1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên thanh hóa

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên – Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Văn Oai
Người hướng dẫn ThS. Tạ Thị Nữ Hoàng, PGS.TS Hoàng Văn Sâm
Trường học Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Trên thế giới (10)
      • 1.1.1. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học (10)
      • 1.1.2. Các nghiên cứu về nhân giống cây trồng (11)
      • 1.1.3. Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng (13)
    • 1.2. Ở Việt Nam (15)
      • 1.2.1. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học (15)
      • 1.2.2. Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng (17)
      • 1.2.3. Một số nghiên cứu về các loài thuộc chi Cinnamomun (18)
  • Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (21)
    • 2.1. Các hoạt động kinh tế (22)
      • 2.1.1. Cơ cấu sử dụng đất các xã vùng đệm (22)
      • 2.1.2. Sản xuất lâm nghiệp (23)
      • 2.1.3. Các nghành kinh tế khác (26)
    • 2.2. Hiện trạng xã hội (26)
      • 2.2.1. Đánh giá về điều kiện kinh tế, xã hội (27)
    • 2.3. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên KTXH tới khu bảo tồn (28)
      • 2.3.1. Ảnh hưởng tích cực (28)
      • 2.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực (29)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (31)
    • 3.2. Đối tượng nghiên cứu (31)
    • 3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu (31)
      • 3.3.1. Nội dung nghiên cứu (31)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu (31)
  • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (31)
    • 4.1. Đặc điểm hình thái và giá trị nguồn gen Xá Xị (37)
      • 4.1.1. Đặc điểm hình thái (37)
      • 4.1.2. Giá trị nguồn gen và tình trạng bảo tồn (38)
    • 4.2. Đặc điểm sinh thái (39)
      • 4.2.1. Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có Xá xị phân bố tập trung (41)
      • 4.2.2. Đặc điểm tái sinh của lâm phần có Xá xị phân bố tập trung (46)
    • 4.3. Nhân tố ảnh hướng và giải pháp bảo tồn loài Xá xị (0)
      • 4.3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến loài Xá xị (47)
      • 4.3.2. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài Xá xị ................................................ 48 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (55)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (62)
  • PHỤ LỤC (66)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học

Odum E.P (1975) phân chia sinh thái học thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể, trong đó sinh thái học cá thể tập trung nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc loài, đặc biệt về chu kỳ sống, tập tính và khả năng thích nghi với môi trường Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái và sinh trưởng được mô tả bằng các phương pháp toán học gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm và quy luật phức tạp trong tự nhiên (theo Nguyễn Hải Tuất, 1982).

Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái dựa trên thuật ngữ của Tansley A.P (1935), nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa sinh vật và môi trường xung quanh, luôn tác động lẫn nhau trong trạng thái liên tục Khái niệm hệ sinh thái được làm rõ như một nền tảng để nghiên cứu các yếu tố cấu trúc từ góc độ sinh thái học.

Baur G.N (1964) đã nghiên cứu về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, tập trung vào các yếu tố cấu trúc rừng và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp cho rừng mưa tự nhiên Các phương thức xử lý mà tác giả đề xuất hướng đến hai mục tiêu chính: bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh rừng Nghiên cứu của ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp để duy trì bền vững nguồn tài nguyên rừng mưa.

Để cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi, cần tiến hành đào thải các cây đã quá thành thục và cây phi mục đích, nhằm tạo không gian dinh dưỡng và ánh sáng hợp lý Các biện pháp này giúp thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cây còn lại, góp phần duy trì sự đa dạng và bền vững của rừng nguyên sinh.

Tái sinh rừng được thực hiện thông qua các hoạt động xúc tiến tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo sau khai thác, kết hợp chăm sóc và nuôi dưỡng rừng để duy trì sự phát triển bền vững Nguyên lý xử lý lâm sinh nhằm mục tiêu tạo ra rừng đều tuổi và rừng không đều tuổi phù hợp với các đặc điểm sinh thái của rừng mưa, từ đó cải thiện chất lượng rừng và nâng cao hiệu quả khai thác Các phương pháp xử lý đa dạng nhằm thúc đẩy sự phát triển của rừng mưa, góp phần duy trì nguồn tài nguyên rừng lâu dài và bền vững.

Tái sinh rừng đóng vai trò then chốt trong việc phục hồi tài nguyên rừng và được nghiên cứu sâu rộng trong hơn nửa thế kỷ qua Nhiều tác giả đã phân tích sinh thái rừng mưa nhiệt đới để đề xuất các biện pháp tác động hợp lý nhằm xây dựng các hệ thống kỹ thuật lâm sinh phù hợp, như công trình của Baur (1974) tổng hợp các biện pháp lâm sinh dựa trên nghiên cứu sinh thái rừng mưa và phân loại chúng theo mục đích, từ đó thúc đẩy phát triển các rừng đều tuổi hoặc không đều tuổi Van Steenis (1956) nhận xét rằng, đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến quá trình tái sinh phân tán liên tục, bao gồm tái sinh liên tục và tái sinh vệt trong rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới Việc xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới rất quan trọng, đặc biệt khi cần bổ sung cây bằng các biện pháp trồng rừng ở châu Phi (Taylor, 1965; Bennard, 1955) hoặc bảo vệ cây tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới châu Á (Budowski, 1956; Bara, 1954; Catinot, 1965; Lamprecht, 1989), nhằm đảm bảo nguồn tài nguyên rừng bền vững.

1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống cây trồng

Giống là yếu tố then chốt trong trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng gỗ cũng như các sản phẩm từ rừng Các nước tiên tiến như Công Gô, Brazil, Swaziland, Malaysia và Zimbabwe đều đã tập trung nghiên cứu và ứng dụng công nghệ lai nhân tạo để tạo ra các giống cây trồng đạt năng suất cao Ở Công Gô, giống Bạch đàn lai có năng suất lên tới 35 m3/ha/năm sau 7 năm trồng; tại Brazil, giống Eucalyptus grandis đạt tới 55 m3/ha/năm, còn ở Swaziland, giống thông Pinus patula đạt 19 m3/ha/năm sau 15 năm trồng Zimbabwe cũng đã phát triển các giống Bạch đàn Eucalyptus grandis và E urophylla, đạt năng suất từ 35 đến 70 m3/ha/năm, góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng thâm canh.

Alan Longman đã dành 20 năm nghiên cứu về công việc trồng rừng, tập trung vào chọn và cải thiện giống cây rừng nhiệt đới ở châu Phi, đồng thời phân tích các rủi ro bất ngờ, khó khăn về tổ chức xã hội và các vấn đề sinh vật cản trở quá trình này Các rủi ro như cháy rừng, bão, lũ lụt và hạn hán đều đe dọa đến thành công của các dự án trồng rừng, trong khi các khó khăn về tổ chức bao gồm trình độ chuyên môn thấp, thiếu kinh nghiệm và nguồn đầu tư tài chính hạn chế từ nhà nước hoặc tư nhân Ông cũng nhấn mạnh các vấn đề sinh vật như thiếu hạt giống tốt, khó khăn trong ra rễ, sinh trưởng không đảm bảo và phù hợp với điều kiện lập địa của cây Nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào sản xuất giống và gây trồng bằng phương pháp hom và nuôi cấy mô, trong đó ông khẳng định rằng 80% cây rừng nhiệt đới có thể tạo giống từ hom, phù hợp với các nước nghèo có trình độ khoa học công nghệ chưa phát triển Tại trụ sở Wanariset tỉnh Kalimantan, Indonesia, ông đã thiết lập hệ thống kỹ thuật từ chọn giống, sản xuất cây con bằng phương pháp hom, tạo nấm cộng sinh trong vườm ươm đến các biện pháp kỹ thuật gây trồng, giúp trồng và cải tạo rừng của hàng chục loài cây họ Dầu và các loài cây quý khác Theo Eldridge K (1993), các chương trình chọn giống đã bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ trước tại nhiều nước như Brazil (1952), Mỹ (1966) và Australia (1970, 1973), trong đó đã nghiên cứu và xây dựng vườn giống cho các loài như E.maculata, E.robusta, E.regnans, E.grandis, cùng với việc chọn lọc 150 cây trội từ rừng tự nhiên của các loài khác như E.diversicolor và E.deglupta Các công trình này đã mang lại bước đột phá trong tăng năng suất rừng trồng, gấp 2-3 lần so với trước đây, với năng suất đạt tới 70-80 m³/ha/năm tại Brazil và 40-50 m³/ha/năm tại Côn Đảo, Pháp, Ý Kết quả này đã thúc đẩy hàng ngàn nông dân chuyển đổi đất canh tác sang trồng rừng, trong đó Thái Lan nhờ công tác chọn giống đã đạt sản lượng rừng Tếch khá cao.

1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng Ở vùng nhiệt đới, kỹ thuật lâm sinh được nghiên cứu một cách có hệ thống ra đời muộn hơn nhiều so với các nước ôn đối Vào nửa đầu thế kỷ XX, một loạt các công trình nghiên cứu về rừng nhiệt đới được công bố Những công trình có tính kinh điển cho nghiên cứu rừng nhiệt đới phải kể đến A.Chevalier

(1918, 1919, 1924, 1931, 1953), J.Van Steenis (1935, 1950, 1956, 1958), H.G Champion (1936,1939), A.Aubreville (1949, 1951, 1957, 1959), P.W.Richards

Trong các công trình nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh, tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” của G Baur (1964) nổi bật với việc hệ thống hóa lịch sử các phương pháp xử lý lâm sinh trong các quốc gia nhiệt đới, từ những phương pháp ban đầu đến các giải pháp có quản lý bài bản hơn Đến năm 1990, Đông Nam Á đã trồng 25 triệu ha rừng với 63 loài cây bản địa; tại Malaysia, năm 1999, đã xây dựng mô hình rừng trồng bền vững dựa trên ba đối tượng chính: rừng tự nhiên, rừng Acacia mangium 2-3 tuổi, và 10-15 tuổi, sử dụng tới 23 loài cây có giá trị kinh tế Tại Wanariset Station, Indonesia, các mô hình làm giàu rừng trên nền rừng thứ sinh nghèo và phục hồi rừng đất đã chứng minh rằng sử dụng cây bản địa trong tái sinh rừng là một phương pháp hiệu quả Trong khuôn khổ dự án AKECOP tại các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Lào và Việt Nam, các nghiên cứu phục hồi hệ sinh thái rừng thoái hóa bằng kỹ thuật lâm sinh và hệ thống nông lâm kết hợp đã đạt được kết quả tích cực, đặc biệt tại Philippines, nơi trồng rừng bằng cây Dái ngựa trên nền đất rừng dừa, dứa và hồ tiêu, cho năng suất cao hơn các phương pháp truyền thống.

Trong năm 1992, phần lớn rừng nhiệt đới trồng theo phương pháp độc canh, thuần loài với diện tích lớn chủ yếu do kỹ thuật đơn giản Ba chi chủ yếu chiếm 85% tổng số rừng trồng nhiệt đới vào năm 1980 gồm Eucalyptus, Pinus và Tectona Nghiên cứu về năng suất cho thấy có bốn nhân tố chính ảnh hưởng đến sự thay đổi năng suất giữa các luân kỳ: khí hậu, đặc điểm di truyền, thay đổi lập địa do thực hiện rừng trồng, và kỹ thuật lâm sinh cùng sinh học.

Ở Việt Nam

1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học

Phùng Văn Phê (2012) đã mô tả đặc điểm sinh học của cây Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn), một trong 44 loài thuộc chi Re của họ Long Não - Lauraceae tại Việt Nam Xá xị là cây gỗ lớn, thường xanh, cao đến 30 mét, thân có đường kính 70-100 cm, cành nhẵn, màu hơi đen khi khô, với lá đơn mọc cách, hình trứng hoặc trái xoan dài 5-15 cm, rộng 2,5-8 cm, có 4-7 đôi gân bên, tuyến mờ ở nách gân chính và gân bên Quả của cây hình cầu, đường kính 8-11 mm, mọc trên ống bao hoa hình chén, mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 7 và mùa quả chín vào tháng 10.

11 Xá xị là cây đa tác dụng và có phân bố rộng ở một số tỉnh phía Bắc và Trung bộ Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng Ngoài giá trị cho gỗ dùng trong xây dựng, làm tà vẹt và đóng đồ, các bộ phận của cây còn được chưng cất tinh dầu dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức và được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá mỹ phẩm, thực phẩm, dược phẩm Tinh dầu chứa trong hầu hết các bộ phận của cây Song người ta thường khai thác gỗ thân và rễ làm nguyên liệu chưng cất tinh dầu Tình trạng khai thác bừa bãi gỗ và rễ Xá xị để cất tinh dầu ở khắp các địa phương trong cả nước làm loài cây này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Đoàn Đình Tam (2008) khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của cây Chò chỉ tại vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ cho thấy: tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Chò chỉ phân bố trên đất Feralit đỏ và đỏ nâu phát triển trên đá vôi, tầng đất dày, hơi chua, độ bão hòa bazơ thấp Phân bố theo cụm hoặc đám, chủ yếu ở các vùng ẩm ướt trên các sườn đồi và đỉnh đồi đất hoặc các thung đá lẫn đất, chúng thường mọc cùng các loài gỗ khác như Trâm, Dẻ, Sấu, Kháo, tạo nên kiểu rừng có nhiều tầng thứ Chò chỉ có mức độ tái sinh tự nhiên thấp, tái sinh có dạng phân bố cụm, đám, số cây tái sinh thấp và chất lượng cây tái sinh trung bình Nguyễn Bá Văn (2007) khi nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Sâng tại Vườn quốc gia Cúc Phương - Ninh Bình cho thấy: Sâng là loài cây gỗ lớn sống lâu năm trong rừng tự nhiên, cao từ 10 - 35 m, đường kính có thể đạt từ

Gỗ có màu hồng nhạt, vỏ màu nâu, cành non phủ lông vàng, lá kép lông chim một lần mọc cách, chét gần đối từ 5-10 đôi, kích thước lá từ 20-40 cm dài, 4,5-5,5 cm rộng Hoa tự hình viên chùy, quả hình khối bầu dục hơi dẹt với chiều ngang 2,2-2,4 cm và chiều dài 3,2-3,6 cm, quả non màu xanh nhạt chuyển sang màu nâu đậm khi chín Một số loài thường mọc cùng Sâng như Nhò vàng, Vàng anh, Cà lồ, Quếch, Sấu, tại nơi tái sinh tự nhiên dưới tán cây mẹ, nhưng số lượng cây tái sinh giảm dần theo thời gian Nghiên cứu của Lê Quốc Huy và Hà Thị Mừng (2009) về đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây Dẻ đỏ, Kháo vàng, Giáng hương cho thấy Kháo vàng và Dẻ đỏ phân bố nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc và phía Nam, mọc ở độ cao 200-500 m, độ dốc 10-25 độ, lượng mưa hàng năm 1292-2749 mm, nhiệt độ trung bình từ 21,2-23,4°C Trong khi đó, Giáng hương chủ yếu phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ.

Bộ, nơi có nhiệt độ bình quân năm 21,9 - 26,9oC Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm 1960 Các kết quả nghiên cứu về tái sinh mới chỉ đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học hoặc công bố trên các tạp chí Lâm nghiệp Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) về “Thảm thực vật rừng Việt Nam” Ông đã nhấn mạnh: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và thứ sinh Vũ Đình Huề (1975) kết luận: tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam có đặc điểm của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm, kém giá trị Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Từ kết quả đó, tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta Trần Xuân Thiệp (1995) khi nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc cho thấy: Ở vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao thì tái sinh tự nhiên vẫn khá tốt về số lượng cây từ 500 - 8.000 cây/ha Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ là chủ yếu, nhóm loài cây rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ Vùng Trung tâm, tác giả cho biết sự nghèo kiệt nhanh chóng của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên thấp Vùng Đông Bắc, số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 - 12.000 cây/ha và so với các vùng khác thì vùng này có khả năng tái sinh tự nhiên tốt nhất Hoàng Văn Tuấn (2007) khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động thái tái sinh của hệ sinh thái rừng rộng lá thường xanh vùng Tây Bắc đã chỉ ra rằng: Có một sự tích lũy số loài ở các lớp cây có kích thước lớn hơn so với các lớp cây dưới đó Thực tế này phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng của các loài cây tái sinh và tùy vào kích thước của lỗ trống được tạo ra trong tán rừng làm tiền đề cho quá trình tái sinh

1.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng

Kỹ thuật lâm sinh là quá trình tạo dựng, chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác rừng dựa trên sự hiểu biết về sinh thái rừng nhằm duy trì và phát triển bền vững các lợi ích của rừng, phù hợp với các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường Kỹ thuật này liên quan đến quá trình hình thành rừng và nâng cao chất lượng thảm thực vật rừng, chỉ có thể thực hiện hiệu quả ở những nơi còn có rừng che phủ hoặc đủ điều kiện để trồng rừng mới Nghiên cứu của Nguyễn Đức Kiên và Ngô Văn Chính (2008) cho thấy Giổi xanh và Re gừng là những loại cây có tăng trưởng nhanh, không có sự khác biệt rõ ràng về sinh trưởng giữa phương pháp trồng thuần loài và hỗn giao, với hiệu quả tốt hơn khi trồng theo băng chặt/băng chừa 20m/20m so với 10m/10m Phạm Đình Tam (1996-2000) đã nghiên cứu kỹ thuật trồng Trám trắng để sản xuất gỗ dán, thiết lập các mô hình trồng thuần loài, hỗn giao và dưới tán rừng thứ sinh Kết quả theo dõi 10 năm cho thấy cây trồng dưới tán rừng thường phát triển kém hoặc không tồn tại, trong khi các loài như Re gừng, Dẻ đỏ, Sồi phảng, Lim xanh, Lát hoa và Đinh vàng sinh trưởng khả quan, phù hợp để bổ sung vào cơ cấu cây trồng rừng tại các vùng có điều kiện thích hợp.

Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây gỗ lớn nhập nội Giổi Bắc và Lát Mexico cho thấy hai loài cây này sinh trưởng tốt ở nước ta, có thể trồng thuần hoặc hỗn giao với các loài cây có tốc độ sinh trưởng tương tự Tuy nhiên, cả hai đều cần đất lập địa tốt, còn tính chất đất rừng, và Lát Mexico đặc biệt không phù hợp với đất chua Đến năm 2010, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng như mật độ, bón phân, và công thức hỗn giao chưa cho thấy ảnh hưởng rõ ràng đến sự phát triển của cây trong các thử nghiệm Các nguồn gốc của Giổi Bắc và Lát Mexico đều cho kết quả sinh trưởng và phát triển tốt tại các khu vực thử nghiệm Tuy nhiên, Lát Mexico thường gặp sâu hại nặng trong rừng trồng, do đó cần nghiên cứu bài bản hơn về sâu hại và xây dựng quy trình quản lý sâu hại chuẩn để đảm bảo thành công của rừng trồng loài này.

1.2.3 Một số nghiên cứu về các loài thuộc chi Cinnamomun

Vù hương (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999) là loài cây gỗ lớn, thường xanh, cao tới 30 m, với đường kính thân có thể vượt quá 100 cm Loài cây này ra hoa từ tháng 1 đến tháng 5 và quả chín vào tháng 7 đến tháng 8, sinh trưởng bằng cách tái sinh qua hạt Vù hương có phạm vi phân bố hẹp, chỉ còn xuất hiện ở một số vùng phía Bắc như Ba Vì (Hà Tây) và Cúc Phương (Ninh Bình) Cây thường mọc trong rừng nhiệt đới thường xanh, trên núi đất hoặc núi đá vôi, ở độ cao từ 100 đến 600 mét, thích nghi với đất thoát nước, nhiều mùn, cùng vài loài cây khác như Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) và Bứa (Garcinia sp.).

Sấu (Dracontomelum duperreanum) là một loại cây có giá trị trong y học cổ truyền Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương (2013) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cho thấy, thành phần chính trong tinh dầu Vù hương là safrol với hàm lượng rất cao, dao động từ 75-80%, bên cạnh đó còn chứa các hợp chất như B-pinen, eugenol và aldehyt cinamic Vù hương được sử dụng trong bài thuốc chữa ho gà, kiết lỵ, cầm máu, giảm đau, chữa phong thấp, đau dạ dày và mẩn ngứa ngoài da, thể hiện công dụng đa dạng trong y học cổ truyền Việt Nam.

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa và Nguyễn Văn Thọ (2005) về nhân giống bằng hom Vù hương cho thấy cây có khả năng ra rễ tốt, thậm chí với cây đã 15 tuổi, mà không cần sử dụng thuốc kích thích, mặc dù tỷ lệ ra rễ chỉ đạt khoảng 40% Sử dụng thuốc kích thích ra rễ như IAA ở nồng độ 0,5-1,5% có thể nâng cao tỷ lệ ra rễ của hom Vù hương lên tới 70-80%, tăng gấp 1,5 đến 2 lần so với phương pháp thông thường Điều này cho thấy khả năng ứng dụng công nghệ kích thích ra rễ để nâng cao hiệu quả nhân giống cây Vù hương trong bảo tồn nguồn gen.

Nghiên cứu cho thấy, sử dụng chất kích thích giúp tăng tỷ lệ ra rễ của hom cây Vù hương lên từ 60-80%, gấp đôi so với nhóm đối chứng Hà Văn Tiệp (2015) đã chứng minh rằng giâm hom Vù hương vào mùa khô từ tháng 9 đến tháng 12 cho tỷ lệ ra rễ cao hơn so với mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, với tỷ lệ cao nhất vào mùa khô Trong đó, thuốc IAA nồng độ 1,5% đạt tỷ lệ ra rễ 63,3%, còn thuốc ABT1 cùng nồng độ đạt 78,9% Ngược lại, mùa mưa tỷ lệ ra rễ cao nhất là 54% với thuốc IAA 1% và 69% với thuốc ABT1 1,5% Hiện tại, nghiên cứu nhân giống hom cây Vù hương trong nước còn hạn chế, phần lớn các thí nghiệm đã tiến hành từ lâu Kết quả cho thấy, khi không sử dụng thuốc kích thích, hom vẫn có khả năng ra rễ nhưng tỷ lệ thấp; trong khi đó, sử dụng thuốc kích thích giúp tăng tỷ lệ ra rễ và cải thiện chất lượng bộ rễ đáng kể.

Kỹ thuật gây trồng Vù hương ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của cây, đặc biệt là chiều cao và đường kính, khi nghiên cứu của Hà Văn Tiệp (2009) chỉ ra rằng trạng thái rừng phục hồi sau khai thác có tác động lớn hơn so với sau canh tác nương rẫy, giúp cây đạt chiều cao trung bình 64,27 cm Vù hương góp phần phục hồi rừng nghèo kiệt hiệu quả, đặc biệt tại các trạng thái rừng Ib, Ic và IIa Ngoài ra, đề tài đã xây dựng thành công mô hình phục hồi rừng nghèo kiệt bằng Vù hương trên diện tích 10 ha tại Sơn La và Hòa Bình, mở ra phương án trồng rừng bền vững và hiệu quả.

Phùng Văn Phê trong nghiên cứu năm 2013 về hiện trạng và giải pháp bảo tồn các loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Hòa Bình nhấn mạnh tính cấp thiết của các biện pháp bảo tồn Đặc biệt, ông đề xuất các giải pháp cụ thể để bảo vệ loài Vù hương tại Hòa Bình, góp phần duy trì đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen quý giá Lê Phương Triều cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các biện pháp này để đảm bảo sự bền vững của các loài thực vật nằm trong danh sách nguy cấp.

Vù hương là một loài cây gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao và là loài đặc hữu của Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng, đòi hỏi nghiên cứu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng Trên thế giới, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống của loài này còn hạn chế, trong khi các công trình trong nước chủ yếu tập trung vào khảo sát nguồn gen và mô hình bảo tồn Các nghiên cứu về nhân giống bằng giâm hom thường cho tỷ lệ ra rễ cao hơn khi sử dụng thuốc kích thích, nhưng kỹ thuật gây trồng cây Vù hương vẫn còn rất hạn chế Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) là một trong số ít công trình về đặc điểm sinh học của loài này tại Việt Nam, nhưng phần lớn các công trình còn thiếu các phương pháp nhân giống và gây trồng hiệu quả Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống, gây trồng Vù hương là rất cần thiết để bổ sung kiến thức khoa học, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây quý hiếm này.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Các hoạt động kinh tế

2.1.1.Cơ cấu sử dụng đất các xã vùng đệm

Diện tích các loại đất tính đến 01/01/2012 tại các xã vùng đệm được thể hiện qua bảng sau:

Mục đích sử dụng đất

Diện tích phân theo đơn vị hành chính xã

Vạn Xuân Tổng diện tích tự nhiên 66.499,91 20.576,18 19.094,63 8.161,46 4.543,74 14.123,90

1 Đất nông nghiệp 59.244,30 19552,71 17852,56 6959,72 3163,99 11.715,32 1.1 Đất sản xuất NN 2.952,32 562,58 239,37 1.072,78 421,62 655,97 1.2 Đất lâm nghiệp 56.226,21 18981,41 17607,93 5866,99 2734,01 11035,87 Đất rừng sản xuất 19.693,86 6609,74 5359,83 3461,41 1358,51 2904,37 Đất rừng phòng hộ 13.128,75 5496,97 3992,9 1195,58 574 1869,3 Đất rừng đặc dụng 23.406,60 6874,70 8255,2 1210,00 801,5 6265,2

1.4 Đất nuôi trồng thuỷ sản 65,77 8,72 5,26 19,95 8,36 23,48

Bảng 2 2 : Biểu diện tích các loại các xã vùng đệm khu BTTN Xuân liên

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Thường Xuân năm 2011 và kết quả phúc tra tháng 11 năm 2012)

Dựa trên số liệu trong bảng, tổng diện tích tự nhiên của 5 xã KBTTN Xuân Liên là 66.499,91 ha, phân thành ba loại đất chính gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Trong đó, quỹ đất đã được sử dụng cho mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp chiếm đến 94,0%, trong khi quỹ đất chưa sử dụng chỉ chiếm 6,0% tổng diện tích tự nhiên Diện tích quy hoạch vùng đệm là 39.678,6 ha, chiếm 55% tổng diện tích tự nhiên, nhưng trong tương lai, diện tích này sẽ bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.

Diện tích đất nông nghiệp trong khu vực chỉ chiếm 3,8% tổng diện tích tự nhiên của vùng đệm, với 2.952,32 ha, khiến cuộc sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào rừng Để đảm bảo phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng, các xã và KBTTN Xuân Liên cần phối hợp chặt chẽ trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng đệm.

2.1.2.1.Bộ máy tổ chức quản lý khu bảo tồn

Hiện tại, tổ chức có tổng cộng 43 cán bộ, công nhân viên chức, gồm 18 công chức, 2 viên chức, 4 người hợp đồng dài hạn và 19 lao động hợp đồng ngắn hạn.

- Lực lượng cán bộ công nhân viên có trình độ phân ra như sau:

- Trên đại học 1 người, chiếm 2,3 %

- Cao đẳng và trung cấp 4 người, chiếm 9,3 %

2.1.2.2.Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp vùng đệm

Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp được phân theo 3 loại rừng vùng đệm KBTTN Xuân Liên tính đến 01/01/2012 được thể hiện tại bảng sau:

Vùng đệm của KBTTN Xuân Liên gồm rừng phòng hộ, rừng sản xuất và đất thuộc đất lâm nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái và duy trì đa dạng sinh học khu vực Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tại vùng đệm được thể hiện rõ qua các số liệu trong bảng thống kê, phản ánh tình hình hiện tại và hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả hơn Việc nắm bắt chính xác tình hình rừng và đất lâm nghiệp vùng đệm giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động bảo tồn, phát triển bền vững khu vực này.

Rừng phòng hộ Rừng sản xuất

Tổng Đất có rừng Đất chưa có rừng

Tổng Đất có rừng Đất chưa có rừng

Sơn 4.656,90 1.195,58 1.195,58 3.921,31 3.461,41 459,9 Vạn Xuân 4.767,40 2.041,60 1.866,30 175,3 3.976,26 2.904,37 1.071,9 Xuân Cẩm 1.883,00 621,00 574,00 47 1.751,01 1.358,51 392,5

Bảng 2 3: Hiện trạng rừng và đất chưa có rừng phân theo 3 loại rừng

- Rừng phòng hộ: Diện tích 13.912,2 ha, chiếm 38,1% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố hầu khắp các xã Trong đó:

Đất có rừng chiếm 95,7% tổng diện tích rừng phòng hộ, với diện tích 13.125,75 ha, tuy nhiên giá trị và chất lượng của rừng tự nhiên còn thấp Các xã và Ban quản lý rừng phòng hộ cần thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng rừng, đặc biệt là đối với diện tích rừng tre nứa thuần loài, để đảm bảo chức năng phòng hộ hiệu quả.

Đất chưa có rừng rộng 587,7 ha, chiếm 4,3% tổng diện tích rừng phòng hộ, là đối tượng sẽ được đưa vào trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng trong thời gian tới nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái.

- Rừng sản xuất: Diện tích 22.684.65 ha, chiếm 62,3 % diện tích đất lâm nghiệp Phân bố đều trên địa bàn các xã Trong đó:

Đất có rừng rộng 19.693,86 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 18.392,7 ha và rừng trồng các loại là 1.301,16 ha Tuy nhiên, trữ lượng và giá trị kinh tế của rừng còn hạn chế, dẫn đến khả năng cung cấp lâm sản bị giới hạn, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế rừng bền vững.

Đất chưa có rừng có diện tích lên đến 2.990,8 ha, tập trung chủ yếu tại các khu vực như Yên Nhân (646,2 ha), Vạn Xuân (1.071,9 ha) và Lương Sơn (459,9 ha) Để khai thác hiệu quả loại đất này, cần áp dụng các giải pháp phù hợp như trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp.

2.1.2.3.các hoạt động lâm nghiệp khác

- Quản lý bảo vệ rừng

Công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Thường Xuân chủ yếu do hạt kiểm lâm huyện và hạt kiểm lâm của khu bảo tồn Xuân Liên đảm nhiệm Hiện nay, khu bảo tồn có 5 trạm bảo vệ rừng tại các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, cùng lực lượng bảo vệ rừng của ban quản lý rừng phòng hộ và các xã trong vùng Các lực lượng này tổ chức nhiều hoạt động tuần tra nhằm phát hiện và xử lý các vi phạm lâm luật Tính đến ngày 01/1/2012, diện tích đất có rừng trong vùng đạt gần 29 nghìn hécta, trong đó có diện tích khoanh nuôi được giao khoán bảo vệ Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, như lực lượng mỏng, trang bị phương tiện thiếu thốn, và tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra Một số hộ dân còn tự ý khai thác lâm sản, phát rừng để trồng cây lương thực, cây công nghiệp không theo quy hoạch đất đai của địa phương.

Trong nhiều năm qua, công tác trồng rừng tại địa phương đã được thực hiện liên tục và đạt được những thành tựu đáng kể Nhờ sự đầu tư từ các dự án như Dự án 327, Dự án 661 và các dự án trồng rừng sản xuất, diện tích rừng trồng đã tăng rõ rệt, góp phần vào phát triển bền vững của khu vực Tính đến nay, toàn vùng đã trồng hơn 1.042,34 ha rừng, chủ yếu gồm các loại cây Keo, Mỡ, Luồng, nhằm nâng cao đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

Chất lượng rừng trồng còn thấp, trữ lượng chưa cao, diện tích chưa đảm bảo mật độ và cơ cấu loài cây chưa phù hợp để phục hồi sinh thái ở vùng đệm Hiệu quả kinh tế từ rừng sản xuất còn hạn chế do chính sách đầu tư vốn và giải pháp thị trường chưa đủ hấp dẫn người trồng rừng, cần cải thiện để thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp.

Trong nhiều năm, công tác giao đất giao rừng theo Nghị định 02/CP đã đạt kết quả tích cực với tổng diện tích đã giao là 18.093 ha cho các hộ gia đình, trong đó phần lớn thuộc về các tổ chức như Ban Quản lý rừng phòng hộ, lực lượng vũ trang và UBND các xã trong vùng đệm Nhờ việc phân bổ đất rõ ràng, rừng được bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng và xây dựng trang trại ngày càng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, công tác này vẫn gặp phải một số bất cập, như ranh giới đất không rõ ràng, còn xảy ra tranh chấp đất đai, và tình trạng sử dụng đất không đúng quy hoạch hay mục đích đã giao, cần có những giải pháp để khắc phục hiệu quả hơn.

Khai thác và chế biến lâm sản

+ Hiện nay diện tích rừng khai thác chủ yếu là rừng trồng, hàng năm khai thác trong khu vực khoảng 1.000m3, 30.000 ster củi, 32.000 cây Luồng, 100.000 cây tre nứa khác

Hiện tại, địa phương có 4 cơ sở chế biến lâm sản hoạt động tại các xã Lương Sơn, Bát Mọt và Vạn Xuân, cùng với một số tổ mộc tại gia Các nguyên liệu chính sử dụng là gỗ tròn, và các sản phẩm gồm gỗ xẻ, ván sàn, cốt pha, đồ mộc gia dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài địa phương.

2.1.3.Các nghành kinh tế khác

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại địa phương hiện vẫn chưa phát triển nhiều, chỉ có một số cơ sở nhỏ hoạt động xay sát phục vụ nhu cầu tại chỗ của cư dân địa phương.

Hoạt động thương mại dịch vụ ở khu vực này còn phát triển chưa mạnh do khó khăn trong giao thông và cách xa trung tâm chợ tại các thôn vùng đệm Tuy nhiên, khu vực công trình Cửa Đạt bắt đầu có dấu hiệu phát triển, mở ra triển vọng mới cho sự phát triển kinh tế địa phương Trong tương lai, tuyến Yên Nhân, Bát Mọt kết hợp với tỉnh lộ 507 và mở cửa khẩu Khẹo (Bát Mọt) – Tha Lấu (Hủa Phăn - Lào) sẽ tạo cơ hội thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ Phát triển loại hình dịch vụ là yếu tố cần được tập trung phát huy trong chiến lược phát triển sắp tới của khu vực.

Hiện trạng xã hội

Theo Niên giám thống kê năm 2011, khu vực điều tra có 5 trạm y tế tại Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân và Cửa Đạt, cùng với 1 Phân viện tại xã vùng cao Bát Mọt Tổng số cán bộ y tế là 29 người, với 30 giường bệnh để phục vụ cộng đồng Các hoạt động truyền thông dân số, giáo dục sức khỏe và tiêm chủng được thực hiện đều đặn, góp phần kiểm soát tốt các chỉ số y tế Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong khu vực là 8.71%, phản ánh quá trình phát triển dân số ổn định.

Mặc dù tỷ lệ mắc các bệnh khu vực như sốt rét, bướu cổ còn rất thấp, nhưng y tế cơ sở vẫn đối mặt với nhiều khó khăn Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu hụt đáng kể, nhiều trạm xá bị xuống cấp và không đủ trang thiết bị y tế, thuốc men, giường bệnh để đáp ứng nhu cầu khám và điều trị cho cộng đồng.

Theo Niên giám thống kê năm 2011, huyện Thường Xuân có tổng cộng 87 phòng học mầm non với số học sinh là 1.666 em và 127 giáo viên Đối với khối tiểu học, có 155 phòng học, 2.209 học sinh và 207 giáo viên, trong khi khối trung học cơ sở gồm 78 phòng học, 1.626 học sinh và 163 giáo viên Hiện tại, huyện có 189 phòng học kiên cố và 131 phòng học bán kiên cố, nhưng vẫn còn 174 học sinh chưa đến trường và số người mù chữ chủ yếu tập trung ở các thôn vùng sâu, vùng xa như Đục, Vịn, nơi giao thông đi lại khó khăn và địa bàn nghèo đói Trong những năm qua, sự quan tâm của các cấp chính quyền đã nâng cấp cơ sở vật chất cho ngành giáo dục, tuy nhiên, trong tương lai cần đầu tư thêm để nâng cấp và xây mới nhiều phòng học kiên cố nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học Đội ngũ giáo viên tiểu học phần lớn được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn phù hợp, nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu thực tế Trong khi đó, giáo viên mầm non chủ yếu được tuyển dụng từ các thôn, chưa qua đào tạo chính quy, mới chỉ tham gia các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc chưa qua đào tạo.

2.2.1.Đánh giá về điều kiện kinh tế, xã hội

Vùng đệm của khu bảo tồn Xuân Liên có lực lượng lao động dồi dào, sẵn sàng tham gia các chương trình quản lý và bảo vệ rừng do Nhà nước triển khai Khu vực này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút cộng đồng địa phương tham gia các dự án bảo tồn và phát triển bền vững của khu bảo tồn Xuân Liên Nhờ vào nguồn nhân lực phong phú, vùng đệm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, thúc đẩy sự phối hợp giữa các nhóm cộng đồng, chính quyền và các tổ chức liên quan.

Khu vực đệm thuộc vùng Xuân Liên trong huyện Thường Xuân đang trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ với sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là các ngành Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Dịch vụ Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, bộ mặt nông thôn miền núi có nhiều đổi thay nhờ vào các dự án đầu tư vào hạ tầng cơ sở Đồng bào các dân tộc trong vùng đã ổn định cuộc sống, định canh định cư, đồng thời phát huy tiềm năng của từng địa phương để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Công tác giao đất lâm nghiệp trên địa bàn vùng đệm diễn ra kịp thời và đồng bộ, góp phần xác định rõ quyền sở hữu rừng và thúc đẩy công tác bảo vệ rừng Các hoạt động bảo vệ rừng theo hướng xã hội hóa đã đi vào nền nếp, phát huy hiệu quả rõ rệt, giúp nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên rừng Phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng đã phát triển mạnh mẽ trong nhân dân, góp phần ổn định hệ sinh thái và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đệm.

Trong những năm qua, các dự án chương trình đã xác định được tập đoàn cây lâm nghiệp phù hợp cho địa phương, mang lại hiệu quả cao nhờ kỹ thuật trồng và chăm sóc thích hợp với điều kiện lập địa khác nhau Các loại cây nông nghiệp hàng năm như mía, ngô, sắn có giá cả và thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm đói nghèo tại huyện Thường Xuân, đặc biệt là trong 5 xã vùng đệm.

- Tình hình sản xuất và đời sống:

Hiện nay, sản xuất tại khu vực này vẫn chủ yếu dựa trên phương pháp truyền thống, với trang thiết bị và kỹ thuật còn hạn chế Công tác khuyến nông, khuyến lâm chưa được đẩy mạnh, chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên khiến năng suất cây trồng thấp và chất lượng sản phẩm chưa cao Hoạt động tín dụng ngân hàng tại các thôn vùng lõi của vườn gặp nhiều khó khăn do người dân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dẫn đến hạn chế trong nhu cầu vay vốn và hiệu quả sử dụng nguồn vốn còn thấp.

+ Chăn nuôi nhỏ lẻ và chủ yếu là thả rông vào rừng đặc dụng nên tình hình dịch bệnh chưa được kiểm soát

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn chậm phát triển, chủ yếu gồm các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ, phân tán Phần lớn các hoạt động này chưa được tổ chức bài bản và mới tập trung chủ yếu ở các khu vực thị trấn, thị tứ.

- Thực trạng Văn hoá - Xã hội:

Trình độ dân trí thấp và không đồng đều đã ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa Các hoạt động văn hóa tinh thần còn đơn điệu, kết hợp với nạn mê tín dị đoan vẫn còn phổ biến Điều này làm hạn chế sự phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy tình trạng tảo hôn xảy ra rộng rãi trong cộng đồng.

+ Nước sinh hoạt và nước phục vụ cho sản xuất đã được đầu tư nhưng đã và đang xuống cấp cần được đầu tư

Mạng lưới dịch vụ thương mại, cửa hàng mua bán của Nhà nước chỉ có ở trung tâm cụm, xã

Điều kiện chăm sóc sức khỏe ban đầu và chữa bệnh tại cộng đồng thôn bản còn hạn chế do thiếu thuốc chữa bệnh, các cán bộ y tế địa phương chưa qua đào tạo cơ bản.

Sinh hoạt văn hóa tinh thần còn đơn điệu và thiếu đa dạng, trong khi các hủ tục mê tín dị đoan vẫn còn tồn tại phổ biến, làm hạn chế sự phát triển của bản sắc văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, tình trạng tảo hôn xảy ra rộng rãi gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhân khẩu học và phát triển xã hội.

Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên KTXH tới khu bảo tồn

Trong những năm gần đây, các xã trong vùng đã nhận được sự ưu tiên đặc biệt từ Trung ương và tỉnh qua nhiều chương trình đầu tư, như chương trình 135, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương Đây là cơ hội quan trọng giúp các xã nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững tại khu vực.

Khu vực này còn tiềm năng đất đai rất lớn, với điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển đa dạng cây trồng và nền nông nghiệp hàng hóa Các loại cây trồng chính gồm đậu tương, lạc, mía cùng các cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày như cây ăn quả như nhãn, đu đủ… phù hợp để mở rộng quy mô sản xuất Ngoài ra, khu vực thích hợp xây dựng mô hình nông – lâm kết hợp và phát triển chăn nuôi gia súc theo mô hình trang trại, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp.

Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động nông nghiệp phong phú của vùng, đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Tinh thần đoàn kết và ý chí vượt qua đói nghèo của cộng đồng là yếu tố lợi thế cạnh tranh quan trọng, góp phần nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy vùng phát triển bền vững.

Cơ sở hạ tầng được tăng cường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển rõ rệt Mức hưởng thụ văn hóa tăng nhanh đã giúp giảm bớt sự cách biệt giữa các xã trong huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đoàn kết cộng đồng Sự phát triển này đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, từ đó giúp người dân an tâm đầu tư sản xuất, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của vùng.

Săn, bẫy động vật hoang dã là nguyên nhân chính gây suy giảm quần thể của nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là nhóm thú lớn và linh trưởng trong KBT Các hoạt động săn bắn như sử dụng súng, chó săn và bẫy vẫn diễn ra với quy mô nhỏ và tính lén lút Mục tiêu chủ yếu của hoạt động săn bẫy là để buôn bán cho thị trường địa phương các loài động vật phổ thông Ngoài ra, sức ép săn bắn từ vùng đệm của KBT vẫn rất lớn, với nhiều thợ săn đã và đang sử dụng súng săn trong khu vực Thông tin này cho thấy nhận thức của người dân về việc tuân thủ các quy định bảo vệ thiên nhiên và quy chế quản lý của KBT còn hạn chế.

Hoạt động khai thác gỗ trái phép đang gây ra đe dọa nghiêm trọng đến tài nguyên đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng tại KBT Các xã vùng đệm chủ yếu sử dụng nhà sàn truyền thống, với hơn 60% số nhà làm từ gỗ tự nhiên, gây áp lực lớn đến nguồn tài nguyên rừng của khu bảo tồn Hiện tại, chưa có vật liệu thay thế nào từ rừng trồng để thay thế gỗ tự nhiên trong việc xây dựng và sửa chữa nhà sàn, ngoại trừ ván lát sàn, khiến nguồn cung gỗ tự nhiên ngày càng cạn kiệt Nhu cầu sử dụng gỗ cho mục đích nhà ở đặt ra thách thức lớn đối với bảo vệ tài nguyên rừng và sự phát triển bền vững của KBT.

Củi là nguồn nhiên liệu chủ yếu của người dân ở các xã vùng đệm của khu bảo tồn Trung bình mỗi hộ gia đình tiêu thụ khoảng 10kg củi mỗi ngày, tương đương 300kg mỗi tháng, với mức tiêu thụ tăng đột biến vào mùa đông để phục vụ nhu cầu sưởi ấm Các loại cây khai thác chính là những cây trưởng thành có chất lượng gỗ tốt, đảm bảo lượng nhiệt cao, đồng thời giữ gìn sự bền vững của rừng, không khai thác các cây chết hoặc cây nhỏ.

KBT tiếp giáp với năm xã vùng đệm có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và chăn nuôi Do đó, áp lực chăn thả gia súc, gia cầm của các hộ gia đình trong vùng đối với KBT là rất lớn, ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và sinh thái của khu vực.

Chăn thả gia súc tự do đang tác động tiêu cực đến thực trạng của KBT, chủ yếu xảy ra ở các khu vực giáp ranh nhưng có nguy cơ phát triển sâu vào các vùng khác nếu không được quản lý đúng cách Việc gia súc dẫm đạp trong các vùng chăn thả gây hủy hoại tầng thảm xanh, làm giảm khả năng bảo tồn các loài thực vật quý và cây gỗ tái sinh Đồng thời, hoạt động chăn thả tự do góp phần làm tăng khả năng rửa trôi, xói mòn đất và ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái của KBT.

MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Mục tiêu nghiên cứu

Chúng tôi cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển Loài Xá Xị, đồng thời bảo tồn nguồn gen của loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa Sự nghiên cứu này góp phần duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ các loài thực vật có giá trị, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững khu bảo tồn Việc bảo tồn nguồn gen Loài Xá Xị không chỉ bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá mà còn đảm bảo phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương.

+ Xác định được tình hình phân bố tự nhiên của loài Xá Xị tại khu BTTN

Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

+ Xác định được một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học loài Xá Xị tại khu vực nghiên cứu

+ Đề xuất được biện pháp bảo tồn cho loài Xá Xị

Đối tượng nghiên cứu

Loài Xá Xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hiện trạng loài Xá xị tại khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh

Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, tái sinh loài Xá Xị tại khu

BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển cây Xá Xị tại đây

Phương pháp kế thừa số liệu

- Thu thập các tài liệu liên quan đến các loài thực vật nguy cấp quý hiếm như danh mục các loài trong sách đỏ Việt Nam, Nghị định 06/2019 NĐ C

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm hình thái và giá trị nguồn gen Xá Xị

- Tên phổ thông: Xá Xị

- Tên khác: Co chấu, Re dầu, Xá xị

- Tên khoa học: Cinnamomum parthenoxylon(Jack) Meisn

- Tên đồng nghĩa: Laurus parthenoxylon Jack, 1820; Laurus porrecte

Roxb 1832; Sassafras parthenoxylon (Jack) Nees, 1836; Cinnamomum simondii Lecomte, 1913; Cinnamomum porrectum (Roxb.) Kosterm 1952

Cây gỗ có kích thước trung bình đến lớn, thân hình trụ thẳng cao từ 20-25m và đường kính thân từ 40-70cm Lá rụng ít hoặc nhiều, gốc cây phình to và đôi khi có bạnh gốc, tạo nét đặc trưng cho loài cây này Vỏ ngoài của cây có màu nâu, nâu xám đến xám đậm, thường nứt dọc và bong tróc thành từng mảng, với thịt vỏ màu nâu đỏ nhạt Các cành non tròn, thô, có cạnh, màu lục xám, góp phần tạo nên vẻ ngoài đặc trưng của cây.

Lá đơn nguyên, mọc cách, có hình dạng hình bầu dục hoặc hình trứng, kích thước từ 5-15cm x 2,5-8cm Đầu lá nhọn, ngắn, trong khi gốc thường có hình nêm hoặc nêm rộng Mặt lá nhẵn ở cả hai bên, với 3-8 đôi gân bên nổi bật Cuống lá dài từ 1,2 đến 3cm, giúp nhận diện dễ dàng và phù hợp cho các tiêu chí SEO về đặc điểm lá của cây.

Cụm hoa dạng chuỳ hay tán; mọc ở đầu cành hay nách lá; mỗi cụm mang khoảng 10 hoa Hoa lưỡng tính; bao hoa 6 thuỳ, màu trắng vàng; nhị 9, bao phấn

4 ô, chỉ nhị có lông, 3 nhị vòng trong có 2 tuyến mật; nhị lép 3

Quả mọng, hình cầu, đường kính 0,6-1cm; đế hình chén, có khía răng, khi chín màu xanh vàng hoặc tím đen

4.1.2.Giá trị nguồn gen và tình trạng bảo tồn

Xá xị là loài cây hiếm có nguồn gen đa dạng, phân bố chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Nghệ An.

Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận là những địa phương có nguồn cây gỗ có giá trị cao trong ngành xây dựng và chế biến Các bộ phận của cây không chỉ được sử dụng để sản xuất gỗ xây dựng, làm tà vẹt, đóng đồ mà còn được chưng cất tinh dầu phục vụ công nghiệp và y dược Gỗ có đặc tính tốt, vân đẹp, ít bị nứt nẻ hoặc biến dạng khi khô, chống mối mọt, chịu nước tốt và dễ gia công chế biến Lá của cây còn được dùng trong y học để cầm máu, điều trị đau dạ dày, phong thấp, mẩn ngứa ngoài da; trong khi quả có công dụng chữa cảm, sốt, lỵ, ho gà, giúp cải thiện sức khỏe.

Tinh dầu Xá xị được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm, nhờ những đặc tính nổi bật của nó Các công dụng của tinh dầu còn bao gồm thuốc xoa bóp, chữa bệnh thấp khớp và giảm đau nhức Tinh dầu chứa trong nhiều bộ phận của cây như lá, vỏ, thân và rễ, nhưng chủ yếu tập trung trong gỗ thân và rễ để phục vụ quá trình chưng cất Với giá trị thương mại cao trên thị trường quốc tế, tinh dầu Xá xị là sản phẩm có tiềm năng phát triển lớn.

Tình trạng khai thác bừa bãi gỗ và rễ Xá xị để cất tinh dầu đang đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của loài cây này tại Việt Nam Loài Xá xị có khu phân bố bị chia cắt, chịu áp lực khai thác ngày càng lớn và hiện nay chỉ còn số ít cây trưởng thành, đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao Việc khai thác chưa có kiểm soát chặt chẽ đã góp phần đẩy nhanh quá trình suy giảm nguồn tài nguyên quý giá này Cần có các biện pháp bảo vệ, quản lý rừng và thúc đẩy trồng lại để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững của loài Xá xị.

Xá xị được xếp vào nhóm IIA theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ năm 2019, đồng thời nằm trong nhóm CR vô cùng nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 Trong danh lục đỏ của IUCN, loài này được xếp vào nhóm thiếu dữ liệu để đánh giá, khiến cho việc xác định chính xác tình trạng của chúng trở nên khó khăn Do đó, việc cung cấp thông tin về phân bố và hiện trạng bảo tồn của loài Xá xị là vô cùng quan trọng để thúc đẩy công tác quản lý và phát triển bền vững loài thực vật này.

Đặc điểm sinh thái

Xá xị phân bố rộng ở Việt Nam, thích nghi với độ cao 500-700 m, thường chiếm tầng trên của tán rừng và chiếm tỷ lệ cao trong các loài hiện diện Cây mọc trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đất hoặc núi đá vôi, với dạng hình ngoài thay đổi theo loại đất, như đất bazan có màu đỏ nhạt hoặc nâu vàng, trong khi đất phiến thạch, đá phong hóa và đất axit lại có màu đỏ vàng nhạt Xá xị phát triển mạnh trên đất ráo, màu mỡ, sườn núi có tán rừng trung bình, và phát triển nhanh khi đạt từ 15-25 năm tuổi Khi còn non, cây ưa bóng râm nhẹ, trưởng thành lại ưa sáng, ra hoa từ tháng 3 đến 6, và quả chín từ tháng 6 đến 10 Ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Xá xị cho chất lượng sinh trưởng tốt, chứng tỏ khả năng thích nghi cao trong điều kiện tự nhiên.

Trong tổng số 17 cây ghi nhận được, không có cây nào có chất lượng xấu, trong đó 78% cây có chất lượng tốt và 22% cây có chất lượng trung bình Dữ liệu chủ yếu từ 16 OTC, được phân bố đều trong khu vực, bao gồm 13 OTC nằm tại tuyến Hón Can, xã Vạn Xuân, Thường Xuân, Thanh Hóa do tôi, thầy Lý, các cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương thực hiện, cùng 3 OTC tại bản Vịn, xã Bát Mọt, Thường Xuân, Thanh Hóa do tôi và kiểm lâm phối hợp thực hiện Kết quả thu thập thể hiện rõ trong bảng số liệu kèm theo.

Tên tuyến Địa danh Chỉ tiêu

Bảng 4 1: Kết quả điều tra xá xị trưởng thành

Kết quả nghiên cứu cho thấy Xá Xị phân bố ở độ cao từ 95m đến 857m, với đường kính ngang ngực trung bình là 54,74 cm và đường kính tán trung bình là 6,89m Chiều cao vút ngọn đạt khoảng 15,56m, trong khi chiều cao dưới cành là 9,4m Các thể Xá Xị phân bố không tập trung đều, phản ánh sự phân bố không đồng đều trong khu vực nghiên cứu Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có Xá Xị phân bố tập trung cho thấy các đặc điểm sinh thái phù hợp với điều kiện sinh thái của loài, góp phần hiểu rõ hơn về sự phân bố và hệ sinh thái của Xá Xị trong tự nhiên.

Khu BTTN Xuân Liên, Xá xị phân bố ở 6 dạng sinh cảnh rừng khác nhau, bao gồm rừng gỗ trung bình nhiệt đới núi đất, rừng gỗ trung bình và tre nứa nhiệt đới núi đất, rừng tre nứa lác đác cây gỗ nhiệt đới núi đất, rừng giàu nhiệt đới núi đất, vườn đồi và vườn đồi rừng nghèo phục hồi Trong số 16 OTC thực hiện tại các sinh cảnh này, Xá xị phân xuất hiện ở tất cả các dạng sinh cảnh, thể hiện sự phân bố đa dạng và phổ biến của loài trong khu vực Các chỉ tiêu cấu trúc tổ thành tầng cây cao được tóm tắt rõ nét, phản ánh đặc điểm và sự đa dạng về tầng lớp của hệ sinh thái rừng trong khu bảo tồn này.

6 OTC có Xá xị phân bố (do BQL KBT điều tra và cung cấp) được thể hiện trong Bảng 4.4

Lập bảng CTTT tầng cây cao

Số cây xá xị CTTT lâm phần

2 TH02 SC3 1 1XX+1VT+1DG+1BB+1B+1M

3 TH03 SC2 1 2DGD,DLB+1.33NR+4.67LK

4 TH04 SC1 1 2.94TMQ+1.18RR,MC+4LK

5 TH05 SC2 2 1.90GN+1.43TMQ+0.95DT,TT,XX,TV

6 TH06 SC1 1 1XX+1CC+1SQM+1LN+1DG+1DDD+

7 TH07 SC4 1 1.91TMQ+0.64TR,TTI,XN+0.43TT,MC

8 TH08 SC1 1 2.78TMQ+2.22MC,KV+2.78LK

9 TH09 SC4 1 1.28TMQ+1.06PM+0.85B+0.43BB,DC,

MC,NR,ST,TC+4.23LK

10 TH10 SC4 1 0.73D+0.49BD,CT,DC,GT,MN,MC,TM

12 TH12 SC5 3 3.75XX+2.5XT, TT+1.25LK

13 TH13 SC6 1 1.18BL,XG+0.88G,TB+0.59CM,KV,LN

14 TH14 SC5 1 1.1BL,D,NC,S+5.6LK

16 TH16 SC5 1 0.91BD,CCR,LH,Q,RLS,S+4.54LK

Bảng 4.2 trình bày công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có xá xị phân bố, gồm các loài phổ biến như VR (vải rừng), LK (loài khác), VT (vạng trứng), DG (dẻ gai), BB (bưởi bung), B (bưa), M (mạ), DLB (dẻ lá bạc), NR (nhản rừng), TMQ (táu mặt quỷ), RR (ràng ràng), MC (màu cau), GN (gội nước), DT (dẻ trắng), TT (trâm trắng), TVD (trâm vỏ đỏ), CC (chân chim), SQM (sồi quả mọng), LN (lá nến), DDD (dâu đất), TR (thị rừng), XN (xoan nhừ), KV (kháo vàng), PM (phân mã), ST (sồi tía), TC (trám chim), D (đen), BD (ba đậu), CT (cháp tay), GT (gội tẻ), MN (mắc niễng), C (cọ), XT (xoan ta), XG (xẻn gai), TB (thôi ba), CM (chòi mòi), NC (nanh chuột) cũng như những loài thực vật khác như VT (vạng trứng) góp phần hình thành hệ sinh thái rừng cao su, đa dạng về cấu trúc tầng cây, phù hợp cho công tác bảo tồn sinh thái và phát triển bền vững rừng tự nhiên.

Trong các OTC, thành phần loài cây gỗ tầng cao gồm khoảng 120 loài xá xị đã được ghi nhận, thể hiện sự đa dạng phong phú Mỗi OTC thường có từ 12 đến 35 loài xá xị, trung bình khoảng 23 loài، góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học đặc trưng của hệ sinh thái này.

Trong các lâm phần, thường có từ 2 đến 10 loài, trung bình khoảng 5-6 loài tham gia vào CTTT Tổng số các loài cây tham gia là 40, trong đó loài xá xị phân bố và chiếm ưu thế nhất, với 15 loài, đóng vai trò quan trọng trong sự phân bố của các loài trong lâm phần Những loài này có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc và phân bố của hệ sinh thái rừng.

Bảng các loài cây gỗ thường xuất hiện nhất trong CTTT của lâm phần có xá xị T

Tên phổ thông Tên khoa học CTTT tham gia

1 Táu mặt quỷ Hopea mollissima C.Y.Wu 7 43,75

2 Máu chó Knema lenta Warb 5 31,25

4 Thẩu tấu Aporosa villosa (Lind.) H Baill 4 25

6 Xoan ta Melia azedarach Linn 2 12,5

7 Xoan núi Melia azedarach Linn 2 12,5

8 Vạng trứng Endospermum chinense Benth 2 12,5

12 Lá nến Typha angustata Bory et Chaub 2 12,5

14 Kháo vàng Machilus bonii Lecomte 2 12,5

18 Bời lời Litsea glusinosa C B Rob 2 12,5

20 Đáng chân chim Schefflera heptaphylla 2

Các loài cây gỗ phổ biến trong các khu rừng có Xá xị đều đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, thể hiện qua việc Xá xị xuất hiện trong 18.75% các hệ sinh thái rừng có Xá xị phân bố Điều tra tổng cộng 17 cây Xá xị trong 16 OTC cho thấy, Xá xị tham gia vào các cộng đồng thực vật tại OTC TH02, OTC TH06, và OTC TH12, chiếm tỷ lệ 4.5%, phản ánh vai trò sinh thái thiết yếu của loài này Việc bảo vệ và phát triển quần thể Xá xị tại đây không chỉ giúp duy trì sự đa dạng sinh học mà còn góp phần bảo tồn tính nguyên vẹn và đặc trưng của các hệ sinh thái trong khu vực.

Các OTC còn lại có Xá xị nhưng Xá xị không tham gia vào CTTT do số lượng OTC chứa Xá xị phân bố giảm hoặc bị khai thác cạn kiệt Việc phục hồi Xá xị trong các sinh cảnh này là nhiệm vụ cấp thiết của KBTTN Xuân Liên, nhằm duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ hệ sinh thái.

Bảng tần số và kích thước các loài cây bạn rất hay gặp và hay gặp cao của xá xị

Nam Tên khoa học D1.3(cm) Hvn(m) Dt(m) K(m)

Nhóm cây bạn rất hay gặp

Nhóm cây bạn hay gặp

Dưới đây là những điểm chính từ bài viết, được tối ưu hóa theo quy tắc SEO:Bảng 4.4 thể hiện tần suất và kích thước của các loài cây "rất hay gặp" và "hay gặp" của Xá xị, với các thông số như đường kính thân (D1.3), chiều cao trung bình (Hvn) và khoảng cách trung bình đến cây nghiên cứu (K) Các loài cây thường gặp của Xá xị nằm cách cây nghiên cứu từ 1m đến 10m, trung bình là 3,2m đối với loài Xoan núi và 17,5m đối với Lim xanh Trong đó, Táu mặt quỷ mọc gần nhất với cây nghiên cứu, chỉ từ 0,7m đến 5,6m, còn Lim xanh là loài xa nhất, cách xa từ 8,0m đến 18,0m Các loài cây này đều phân bố với khoảng cách khác nhau, ảnh hưởng đến mối quan hệ sinh thái và sự đa dạng của rừng ở khu vực nghiên cứu.

Cây nghiên cứu Xá xị có kích thước trung bình D1.3 lớn hơn tất cả các cây khác, thể hiện khả năng vượt trội về chiều rộng thân Tuy nhiên, cây Xá xị có chiều cao Hvn thấp hơn hai loài Táu mặt quỷ và Dẻ gai, cho thấy sự khác biệt về chiều cao so với các loài khác Về chiều rộng tán cây D, Xá xị cũng có giá trị thấp hơn Táu mặt quỷ và Rẻ gai, phản ánh cấu trúc tán lá không đều Hơn nữa, cây Xá xị chủ yếu phân bố trong tầng cây trội, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong cộng đồng thực vật địa phương.

4.2.2 Đặc điểm tái sinh của lâm phần có Xá xị phân bố tập trung:

Thành phần loài, mật độ và cấu trúc tầng cây tái sinh trong các hệ sinh thái đã được thống kê rõ ràng tại Phụ lục 1 Các loài cây tái sinh phân bố đa dạng tùy thuộc vào từng sinh cảnh, phản ánh đặc điểm sinh thái của từng khu vực Mật độ cây tái sinh cũng dao động đáng kể, góp phần xác định khả năng phục hồi của hệ sinh thái sau tác động Cấu trúc tầng cây tái sinh của các hệ sinh thái thể hiện rõ qua các chỉ tiêu về cây tái sinh, giúp đánh giá mức độ đa dạng sinh học và khả năng phát triển của hệ sinh thái tự nhiên.

(sinh cảnh) được nêu trong

Bảng CTTT cây tái sinh tại lâm phần có xá xị

Sinh cảnh Nts/ha số cây xá xị Lts CTTT

16 2.07MC+1.38GT+0.69MC,RR,SR,TMQ,TT+3.1LK

21 1.84TMQ+1.32D+0.79CM,MC,OS+0.53CD+3.94LK

7 Rừng giàu 8445 1 20 3.16TMQ+1.32NC+0.53CL,MC,NL+3.93LK

19 1.72TMQ+1.03CDL,MC+0.69CM,D+4.84LK

9 Rừng giàu 8000 1 15 2.22OS+1.11MS,PM+5.56LK

10 Rừng giàu 5778 1 15 2.31PM+1.15R,OS+0.77D,GN+3.85LK

13 Vườn đồi 3112 1 10 2.14OS+1.43KV,TT+5LK

15 Vườn đồi 4223 0 13 1.58XT+1.05BL,HD,LH,XD+4.22LK

16 Vườn đồi 5334 0 12 2.5BĐ+1.25LH,X+5LK

Bảng 4 5: Công thức tổ thành cây tái sinh tại lâm phần có Xá xị

Nhân tố ảnh hướng và giải pháp bảo tồn loài Xá xị

Trong các OTC, đã ghi nhận tổng cộng 145 loài cây tái sinh, chiếm 62.5% tổng số cây gỗ cao được khảo sát Số lượng loài cây tái sinh và mật độ cây tái sinh khác nhau tùy theo các dạng sinh cảnh OTC THO2 ghi nhận mật độ cây tái sinh cao nhất với 8.120 cây/ha nhưng lại có số loài cây tái sinh ít nhất là 25 loài Trong khi đó, OTC THO5 có mật độ cây tái sinh lên đến 10.234 cây/ha và số loài cây tái sinh là 35 loài, cho thấy sự đa dạng và phong phú của loài cây tái sinh tại khu vực này Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và đa dạng của cây tái sinh đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn loài Xá xị, và việc đề xuất các giải pháp phù hợp là cần thiết để duy trì và phát triển các dạng sinh cảnh này.

Trong phần này, bài viết phân tích thực trạng quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, nhấn mạnh công tác quản lý rừng hiệu quả và các biện pháp bảo vệ ĐDSH Đồng thời, đánh giá việc thực thi các quy định của Nhà nước về luật bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, qua đó phản ánh vai trò của cán bộ quản lý và sự phối hợp của người dân trong khu vực Việc thực hiện các quy định pháp luật góp phần quan trọng vào việc duy trì và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững tại Xuân Liên.

4.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến loài Xá xị

Qua quá trình khảo sát thực địa, trao đổi với cán bộ, nhân viên của KBT và phỏng vấn người dân địa phương, các mối đe dọa chính đối với khu hệ bò sát tại KBTTN Xuân Liên đã được xác định rõ, góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn và quản lý hiệu quả sinh đa dạng.

Diện tích KBTTN Xuân Liên gần 23.815,5 ha nhưng phần lớn rừng có chất lượng không cao, chủ yếu là rừng thứ sinh bị tác động mạnh Qua quan sát thực địa, các khoảnh rừng thường xanh còn lại chủ yếu nằm rải rác gần trạm kiểm lâm Bản Vịn ở độ cao trên 700 m, nhưng phần lớn diện tích rừng đã bị suy thoái do tác động của hoạt động con người và các yếu tố tự nhiên, như đã ghi nhận trong báo cáo của Birdlife.

Trong khu bảo tồn, rừng lá kim hỗn giao và rừng lá rộng thường xanh trên núi thấp chiếm khoảng 18% diện tích ở độ cao trên 800 m, trong khi rừng thường xanh trên đất thấp, đã bị chặt phá và suy thoái nghiêm trọng, chỉ còn khoảng 3% tổng diện tích tự nhiên dưới 800 m Các kiểu rừng thứ sinh như rừng hỗn giao tre nứa, cây gỗ và rừng thường xanh phục hồi đang phát triển mạnh, đều là các dạng thảm thực vật thứ sinh hình thành từ rừng sau khai thác hoặc sau nương rẫy Ngoài ra, các kiểu thảm thực vật còn lại bao gồm rừng tre nứa thuần loại, trảng cỏ và trảng cây bụi, góp phần đa dạng sinh học của khu vực (Lê Trọng Trải và cộng sự).

Dạng sinh cảnh rừng thường xanh là nơi cư ngụ tập trung của hầu hết các loài bò sát và lưỡng cư, chiếm khoảng 20% tổng diện tích khu bảo tồn Tuy nhiên, rừng thường xanh đã bị chia cắt, gây khó khăn cho quá trình phục hồi và phát triển các tiểu quần thể cô lập của các loài, đặc biệt là những loài có khả năng di chuyển xa hạn chế như bò sát và lưỡng cư.

Việc săn bắt quá mức các loài thú để làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán đã trở thành mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của các quần thể động vật hoang dã Hành động này gây suy giảm số lượng và mất cân bằng sinh thái của các loài, ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học khu vực Để bảo vệ các loài thú quý hiếm, cần có các chính sách quản lý chặt chẽ hoạt động săn bắn và thương mại động vật hoang dã.

Hầu hết người dân trong khu vực đều kể lại rằng 20 năm trước, nơi đây là những cánh rừng già rậm rạp, là nơi sinh sống của nhiều loài thú lớn như hổ, báo, gấu, voọc, sơn dương Tuy nhiên, từ những năm 1976 đến 1990, chính sách khai thác gỗ rừng tự nhiên của Nhà nước đã gây ra sự suy thoái nghiêm trọng của rừng Kể từ năm 1990, Chính phủ đã điều chỉnh chính sách nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nhưng giá trị các sản phẩm từ rừng ngày càng tăng vẫn khiến rừng tiếp tục bị xâm hại Hiện nay, rừng trong khu vực vẫn đang suy thoái nặng nề và đối mặt với nguy cơ ngày càng gia tăng do các nguyên nhân như khai thác quá nhiều, mất khả năng phục hồi tự nhiên và tác động của biến đổi khí hậu.

+ Những mối đe dọa trực tiếp

Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm ở phía Tây Thanh Hoá, thuộc địa bàn 5 xã huyện Thường Xuân, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Thái và Mường Các hoạt động săn bắt động vật rừng trái phép để lấy thực phẩm hoặc buôn bán đã gây cạn kiệt nguồn tài nguyên động vật, đặc biệt là các loài rùa, rắn có giá trị kinh tế cao Việc khai thác các Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) diễn ra ồ ạt, thiếu ý thức, làm suy giảm nguồn tài nguyên rừng, trong đó có các loại cây thuốc và cây rau ăn được Những hoạt động này đang đe dọa hệ sinh thái của khu vực và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học trong khu bảo tồn.

Hoạt động khai thác gỗ trái phép diễn ra nhỏ lẻ nhằm phục vụ đời sống của các hộ dân địa phương, đặc biệt là khai thác chọn lọc tại một số khu vực, gây ảnh hưởng đến công tác bảo tồn rừng Việc khai thác trái phép để bán ra thị trường vẫn còn tồn tại tại một số xã, phản ánh thực trạng phức tạp trong việc kiểm soát hoạt động này Dù người dân hiểu rõ các quy định pháp luật và tầm quan trọng của bảo tồn rừng, nhiều người vẫn cố tình vi phạm do nhu cầu thiết yếu về củi đun – nguồn nhiên liệu không thể thay thế cho các hộ sinh sống quanh rừng Đây là vấn đề khó giải quyết, vì khai thác trái phép xuất phát từ lợi ích cá nhân nhưng lại gây hậu quả lớn đến môi trường và sinh kế cộng đồng.

Việc khai thác gỗ trái phép gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với đa dạng sinh học (ĐDSH), làm suy giảm tài nguyên gỗ tự nhiên và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng rừng cũng như môi trường sống Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh các chế tài xử lý vi phạm, nhưng hiệu quả còn hạn chế do lực lượng kiểm lâm của khu BTTN và hạt kiểm lâm chưa đủ mạnh (chỉ có…), dẫn đến tình trạng khai thác gỗ trái phép vẫn tiếp tục diễn ra.

Thu hái lâm sản ngoài gỗ trong khu vực chủ yếu phục vụ hai mục đích chính là sử dụng tại chỗ và thương mại, nhằm khai thác bền vững nguồn tài nguyên tự nhiên Các loại lâm sản ngoài gỗ do cộng đồng địa phương thu hái được đa dạng và phong phú, như mô tả trong bảng 14 Tuy nhiên, hiện nay một số loại lâm sản đã trở nên khan hiếm do khai thác quá mức, đặt ra thách thức lớn cho bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này.

Hoạt động thu hái lâm sản ngoài gỗ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu vực rừng, làm nhiễu loạn sinh cảnh tự nhiên, tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và đời sống hoang dã Đồng thời, hoạt động này làm gia tăng nguy cơ cháy rừng, đe dọa an toàn rừng và môi trường Tuy nhiên, khi xem xét từ góc độ bảo tồn kết hợp với phát triển sinh kế cho người dân địa phương, việc thúc đẩy khai thác lâm sản ngoài gỗ cần có kế hoạch rõ ràng để đảm bảo không vượt quá ngưỡng khai thác hợp lý, góp phần duy trì bền vững hệ sinh thái rừng.

Chăn thả gia súc ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng và phát triển của rừng, đặc biệt là lớp cây tái sinh, cây bụi và thảm thực vật tươi của rừng Hoạt động này có thể làm giảm sự ổn định và đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng, gây tác động tiêu cực đến sự bền vững của rừng tự nhiên.

Qua điều tra cho thấy hiện nay hầu hết các hộ trong vùng có tập quán chăn thả gia súc tự do (thả rông)

Thức ăn chủ yếu của trâu, bò là lá của các loại thực vật, rau, cỏ và củ Tuy nhiên, do người dân sản xuất ít thức ăn cho gia súc, nên chúng chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn, trong khi không có bãi chăn thả phù hợp Điều này đã dẫn đến sự tàn phá rộng rãi các loài cây tái sinh và phá hoại môi trường sống của thực vật Vết chân của gia súc làm nát các cây con, đất bị lèn cứng và hình thành các đường mòn, gây thoái hoá và xói mòn đất nghiêm trọng.

Ngày đăng: 07/08/2023, 05:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý KBTTN Xuân Liên (2011), Báo cáo tham vấn xã hội KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham vấn xã hội KBTTN Xuân Liên
Tác giả: Ban quản lý KBTTN Xuân Liên
Năm: 2011
2. Ban Quản lý khu BTTN Xuân Liên (2012), Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên đến năm 2020
Tác giả: Ban Quản lý khu BTTN Xuân Liên
Năm: 2012
3. Ban quản lý KBTTN Xuân Liên (2012), Thỏa thuận cơ chế chia sẻ lợi ích: về việc quản lý vùng đồng cỏ và chăn thả gia súc tại khu chăn thả cố định; về quản lý, sử dụng một số loại Lâm sản ngoài gỗ trong phân khu phục hồi sinh thái, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thỏa thuận cơ chế chia sẻ lợi ích: về việc quản lý vùng đồng cỏ và chăn thả gia súc tại khu chăn thả cố định; về quản lý, sử dụng một số loại Lâm sản ngoài gỗ trong phân khu phục hồi sinh thái
Tác giả: Ban quản lý KBTTN Xuân Liên
Nhà XB: Thanh Hóa
Năm: 2012
4. Bau.G (1996), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Bau.G
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
5. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996), Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Kỹ thuật, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Kỹ thuật
Năm: 1996
6. Phạm Xuân Hoàn, Hoàng Kim Ngũ (2003), Lâm học. Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm học. Giáo trình Đại học Lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn, Hoàng Kim Ngũ
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2003
7. Vũ Đình Huề (1975), “Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam”. Báo cáo khoa học, Viện điều tra quy hoạch rừng, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Huề
Nhà XB: Báo cáo khoa học
Năm: 1975
8. Lê Quốc Huy, Hà Thị Mừng (2009), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái một số loài cây lá rộng bản địa là cơ sở cho việc gây trồng rừng.Báo cáo đề tài nghiên cứu Khoa học công nghệ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái một số loài cây lá rộng bản địa là cơ sở cho việc gây trồng rừng
Tác giả: Lê Quốc Huy, Hà Thị Mừng
Nhà XB: Báo cáo đề tài nghiên cứu Khoa học công nghệ
Năm: 2009
9. Lê Thị Thanh Hương (2013), “Nghiên cứu giá trị làm thuốc của loài Vù hương tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”. Kỷ yếu hội nghị khoa họctoànquốcvềsinhtháivàtàinguyênsinhvậtlần5,tr1086-1094 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị làm thuốc của loài Vù hương tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương
Nhà XB: Kỷ yếu hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần 5
Năm: 2013
10. Nguyễn Đức Kiên, Ngô Văn Chinh (2008), “Kết quả đánh giá sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng trên các mô hình rừng trồng”. Tạp chí Lâm nghiệp, (4), tr 1077 -1081 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả đánh giá sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng trên các mô hình rừng trồng
Tác giả: Nguyễn Đức Kiên, Ngô Văn Chinh
Nhà XB: Tạp chí Lâm nghiệp
Năm: 2008
12. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính. Nhà xuất bản Nông nghiệp, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
13. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ (2005), “Kết quả giâm hom Vù hương phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng”. Tạp chí NN & PTNT, (16), tr 72 -73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả giâm hom Vù hương phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Tạp chí NN & PTNT
Năm: 2005
14. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ (2005), “Kết quả giâm hom Bách vàng phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng”, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (4), tr 1068 -1070 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả giâm hom Bách vàng phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
Năm: 2005
15. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến (2006), “Kết quả giâm hom Hồng quang và Thông lông gà phục vụ bảo tồn nguồn gen”, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (4), tr 201 -205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả giâm hom Hồng quang và Thông lông gà phục vụ bảo tồn nguồn gen
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
Năm: 2006
16. Odum E.P (1971), Cơ sở sinh thái học, tập I, II, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Odum E.P
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1971
17. Phùng Văn Phê (2013), “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Hòa Bình”. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, (4), tr 36 -43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Hòa Bình
Tác giả: Phùng Văn Phê
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
18. Phùng Văn Phê (2012), “Nghiên cứu giâm hom cây Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon(Jack)Meisn) làm cơ sở cho công tác bảo tồn ở Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, (6), tr645 - 652 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giâm hom cây Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon(Jack)Meisn) làm cơ sở cho công tác bảo tồn ở Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Phùng Văn Phê
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Năm: 2012
19. Phan Minh Sáng (2015) Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây gỗ lớn nhập nội Giổi Bắc (Michelia macclurei Dandy) và Lát Mexico (Cedrela odorata L.). Báo cáo kết quả đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp ViệtNam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây gỗ lớn nhập nội Giổi Bắc (Michelia macclurei Dandy) và Lát Mexico (Cedrela odorata L.)
Tác giả: Phan Minh Sáng
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp ViệtNam
Năm: 2015
20. Nguyễn Huy Sơn (2006), “Nghiên cứu chọn và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao”. Tạp chí Khoa học lâm nghiệp, (2), tr 991 -917 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao
Tác giả: Nguyễn Huy Sơn
Nhà XB: Tạp chí Khoa học lâm nghiệp
Năm: 2006
21. Đoàn Đình Tam (2008), “Một số đặc điểm lâm học của cây Chò chỉ (Parashorea chinensis H. Wang) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ”. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (4), tr 767 -774 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm lâm học của cây Chò chỉ (Parashorea chinensis H. Wang) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ
Tác giả: Đoàn Đình Tam
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 2 : Biểu diện tích các loại các xã vùng đệm khu BTTN Xuân liên - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Bảng 2. 2 : Biểu diện tích các loại các xã vùng đệm khu BTTN Xuân liên (Trang 22)
Bảng 2. 3: Hiện trạng rừng và đất chưa có rừng phân theo 3 loại rừng - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Bảng 2. 3: Hiện trạng rừng và đất chưa có rừng phân theo 3 loại rừng (Trang 23)
Hình 4. 1: Vỏ thân - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Hình 4. 1: Vỏ thân (Trang 37)
Bảng 4. 1: . Kết quả điều tra xá xị trưởng thành. - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Bảng 4. 1: . Kết quả điều tra xá xị trưởng thành (Trang 40)
Bảng 4. 2: . Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có Xá xị phân bố  Ghi  chú:  VR:  Vải  rừng,  LK:Loài  khác,  VT:Vạng  trứng,  DG:Dẻ  gai,  BB:Bưởi  bung,  B:Bưa,  M:Mạ,  DLB:Dẻ  lá  bạc,  NR:Nhản  rừng,TMQ:Táu  mặt  quỷ, RR:Ràng ràng, MC:Màu cau, G - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Bảng 4. 2: . Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có Xá xị phân bố Ghi chú: VR: Vải rừng, LK:Loài khác, VT:Vạng trứng, DG:Dẻ gai, BB:Bưởi bung, B:Bưa, M:Mạ, DLB:Dẻ lá bạc, NR:Nhản rừng,TMQ:Táu mặt quỷ, RR:Ràng ràng, MC:Màu cau, G (Trang 42)
Bảng 4. 3: Các loài cây gỗ thường xuất hiện nhất trong CTTT các lâm - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Bảng 4. 3: Các loài cây gỗ thường xuất hiện nhất trong CTTT các lâm (Trang 44)
Bảng tần số và kích thước các loài cây bạn rất hay gặp và  hay gặp cao - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
Bảng t ần số và kích thước các loài cây bạn rất hay gặp và hay gặp cao (Trang 45)
Bảng CTTT cây tái sinh tại lâm phần có xá xị - Nghiên cứu bảo tồn cây xá xị (cinnamomum parthenoxylon (jack) meisn) tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên   thanh hóa
ng CTTT cây tái sinh tại lâm phần có xá xị (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm