan
Trang 40trọng nhất vì chỉ trên cơ sở đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam thì mới phát huy đợc vai trò của Nhà nớc XHCN, phát huy đợc vai tròlàm chủ tập thể của nhân dân lao động Nhng ngợc lại nếu có phát huy đợcvai trò quản lý của Nhà nớc XHCN, phát huy vai trò làm chủ tập thể củanhân dân lao động thì sự lãnh đạo của Đảng cộng sản lại càng đợc bảo đảmvững chắc hơn Cho nên để giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vựcchính trị cần phải chú ý toàn diện ba nội dung này.
1.2.2 Nội dung ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực kinh tế
Chúng ta không nên đi sâu vào nội dung kinh tế của sự nghiệp xâydựng CNXH về kinh tế mà chỉ tập trung nghiên cứu sự tác động về mặtchính trị - xã hội đối với lĩnh vực kinh tế Lênin cho rằng: chính trị là biểuhiện tập trung của kinh tế Vì vậy cần phải làm sáng rõ mặt chính trị - xãhội trong lĩnh vực kinh tế Trên thực tế, tác động của mặt chính trị - xã hộinày đối với kinh tế có thể gây ra sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh
tế, kéo theo sự ổn định hay mất ổn định chính trị - xã hội của toàn xã hội
Nội dung của ổn định chính trị - xã hội về kinh tế là việc giải quyếtmối quan hệ giữa Đảng, Nhà nớc và nhân dân trong việc xây dựng và pháttriển nền kinh tế - xã hội của đất nớc Trong mối quan hệ này, Đảng giữ vịtrí lãnh đạo, Nhà nớc giữ vai trò quản lý, thực hiện, nhân dân là ngời trựctiếp thực hiện việc xây dựng và phát triển kinh tế Để giữ vững đợc ổn địnhchính trị - xã hội trên lĩnh vực kinh tế, Đảng, Nhà nớc, nhân dân phải làmtròn trách nhiệm của mình và phải tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa Đảng,Nhà nớc, nhân dân Trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc, nhân dân cụ thể nhsau:
- Đảng cộng sản đề ra đờng lối, chủ trơng xây dựng và phát triểnkinh tế của đất nớc Đờng lối, chủ trơng, chính sách kinh tế của Đảng phải
đúng đắn, phù hợp với thực tế khách quan của nền kinh tế, định hớng pháttriển đúng cho nền kinh tế của đất nớc Đờng lối chính sách về kinh tế của