1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai

111 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Tác giả Nguyen Thi Thanh Ha
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Hải Hòa
Trường học Trường Đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Tổng quan về du lịch sinh thái (11)
    • 1.2. Lược sử vấn đề nghiên cứu (12)
      • 1.2.1. Trên thế giới (12)
      • 1.2.2. Tại Việt Nam (14)
    • 1.3. Một số nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái (16)
  • CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (19)
      • 2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu chung (19)
      • 2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể (19)
    • 2.2. Phạm vi nghiên cứu (19)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (19)
      • 2.3.1. Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai (19)
      • 2.3.2. Xác định các nhân tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong hoạt động phát triển du lịch sinh thái khu vực nghiên cứu (19)
      • 2.3.3. Lựa chọn và đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực nghiên cứu (20)
      • 2.3.4. Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững khu vực nghiên cứu (20)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 11 1. Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai11 (20)
      • 2.4.3. Lựa chọn và đề xuất xây dựng bộ chỉ số đánh giá tổng hợp tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực nghiên cứu (21)
      • 2.4.4. Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững khu vực nghiên cứu (26)
  • CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (27)
    • 3.1. Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng (27)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (27)
      • 3.1.2. Đặc điểm khí hậu (28)
      • 3.1.3. Đặc điểm thủy văn (29)
      • 3.1.4. Địa chất và thổ nhưỡng (30)
    • 3.2. Dân sinh, kinh tế xã hội (30)
      • 3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động (30)
        • 3.2.1.1. Dân tộc và cơ cấu dân tộc (30)
        • 3.2.1.2. Dân số và lao động (31)
      • 3.2.2. Những hoạt động kinh tế chính, thu nhập, đời sống của dân cư (31)
        • 3.2.2.1. Những hoạt động kinh tế chính (31)
        • 3.2.2.2. Tình hình thu nhập (33)
        • 3.2.2.3. Đời sống của người dân (33)
      • 3.2.3. Xã hội: Thực trạng giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa (34)
        • 3.2.3.1. Y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (34)
        • 3.2.3.2. Công tác giáo dục đào tạo (35)
        • 3.2.3.3. Công tác Văn hoá, thông tin và thể dục thể thao (35)
    • 3.3. Hệ thống giao thông (35)
      • 3.3.1. Hệ thống giao thông đường bộ trong khu vực (35)
      • 3.3.2. Hệ thống giao thông đường thủy (37)
    • 3.4. Tài nguyên sinh vật (37)
      • 3.4.1. Đa dạng kiểu rừng (37)
      • 3.4.2. Đa dạng thực vật rừng (38)
      • 3.4.3. Đa dạng động vật rừng (39)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (40)
    • 4.1. Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên (40)
      • 4.1.1. Các loại hình du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên (40)
      • 4.1.2. Cở sở hạ tầng và cách quảng bá du lịch sinh thái (44)
        • 4.1.2.1. Cơ sở hạ tầng (44)
        • 4.1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động DLST (45)
        • 4.1.2.3. Hoạt động quảng bá truyền thông của ban quản lý VQG (47)
      • 4.1.3. Hiện trạng về cơ cấu tổ chức (47)
      • 4.1.4. Những người tham gia hoạt động du lịch (49)
        • 4.1.4.1. Khách du lịch (49)
        • 4.1.4.2. Người bán hàng hưởng lợi từ hoạt động du lịch (52)
    • 4.2. Yếu tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong hoạt động phát triển (54)
      • 4.2.1. Những nhân tố thuận lợi cho phát triển DLST (54)
      • 4.2.2. Những nhân tố khó khăn, hạn chế phát triển DLST tại VQG Hoàng Liên49 4.2.3. Đánh giá chung về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với hoạt động phát triển DLST tại VQG Hoàng Liên (58)
    • 4.3. Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực nghiên cứu (62)
      • 4.3.1. Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái qua bộ tiêu chí (62)
      • 4.3.2. Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái theo các nhóm tiêu chí (80)
      • 4.3.3. Đánh giá tổng hợp du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên (82)
    • 4.4. Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững khu vực nghiên cứu (82)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN CHUNG, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ............. 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)
  • PHỤ LỤC (94)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng quan về du lịch sinh thái

Hiện nay, du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST) nói riêng đã trở thành những nguồn tài nguyên quý giá được coi trọng toàn cầu DLST đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam cũng như trên thế giới, góp phần thúc đẩy kinh tế xanh và bảo vệ môi trường bền vững.

Du lịch sinh thái là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau từ các góc nhìn và tiếp cận đa dạng Nhiều người xem DLST chỉ đơn giản là sự kết hợp giữa hai khái niệm "du lịch" và "sinh thái," trong khi đó, một số người lại coi DLST là một dạng hình du lịch thiên nhiên, hướng tới khám phá và bảo vệ môi trường tự nhiên.

Theo Hội du lịch sinh thái quốc tế, du lịch sinh thái là hoạt động du lịch đến những khu vực thiên nhiên hoang sơ với mục tiêu thúc đẩy công tác bảo tồn môi trường, duy trì đa dạng sinh học và góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương.

Du lịch sinh thái là hình thức du lịch có mức độ giáo dục cao về môi trường sinh thái, do các hướng dẫn viên có chuyên môn lành nghề hướng dẫn Nó thúc đẩy mối quan hệ cộng sinh giữa con người và thiên nhiên hoang dã, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho khách du lịch Phát triển du lịch sinh thái giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến văn hoá và môi trường, đồng thời mang lại lợi ích tài chính cho địa phương và đóng góp vào công cuộc bảo tồn thiên nhiên.

Theo ông L Hens, “DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi, phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của cư dân địa phương.” Các chuyên gia tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch nhấn mạnh rằng, “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, mang lại tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đồng thời đảm bảo lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương và đóng góp vào các nỗ lực bảo tồn.”

Dưới góc độ chuyên môn, khái niệm DLST được hiểu là hình thức du lịch dựa trên thiên nhiên, nhằm hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái Du lịch sinh thái thúc đẩy sự khao khát, thỏa mãn và lòng yêu mến đối với thiên nhiên, từ đó khuyến khích ý thức bảo tồn và phát triển bền vững, góp phần ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên môi trường tự nhiên, văn hóa và mỹ thuật.

Lược sử vấn đề nghiên cứu

Du lịch sinh thái (DLST) là hình thức du lịch có lịch sử lâu đời, phát triển song song với các loại hình du lịch khác Ban đầu, DLST được hình thành từ các hoạt động du lịch gắn liền với thiên nhiên, thúc đẩy việc khám phá và bảo vệ môi trường Các chuyến đi này không chỉ giúp du khách trải nghiệm vẻ đẹp tự nhiên mà còn nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Vì vậy, du lịch sinh thái ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng yêu thiên nhiên và mong muốn gìn giữ vẻ đẹp tự nhiên cho thế hệ tương lai.

Sau thời kỳ Trung cổ, du lịch và các hình thức du lịch gắn liền với thiên nhiên bắt đầu trở lại nhờ các điều kiện thuận lợi của cuộc Cách mạng Công nghiệp Du lịch biển và du lịch núi trở thành những xu hướng chính, phản ánh sự kết nối với thiên nhiên trong giai đoạn này Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, những đặc trưng của du lịch sinh thái (DLST) vẫn chưa được nhận thức rõ về vai trò như một công cụ “kỳ diệu” trong mục tiêu bảo vệ môi trường bền vững.

Du lịch sinh thái xuất phát từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời, thu hút những khách du lịch yêu thích khám phá vẻ đẹp tự nhiên và bảo vệ môi trường Những nhà du lịch đầu tiên như những người đến Vườn Quốc gia Yellowstone, Yosemite hàng thế kỷ trước, hay những khách tới Serengeti, Himalaya, Nam Cực đều được xem là những người đam mê du lịch sinh thái chân chính Ngày nay, nhận thức về tác động sinh thái của hoạt động du lịch ngày càng cao, khiến các chuyến du lịch có hướng dẫn viên như săn chim, thám hiểm thiên nhiên, bộ hành tự nhiên đang tăng lên rõ rệt, góp phần thúc đẩy du lịch sinh thái bền vững (David Western).

Du lịch sinh thái bắt đầu được nhắc đến từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ 20, với những nhà tiên phong như Ceballos-Lascuitain, Boo và Buckley Theo Hector Ceballos-Lascuitain, du lịch sinh thái là hình thức du lịch đến các khu vực tự nhiên ít bị tác động, nhằm nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn cảnh quan cùng giới động thực vật hoang dã và các biểu thị văn hóa đa dạng của quá khứ và hiện tại Các nhà nghiên cứu như Lindberg, Hawkins, Boo và Western đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái, tập trung vào các mặt tích cực như: là hình thức du lịch có trách nhiệm với môi trường, mang tính giáo dục cao, đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.

Trong thập kỷ 90, du lịch sinh thái ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt, thu hút nhiều nghiên cứu và ý kiến khác nhau từ các nhà chuyên môn Du lịch sinh thái được nhìn nhận như một liên kết chiến lược giữa du lịch và môi trường, góp phần vào việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (Buckley, 1999) và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững (Vanosterzee, 1999) Sự hỗ trợ dành cho du lịch sinh thái có thể đến từ các khía cạnh chính trị, kinh tế hoặc sự kết hợp của cả hai, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường một cách hiệu quả (Driml và Commm, 1995).

Du lịch sinh thái mang lại nhiều lợi ích rõ rệt cho các quốc gia và điểm du lịch, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, ngành du lịch cũng tồn tại những hậu quả tiêu cực đáng kể, gây mâu thuẫn và thách thức cho sự bền vững của môi trường và cộng đồng Nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế như Ceballos-Lascurain, Lindberg, Huber, và IUCN đã bàn luận về cả lý luận lẫn các minh chứng thực tiễn liên quan đến vấn đề này.

Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái đã được thực hiện rộng rãi tại nhiều quốc gia, trong đó có các quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương, mang lại những bài học thực tiễn quý báu Các tác giả như Triraganon, R Gurung, C Saat và S Grant đã đóng góp những kiến thức và kinh nghiệm quan trọng về phát triển bền vững ngành du lịch sinh thái trong khu vực này Những nghiên cứu này giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn thiên nhiên kết hợp với phát triển du lịch, thúc đẩy sự bền vững và phát triển kinh tế địa phương.

Các nghiên cứu về hướng dẫn quy hoạch, quản lý du lịch và môi trường trong du lịch sinh thái của các tác giả như Wood, Huber, Walace, IUCN và WTO cung cấp những tài liệu quan trọng và thiết thực, có thể áp dụng hiệu quả ở quy mô quốc gia và các khu vực cụ thể Trong đó, cuốn “Du lịch sinh thái: hướng dẫn cho các nhà quản lý” do IUCN xuất bản là bước đột phá quan trọng, đề cập đến các thách thức lớn và các phương pháp giải quyết, bao gồm công cụ đánh giá nhu cầu, tác động, điều tra tài nguyên, tập huấn và sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam ngày càng thu hút sự quan tâm từ các cấp chính quyền và ngành nghề, nhằm phát triển du lịch trở thành ngành mũi nhọn và chiến lược quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, ngành du lịch cũng gây ra những tác động tiêu cực như suy giảm nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường, làm cho các nhà nghiên cứu như Vũ Tuấn Cảnh, Phạm Trung Lương, Đặng Huy Huỳnh quan tâm đặc biệt đến vấn đề này Thuật ngữ du lịch sinh thái bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam vào giữa thập kỷ 2000, phản ánh xu hướng phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường.

Trong những năm gần đây, du lịch sinh thái đã thu hút sự quan tâm lớn từ các tầng lớp xã hội, đặc biệt là các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Hội nghị về du lịch bền vững tại Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với quỹ Han Seidel (CHLB Đức) tổ chức tại Huế tháng 5 năm 1997 đã tạo diễn đàn để thảo luận về vai trò của du lịch sinh thái trong phát triển du lịch bền vững Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, như Cao Văn Dung, Phạm Trung Lương, Gray, đã đóng góp ý kiến quan trọng trong các hội thảo về cơ sở khoa học của phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam Đặc biệt, hội thảo tổ chức tại Hà Nội ngày 23-24/4/1998 đã tập hợp nhiều tác giả tham luận, như Nguyễn Thượng Hùng và Đặng Huy, về vai trò của du lịch sinh thái trong thúc đẩy phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam.

Các báo cáo tham luận chủ yếu tổng quan các khía cạnh của du lịch sinh thái và đánh giá tiềm năng phát triển của loại hình du lịch này tại Việt Nam Đến năm 1999, Việt Nam đã tổ chức hội thảo quốc gia về xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái, thể hiện sự quan tâm cấp thiết đối với lĩnh vực này trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển ngành du lịch của đất nước Hội thảo này, do Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với các tổ chức quốc tế như IUCN, ESCAP, cùng sự tài trợ của SIDA, đã cung cấp những cơ sở lý thuyết và thực tế quý giá để xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái phù hợp với tiềm năng và vị trí của Việt Nam trên bản đồ du lịch quốc tế.

Trong những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đầu tư vào du lịch sinh thái để thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ hệ sinh thái đa dạng Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, với nhiều khu rừng, dãy núi, sông, bãi biển đẹp, cùng hệ sinh thái phong phú chứa nhiều loài động, thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ và các di sản thế giới Ngoài ra, đất nước còn sở hữu nguồn tài nguyên du lịch văn hóa đa dạng như chùa, di tích lịch sử, lễ hội và làng nghề truyền thống Nhà nước đang nâng cấp các khu bảo tồn thiên nhiên thành vườn quốc gia để tạo điều kiện thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái Tuy nhiên, ngành du lịch sinh thái Việt Nam còn đối diện với nhiều khó khăn như thiếu nguồn nhân lực chuyên môn, quản lý, vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng rõ ràng Định hướng phát triển trong tương lai gồm mở rộng các tuyến điểm du lịch sinh thái, xây dựng các đại lý, nhà điều hành tour, nâng cao dịch vụ, phát triển mạng lưới liên lạc và truyền thông, đồng thời thúc đẩy du lịch cộng đồng để tận dụng tối đa tiềm năng của hệ sinh thái quốc gia.

Hiện nay, nhiều nghiên cứu về du lịch sinh thái tại các vùng quốc gia và khu bảo tồn như Cúc Phương, Ba Vì, Bến En (Thanh Hóa), Pù Mát (Nghệ An), Cát Tiên, Bạch Mã, Phong Nha – Kẻ Bàng, Ba Bể đã được thực hiện nhằm khảo sát tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững Các dự án phát triển du lịch sinh thái như dự án PARC tại một số VQG cũng góp phần thúc đẩy ngành du lịch này Đặc biệt, tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, các đề tài nghiên cứu như “Khảo sát và đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ trekking tour ở xã San Sản Hồ và Lao Chải thuộc VQG Hoàng Liên – Sa Pa – Lào Cai” của Phạm Thị Lâm (2004) và “Bước đầu nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên – Tỉnh Lào Cai” của Cấn Việt Phương (2008) đã góp phần làm rõ tiềm năng và khả năng phát triển du lịch sinh thái tại khu vực này.

“Nghiên cứu ảnh hưởng của du lịch sinh thái đến Vườn quốc gia Hoàng Liên – huyện Sa Pa – Lào Cai” Lê Thị Hạnh (2018).

Một số nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái

Theo nghiên cứu năm 2017 của Nguyễn Quang Vĩnh về “Quản lý phát triển du lịch sinh thái VQG Hoàng Liên”, đề tài đã đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên dựa trên 5 tiêu chí chính Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại VQG Hoàng Liên, góp phần thúc đẩy ngành du lịch địa phương Các tiêu chí đánh giá bao gồm đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, khả năng khai thác du lịch, tác động địa phương và khả năng bảo tồn Kết quả phân tích cho thấy VQG Hoàng Liên có tiềm năng lớn để trở thành điểm đến du lịch sinh thái nổi bật, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững.

- Khai thác bền vững các tài nguyên DLST

- Có nhiều sản phẩm, loại hình kinh doanh DLST được khách du lịch yêu thích

- Sự tăng trưởng về số lượt khách

- Doanh thu, thu nhập và đóng góp cho ngân sách

- Tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động gắn với bảo vệ và phát triển rừng

Qua đề tài trên cho thấy những ưu nhược điểm như sau: Ưu điểm:

- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn của VQG Hoàng Liên;

- Đánh giá được công tác quản lý DLST ở VQG;

- Đề xuất 5 giải pháp cho công tác quản lý trên VQG

- Đề tài chưa đưa ra rõ các tiêu chí đánh giá tổng thể từ khách du lịch và người dân;

- Đề tài chưa đi sâu vào đánh giá tiềm năng phát triển DLST mà chỉ đang tập trung ở các phương hướng phát triển;

- Đề tài chưa đưa ra được các tuyến DLST cụ thể và chưa có đánh giá khách quan về chất lượng DLST

Dựa trên nghiên cứu năm 2008 của Cấn Việt Phương về tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, dự án đã đánh giá rõ ràng về tiềm năng du lịch sinh thái và xác định các khả năng phát triển bền vững trong khu vực Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của VQG Hoàng Liên trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái như một ngành kinh tế mũi nhọn của Lào Cai Các phân tích cũng chỉ ra các cơ hội và thách thức trong việc khai thác tiềm năng du lịch sinh thái, giúp định hướng phát triển bền vững, góp phần nâng cao giá trị môi trường và cộng đồng địa phương.

Khu vực VQG Hoàng Liên thu hút du khách nhờ vào nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, bao gồm cảnh quan núi非, thác nước, và hệ sinh thái đa dạng Ngoài ra, các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn như văn hóa bản địa, các điểm thắng cảnh nổi bật, và các tuyến du lịch hấp dẫn góp phần tạo nên sức hút đặc biệt cho khu vực Du khách đánh giá cao mức độ hấp dẫn của VQG Hoàng Liên dựa trên bốn tiêu chí chính: vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp và tận tâm, thái độ thân thiện của người dân địa phương, cùng với chất lượng dịch vụ du lịch đạt chuẩn, mang lại trải nghiệm đáng nhớ cho mọi khách tham quan.

Qua đề tài trên cho thấy những ưu nhược điểm như sau: Ưu điểm:

VQG Hoàng Liên nổi bật với hệ sinh thái đa dạng của hệ động thực vật và lượng du khách ngày càng tăng, cho thấy tiềm năng lớn về tài nguyên tự nhiên So sánh với các Vườn Quốc gia khác, Hoàng Liên thể hiện lợi thế về tài nguyên sinh thái phong phú và khả năng thu hút du lịch cao hơn, khẳng định vị thế quan trọng trong ngành du lịch sinh thái của khu vực.

- Đánh giá sâu được về các tài nguyên du lịch nhân văn, một số thắng cảnh và các điểm du lịch

Đánh giá tác động của hoạt động du lịch đối với tài nguyên môi trường tại Vườn Quốc Gia cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt đến các yếu tố như tài nguyên đất, chất lượng đất bị xói mòn, và mức độ ô nhiễm do lượng rác thải tăng cao Ngoài ra, hoạt động du lịch còn ảnh hưởng đến xã hội, đặc biệt là tình trạng sạt lở đất diễn ra ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại về cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng đến cuộc sống cộng đồng địa phương Việc quản lý và giảm thiểu các tác động tiêu cực này là cần thiết để bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong khu vực.

- Đưa ra định hướng phát triển du lịch của các cấp và từ đó đề xuất giải pháp phát triển DLST

- Chưa điều tra được mức độ tham gia của người dân và lợi ích từ hoạt động du lịch đối với các đối tượng

- Đề tài mới chỉ khảo sát tiềm năng qua 4 tiêu chí cơ bản

Nghiên cứu nhấn mạnh tính cấp thiết của việc đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên Mặc dù tiềm năng tại khu vực này là rất lớn, nhưng cần có các đánh giá cụ thể và chuyên sâu hơn để khai thác hiệu quả Khóa luận nhằm xây dựng bộ chỉ số đánh giá chi tiết, rõ ràng hơn về tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, từ đó giải quyết các vấn đề cốt lõi liên quan đến phát triển bền vững tại VQG Hoàng Liên.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Bài viết tập trung vào việc cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Hoàng Liên Việc này giúp xác định các yếu tố chính góp phần phát triển du lịch sinh thái bền vững trong khu vực Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa trên phân tích khoa học nhằm thúc đẩy sự bền vững và bảo tồn giá trị tự nhiên của Vườn quốc gia Hoàng Liên Những nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững Qua đó, bài viết nhằm thúc đẩy các chiến lược phát triển phù hợp, đảm bảo vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường tự nhiên của khu vực.

2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên, Lào Cai

- Xây dựng bộ chỉ số đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên

- Đưa ra giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian : Nghiên cứu tập trung các hoạt động DLST tại

Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Phạm vi về nội dung : Điều tra và khảo sát hoạt động du lịch sinh thái tại

Chương trình điều tra tập trung vào phương pháp phỏng vấn hoạt động du lịch sinh thái, nhằm đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên Qua việc áp dụng bộ tiêu chí đánh giá, nghiên cứu giúp xác định các yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển bền vững du lịch sinh thái trong khu vực Phương pháp này cung cấp những dữ liệu chính xác và khách quan để hỗ trợ các quyết định phát triển du lịch phù hợp, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao trải nghiệm du khách tại VQG Hoàng Liên.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

- Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên;

- Hoạt động tổ chức dịch vụ du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên

2.3.2 Xác định các nhân tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong hoạt động phát triển du lịch sinh thái khu vực nghiên cứu

- Nhân tố thuận lợi, cơ hội cho hoạt động du lịch sinh thái

- Nhân tố khó khăn và thách thức cho hoạt đông du lịch sinh thái

2.3.3 Lựa chọn và đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực nghiên cứu

- Lựa chọn và đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái;

- Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái khu vực nghiên cứu

2.3.4 Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững khu vực nghiên cứu

- Nhóm giải pháp thể chế, chính sách

- Nhóm giải pháp về xã hội, truyền thông

- Nhóm giải pháp về kinh tế, kỹ thuật

- Nhóm giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng

- Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý

Phương pháp nghiên cứu 11 1 Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai11

2.4.1 Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai

Chúng tôi sử dụng phương pháp kế thừa số liệu liên quan đến du lịch sinh thái của Vườn Quốc Gia để đảm bảo độ chính xác và tính toàn diện của nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi thu thập các tài liệu liên quan tại địa phương như điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân sinh, tình hình kinh tế xã hội, báo cáo về công tác quản lý và bảo vệ rừng, cũng như tình hình giao đất và giao rừng nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu đầy đủ, phù hợp cho phân tích và đánh giá hiệu quả phát triển du lịch sinh thái tại khu vực.

Trong quá trình điều tra xã hội học về hoạt động du lịch sinh thái, nghiên cứu đã sử dụng 100 phiếu phỏng vấn với nội dung thay đổi phù hợp với từng đối tượng khảo sát, bao gồm cả thông tin cá nhân và các câu hỏi liên quan đến hoạt động du lịch sinh thái (DLST) Các đối tượng tham gia khảo sát gồm có khách du lịch trong và ngoài tỉnh, khách quốc tế, nhà quản lý hoạt động DLST, và người dân địa phương, được lựa chọn ngẫu nhiên để phản ánh đa dạng thực trạng Thời gian thực hiện khảo sát bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2021, nhằm đánh giá chính xác các hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia.

2.4.2 Nhân tố thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong hoạt động phát triển du lịch sinh thái khu vực nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp kế thừa số liệu liên quan đến du lịch sinh thái của VQG Hoàng Liên giúp tổng hợp thông tin từ các đề tài nghiên cứu, báo cáo và đề án, từ đó xác định thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong phát triển du lịch sinh thái khu vực.

Dựa trên kết quả điều tra thực tế về các yếu tố liên quan đến du lịch sinh thái như độ hấp dẫn về cảnh quan, văn hóa cộng đồng, khí hậu và cơ sở vật chất, bài viết phân tích rõ các thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong hoạt động phát triển du lịch sinh thái của khu vực nghiên cứu, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao giá trị du lịch địa phương.

Dựa trên kết quả phỏng vấn từ 100 phiếu, chúng tôi phân tích các thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong hoạt động phát triển du lịch sinh thái của khu vực nghiên cứu Phương pháp phỏng vấn các nội dung liên quan đã giúp xác định rõ những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái tại địa phương Các kết quả này cung cấp cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy ngành du lịch sinh thái phát triển hiệu quả Trong đó, các cơ hội như tăng cường hợp tác cộng đồng và nâng cao nhận thức của du khách đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững của ngành du lịch sinh thái khu vực nghiên cứu.

2.4.3 Lựa chọn và đề xuất xây dựng bộ chỉ số đánh giá tổng hợp tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực nghiên cứu

Để xây dựng bộ chỉ số đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, cần sử dụng các nguồn tài liệu đáng tin cậy như đề tài nghiên cứu, các nghiên cứu khoa học, khóa luận, luận văn đã có sẵn Các tài liệu này cung cấp cơ sở dữ liệu phù hợp và các phương pháp đánh giá chính xác, giúp xác định rõ các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến phát triển du lịch sinh thái bền vững tại các khu vực này Việc khai thác và phân tích các nguồn tài liệu trước liên quan sẽ hỗ trợ nghiên cứu khoa học có hệ thống, từ đó xây dựng bộ chỉ số phản ánh đúng tiềm năng tự nhiên, văn hóa và khả năng phát triển du lịch của từng khu vực bảo tồn.

Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn được sử dụng để lấy ý kiến các cán bộ tại VQG, khách du lịch và người dân địa phương, với đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên phù hợp từng nhóm Nội dung phiếu phỏng vấn được điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng nhằm thu thập dữ liệu chính xác và đa chiều Tổng cộng, có 100 người từ trong và ngoài VQG Hoàng Liên tham gia phỏng vấn, kết hợp với nội dung nghiên cứu sơ bộ nhằm xây dựng bức tranh toàn diện về hiện trạng và các vấn đề liên quan.

Sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia là cách hiệu quả để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Các chuyên gia như giảng viên hướng dẫn, cán bộ phụ trách du lịch sinh thái của Vườn quốc gia, những người có chuyên môn, đang công tác nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực DLST đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Họ giúp xác định các tiêu chí phù hợp, đưa ra hệ số ảnh hưởng và điểm đánh giá, từ đó đề tài tự đưa ra kết quả chính xác về tiềm năng du lịch sinh thái của khu vực.

Để đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, bài viết đã dựa trên bộ tiêu chí và hệ thống cấp đánh giá do tác giả Nguyễn Thị Phương Nga cùng cộng sự đề xuất, nhằm đảm bảo chấm điểm chính xác và toàn diện.

Năm 2019 và tác giả Tôn Thất Hữu Đạt (2013) đã kế thừa, chỉnh sửa và bổ sung các chỉ số phù hợp với Vườn quốc gia Hoàng Liên Các tiêu chí đánh giá được chia thành 5 cấp độ: Rất tốt (cấp 5), Tốt (cấp 4), Khá (cấp 3), Trung bình (cấp 2), và Kém (cấp 1), nhằm phản ánh chính xác tiềm năng du lịch sinh thái của VQG.

Bảng 2.1 Bộ chỉ số đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại các

VQG theo Nguyễn Thị Phương Nga và cộng sự (2019)

Tiêu chí chính Kí hiệu Tiêu chí phụ thuộc Kí hiệu

1 Tài nguyên du lịch TN 1 Có tính đa dạng sinh học cao SH

2 Cảnh quan tự nhiên có giá trị đặc sắc HD

3 Văn hóa bản địa BĐ

2 Sản phẩm du lịch SP 1 Hoạt động nghiên cứu NC

2 Hoạt động giáo dục và diễn giải GD

3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

DV Cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ du lịch LT

(Nguyễn Thị Phương Nga và cộng sự, 2019)

Bảng 2.2 Bộ chỉ số đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại các

VQG theo tác giả Tôn Thất Hữu Đạt (2013)

STT Tiêu chí Cấp Chỉ tiêu

1 Độ hấp dẫn về cảnh quan

Rất hấp dẫn Phong cảnh đẹp, tự nhiên có độ đa dạng cao

Khá hấp dẫn Phong cảnh đẹp, tự nhiên có độ đa dạng tương đối

Trung bình Phong cảnh tương đối đẹp, tính đa dạng của tự nhiên không cao Kém hấp dẫn Phong cảnh đơn điệu, tự nhiên kém đa dạng

2 Độ hấp dẫn về văn hóa cộng Rất hấp dẫn Có cộng đồng bản địa, làng nghề truyền thống trong bán kính 5 km

STT Tiêu chí Cấp Chỉ tiêu đồng

Khá hấp dẫn Có cộng đồng bản địa và làng nghề truyền thống sinh sống ngoài bán kính 5 km

Trung bình Có cộng đồng bản địa trong bán kính 5 km, không có làng nghề truyền thống

Kém hấp dẫn Cộng đồng bản địa sinh sống ngoài bán kính 5 km

3 Thời gian hoạt động du lịch

Có > 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt hoạt động du lịch, có > 180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khỏe con người

Có 150 - 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt hoạt động du lịch, có 120 - 180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khỏe con người

Có 100 - 150 ngày trong năm có thể triển khai tốt hoạt động du lịch, có 90 - 119 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khỏe con người

Trong năm, chỉ có dưới 100 ngày là thời điểm phù hợp để triển khai hoạt động du lịch, do đó, khả năng tổ chức du lịch hiệu quả bị giới hạn Thêm vào đó, chỉ có dưới 90 ngày có điều kiện khí hậu thuận lợi, đảm bảo sức khỏe con người khi tham gia các hoạt động ngoài trời Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến ngành du lịch và đòi hỏi sự thích nghi linh hoạt từ các doanh nghiệp du lịch.

4 Sức chứa khách du lịch

Rất lớn > 300 người/ngày Khá lớn 200 - 300 người/ngày Trung bình 100 - 200 người/ngày Nhỏ ≤ 100 người/ngày

5 Vị trí điểm du lịch

Rất gần Cách trung tâm thị trấn < 10 km Khá gần Cách trung tâm thị trấn 10 - 20 km Trung bình Cách trung tâm thị trấn 20 - 30 km

Xa Cách trung tâm thị trấn > 30 km

Rất tốt Có trên 3 điểm tài nguyên du lịch khác trong bán kính 10 km Khá tốt Có 2-3 điểm tài nguyên du lịch khác trong bán kính 10 km

STT Tiêu chí Cấp Chỉ tiêu

Trung bình Có 1 điểm tài nguyên du lịch khác trong bán kính 10 km

Kém Không có điểm tài nguyên du lịch khác trong bán kính 10 km

7 Khả năng tiếp cận với điểm du lịch

Dễ tiếp cận Có đường đi thuận tiện, dễ tìm đường, dễ dàng tiếp cận với điểm du lịch

Khá dễ tiếp cận Có đường đi khá thuận tiện, tìm đường tương đối

Trung bình Có đường đi khá thuận tiện, việc tìm đường đôi lúc dễ lạc, cần người chỉ dẫn

Khó tiếp cận Chưa có đường đi thuận tiện, tìm đường khó khăn

8 Mức độ bền vững về tự nhiên

Trong 5 năm gần đây không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị tổn hại, hoặc tổn hại không đáng kể

Trong 5 năm gần đây có 1 thành phần hay bộ phận tự nhiên bị tổn hại nhưng ở mức độ nhẹ, có thể tự phục hồi

Trong 5 năm gần đây có vài thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị tổn hại, và có thể phục hồi nhờ con người

Trong 5 năm gần đây có thành phần hoặc bộ phận bị tổn hại, khó phục hồi và mất thời gian dài để phục hồi

9 Mức an toàn về mặt xã hội

Không xảy ra trường hợp mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự xã hội; không có người bán hàng rong, ăn xin

Không xảy ra trường hợp mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự xã hội; có người bán hàng rong, ăn xin nhưng không đáng kể

Không xảy ra trường hợp mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự xã hội; có nhiều người bán hàng rong, ăn xin

STT Tiêu chí Cấp Chỉ tiêu

Có những biểu hiện mất ổn định về an ninh, trật tự xã hội: trộm cắp, trấn lột, chèn ép khách, …

Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên được đánh giá dựa trên phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam Các tiêu chí để đánh giá được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu trước đây, nhằm phản ánh đúng tiềm năng du lịch của VQG Hoàng Liên Mục tiêu chính của đánh giá là xác định tiềm năng du lịch sinh thái trong khu vực, và để nâng cao độ chính xác, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia, bổ sung các tiêu chí quan trọng cùng hệ số tương ứng phù hợp.

Bảng 2.3: Hệ số tiêu chí đánh giá tiềm năng DLST

Ký hiệu Tiêu chí đánh giá Hệ số

Điểm số đánh giá theo các cấp đánh giá phản ánh mức độ tiêu chí; mỗi điểm đánh giá là tích của hệ số và điểm của cấp đánh giá Điểm đánh giá tổng hợp cho điểm du lịch được tính bằng tổng các điểm đánh giá của các tiêu chí thành phần, giúp cung cấp cái nhìn toàn diện và chính xác về chất lượng điểm du lịch.

Bảng 2.4: Điểm đánh giá tổng hợp cao nhất và thấp nhất

Hệ số, cấp đánh giá Yếu tố đánh giá

Kết quả đánh giá tổng hợp được phân thành 5 hạng với khoảng cách đều nhau dựa trên trung bình cộng giữa điểm cao nhất và điểm thấp nhất trong thang điểm Dựa vào phương pháp tính điểm và phân hạng này, ta có thể xác định rõ các mức điểm cao nhất và thấp nhất trong bảng đánh giá tổng hợp Áp dụng công thức tính điểm do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam đề xuất, chúng ta có thể đánh giá chính xác hơn về kết quả tổng thể.

𝑥 0 = 𝑥 𝑚𝑎𝑥 − 𝑥 𝑚𝑖𝑛 n Trong đó: x0 - Khoảng cách đều giữa các hạng; xmax - Điểm cao nhất; xmin - Điểm thấp nhất; n- Số cấp phân hạng

2.4.4 Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững khu vực nghiên cứu

Dựa trên kết quả nghiên cứu từ nội dung 1, 2 và 3, đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại khu vực nghiên cứu nhằm thúc đẩy du lịch bền vững và bảo vệ môi trường Các giải pháp này dựa trên dữ liệu thu được từ nghiên cứu, tuân thủ pháp luật hiện hành, các quy trình và quy phạm của nhà nước cũng như ngành du lịch Đồng thời, các đề xuất này còn được tham khảo từ các tài liệu về du lịch sinh thái để đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao trải nghiệm du khách.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng

Vùng lõi của Vườn quốc gia Hoàng Liên nằm trên địa bàn của năm xã bao gồm Hoàng Liên, Tả Van, Bản Hồ (thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai) và Phúc Khoa, Trung Đồng (huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) Vị trí địa lý của khu vực này có toạ độ từ 22°09'30” đến giúp duy trì đa dạng sinh học phong phú và bảo vệ các loại động thực vật quý hiếm của khu vực Đây là khu vực có tầm quan trọng lớn trong việc bảo tồn thiên nhiên và thúc đẩy du lịch sinh thái tại tỉnh Lào Cai và Lai Châu.

22 0 21'00” vĩ độ Bắc; Từ 103 0 45'00” đến 104 0 59'40” kinh độ Đông

Khu vực này có ranh giới rõ ràng, phía Đông giáp xã Liên Minh thuộc thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai Phía Tây tiếp xúc với xã Bản Bo và Sơn Bình trong huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Phía Nam và Đông Nam giáp xã Nậm Xé của huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, cùng các xã Phúc Khoa, Thân Thuộc, Hố Mít và thị trấn Tân Uyên thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Phía Bắc giáp các xã Hoàng Liên, phường Ô Quý Hồ, Tả Van và Bản Hồ của thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

VQG Hoàng Liên có địa hình đa dạng và phức tạp, chủ yếu là núi cao và trung bình, với nhiều đỉnh núi trên 2.000 m, trong đó đỉnh Fansipan cao nhất đạt 3.143 m, được xem là nóc nhà Đông Dương Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi phụ, khe suối sâu, chạy từ đỉnh Fansipan xuống các khu vực thấp hơn Ngoài ra, khu vực còn có các đỉnh núi đơn lẻ, hiểm trở, cao trên 2.500 m, tạo thành một hệ sinh thái phức tạp và đa dạng cho VQG Hoàng Liên.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên có độ dốc trung bình từ 350 đến 400, tăng dần về phía trung tâm, nhiều khu vực trên 450 độ dốc gây khó khăn cho việc đi lại Sườn Đông của khu vực rộng và thoải hơn so với sườn Tây, phù hợp hơn cho các hoạt động khám phá Độ cao tuyệt đối và sự bất đối xứng giữa hai sườn của đỉnh Fansipan ảnh hưởng sâu sắc đến điều kiện tự nhiên trong khu vực.

Cụ thể trong khu vực VQG Hoàng Liên có 04 kiểu địa hình chính như sau:

- Kiểu địa hình núi cao (N1); Kiểu địa hình núi cao trung bình (N2); Kiểu địa hình thung lũng (T1) và máng trũng (T2)

VQG Hoàng Liên có khí hậu ôn đới lạnh đặc trưng với hai mùa rõ rệt, giúp phát triển hệ sinh thái đa dạng Mùa hè tại VQG Hoàng Liên mát mẻ, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa nhiều phù hợp cho các hoạt động du lịch và nghiên cứu Ngược lại, mùa đông ở đây rất lạnh, ít mưa và kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, tạo điều kiện cho các hoạt động khám phá mùa đông và săn tuyết Những đặc trưng khí hậu này góp phần tạo nên vẻ đẹp nổi bật và sự đa dạng của hệ sinh thái tại VQG Hoàng Liên.

Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực là 15,4°C, với mùa hè nhiệt độ trung bình từ 18-20°C và mùa đông từ 10-12°C, tạo điều kiện khí hậu êm dịu phù hợp cho sinh hoạt và sản xuất Nhiệt độ tối đa đạt đến 33°C vào tháng 4 tại các vùng thấp, trong khi nhiệt độ tối thiểu trung bình là 12,6°C, có những năm nhiệt độ xuống đến -3,2°C vào mùa đông Từ tháng 12 đến tháng 2, nhiệt độ trên các đỉnh núi cao thường xuống dưới 0°C, gây tuyết rơi và ảnh hưởng đến khí hậu vùng cao Tổng tích ôn hàng năm dao động từ 7.500 đến 7.800°C, phản ánh đặc điểm khí hậu ôn hòa, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và sinh thái.

Khu vực có chế độ mưa và ẩm đặc trưng rõ rệt với tổng lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.762 mm, trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm đến 80% tổng lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa có lượng mưa trung bình từ 50-100 mm/tháng, trong khi mưa đá thường xuất hiện vào các tháng 2, 3, 4 không đều hàng năm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm duy trì từ 85-90 %, cao nhất vào các tháng mùa mưa và thấp nhất vào tháng 4, khoảng 65-70 % Do khí hậu ẩm ướt, sương mù nhiều, đặc biệt dày đặc ở các vùng cao, thung lũng kín và khuất gió, khiến không khí thêm phần ẩm ướt và khí hậu trở nên đặc biệt hơn ở những khu vực này.

Khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên có tổng số giờ nắng trung bình hàng năm dao động từ 1.400 đến 1.460 giờ, thể hiện sự biến động qua các tháng Tháng 4 hàng năm là tháng có lượng nắng cao nhất, đạt khoảng từ 180 đến 200 giờ, trong khi tháng 10 lại là tháng có lượng nắng thấp nhất, chỉ khoảng từ 30 đến 40 giờ Lượng bốc hơi trung bình hàng năm ở khu vực này là 865,5mm.

Khu vực có chế độ gió đa dạng với hai hướng chính phân bố theo mùa: mùa hè có gió Tây và Tây Bắc, trong khi mùa đông xuất hiện gió Bắc và Đông Bắc, với tốc độ trung bình khoảng 2,2 m/s và có thể lên tới 19,7 m/s Bên cạnh đó, còn có các loại gió địa phương như gió đất, gió núi và đặc biệt là gió Ô Quý Hồ, những loại gió nóng dễ gây cháy rừng trong khu vực Thường thì các loại gió này xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4, ảnh hưởng lớn đến khí hậu và an toàn cháy trồng trong vùng.

Sương mù là hiện tượng thời tiết phổ biến trong năm, đặc biệt vào mùa đông, với mức độ dày ở một số khu vực Trung bình mỗi năm có khoảng 160 ngày có sương mù, góp phần ảnh hưởng đến giao thông và cuộc sống hàng ngày Sương muối xuất hiện ít hơn, trung bình khoảng 6 ngày trong năm, nhưng đôi khi kéo dài từ 3 đến 5 ngày và có thời điểm kéo dài tới 11 ngày liên tiếp Các hiện tượng này đóng vai trò quan trọng trong các đặc điểm khí hậu của vùng miền.

Tuyết và mưa đá xuất hiện với tần suất khoảng 4 đến 6 năm/lần, đặc biệt trong các ngày rét đậm của mùa đông Nhiệt độ xuống thấp trên các đỉnh cao trên 2.500m thường khiến tuyết phủ xuất hiện, thậm chí đôi khi tuyết rơi xuống đến độ cao 1500m, bao trùm cả thị trấn Sa Pa Tháng 4 và 5 thường có mưa đá với trung bình 2 đến 6 ngày/năm, hạt đá có kích thước trung bình khoảng 1,0 cm và gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng, màu sắc và hoa cảnh.

Điều kiện thủy văn tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên phản ánh chế độ dòng chảy của hai hệ thống suối đến từ dãy Hoàng Liên Sơn, đổ về sông Hồng và sông Đà Những đặc điểm địa hình chia cắt mạnh đã hình thành hệ thống khe suối dày đặc, với các sườn núi dốc đứng, khe suối hẹp và sâu, dòng chảy dốc, xuất hiện nhiều ghềnh thác, góp phần tạo nên một mạng lưới sông ngòi phong phú Trung bình, mật độ suối tại đây đạt khoảng 3,12 km/1.000 ha, phản ánh sự đa dạng và phong phú của hệ thống thủy văn trong khu vực.

Hệ thống suối đón nước đổ về sông Hồng (hệ thống suối Đum) có chiều dài khoảng 50 km, phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc của Vườn Quốc gia Hoàng Liên Trong hệ thống này, có các con suối nổi bật như Suối Mường Hoa bắt nguồn từ núi Fansipan, Suối Séo Chung Hồ bắt nguồn từ rừng núi Tả Van, và Suối Tả Trung Hồ xuất phát từ Bản Tả Trung.

Hồ rồi hợp lưu ở Bản Dền trước khi chảy ra sông Hồng

Hệ thống suối đón nước đổ về sông Đà, hay còn gọi là hệ thống suối Bo, có chiều dài khoảng 80 km và phân bố chủ yếu ở phía Tây Nam của Vườn Quốc gia Hoàng Liên Trong đó, các suối tiêu biểu như suối Nậm Be tại xã Phúc Khoa bắt nguồn từ núi Fansipan, cùng với suối Nậm Pao và Nậm Chăng tại thị trấn Tân Uyên hợp lưu tạo thành ngòi Nậm Mu, góp phần đưa nguồn nước về sông Đà.

3.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng Địa chất đá mẹ: Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây cho thấy, nền địa chất khu vực Vườn Quốc gia Hoàng Liên có nguồn gốc kiến tạo thuộc kỷ Triat và chịu ảnh hưởng nhiều của hoạt động tạo sơn Indexin, có tuổi địa chất nhỏ nên dãy núi Hoàng Liên Sơn trong đó có đỉnh Fansipan được xem là dãy núi trẻ, đỉnh núi nhọn vì quá trình bào mòn địa chất tự nhiên có chưa lâu Đá mẹ tạo đất chủ yếu là nhóm đá Macma axit và nhóm đá biến chất với các loại đá chính như: Granit, Gnai, Amphibolit, Filit, Đá vôi, đôi chỗ còn lẫn Phiến thạch sét, Sa thạch, Đá diệp thạch

Dân sinh, kinh tế xã hội

3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động

3.2.1.1 Dân tộc và cơ cấu dân tộc

Trong khu vực các xã vùng đệm của Vườn Quốc Gia Hoàng Liên, có 08 dân tộc thiểu số cùng sinh sống, chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng địa phương Dân tộc H’ Mông chiếm khoảng 37,6%, tập trung chủ yếu tại các xã thuộc thị xã Sa Pa Người Thái chiếm 36,4%, chủ yếu sinh sống ở huyện Tân Uyên Ngoài ra, dân tộc Dao chiếm 6,5%, cùng các dân tộc thiểu số khác như Tày, Giáy, Khơ Mú, Lào, Lự, Kháng và Kinh cũng góp mặt đa dạng trong cộng đồng, tạo nên bức tranh văn hóa phong phú trong khu vực.

Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng được lưu giữ qua nhiều thế hệ, tạo nên đời sống văn hóa và lễ hội đa dạng trong vùng Những giá trị văn hóa phi vật thể này là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, có thể khai thác để phát triển du lịch thu hút du khách Hiện nay, có 05 thôn (Séo Mý Tỷ, Dền Thàng, Tả Trung Hồ, Séo Trung Hồ, Ma Quái Hồ) nằm sâu trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, chủ yếu cư trú của 03 dân tộc thiểu số, trong đó người H'Mông chiếm 73,8%, dân tộc Dao chiếm 17,4%, và dân tộc Giáy chiếm 8,8% Sự phân bố dân cư rải rác khắp các quả đồi trong khu vực gây khó khăn trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức cho người dân cũng như việc kiểm lâm đi lại, tiếp xúc, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và bảo vệ rừng.

3.2.1.2 Dân số và lao động:

Số hộ gia đình (hộ)

Diện tích tự nhiên (ha)

Mật độ dân số (người/km 2 )

3.2.2 Những hoạt động kinh tế chính, thu nhập, đời sống của dân cư

3.2.2.1 Những hoạt động kinh tế chính Đặc thù của các xã vùng đệm của VQG Hoàng Liên chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, nên sản xuất chủ yếu là làm nông nghiệp với hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi, trong đó: trồng trọt chiếm 55,5%, chăn nuôi chiếm 34,5% và thương mại, dịch vụ chiếm 10,0% Ngoài ra, người dân còn tham gia thu hái lâm sản phụ (canh tác cây thảo quả, măng, cây thuốc, rau rừng, ), săn bắt chim, thú, nhận khoán bảo vệ rừng của VQG Hoàng Liên và các đơn vị lâm nghiệp trong khu vực để có việc làm tăng thêm thu nhập kinh tế hộ gia đình a Về trồng trọt

Diện tích đất trồng cây hàng năm trên địa bàn đạt 2.413,0 ha, chiếm 81,97% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa chiếm 1.465,0 ha và đất trồng các cây hàng năm khác là 948,0 ha Giá trị sản phẩm trung bình trên mỗi hectare canh tác đạt khoảng 29 triệu đồng Tuy nhiên, sản xuất lương thực còn gặp nhiều hạn chế do diện tích gieo trồng còn thấp, việc đưa giống mới vào sản xuất vẫn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào giống địa phương, phương thức canh tác còn lạc hậu và mang nặng thói quen truyền thống, dẫn đến năng suất cây trồng thấp (lúa đạt 48,2 tạ/ha, ngô đạt 42,0 tạ/ha) và năng suất còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Ngoài ra, diện tích các loại cây công nghiệp ngắn ngày có xu hướng giảm, trong khi diện tích trồng rau, quả tại các xã đang có chiều hướng gia tăng.

Tổng đàn gia súc, gia cầm tại các xã vùng đệm trong những năm qua phát triển ổn định, công tác kiểm soát dịch bệnh được tăng cường, giúp hạn chế các dịch bệnh lớn trên địa bàn Công tác thú y đã tổ chức tiêm phòng hai đợt/năm, tuy nhiên còn gặp khó khăn trong việc vận động người dân tiêm phòng đầy đủ cho gia súc, gia cầm Trung bình mỗi hộ gia đình nuôi từ 1-2 con lợn, 1-2 con trâu hoặc bò, trong đó một số hộ có từ 6-7 con; đối với gia cầm chủ yếu là gà, vịt, được nuôi quanh nhà, trung bình mỗi hộ có từ 10 con trở lên.

Trong khu vực các xã vùng đệm, nhiều hộ dân đã phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản, với tổng diện tích lên đến 243,7 ha, tập trung chủ yếu vào nuôi cá nước lạnh Các hoạt động này đã góp phần nâng cao sản lượng thủy sản, đạt hơn 62 tấn mỗi năm, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Đồng thời, ngành sản xuất lâm nghiệp cũng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của khu vực, góp phần bảo vệ môi trường và duy trì sinh kế cho cộng đồng.

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các xã trong khu vực chủ yếu bao gồm trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung, trồng cây phân tán và thu hái lâm sản tự phát của người dân địa phương Để giải quyết áp lực lớn đối với công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã thực hiện các giải pháp giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân các xã vùng đệm Năm 2018, tổng diện tích giao khoán bảo vệ rừng đặc dụng cho cộng đồng dân cư tại các xã vùng đệm trên địa bàn thị xã Sa Pa là 8.570,2 ha, với tổng kinh phí 4.628 triệu đồng Mặc dù số tiền không lớn, nhưng ở các khu vực khó khăn, khoản hỗ trợ này đã góp phần tăng nguồn thu nhập cho người dân để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.

Nguồn thu nhập chính của cộng đồng địa phương vùng đệm vẫn đến từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp, trong đó các yếu tố ảnh hưởng như vốn đầu tư, quy mô sản xuất, loại cây trồng, kỹ thuật canh tác, vật tư và tình hình thị trường tiêu thụ đóng vai trò quan trọng Bình quân lương thực của 05 xã có diện tích VQG phân bố là 565 kg/người/năm, trong đó riêng thóc là 285,28 kg/người/năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 18,6 triệu đồng mỗi năm, phản ánh khả năng sinh kế của cộng đồng địa phương trong khu vực.

Hiện tại, mức thu nhập của các hộ gia đình chỉ đủ trang trải cuộc sống trong vòng 9-10 tháng mỗi năm Người dân tộc thiểu số trong khu vực dựa vào các nguồn thu từ dịch vụ du lịch, chăn nuôi trâu, bò, thu hái lâm sản như cây cảnh, mật ong, canh tác cây thảo quả, và săn bắt chim thú trái phép trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên để đảm bảo cuộc sống Tuy nhiên, những hoạt động này gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học trong vùng lõi và vùng đệm của VQG Hoàng Liên.

3.2.2.3 Đời sống của người dân

Hiện nay, đời sống của người dân trong các xã vùng nghiên cứu vẫn gặp nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua, chính quyền và các đoàn thể địa phương đã thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế, đặc biệt là chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và huy động các nguồn vốn đầu tư Các chương trình như giảm nghèo, hỗ trợ làm nhà ở, vay vốn lãi suất thấp, vay phân bón trả chậm và các chương trình hỗ trợ cây ăn quả, trồng cây phân tán đã giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 30,1% Đồng thời, các điều kiện sinh hoạt của người dân từng bước được cải thiện rõ nét, với tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt đạt 98,8% và hộ dùng nước hợp vệ sinh chiếm 72,7%.

Các xã vùng nghiên cứu thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt, sạt lở đất và sự gia tăng dân số, dẫn đến thiếu đất canh tác, thiếu vốn đầu tư và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Những nguyên nhân này chủ yếu góp phần vào tình trạng đói nghèo của cộng đồng địa phương Ngoài ra, các yếu tố như thiếu phương án sinh kế thay thế khả thi, thiếu lao động, ốm đau bệnh tật, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn kém phát triển, cùng với các sự kiện thiên tai và dịch bệnh thường xuyên diễn ra đã làm gia tăng khó khăn trong sinh kế và đẩy người dân vào nghèo đói.

3.2.3 Xã hội: Thực trạng giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa

3.2.3.1 Y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Hiện tại, hầu hết các xã vùng đệm đã có trạm y tế đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế, với quy mô từ 4-5 phòng và diện tích sàn trung bình 295 m² mỗi trạm, đảm bảo tiêu chuẩn của ngành y tế Trung bình, mỗi trạm y tế phục vụ khoảng 660 người dân/cán bộ y tế, 5.935 người dân/bác sĩ, và 792 người dân/giường bệnh, trong đó tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 97,01% Tuy nhiên, so với nhiều xã trong khu vực, công tác y tế tại các xã vùng đệm còn chậm phát triển, cơ sở vật chất của các trạm y tế xã còn thiếu thốn, chỉ mới đáp ứng được một phần nhỏ trong việc khám và chữa bệnh.

3.2.3.2 Công tác giáo dục đào tạo

Nhiều nỗ lực đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Hệ thống trường học, lớp học và quy mô ngành học ngày càng được mở rộng và hoàn thiện Nhờ đó, khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong khu vực đã được cải thiện rõ rệt, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia theo cấp học vẫn còn chưa đồng đều, với cấp mầm non đạt 43,5%, cấp tiểu học đạt 77,4%, và cấp trung học cơ sở chỉ đạt 28,6% Chất lượng giáo dục đã có nhiều tiến bộ, tỷ lệ huy động học sinh vào lớp 1 đạt 98,8%, vào cấp 2 đạt 85,8%, và vào cấp 3 đạt 38,0% Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng phục vụ giáo dục vẫn còn thiếu thốn, đặc biệt là tình trạng thiếu phòng học và chất lượng giáo dục chưa cao, trong đó số phòng học kiên cố chỉ chiếm trên 85,0% Ngoài ra, còn thiếu giáo viên được đào tạo chính quy, dẫn đến tỷ lệ học sinh bỏ học trung học cơ sở vẫn cao, đạt 12,0%, đặc biệt tập trung gần các thôn bản xa điểm trường, nơi có dân tộc thiểu số H’Mông và Dao sinh sống, và các khu vực có tuyến du lịch qua lại.

3.2.3.3 Công tác Văn hoá, thông tin và thể dục thể thao

Hiện nay, đa số các xã đã có nhà bưu điện văn hóa và sóng truyền thanh, truyền hình đã phủ khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến người dân Các phương tiện truyền thông này cũng hỗ trợ hiệu quả trong việc truyền đạt thông tin về các ngày lễ lớn của dân tộc, hoạt động sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai và dịch bệnh, cũng như công tác kế hoạch hóa gia đình.

Hệ thống giao thông

3.3.1 Hệ thống giao thông đường bộ trong khu vực

Trong khu vực VQG Hoàng Liên có tuyến QL4D, tuyến QL4E, tuyến QL32: Tuyến ĐT152 dài 60 km, là trục giao thông nối thị trấn Sa Pa (giao với

Tuyến đường QL4D bắt đầu từ thị trấn Sa Pa và đi xuống phía Nam qua các xã Hoàng Liên, Mường Hoa, Bản Hồ, sau đó sang phía Tây qua xã Mường Bo, đi lên phía Tây Bắc qua xã Tà Thàng, xã Gia Phú và kết thúc tại khu vực Bến Đền thuộc huyện Bảo Thắng Tuyến ĐT155 dài 29 km, kết nối hai huyện Bát Xát và Sa Pa, bắt đầu từ ngã ba Cán Tỷ, Bản Xèo, huyện Bát Xát (giao với ĐT158) theo hướng Nam qua các xã Pa Cheo, Tả Giàng Phình, Bản Khoang, và kết thúc tại km 98 của QL4D tại thị xã Sa Pa, Lào Cai.

Các tuyến đường liên xã, liên thôn đã được nâng cấp, bê tông hóa theo chương trình nông thôn mới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa Việc xây dựng hệ thống giao thông đường bộ là cần thiết và cấp bách để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, cũng như bảo vệ Vườn Quốc gia Hoàng Liên Đang có nhiều tuyến đường đất nằm trong khu vực rừng, thường hư hỏng do mưa lũ, gây khó khăn cho việc đi lại, đặc biệt trong mùa mưa Kinh phí duy tu, nâng cấp các tuyến đường này vẫn chưa được bố trí, phải tận dụng đường mòn và đường lâm nghiệp cũ để phục vụ công tác tuần tra, bảo vệ rừng Một số tiểu khu có địa hình hiểm trở chưa có đường giao thông, khiến việc tiếp cận và phát triển khu vực này rất khó khăn.

Hệ thống giao thông đường bộ tại các xã vùng đệm VQG Hoàng Liên hiện nay chỉ đáp ứng phần nhỏ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, cần đầu tư xây dựng hệ thống giao thông nội vùng một cách đồng bộ và bền vững Việc này không chỉ giúp mở rộng kết nối vùng, mà còn hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ VQG Hoàng Liên hiệu quả hơn trong tương lai gần.

3.3.2 Hệ thống giao thông đường thủy

Tỉnh Lào Cai có hai tuyến sông lớn quan trọng là sông Hồng và sông Chảy, với tổng chiều dài là 230 km Trong đó, sông Hồng là tuyến sông chính dài khoảng [thêm chiều dài cụ thể nếu có], đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và sinh thái vùng đất này.

Tỉnh Lào Cai có chiều dài sông chung biên giới Trung Quốc khoảng 55 km trong tổng số 130 km đường sông, bao gồm sông Chảy dài khoảng 100 km Do ảnh hưởng của địa hình và địa chất, hệ thống sông tại đây có đặc điểm lòng sông dốc, hẹp, quanh co, nhiều đá ngầm và chưa được chỉnh trị, gây ra những hạn chế trong hoạt động khai thác vận tải đường sông.

Trong khu vực trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên, có hai hệ thống suối chính đổ nước về sông Hồng và sông Đà Hệ thống suối Đum phía Đông Bắc dài khoảng 50 km, bắt nguồn từ núi Fansipan, mang nước về sông Hồng Trong khi đó, hệ thống suối Bo phía Tây Nam dài khoảng 80 km, cũng xuất phát từ núi Fansipan và dẫn nước về sông Đà Các suối như Suối Mường Hoa, suối Séo Chung Hồ, suối Tả Trung Hồ, suối Nậm Pao, Nậm Chăng (thị trấn Tân Uyên) đều hợp lưu thành ngòi Nậm Mu Trung bình, mật độ suối trong khu vực đạt khoảng 3,12 km trên 1.000 ha, góp phần quan trọng vào hệ sinh thái của vườn quốc gia.

Tài nguyên sinh vật

Dựa trên hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Tiến sĩ Thái Văn Trừng trong cuốn “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam – 1998”, thảm thực vật rừng tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên có thể được chia thành các kiểu rừng chính, phản ánh đa dạng sinh thái đặc trưng của khu vực này.

- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp:

Rừng này chiếm 0,68% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở độ cao trung bình dưới 700 mét Khu vực tập trung ở ranh giới phía Đông Nam của Vườn Quốc Gia, thuộc xã Bản Hồ, dọc theo hai bên suối Mường Hoa và Nậm Pu.

Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp:

Rừng này phân bố ở độ cao từ 700m đến 1700m, chiếm 43% tổng diện tích tự nhiên, thường nằm trên các đỉnh núi cao trung bình hoặc sườn các dông phụ núi cao chạy từ các đỉnh núi trên dãy Hoàng Liên Sơn xuống Với khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình chỉ 15-20°C, nhiều mây và độ ẩm cao, kiểu rừng này có đa dạng thực vật gốc từ cây bản địa Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc.

- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim á nhiệt đới núi thấp:

Rừng kiểu này thường phân bố ở sườn đỉnh các dãy núi có độ cao từ 700m đến 1700m Khi Pơ mu bị khai thác quá mức, diện mạo của kiểu rừng này dễ bị biến đổi đáng kể, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái khu vực.

- Kiểu rừng kín thường xanh, ẩm ôn đới núi vừa:

Rừng ở khu vực này chiếm hơn 54% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 1.700m đến 2.600m Địa hình chủ yếu là các đỉnh núi cao và sườn dốc hướng lên đỉnh Fansipan, tạo nên hệ sinh thái đặc trưng và đa dạng của khu vực.

- Kiểu rừng ôn đới núi cao, lạnh:

Rừng này chiếm diện tích 2,4% tổng diện tích tự nhiên của khu vực, chủ yếu phân bố trên độ cao 2.600m, tập trung quanh đỉnh Fansipan và các đỉnh cao như 2.875m, 2.751m, 2.825m, 2.807m, 2.816m Đặc điểm của rừng là thân cây thấp, tán lá rộng, với thành phần loài chủ yếu thuộc các họ như Ericaceae, Lauraceae, Fagaceae Trong tầng thấp của rừng, có sự hiện diện đáng kể của Rêu, Địa y, cùng một số loài cỏ quăn, loài thực vật mua đất và các loài khác phù hợp với môi trường cao nguyên lạnh.

3.4.2 Đa dạng thực vật rừng

Vườn quốc gia Hoàng Liên là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu của Việt Nam, nổi bật với hệ thực vật rừng phong phú Theo đánh giá của các nhà khoa học, khu vực này sở hữu tới 2.847 loài thực vật có mạch, thuộc hơn 1.064 chi khác nhau Kết quả cập nhật danh mục thực vật rừng tại VQG Hoàng Liên khẳng định giá trị tuyệt vời của khu bảo tồn này trong việc bảo tồn đa dạng sinh học.

229 họ có mặt tại VQG Hoàng Liên Đặc biệt, trong phạm vi vùng lõi của VQG Hoàng Liên hiện đang lưu giữ

Vườn Quốc gia Hoàng Liên có 06 quần thể cây được công nhận là cây di sản Việt Nam, bao gồm Vân sam, Thiết sam, Đỗ quyên cành thô, Đỗ quyên hoa đỏ, Trâm ổi và Hồng quang Điều này thể hiện sự đa dạng về loài thực vật trong khu vực, khẳng định hiệu quả của công tác phục hồi sinh thái rừng và quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học của VQG trong quá trình đầu tư xây dựng.

3.4.3 Đa dạng động vật rừng

Dựa trên danh sách các loài động vật có xương sống, báo cáo kết quả bước đầu điều tra xây dựng danh lục động vật hoang dã tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã cập nhật 555 loài trên cạn, gồm 96 loài thú, 346 loài chim, 63 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư Vườn Quốc gia Hoàng Liên hiện là điểm nóng bảo tồn nguồn gen của một nửa số loài ếch nhái tại Việt Nam, đồng thời là nơi phát hiện nhiều loài mới như cóc mày (Leptolalax botsfordi), cóc núi (Oreolalax sterlingae), ếch cây sần (Theloderma bicolor) và ếch bám đá nhỏ (Amolops minutus), thể hiện sự đa dạng phong phú của nhóm động vật này.

Ngoài ra, khu vực VQG Hoàng Liên đã ghi nhận được: Bọ cánh cứng ăn lá có 89 loài, 40 giống và 9 phân họ; Bọ cánh cứng Kẹp kìm có 18 loài thuộc 7 giống, trong đó 4 loài chỉ tìm thấy ở Hoàng Liên; 304 loài bướm, thuộc 138 giống, 10 họ, trong đó có một số loài bướm đặc hữu như Bayasapolla, Papilio krishna cùng nhiều loài khác thuộc họ bướm xanh Lycaenidae (Chrysozephyrus spp và Neozephyrus spp) Tuy có tính đa dạng cao, nhưng do tình trạng nguồn lợi động vật nên nhiều loài đang bị đe dọa, trong đó có 07 loài gần như đã rơi vào tình trạng bị tiêu diệt ở Hoàng Liên như: Vượn đen (Nomasscus concolar), Hồng hoàng (Buceros bicornis), Cheo cheo (Tragulus javanicus), Vooc bạc má (Trachypithecus) Những loài bò sát,lưỡng cư có giá trị thương mại hoặc dược liệu như: Các loài Rùa, Kỳ đà và các loài Rắn hiện trở nên rất hiếm và cũng trong tình trạng bị đe dọa cao.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 07/08/2023, 05:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá (2006), “Du lịch sinh thái”, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
2. Báo cáo “Cung cấp các hồ sơ liên quan đến các dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng VQG Hoàng Liên 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung cấp các hồ sơ liên quan đến các dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng VQG Hoàng Liên 2020
3. Hà Khánh Châu, 2003: Bước đầu đánh giá tiềm năng và đề ra các giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá tiềm năng và đề ra các giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Hà Khánh Châu
Năm: 2003
4. Tôn Thất Hữu Đạt (2014) Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Các khoa học về trái đất, 36(3): 271-280 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Tôn Thất Hữu Đạt
Nhà XB: Tạp chí Các khoa học về trái đất
Năm: 2014
5. Lê Thị Hạnh (2018): Nghiên cứu ảnh hưởng của du lịch sinh thái đến Vườn quốc gia Hoàng Liên – huyện SaPa – Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của du lịch sinh thái đến Vườn quốc gia Hoàng Liên – huyện SaPa – Lào Cai
Tác giả: Lê Thị Hạnh
Năm: 2018
6. Phạm Thị Lâm (2004): Khảo sát và đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ trekking tour ở xã San Sản Hồ và Lao Chải thuộc VQG Hoàng Liên – Sa Pa – Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát và đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ trekking tour ở xã San Sản Hồ và Lao Chải thuộc VQG Hoàng Liên – Sa Pa – Lào Cai
Tác giả: Phạm Thị Lâm
Năm: 2004
7. Đặng Duy Lợi (1992), “ Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”, Luận án Phó tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch
Tác giả: Đặng Duy Lợi
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1992
8. Phạm Trung Lương, 2002: Du lịch sinh thái: Những vấn đề lý luận và thực tiễn tại Việt Nam. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái: Những vấn đề lý luận và thực tiễn tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
9. Nguyễn Thị Phương Nga, Nguyễn Xuân Trường (2019) Đánh giá khả năng phát triển du lịch sinh thái ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa theo hướng bền vững. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 186(10): 77-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng phát triển du lịch sinh thái ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa theo hướng bền vững
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Nga, Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Năm: 2019
10. Bùi Thị Minh Nguyệt (2012) Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại VQG Ba Vì, thành phố Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Công nghệ lâm Nghiệp Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại VQG Ba Vì, thành phố Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Minh Nguyệt
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ lâm Nghiệp
Năm: 2012
11. Cấn Việt Phương (2008): Bước đầu nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên – tỉnh Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại VQG Hoàng Liên – tỉnh Lào Cai
Tác giả: Cấn Việt Phương
Năm: 2008
12. Phương án “Quản lý rừng bền vững VQG Hoàng Liên giai đoạn 2020 - 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương án "“Quản lý rừng bền vững VQG Hoàng Liên giai đoạn 2020 - 2030
13. Nguyễn Thị Sơn (2007), Bài giảng Du lịch sinh thái, Tài liệu giảng dạy khóa tập huấn về DLST cho các VQG và khu bảo tồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Du lịch sinh thái
Tác giả: Nguyễn Thị Sơn
Nhà XB: Tài liệu giảng dạy khóa tập huấn về DLST cho các VQG và khu bảo tồn
Năm: 2007
14. Vũ Huyền Trang, Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà 15. Trung tâm Du lịch sinh thái &amp; Giáo dục Môi trường Hoàng Liên, “HoàngLiên – Trường học về lòng đam mê khám phá những điều bí ẩn và kỳ vĩ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà
Tác giả: Vũ Huyền Trang
Nhà XB: Trung tâm Du lịch sinh thái & Giáo dục Môi trường Hoàng Liên
16. Thái Văn Trừng dịch (1998), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1998
17. Nguyễn Quang Vĩnh (2017), “Quản lý phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Hoàng Liên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Hoàng Liên
Tác giả: Nguyễn Quang Vĩnh
Năm: 2017
18. Nguyễn Vương (2019), “Sử dụng phương pháp thang đo điểm tổng hợp kết hợp phương pháp phân tích thứ bậc để đánh giá sự phát triển du lịch bền vững tại Phú Quốc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương pháp thang đo điểm tổng hợp kết hợp phương pháp phân tích thứ bậc để đánh giá sự phát triển du lịch bền vững tại Phú Quốc
Tác giả: Nguyễn Vương
Năm: 2019
19. David Western (1999), Định nghĩa Du lịch sinh thái, Du lịch sinh thái – Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạck và quản lý, tập I, NXB Cục môi trường, tr.1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định nghĩa Du lịch sinh thái, Du lịch sinh thái – Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạck và quản lý
Tác giả: David Western
Nhà XB: NXB Cục môi trường
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bộ chỉ số đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại các - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Bảng 2.1. Bộ chỉ số đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại các (Trang 22)
Bảng 2.4: Điểm đánh giá tổng hợp cao nhất và thấp nhất. - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Bảng 2.4 Điểm đánh giá tổng hợp cao nhất và thấp nhất (Trang 25)
Hình 3.1. Phạm vi ranh giới VQG Hoàng Liên. - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 3.1. Phạm vi ranh giới VQG Hoàng Liên (Trang 27)
Bảng 4.2. Đối tượng tham gia du lịch sinh thái ở VQG Hoàng Liên. - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Bảng 4.2. Đối tượng tham gia du lịch sinh thái ở VQG Hoàng Liên (Trang 43)
Hình 4.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức trung tâm DLST VQG Hoàng Liên. - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 4.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trung tâm DLST VQG Hoàng Liên (Trang 47)
Bảng 4.8. Hệ số tiêu chí đánh giá tiềm năng phát triển DLST. - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Bảng 4.8. Hệ số tiêu chí đánh giá tiềm năng phát triển DLST (Trang 72)
Bảng 4.9: Điểm đánh giá tổng hợp cao nhất và thấp nhất. - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Bảng 4.9 Điểm đánh giá tổng hợp cao nhất và thấp nhất (Trang 73)
Bảng 4.10. Kết quả phỏng vấn đánh giá tiềm năng phát triển DLST tại - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Bảng 4.10. Kết quả phỏng vấn đánh giá tiềm năng phát triển DLST tại (Trang 74)
Hình 1: Sơ đồ các tuyến du dịch (Sưu tầm) - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 1 Sơ đồ các tuyến du dịch (Sưu tầm) (Trang 105)
Hình 2: Sơ đồ tham quan du lịch VQGHL - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 2 Sơ đồ tham quan du lịch VQGHL (Trang 106)
Hình 3: Vân sam Fansipan  Hình 4: Thiết sam Fansipan - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 3 Vân sam Fansipan Hình 4: Thiết sam Fansipan (Trang 106)
Hình 7: Rùa đầu to (Sưu tầm)  Hình 8: Cóc mày (Sưu tầm) - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 7 Rùa đầu to (Sưu tầm) Hình 8: Cóc mày (Sưu tầm) (Trang 107)
Hình 13: Chinh phục đỉnh Fansipan  Hình 14: Du lịch làng bản - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 13 Chinh phục đỉnh Fansipan Hình 14: Du lịch làng bản (Trang 108)
Hình 19: Phỏng vấn hướng dẫn viên  Hình 20: Phỏng vấn khách du lịch - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 19 Phỏng vấn hướng dẫn viên Hình 20: Phỏng vấn khách du lịch (Trang 109)
Hình 25: Dụng cụ lao động  Hình 26: Rèn đúc bạc - Đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai
Hình 25 Dụng cụ lao động Hình 26: Rèn đúc bạc (Trang 110)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm