TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỆNH PHẤN TRẮNG TRÊN CÂY KEO TAI TƯỢNG CỦA CHẾ PHẨM TỪ QUẢ BỒ HÒ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÒNG TRỪ BỆNH PHẤN TRẮNG TRÊN CÂY
KEO TAI TƯỢNG CỦA CHẾ PHẨM TỪ QUẢ BỒ HÒN (Sapindus saponaria L.)
TẠI VƯỜN ƯƠM KỲ SƠN, TP HÒA BÌNH
NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ:7620112
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thành Tuấn
ThS Nguyễn Thị Mai Lương
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Tâm
Khoá học: 2017 – 2021
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC II LỜI CẢM ƠN IV DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ VII
ĐẶT VẤN ĐỀ 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1 Tổng quan về Bồ hòn 11
1.2 Tổng quan cây keo tai tượng và bệnh trên cây keo tai tượng 13
1.3.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 16
1.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh cây 21
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 22
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 22
2.4.2 Phương pháp điều tra tỷ lệ bị bệnh (P%), mức độ gây hại (R%) của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 23
2.4.3 Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu……… ……24
2.4.4 Phương pháp tạo chế phẩm sinh học 25
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu khả năng phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng của chế phẩm từ quả bồ hòn tại vườn ươm 27
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp 30
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 33
3.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.1 Khí hậu 33
3.1.2 Thổ nhưỡng 33
3.1.3 Thủy văn 34
3.2 Giao thông 34
Trang 3CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh phấn trắng cây Keo tại vườn ươm thuộc khu vực nghiên cứu 37
4.2 Đặc điểm triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng 40
4.3 Kết quả nghiên cứu khả năng phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây Keo của chế phẩm từ quả bồ hòn tại khu vực nghiên cứu 41
4.4 Đánh giá mức độ gây bệnh phấn trắng lá Keo trước và sau mỗi lần sử dụng chế phẩm 47
4.5 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ tại khu vực nghiên cứu 53
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành Bảo
vệ thực vật, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp em luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo Nhân dịp này cho em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo
bộ môn Bảo vệ thực vật rừng, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ em hoàn thành khoá đào tạo
TS Nguyễn Thành Tuấn, Ths Nguyễn Thị Mai Lương, giáo viên hướng dẫn khoa học đã định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu và năng lực có hạn nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót Em mong muốn nhận được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hòa Bình, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Minh Tâm
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nguyên nghĩa
BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu 2.1 Tỷ lệ bị bệnh phấn trắng Keo tai tượng (P%) 23
Biểu 2.2 Điều tra mức độ hại lá của bệnh hại 24
Biểu 2.3 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 31
Bảng 4.1: Tỷ lệ bị bệnh phấn trắng trước khi sử dụng thuốc (P%) 37
Bảng 4.2 Mức độ bị bệnh phấn trắng tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 4.3 Mức độ hại lá của bệnh nấm trắng lá Keo sau khi sử dụng chế phẩm bồ hòn ngâm lần 1 42
Bảng 4.4 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh phấn trắng lá Keo sau khi sử dụng thuốc lần 2 (Chế phẩm bồ hòn ngâm) 43
Bảng 4.5.Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh nấm trắng lá Keo sau khi sử dụng thuốc lần 3 (Chế phẩm bồ hòn ngâm) 44
Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả điều tra mức độ hại của bệnh trước và sau phun chế phẩm bồ hòn 45
Bảng 4.7 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 45
Bảng 4.8 Tỷ lệ tăng giảm bệnh hại lá ở các công thức (%) 47
Bảng 4.9 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh nấm trắng lá Keo trước khi sử dụng chế phẩm bồ hòn đun 48
Bảng 4.10 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh phấn trắng lá Keo sau khi sử dụng thuốc lần 1 (chế phẩm bồ hòn đun) 48
Bảng 4.11 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh hại Keo sau khi sử dụng thuốc lần 2 (chế phẩm bồ hòn đun) 49
Bảng 4.12 Kết quả điều tra mức độ hại lá của bệnh hại Keo sau khi sử dụng thuốc lần 3(chế phẩm bồ hòn đun) 49
Bảng 4.13 Tổng hợp kết quả điều tra mức độ hại của bệnh trước và sau phun chế phẩm bồ hòn đun 50
Bảng 4.14 Kiểm tra sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm 51
Bảng 4.15 Tỷ lệ tăng giảm bệnh hại lá ở các công thức 52
Bảng 4.16.So sánh hiệu lực của thuốc sau 3 lần phun 53
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Ô điều tra bệnh phấn trắng tại khu vực nghiên cứu 35Hình 4.1 Hình ảnh cây bị bệnh tại vườn ươm Kỳ Sơn 39 Biểu đồ 4.1: Tác động của các loại CT chế phẩm bồ hòn ngâm đến bệnh phấn trắng lá Keo sau các lần phun 46 Biểu đồ 4.2: Tác động của các loại CT chế phẩm bồ hòn đun đến bệnh phấn trắng lá Keo sau các lần phun 51
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta cũng thay đổi từng ngày từng giờ theo chiều hướng đi lên Sự thay đổi đó diễn ra ở các ngành nghề khác nhau Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu con người ngày càng cao hơn Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải nghiên cứu phải cân nhắc khi thiết kế xây dựng một chương trình nào đó phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với các lợi ích khác của xã hội Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành Lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó Hiện nay diện tích rừng đang được ngành lâm nghiệp quản lý, ngoài việc bảo vệ môi trường thì rừng nước ta đã góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước Tuy nhiên khi rừng trồng trên một diện tích lớn số lượng cây nhiều
và trồng thuần loài nên rất dễ bị bệnh hại phát triển Để đạt được hiệu quả tốt của việc trồng rừng thì điều quan trọng nhất ở đây phải tạo được cây giống tốt không sâu, bệnh Phường Kỳ Sơn – Hòa Bình đang có diện tích trồng keo tai tượng khá lớn Trung bình hằng năm trồng từ 6000 – 8000 ha, các rừng keo tai tượng chiếm tỉ phần kinh tế khá lớn đối với người làm lâm nghiệp nơi đây Nhưng bên cạnh đó loài keo tai tượng không
thể tránh khỏi loại bệnh hại như phấn trắng, do nấm Oidium sp gây ra Nấm bệnh xâm
nhiễm trên bề mặt lá non, chồi non để hút dinh dưỡng làm cho lá xoăn lại, khô chết Bệnh bắt đầu phát sinh vào tháng 11, nặng nhất là tháng 3 - 4 Trong điều kiện thích nghi và thời tiết âm u, bệnh rất dễ lây lan thành dịch, gây hại cây con trong vườn ươm, làm cho cây sinh trưởng chậm, bệnh nặng có thể làm cho cây con chết hàng loạt Đối với cây lớn mặc dù có nấm phấn trắng phủ kín nhưng không làm cho cây chết, song ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng, phát triển của cây, làm giảm chất lượng gỗ từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, ngoài ra bệnh hại còn có nguy cơ phát dịch trên diện rộng gây ảnh hưởng cho các rừng trồng lân cận Để nâng cao công tác quản lý, bảo vệ rừng keo tai tượng tại phường Kỳ Sơn thành phố Hòa Bình rất cần nắm bắt được những thông tin về mật độ, biến động, thời gian phát sinh gây hại của nấm phấn trắng hại keo từ đó đưa ra các giải pháp quản lý, phòng trừ thích hợp và kịp thời, giảm thiệt hại tối đa do nấm phấn trắng gây ra Trong các biện pháp phòng trừ bệnh hại thì biện pháp sinh học đang được quan tâm và sử dụng, ưu điểm của phương pháp này là không ảnh hưởng đến môi trường
Trang 9sinh thái, sức khỏe con người và sinh vật có ích, đồng thời đem lại lợi ích kinh tế sinh thái
Bồ hòn (Sapindus saponaria L.) là cây thân gỗ, to, chiều cao trung bình từ 5 – 10m,
một số cây có thể phát triển cao đến 13m Cây rụng là vào mùa khô, lá mọc so le, dạng kép lông chim, mỗi lá có khoảng 4 – 6 đôi lá chét mọc đối xứng Phiến lá có gân nổi rõ ở
cả hại mặt, mép nguyên, đầu nhọn và gốc hơi lệch Hoa mọc thành từng cụm ở đầu cành, hoa nhỏ và có màu lục nhạt Quả hình cầu, vỏ ngoài, có màu vàng nâu khi chín bên trong chứa hạt tròn, cây bồ hòn ra hoa vào tháng 7 – 9 và sai quả vào tháng 10 – 12 Quả bồ hòn ngày càng được nhiều người chú trọng đến, nhất là dùng bồ hòn làm enzym, vừa tạo được chất tẩy sạch, lại thân thiện với môi trường Hiện nay, nhiều nơi đã ứng dụng sinh học để tạo thuốc bảo vệ thực vật từ các chế phẩm thực vật Xuất phát từ lý do đó em thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây keo tai tượng
của chế phẩm thuốc từ quả bồ hòn (Sapindus saponaria L.) tại vườn ươm Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình” nhằm tìm ra biện pháp quản lý bệnh hại thích hợp vừa đảm bảo số
lượng, chất lượng cây trồng và hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về Bồ hòn
Bồ hòn, tên khoa học là Sapindus saponaria thuộc họ bồ hòn Sapindaceae, tên
tiếng Anh gọi là Soapnut Giống như trái bồ kết, quả bồ hòn được xem như là một loại thảo dược nổi tiếng trong kho tàng dược liệu
Đậc điểm sinh thái: Bồ hòn là cây cao to lá kép lông chim gồm 4 – 5 đôi lá chét
mọc đối nhau phiến lá chét nguyên nhẵn Hoa mọc thành chùy ở đầu cành Đài 5, tràng 5,nhị 8 Quả tròn màu vàng Vỏ quả nâu nhạt, da nhăn nheo, trong chứa hạt đen hình cầu
Bồ hòn ra hoa vào mùa hè Mùa quả tháng 7-12 Cây bồ hòn mọc nhiều từ vùng ôn đới đến nhiệt đới, ở Việt Nam bồ hòn được trồng ở các tỉnh phía Bắc nước ta như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Tây, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang
Đặc điểm sinh học: Cây bồ hòn mọc rải rác trong các khu rừng rậm, rừng thứ sinh,
ẩm; ven rừng, ven suối Cây cũng được trồng ven làng bản hoặc ở đình chữa Bồ hòn ưa sáng, ưa ẩm, ưa đất tốt, lớp đất mặt sâu dày Cây chịu hạn, nhưng không chịu úng Cây cũng có thể mọc trên nhiều loại đất khác nhau Trong tự nhiên, cây tái sinh từ hạt rất tốt
và sinh trưởng nhanh Bồ hòn cũng có khả năng tái sinh chồi từ gốc khoẻ Cây có thể ra hoa, kết quả hàng năm Mùa hoa tháng 4-5, mùa quả tháng 10-11 Thời gian cây Bồ Hòn
ra hoa kết trái là tháng 7-9 và quả chín vào thời điểm tháng 10-12 Quả Bồ Hòn có hình cầu, nổi rõ đường sống phía ngoài vỏ, cùi dày, khi quả chín sẽ nhăn nheo, màu của vỏ vàng nâu; hạt tròn và có màu đen Người dân hái quả bồ hòn về để nguyên cả quả hoặc bóc vỏ sau đó phơi khô
Trong quả bồ hòn có rất nhiều thành phần hóa học như Saponin (18%) các saponin trong dược liệu và có tính dược liệu mạnh như Saindosid A, B, E, E1, C, Y… Ngoài ra hạt bồ hòn còn chứa rất nhiều dầu béo ( 9 – 10 %)
Từ xa xưa khi chưa có các loại xà phòng, nước tẩy rửa bát hay sữa tắm công nghiệp, bồ hòn đã được ứng dụng để giặt quần áo làm sạch các vật dụng…
Trang 12Ngày nay, việc dùng các chất tẩy rửa có sẵn, tiện lợi nhưng độc hại trên thị trường dần được nhận thức khi mà các hiện tượng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, biến đổi khí hậu…đang diễn ra và đe dọa cuộc sống con người từng ngày thì các sản phẩm từ thiên nhiên như bồ hòn đã được nhiều người tìm tòi, thử nghiệm và nghiên cứu nghiêm túc nhằm thay thế các chất tẩy rửa độc hại và ứng dụng được nhiều hơn vào thực tế cũng như nhu cầu sử dụng
Sau đây là công dụng của bồ hòn được ứng dụng rộng rãi:
-Làm nước rửa chén, rửa bình sữa cho em bé
- Làm sữa tắm, dầu gội đầu, nước rửa tay bảo vệ da
- Dùng giặt quần áo
- Lau dọn nhà cửa
- Làm thuốc trừ sâu sinh học cho cây cối, rau, củ, quả…
Theo các tài liệu bồ hòn còn có tác chữa ho trừ đờm, chữa hôi miệng, sâu răng, trị bệnh ngoài da như ghẻ, bệnh nấm da
Trên thế giới có những nghiên cứu về thuốc trừ sâu được chiết suất từ quả bồ hòn
Đã có nghiên cứu “Điều chế nhũ tương nano dầu húng quế bằng cách sử dụng chiết suất
từ quả bồ hòn Nhu cầu về các công thức hữu cơ không chứa hóa chất trong ngành công nghiệp thực phẩm nhằm mục đích bảo quản thực phẩm đã thúc đẩy việc khám phá các chất bề mặt sinh học có khả năng tạo nhũ nano Quy trình chiết xuất saponin từ vỏ quả bồ hòn đã được tiêu chuẩn hóa Saponin được đặc trưng thông qua FTIR và NMR Dung môi được phát hiện có ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ micelle tới hạn (CMC) Chiết xuất trong nước mang lại CMC cao hơn (666,67 ppm) so với nước 1: 1: etanol (416,67 ppm) và chiết xuất etanolic (370,37 ppm) Nước chiết xuất từ bồ hòn (0,4%) được sử dụng làm chất hoạt động bề mặt sinh học để tạo nhũ tương nano dầu húng quế thông qua siêu âm DLS và TEM đã xác nhận hiệu quả của nó đối với quá trình tạo nhũ nano dựa trên kích thước giọt 37,7 và 57,6nm và các thử nghiệm độ ổn định Trong nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhũ tương nano công thức đã được nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn
chống lại các loại nấm làm hỏng thực phẩm thông thường Penicillium chrysogenum và Aspergillus flavus Do đó, dầu húng quế được tạo nhũ tương nano có hoạt tính ức chế cao
hơn (tối đa 20%) so với nhũ tương thô của nó Nhũ tương nano công thức ở 1000 ppm
Trang 13được phát hiện có hoạt tính ức chế 64-67% đối với các mầm bệnh này so với thuốc diệt nấm tiêu chuẩn Carbendazim Do đó, bồ hòn có thể nổi lên như một nguồn tiềm năng của chất hoạt động bề mặt sinh học để xây dựng các chế phẩm gốc nhũ tương cho an toàn thực phẩm Gajanan Gundewadi, Dhruba Hyori Sarkar, Shalini Gaur Rudra, Dinesh Singh (2018), Điều chế nhũ tương nano dầu húng quế bằng cách sử dụng chiết xuất từ quả bồ hòn Các đặc tính hóa lý và hoạt tính kháng nấm chống lại các mầm bệnh hư hỏng thực phẩm
1.1.2 Tổng quan cây keo tai tượng và bệnh trên cây keo tai tượng
Cây keo tai tượng giống là Cây gỗ lớn cao 25 – 30m,đường kính 60-80cm Thân mập, thẳng, vỏ ngoài màu xám, phân cành dài, nhánh non có 3 cạnh to
Cây lá đơn, mọc cách, dạng thuôn dài, cong phình rộng ở phần trên, đầu thuôn tù thu hẹp dần ở góc, hẹp theo cuống, màu xanh lục bóng Có 4 gân từ góc lá, cong theo phiến, gân nhỏ mạng lưới
Giống keo tai tượng có cụm hoa dạng bông ở nách lá Hoa nhỏ màu vàng
Giống khi quả đậu, thường dài dài và xoắn lại nhiều vòng, có màu nâu đậm Keo tai tượng được trồng ở nhiều nước nhiệt đới Châu Á Ở Việt Nam được trồng rộng rãi trong toàn quốc, thường trồng thành rừng tập trung, trồng xen, trồng phân tán
Giống mọc tốt trên nhiều lọai đất có pH: 4 – 5; đặc biệt sinh trưởng tốt ở những nơi đất tốt, tầng đất dầy, nơi có lượng mưa từ 1500 – 2500 mm/năm Cây mọc nhanh, khỏe, chịu đựng mọi hoàn cảnh Mọc trên nhiều loại đất: Đất pha cát ven biển, đất Bazan, đất bồi tụ Keo tai tượng là cây sinh trưởng nhanh, là cây ưu sáng hệ rễ có nốt sần, có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi tốt Cây sinh trưởng nhanh trong rừng trồng có thể cao thêm 1,3 đến 1,5m đường kính tăng 1,5 đến 1,8 cm mỗi năm, từ tuổi 20 trở lên tốc độ sinh trưởng chậm dần Keo tai tượng ra hoa vào tháng 9 - 10 quả chín tháng 2,3 năm sau Cây 2 tuổi có thể ra hoa kết quả Keo tai tượng là cây ưa sáng sinh trưởng nhanh hệ rễ có nốt sần cố định đạm, có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi tốt Keo tai tượng thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm bình quân 29 - 39oC chỉ chịu được sương giá nhẹ, lượng mưa từ 1000mm đến 4500mm/năm Không có mùa khô kéo dài Keo tai tượng sinh trưởng trên đất bồi tụ, ẩm tốt Trên đất xói mòn, lớp khô hạn nghèo dinh dưỡng, chua (độ PH = 4 - 5) vẫn sống song sinh trưởng kém Keo tai tượng phân bố ở Đông bắc Úc, Papua,
Trang 14Newziland, phía đông Inđonexia Tại Việt Nam, hầu như các tỉnh đều trồng loài cây này Loài cây này thích hợp trồng ở độ cao 400m đến 500m so với mặt nước biển, trên nhiều loại đất khác nhau (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000)
Đất bị xói mòn, chua, nghèo dinh dưỡng, khô hạn, đất phèn Keo vẫn sinh trưởng được bình thường và ra hoa kết quả Trong giai đoạn ở rừng mới trồng 1 - 2 tuổi cây Keo tai tượng thường rất hay mắc phải các bệnh gỉ sắt, đốm lá Keo, loét cành,… tỷ lệ cây bị bệnh lên cao có khi lên tới 90% làm cho cây bị chết khô kìm hãm sự ra lá thật của cây Ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng rừng trồng
Gỗ Keo tai tượng có nhiều tác dụng, làm nguyên liệu giấy, củi đun, bao bì,… Ngoài
ra Keo tai tượng là cây mọc nhanh tán rộng và hệ rẽ phát triển, dùng làm cây che phủ đất, cải tạo bảo vệ ở vùng đất trống đồi núi trọc, nó cũng là cây che phủ đất, cải tạo bảo vệ ở vùng đất trống đồi núi trọc, nó cũng là cây lục hóa, trồng trong công viên đường phố và lá
có thể làm thức ăn gia súc
Keo tai tượng là cây có giá trị kinh tế cao, dễ trồng, dễ mọc nhanh sớm khép tán….gỗ có màu trắng hoặc vàng nhạt có ánh bạc, gỗ nhẹ mềm, thơm, mịn dễ gia công, được dùng làm nguyên liệu giấy, gỗ ván dăm, gỗ trụ, đồ dùng, đóng đồ gia dụng Keo là một trong những loại cây trồng chủ yếu trên đất đồi núi trọc, bạc màu, chua phèn, nghèo kiệt xói mòn ở vùng trung du và rải rác ở một số tỉnh miền Bắc nước ta (Lê Mộng Chân
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Nghiên cứu về bệnh cây
Bệnh cây được biết đến từ khi con người biết nuôi trồng cây Tuy nhiên, khi đó họ chưa hiểu rõ về nguyên nhân của bệnh, họ cho rằng cây bị bệnh là do thần thánh (Nữ thần Robigo) Đến năm 1773, trên thế giới xuất bản cuốn sách đầu tiên về bệnh cây của nhà bác học người Đức Tallinger Cùng thời gian này, bảng phân loại đầu tiên về nấm cũng được công bố Ngày nay, nghiên cứu cây bị bệnh đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
Trang 15tế, với sự phát triển toàn diện của khoa học bệnh cây Do vậy, khoa học bệnh cây không chỉ xác định vật gây bệnh mà còn dựa vào cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa vật gây bệnh và thực vật, giữa thực vật với môi trường, giữa môi trường và vật gây bệnh để đưa
ra các biện pháp phòng trừ theo quan điểm quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM, Intergrated – Pest – Management)
Người đặt nền móng nghiên cứu khoa học bệnh cây rừng là Robert Hartig 1901) Năm 1874 ở châu Âu, ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu Kể từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như G.H.Hapting, nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ, trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970), đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị bệnh liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh
(1839-Năm 1953, L Roger đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong cuốn sách đó có một số bệnh hại lá của Thông, Keo, Mỡ John Boyce (1961) xuất bản cuốn sách Bệnh cây rừng (Forest pathology), đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản nhiều nước như Anh, Mỹ, Canada
1.2.2 Nghiên cứu về bệnh hại Keo
Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi Keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối
với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al., 1984; Pedley, 1987) Theo các ghi chép của trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald,
1996) thì các loài Keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện
tích khoảng 1.750.000 ha vào thời điểm đó Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường Các loài có
tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là Keo lá tràm (A auriculiformis), Keo lá liềm (A crassicarpa), Keo tai tượng (A mangium), Keo đa thân (A aulacocarpa) v.v còn các loài khác như A colei, A tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và
hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (Cossalter, 1987; House and Harwood, 1992)
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) là loài cây thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae),
bộ Đậu (Fabales) Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia rồi đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới Từ những
Trang 16năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới, trong đó có Philippin, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam
Năm 1961 – 1968 John Buyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại cây Keo
Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây Mỡ và cây Keo G.F Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại Keo Cây Keo có hiện tượng
bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá
Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletrichum gleosporioides.), đó là nguyên nhân chủ yếu của gây hại đối với loài Keo(A mangium)trong vườn giống ở
Papua New Guinea và Ấn Độ (FAO, 1981) Theo nghiên cứu của Lee và Goh, năm 1989
loài nấm này còn gây hại ở các loài Keo (Acacia sp.) Trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, lá
và thân cây Keocòn bị loài nấm Cylindrocladium quinqueseptatumgây hại (theo nghiên
cứu của Mohaman và Shaama 1988) Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài Keo như các công trình của Vannhin, L Rogen (1953) Spauding (1961), Peace (1962), Bakshi
(1964) Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia,
họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu
bệnh hại các loài Acacia
Năm 1988 - 1990, Benerge R (Ấn Độ) nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở
Kalyani nadia, đã phát hiện nấm Bào tử bột (Oidium sp.) gây hại trên cây con
Các nghiên cứu về bệnh hại trên cây Keo cũng đã được tập hợp khá đầy đủ trong
cuốn sách: “Cẩm nang bệnh hại trên cây Keoở Ôxtrâylia, Đông Nam và Ấn Độ”, trong đó
có các bệnh khá quen thuộc đã từng có ở nước ta như bệnh phấn trắng, bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Ken old et al, 2000)
1.3.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về bệnh cây
Việt Nam là một quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nên rất thuận lợi cho cho nhiều vật gây bệnh trên thực vật, phát sinh và gây hại, các cây trồng ít nhiều đều bị
Trang 17bệnh Song khoa học bệnh hại thực vật nói chung và khoa học bệnh cây rừng ở nước ta được bắt đầu nghiên cứu muộn hơn so với thế giới Môn khoa học bệnh cây rừng được phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003)
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, đã đưa đến không ít những thuận lợi nhưng cùng với đó là những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp Những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây rừng, cũng là những thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn sâu bệnh hại thực vật Nạn dịch sâu ăn lá, sâu hại thân cành, nấm gây bệnh trên thực vật,….Phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp (Vương Văn Quỳnh, 1996)
Năm 1960, Hoàng Thị My khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam đã đề cập một số bệnh hại lá: bệnh phấn trắng, bệnh gỉ sắt, nấm bồ hóng Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất
có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng; Trong đó có khoảng 600 loài nấm mục gỗ, trên 300 loài nấm hại
lá, hại thân, hại cành, hại rễ; trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã
có những công trình nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp phòng trừ (Trần Văn Mão, 1997)
Năm 1972, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh trên cây Hồi, Sở, Trẩu,… Tác giả đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại lá Nguyễn Kim Oanh, Phan Văn Mạch, Nguyễn Sỹ Giao cũng cũng đã nêu và mô tả một cách tỷ mỉ về bệnh hại trên nhiều loài cây Nhiều nhà nghiên cứu về bệnh cây trên thế giới như: Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1991) đã công bố báo cáo chuyên đề bệnh cây tại Hà Nội
Theo thời gian, khoa học bệnh cây rừng ngày càng phát triển bằng việc hoàn thiện
cơ sở lý luận và đưa ra những phương pháp phòng trừ bệnh hữu hiệu Nhờ đó, đã làm
Trang 18giảm bớt những thiệt hại do sâu bệnh hại gây ra đối với tài nguyên rừng Nhưng bên cạnh
đó, còn có nhiều bệnh rất nghiêm trọng mà chúng ta chưa có những biện pháp giải quyết triệt để Có bệnh có lúc, có nơi được khống chế nhưng trong điều kiện mới lại gây ra hại trở lại Cho nên, vấn đề bệnh cây rừng hôm nay vẫn phải được kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây trên những cơ sở lý luận và phương pháp phòng trừ để sáng tạo và phát triển cho việc áp dụng phòng trừ bệnh cây trồng của ngày mai
1.3.2 Những nghiên cứu về bệnh hại Keo
Keo tai tượng đã được tiến hành trồng từ những năm 1980, các loài Keo được nhập khẩu phục vụ khảo nghiệm loài, xuất xứ và được tiến hành trên nhiều vùng sinh thái Nguồn hạt giống chủ yếu do các dự án và tổ chức quốc tế tài trợ như các dự án của FAO, PAM, SIDA, SAREC, CSIRO… Keo tai tượng đã được gây trồng trên diện rộng trong cả nước và cho kết quả khả quan ở nhiều vùng sinh thái
Những năm 80, Keo lá tràm là loài cây Keo được trồng rộng rãi nhất ở các tỉnh phía Nam Hiện nay, trong Vườn thực vật của Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Nam bộ nằm trên đại phận thị trấn Trảng Bom, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai còn tồn tại hai hàng Keo lá tràm được trồng từ đầu những năm 1960, thuộc loại lớn nhất của nước ta (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992) Cây có chiều cao trên dưới 20m, đường kính
40 - 60cm Cây to nhất có đường kính đạt tới 80cm, thậm chí có cây hai thân, mỗi thân có đường kính 50cm Sau này, loài Keo này cũng đã trở nên quen thuộc trong các chương trình trồng rừng ở các tính phía Bắc
Từ đầu những năm 1980 trở lại đây, nhiều loài Keo đã được nhập về thử nghiệm ở
nước ta như Keo tai tượng (A.mangum), Keo lá liềm (A crassicarpa), Keo đa thân (A aulacocarpa), Keo bụi (A cincinnata), Keo lá sim (A holosericea) và sau này là Keo lai
tự nhiên được phát hiện và chủ động lai tạo (Sedgley et al, 1992)
Năm 1990, Keo tai tượng và Keo lá tràm được gieo ươm tại vườn ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội đã bị bệnh phấn trắng hại lá với mức độ khác nhau Nhìn bề ngoài, lá Keo như bị rắc một lớp phấn trắng Tỷ lệ bị bệnh và mức độ bệnh được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường Nhìn chung, bệnh chưa gây ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và khi đó cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu về nguồn gốc bệnh và các vấn đề liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997) Một vài năm gần đây, khi diện tích
Trang 19trồng Keo đã tăng lên đáng kể (gần 230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện bệnh ở rừng trồng Tại ĐạTẻh (Lâm Đồng), Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích
400 ha đã có 118,5 ha bị bệnh với tỷ lệ từ 5 – 7%, trong đó có một số diện tích bị khá nặng (Phạm Quang Thu, 2002) Tại Bầu Bàng, Bình Dương một số dòng Keo lai đã bị bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỷ lệ và mức độ bị bệnh khá cao, gây thiệt hại cho sản xuất
Bệnh “Die-back’ hay còn gọi là bệnh chết ngược Bệnh xâm nhiễm trên Keo lá tràm, phân bố cả phía Nam và phía Bắc Bệnh xuất hiện thành từng đám trên rừng trồng, làm chết lụi từng đám nhỏ cây Keo từ 10-15% số cây (diện tích không quá 0,3ha) Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh úa vàng cao hơn các bệnh khác trên cây Keo, bệnh gây hại trên cả Keo tai tượng và Keo lá tràm, Keo lá tràm dễ bị nhiễm bệnh hơn Keo tai tượng, bệnh làm cho cây sớm rụng lá Theo Jyoti K.Sharma, bệnh có thể do virus gây ra, chứ không phải do thiếu chất dinh dưỡng
Bệnh phấn trắng Keo tai tượng có đặc điểm phát sinh và gây hại khá phức tạp
Nấm gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại đây là do loài nấm Bào tử bột (Oidium sp.)
gây ra, đây là loài nấm chuyên ký sinh, sự tồn tại của chúng phụ thuộc hoàn toàn vào cây chủ Phần lớn thể sợi nấm sống ký sinh trên mặt ngoài cây chủ, bộ phận còn lại hình thành vòi hút, chui vào tế bào cây chủ lấy chất dinh dưỡng, thường gây hại trên tế bào biểu bì non trên cây Nấm bệnh qua đông trên các lá cây bị bệnh Khi gặp điều kiện nhiệt
độ thích hợp, nấm hình thành bào tử phân sinh rất nhanh, lây lan nhờ gió Thời kỳ ủ bệnh ngắn Vườn ươm bị che bóng, cây gieo ươm dày dễ xuất hiện bệnh phấn trắng Chế độ bón phân cũng ảnh hưởng đến quá trình phát bệnh, cây thừa nitơ, thiếu kali bệnh sẽ nặng hơn Trong điều kiện độ ẩm cao hoặc khô, thiếu ánh sáng thường có lợi cho sự phát triển của nấm phấn trắng
Nấm phấn trắng Keo không có hiện tượng chuyển cây chủ (cây chủ trung gian, bệnh lây lan từ cây này sang cây khác)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Tuấn về đặc tính sinh vật học của bào
tử nấm gây bệnh phấn trắng cho biết: Nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng rất lớn đến sự nảy mầm của bào tử nấm gây bệnh Đây cũng là một trong những yếu tố chủ yếu dẫn đến sự gây hại nghiêm trọng của nấm gây bệnh Độ ẩm thích hợp nhất cho bào tử nấm phấn
Trang 20trắng nảy mầm là ở độ ẩm 95% Trong phạm vi nhiệt độ từ 200C - 260C có ảnh hưởng lớn đến bào tử nấm nảy mầm, thích hợp nhất ở nhiệt độ 230C Bào tử nhạy cảm đối với nhiệt
độ cao, khi nhiệt độ trên 300C, tỷ lệ nảy mầm của bào tử nấm giảm xuống, điều này phù hợp với sự phát triển của vết bệnh vào mùa hè có nhiệt độ cao, bệnh không phát triển vào mùa hè Bào tử nấm phấn trắng nảy mầm có độ pH khá rộng (ở đây nói lên khả năng thích ứng với điều kiện môi trường của nấm bệnh) Bào tử nảy mầm thích hợp nhất ở điều kiện môi trường trung tính pH=7 Như vậy, giá trị pH không ảnh hưởng nhiều đến
sự nảy mầm của bào tử, có thể do bào tử nảy mầm chủ yếu dựa vào tổ chức bên trong tế bào cây chủ
Trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm không khí thấp, bào tử nấm gây bệnh có thể tồn tại đến 32 ngày Khi gặp điều kiện thích hợp, bào tử nấm có thể nảy mầm sau 4 đến 6 giờ, sau 16 đến 20 giờ có thể bảo đảm xâm nhiễm thành công Thời kỳ ủ bệnh của vết bệnh từ 3 đến 6 ngày
Mùa hè khi nhiệt độ không khí trên 280C thì bệnh ngừng lây lan, xâm nhiễm, thường không thấy bệnh phấn trắng vào mùa hè Mùa đông nếu nhiệt độ không khí xuống dưới 100C nấm ngừng phát bệnh Nguồn bệnh tồn tại trong đất, trong xác cành lá bệnh, trên lá và trên các phần non của cây bệnh Bào tử nấm gây bệnh không chết, thể sợi nấm hoặc bào tử nấm phấn trắng có khả năng qua đông, qua hạ trên phần ngọn non của cây chủ hoặc trên các vật rơi rụng khi gặp điều kiện thuận lợi chúng lại tiếp tục lây lan, xâm nhiễm lên cây, gây bệnh ở chu kỳ tiếp theo
Bệnh phấn trắng lá Keo phân bố cả hai miền Nam, Bắc Bệnh nặng có thể làm cho
lá rụng, cây khô rồi chết Tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng lá Keo ở Lào Cai lên đến 60%, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Do vây, bệnh phấn trắng lá Keo rất cần được quan tâm, đặc biệt ở giai đoạn gieo ươm Những nghiên cứu vềbệnh hại trên cho thấy, việc nghiên cứu phòng trừ bệnh hại ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm hạn chế sự phát sinh bệnh hại, nâng cao sức đề kháng của cây và cải thiện điều kiện môi trường Tuy nhiên, nghiên cứu về bệnh hại ở địa phương còn rất ít
và hạn chế nên chưa đáp ứng được mục tiêu kinh doanh rừng ổn định, lâu dài
Trang 21Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả muốn đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về bệnh hại cây rừng nói chung và bệnh hại cây con vườn ươm nói riêng ở địa phương
1.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh cây
Bồ hòn là cây thuốc có giá trị y học, thực phẩm chức năng, có thành phần là chất kháng sinh Do đó ngày có càng nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước về thành phần hóa học, dược tính đặc trưng Nhằm phát triển thuốc có nguồn gốc thiên nhiên
từ quả bồ hòn Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu đánh giá sử dụng chế phẩm từ bồ hòn trong quản lý sâu bệnh hại trên cây trồng chủ yếu là cây nông nghiệp Ở trong nước có công trình nghiên cứu về sử dụng một số loài thực vật và chế phẩm thảo mộc trong sản xuất rau họ hoa thập tự tại Thái Nguyên Trong nghiên cứu tác giả thử nghiệm các loại chế phẩm trừ sâu thảo mộc trên một số loài thực vật Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả diệt sâu xanh bướm trắng bằng các dung dịch ngâm thực vật pha với nước theo tỷ lệ 1:10 kết hợp 0.1% xà phòng bột và của chế phẩm Cho thấy hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng từ chế phẩm bồ hòn có hiệu lực tiêu diệt cao nhất (đạt 99,3% a sau phun 4 ngày) Đối với thí nghiệm ngoài đồng ruộng với cùng nồng độ và kết hợp xà phòng bồ hòn có hiệu lực phòng trừ cao nhất Bùi Lan Anh (2014), Nghiên cứu sử dụng một số loại thực vật và chế phẩm thảo mộc trong sản xuất rau họ hoa thập tự tại Thái Nguyên
Trang 22CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực
nghiên cứu
Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu
Xác định được khả năng phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng của chế phẩm
từ quả bồ hòn, từ đó đưa ra biện pháp quản lý bệnh hại phù hợp và ứng dụng vào trong thực tiễn nhằm đảm bảo năng suất sản xuất, tính kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện tại vườn ươm Keo tai tượng của Công Ty Lâm Nghiệp, phường Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
- Phòng thí nghiệm trung tâm Đa dạng sinh học và quản lý rừng bền vững, trong thời gian từ tháng 01/2021 đến hết tháng 5/2021
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu
- Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên
cứu
- Đánh giá kết quả thử nghiệm chế phẩm từ quả bồ hòn trong vườn ươm thuộc khu vực nghiên cứu, đưa ra biện pháp quản lý bệnh hại phù hợp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa số liệu về điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu như: Điều kiện tự nhiên, dân sinh - kinh tế khu vực nghiên cứu
- Kế thừa tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu trước đây về cây Keo tai tượng; nguyên nhân gây bệnh trên cây Keo tai tượng; nghiên cứu về bồ hòn sử dụng các chế phẩm phòng trừ sâu bệnh hại, …
Trang 232.4.2 Phương pháp điều tra tỷ lệ bị bệnh (P%), mức độ gây hại (R%) của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp điều tra bệnh hại dựa theo giáo trình: “Điều tra, dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp'' của tác giả Nguyễn Thế Nhã
Tại mỗi luống gieo ươm, lập 03 ô điều tra (02 ô điều tra ở đầu luống, 01 ô dạng bản
ở giữa luống) Diện tích mỗi ô dạng bản là 2m2 Kết quả điều tra được ghi vào mẫu bảng 2.1:
Biểu 2.1 Tỷ lệ bị bệnh phấn trắng Keo tai tượng (P%)
Ngày điều tra : ……… Người điều tra :…… …………
STT TT ODT Tổng số cây trong ô
(N)
Số cây bị bệnh (n)
Tỷ lệ bị bệnh (P%)
Tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng Keo tai tượng (P%) được tính theo công thức:
P% = n*100/N Trong đó:
P là tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng (%)
n là số cây bị bệnh phấn trắng
N là tổng số cây điều tra Sau đó, tính tỷ lệ bị bệnh trung bình của toàn khu vực nghiên cứu theo phương pháp bình quân cộng để đánh giá mức độ phân bố của bệnh phấn trắng, nếu:
0 ≤ ≤ 5%:Bệnh phấn trắng phân bố rải rác
5 < ≤ 25%:Bệnh phấn trắng phân bố theo cụm 25% < ≤ 50% Bệnh phấn trắng phân bố theo đám > 50% Bệnh phấn trắng phân bố đều Trong ô dạng bản tiến hành điều tra, đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống (cách 1 hàng điều tra 1 hàng, cách 5 cây điều tra 1 cây) Tổng số cây điều tra trong ô dạng bản tối thiểu là 30 cây
Trang 24- Điều tra, đánh giá mức độ bệnh lá: trên các cây điều tra tiến hành đếm tất cả các lá
và được phân cấp như sau:
Điều tra mức độ hại lá dựa trên cơ sở phân cấp 30 cây tiêu chuẩn
Để ước lượng mức độ bị hại của những lá điều tra, trên mỗi cành điều tra ta chọn 6
lá theo các vị trí sau: 2 lá ở gốc cành, 2 lá ở giữa cành và 2 lá ở đầu cành Căn cứ vào tỷ
lệ diện tích lá bị hại (bằng phương pháp ước lượng đơn thuần) so với tổng diện tích của lá rồi phân cấp hại cho các lá:
+ Cấp 0 (không): lá không bị hại
+ Cấp I (hại nhẹ): lá bị hại <25% tổng diện tích lá
+ Cấp II (hại vừa): lá bị hại từ 25-50% tổng diện tích lá
+ Cấp III (hại nặng): lá bị hại từ 50-75% tổng diện tích lá
+ Cấp IV (hại rất nặng): lá bị hại trên 75% tổng diện tích lá
Kết quả thu được ghi vào biểu mẫu sau:
Biểu 2.2 Điều tra mức độ bị bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực
nghiên cứu
Số hiệu ô điều tra:………
Ngày điều tra:……… Người điều tra:……….…
Trang 25Mô tả triệu chứng: Tiến hành quan sát trực tiếp vết bệnh bằng mắt thường và kính
lúp, kính hiển vi từ đó mô tả đặc điểm của triệu chứng bệnh như biến đổi về màu sắc, kích thước và hình dạng của vết bệnh
Lấy mẫu lá bệnh: Mẫu lá bệnh được lấy phải đại diện cho vết bệnh (vết bệnh rõ
ràng, không bị dập nát) và được cho vào túi polyetylen có bông thấm nước, buộc kín đem
về Trung tâm thực hành thí nghiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, trường
Đại học Lâm nghiệp để mô tả và xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng
Quan sát vật gây bệnh: Lấy lam kính sạch, nhỏ một giọt nước cất, dùng que cấy
nấm lấy vết bệnh có lớp bột màu trắng cho lên lam kính và đậy lamen Sau đó, tiến hành quan sát bào tử vật gây bệnh dưới kính hiển vi quang học, chụp ảnh và mô tả đặc điểm
hình thái, cơ quan sinh sản của vật gây bệnh
Xác định vật gây bệnh: Từ đặc điểm về triệu chứng, hình thái bào tử và cơ quan
sinh sản của vật gây bệnh So sánh, đối chiếu với tài liệu 贺运春(2008),真菌学, 中国林业出版,北京: 131-134 (Hạ Vận Xuân, 2008 Nấm học, NXB Lâm nghiệp Trung Quốc) Để xác định vật gây bệnh
2.4.4 Phương pháp tạo chế phẩm sinh học
Vật liệu nghiên cứu
- Thịt quả bồ hòn
Trang 26- Vỏ bưởi
- Nước cất
- Peptit, xilanh, ống đong, đĩa petri
- Ống nghiệm, bếp, nồi đun
Các bước cụ thể như sau:
1 Đầu xối rửa qua bồ hòn qua hết bụi bẩn Đổ 10 lít nước vào bình nhựa, hòa đường cho tan, thả bồ hòn vào, thêm 2kg vỏ dứa hoặc vỏ bưởi nhằm cung cấp nguồn thức
ăn cho vi sinh vật lên men
2 Thả bồ hòn vào đảo đều lên Có thể dùng nước vo gạo thay vì nước lã Ngày đầu ngâm đổ nước cho vừa tới bồ hòn, các lần sau đổ thêm cho tới khi đủ 10 lít
3 Lấy một chiếc rá đè cho bồ hòn không bị nổi lên mặt nước Nếu các không có rá
đè bồ hòn chìm xuống thì thi thoảng có thể mở nắp để đảo trộn Hoặc úp vải màn
xô lên trên tránh có con trùng chui vào thùng
4 Cần che chắn nhưng vẫn để thoáng như thế với mục đích những ngày đầu có khí
để trao đổi Sau khoảng 2 tuần thì đậy kín nắp lại nhằm tạo điều kiện yếm khí cho quá trình lên men
5 Đặt bình đó vào chỗ râm mát 1 tháng thấy bánh men dày và màu trắng đục
6 Sau 3 tháng các chắt nước chế phẩm đậm đặc ra dùng, pha theo các tỷ lệ theo mục đích
Pha chế phẩm bồ hòn:
Các công thức thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu
Trang 27+ Công thức 1 (CT1): Không pha loãng với nước (tỉ lệ 1: 0),
+ Công thức 2 (CT2): Pha loãng với nước tỉ lệ 1:1 (nồng độ 1:1),
+ Công thức 3 (CT3): Pha loãng với nước tỉ lệ 1: 5 (nồng độ 1: 5),
+ Công thức 4 (CT4): Pha loãng với nước tỉ lệ 1:10 (nồng độ 1:10),
+ Công thức 5 (CT5): Pha loãng với nước tỉ lệ 1:15 (nồng độ 1:15),
+ Đối chứng (ĐC1): Phun nước lã
Chế phẩm 2: Dung dịch đun (D Đ )
Cách làm: 1kg vỏ quả bồ hòn khô đã tách hạt, lấy thịt quả đem đun sôi với 5 lít nước, lửa nhỏ, sôi để khoảng 3giờ Để nguội, lọc qua nếu dung bình phun tay (nhằm mục đích giảm hiện tượng tắc các tia phun) hoặc cho vào bình tưới
Lưu ý: số bồ hòn này còn nấu đi nấu lại nhiều lần được
Các công thức thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu
+ Đối chứng (ĐC2): Phun nước lã
+ Công thức 6 (CT6): Không pha loãng với nước (tỉ lệ 1: 0),
+ Công thức 7 (CT7): Pha loãng với nước tỉ lệ 1:1 (nồng độ 1:1),
+ Công thức 8 (CT8): Pha loãng với nước tỉ lệ 1: 5 (nồng độ 1: 5),
+ Công thức 9 (CT9): Pha loãng với nước tỉ lệ 1:10 (nồng độ 1:10)
2.4.5 Phương pháp nghiên cứu khả năng phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng của chế phẩm từ quả bồ hòn tại vườn ươm
Sau khi xác định được nguyên nhân gây bệnh là nấm phấn trắng (Oidium sp) thì
tiến hành nghiên cứu khả năng phòng trừ từ chế phẩm bồ hòn
Thí nghiệm được thực hiện tại vườn ươm Kỳ Sơn – Hòa Bình
Thí nghiệm được tiến hành trên 4 cấp độ bệnh phấn trắng: (So sánh hiệu lực 2 dung dịch dạng ngâm và dạng đun), mỗi dung dịch phun nhắc lại 3 lần tại các thời điểm cách nhau 5-7 ngày Với 6 công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCDB) theo sơ đồ sau:
Trang 28CT1 CT5 CT3 CT2 CT4 CT2 CT3 ĐC CT1 CT4 CT2 CT4 CT5 CT1 ĐC
xử lý sau phun thuốc (sau 1, 2, 3 lần phun)
Thời điểm quan sát: trước lần xử lý thuốc và quan sát sau các lần phun 5 ngày Quan sát: Mức độ ảnh hưởng nấm phấn trắng trên cây để từ đó đánh giá được hiệu quả của thuốc trong phòng trừ bệnh, và ghi chép vào biểu sau:
Trang 29Biểu 2.3 Kết quả phòng trừ bệnh nấm phấn trắng trên cây Keo tai tượng của chế
Các chỉ tiêu theo dõi khác: Quy định mật độ, tỷ lệ dịch hại để thống kê diện tích nhiễm
dịch hại phụ lục 1 QCVN 01-38 : 2010/BNNPTNT do Ban soạn thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng biên soạn, Cục Bảo
vệ thực vật trình duyệt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại Thông tư số 71/2010/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 12 năm 2010