1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(SKKN HAY NHẤT) xây dựng chủ đề bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao việt nam 1945 1973 và mối liên hệ với tư tưởng hồ chí minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử

88 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN HAY NHẤT) Xây dựng chủ đề bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao Việt Nam 1945-1973 và mối liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử
Người hướng dẫn P. T. S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: Xây dựng chủ đề “Bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao Việt Nam 1945-1973 và mối liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoạ

Trang 1

chung và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người Vì vậy, trong mọi thời đại, các chương trình giáo dục tuy có khác nhau về cấu trúc, phương pháp

và nội dung giáo dục… nhưng đều hướng tới mục tiêu nhân cách Qua các thời kỳ với các giai đoạn lịch sử khác nhau, yêu cầu về nhân cách nói chung và phẩm chất, năng lực nói riêng của con người với tư cách là thành viên trong xã hội cũng có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi của thời đại

Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nền giáo dục nước ta đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục phổ thông hiện hành sang chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018, từ giáo dục tiếp cận nội dung sang giáo dục tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc HS học được gì đến chỗ quan tâm tới việc HS học được cái gì và làm được cái gì qua việc học Để

có được điều đó, trong những năm qua, toàn nghành đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học và KTĐG theo định hướng PTPC, NL của

người học Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta: "Tiếp tục đổi mới

phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học" (chiến

lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ)

Thực hiện chủ trương trên, Sở GD&ĐT Nghệ An đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho GV cốt cán các nhà trường nhằm đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học

và KTĐG theo định hướng PTPC, NL học sinh thông qua việc xây dựng và dạy học theo chủ đề Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp tại trường và tham khảo trường bạn, tôi thấy việc triển khai phương pháp dạy học theo hướng PTPC, NL học sinh chưa nhiều, chưa phổ biến

Nhìn chung các bộ môn mới chỉ tiến hành dạy học mỗi năm 2 chủ đề và 4 tiết nghiên cứu bài học theo quy định Mặt khác các chủ đề được xây dựng chủ yếu là theo các chương/bài được xây dựng trong SGK, nội dung kiến thức còn dàn trải hàng ngang mà chưa đi sâu, xuyên suốt một giai đoạn lịch sử, một lĩnh vực nên về

cơ bản không có cái “mới”, cái “khác” trong chủ đề so với nội dung bài học, chưa kích thích được sự tò mò, khả năng tổng hợp của người học Nhận thức được tầm quan trọng đó, bản thân tôi nhận thấy nếu tổng hợp được kiến thức của từng chương/bài lại và đi sâu vào một lĩnh vực của các chương/bài, mổ xẻ nó theo chiều sâu thì HS sẽ hứng thú học hơn và phát triển được các PC, NL cần hình thành

Hiện nay, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Trang 2

gương đạo đức Hồ Chí Minh, Ban cán sự Đảng Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo việc "rà

soát, biên soạn giáo trình, tài liệu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

để tổ chức triển khai trong các cơ sở GD&ĐT", tổ chức biên soạn "Tài liệu hướng dẫn tích hợp nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" để dạy học chính thức trong chương trình đối với các môn học và hoạt động

giáo dục ở cấp THPT trong đó có môn Lịch sử

Sau nhiều năm dạy học môn Lịch sử cấp THPT tôi nhận thấy việc giảng dạy các thành tựu đạt được của Đảng và nhà nước ta trong quá trình đấu tranh ngoại giao từ năm 1945 đến năm 1973 và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học Lịch sử còn thiếu tính khái quát, hệ thống và chưa được đánh giá đúng mức Cần phải nâng lên thành một tầm cao mới, giá trị mới, để tạo nên diện mạo mới của dân tộc và sự ảnh hưởng cũng như sức lan tỏa trên phạm

vi toàn cầu Vì vậy việc tổng hợp, khái quát xây dựng nội dung học tập thành một chủ đề cho HS biết những giá trị đó là điều hết sức cần thiết Việc xây dựng nội dung dạy học mới này góp phần đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT của Bộ GD&ĐT, theo tinh thần Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018, là GV chủ động trong việc xây

dựng nội dung chương trình giáo dục mới, “một chương trình, nhiều bộ SGK”,

góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao PC, NL cho HS

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: Xây dựng chủ đề “Bước phát triển

trong quá trình đấu tranh ngoại giao Việt Nam 1945-1973 và mối liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử” nhằm phát

triển PC, NL học sinh làm đối tượng nghiên cứu để nâng cao chất lượng dạy học của bản thân, từ đó đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới căn bản,

toàn diện của ngành giáo dục nước nhà, góp phần thực hiện thành công Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018

2 Điểm mới của sáng kiến

Sáng kiến đã sắp xếp, cấu trúc lại một số kiến thức quan trọng của Chương

3, Chương 4 phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 - 2000, trong đó chủ yếu đi vào vấn đề “hàng dọc”, theo chiều sâu của hai chương nhằm làm nổi bật bức tranh đấu tranh ngoại giao của Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 - 1973

Dạy học theo chủ đề khác với việc dạy học theo bài học thông thường, bên cạnh việc phải đảm bảo các chuẩn KT, KN, thái độ của chương trình và SGK hiện

Trang 3

học theo chủ đề thông thường và SGK là:

- Chủ đề là sự xâu chuỗi theo “hàng dọc”, theo “chiều sâu” lịch sử của một

số vấn đề trong các chương/bài ở một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, nó không dàn trải kiến thức như SGK hoặc các chủ đề khác trình bày các chương/bài Cụ thể:

+ Chủ đề là sự xâu chuỗi hoạt động đấu tranh ngoại giao của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1973, kế tiếp các thắng lợi trên mặt trận quân sự, chính trị,…

Điều này dẫn đến ưu điểm là làm nổi bật được bước phát triển từ thấp đến cao của

ngoại giao Việt Nam và vai trò to lớn của mặt trận này đối với cách mạng nước ta

Qua đó HS có điều kiện hiểu sâu hơn về sự phát triển của lịch sử dân tộc giai đoạn này, từ đó các em dễ dàng liên hệ, so sánh, đối chiếu các thắng lợi trong từng hiệp định với nhau, đồng thời rút ra được những bài học bổ ích cho bản thân

+ Bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao ở Việt Nam từ năm 1945-1973 gắn liền với vai trò, có giai đoạn là lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nhưng SGK chỉ trình bày ghép vào với các thắng lợi quân sự, chính trị…, chưa đề cập đến vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như chưa đề cập đến vai trò của mặt trận này đối với lịch sử dân tộc

Ví dụ cuộc đấu tranh ngoại giao của ta với Chính phủ Pháp ở giai đoạn 1945-1954 được trình bày ở Chương 3, Bài 17, mục 3 của mục III; Bài 20, mục IV; cuộc đấu tranh ngoại giao của ta với chính quyền Mĩ và chính quyền tay sai Việt Nam cộng hòa được trình bày ngắn gọn trong mục V của Bài 22, chương IV,… những nội dung được trình bày trong SGK chủ yếu là nội dung các Hiệp định Cách trình bày như vậy còn dàn trải kiến thức theo hàng ngang, HS chỉ nắm được các sự kiện diễn

ra trong cùng một giai đoạn lịch sử, mà không đi sâu, tổng hợp vào từng bước thắng lợi của ta trên mặt trận này cũng như không rút ra được quan điểm chỉ đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều đó nó ngắt quãng mạch suy nghĩ của

HS, các em khó thấy được bước phát triển của mặt trận này đối với lịch sử dân tộc

- Trong SGK chủ yếu là kênh chữ cung cấp thông tin, những nội dung tích hợp về Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, về Văn học, Địa lí, Giáo dục công dân

vào bài dạy gần như không có, kênh hình ảnh để HS khai thác về chủ đề còn ít, vì vậy chưa tạo điều kiện cho HS tham gia các hoạt động học tập và hình thành PTPC, NL trong học tập

- Sáng kiến đã chỉ ra mối liên hệ tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao với nội dung dạy học của chủ đề

Trang 4

1.1 Cơ sở lí luận dạy học chủ đề theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

1.1.1 Khái niệm phẩm chất, năng lực, chương trình giáo dục theo định hướng phẩm chất, năng lực

Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người

Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có

và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Chương trình giáo dục theo định hướng PTPC, NL được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế

Khác với chương trình định hướng nội dung, Chương trình dạy học định hướng PTPC, NL là dạy học định hướng kết quả đầu ra, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn Ở nước ta Chương trình giáo dục theo định hướng PTPC, NL được đề cập cụ thể đến trong Chương trình GDPT tổng thể 2018, hướng tới năm phẩm chất và mười năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh

1.1.2 Phân loại phẩm chất, năng lực

- Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

- Năng lực chung: Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc

cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho HS 3 năng lực chung là: NL tự chủ và tự học; NL giao tiếp và hợp tác;

NL giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Năng lực chuyên môn: Là những năng lực được hình thành và phát triển

trên cơ sở các NL chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho HS 7 NL chuyên môn

Trang 5

+ Tìm hiểu lịch sử: HS bước đầu nhận diện được các loại hình tư liệu lịch sử;

hiểu được nội dung, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử trong quá trình học tập Tái hiện và trình bày được dưới hình thức nói hoặc viết diễn trình của các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện lịch sử trong không gian và thời gian cụ thể

+ Nhận thức và tư duy lịch sử: HS giải thích được nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các sự kiện lịch sử, lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử Đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ sở nhận thức và tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều hướng khác nhau khi xem xét, đánh giá, hay đi tìm câu trả lời về một sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử

+ Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: HS bước đầu có thể rút ra được bài học lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó, có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời

1.1.3 Dạy học chủ đề theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa năng lực của người học, trong đó người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học trên nguyên lí: Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Trong dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực thì:

- Phương pháp dạy học theo định hướng PTPC, NL môn Lịch sử thường sử

dụng các phương pháp dạy học như: Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên dự án, dạy học hợp tác, dạy học khám phá, dạy học sử dụng đồ dùng trực quan, dạy học sử dụng tài liệu, dạy học gắn liền di sản, dạy học tích hợp,

- Kĩ thuật dạy học theo định hướng PTPC, NL môn Lịch sử thường sử dụng

các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật KWL,

Trang 6

kĩ thuật phòng tranh, …

- Hình thức tổ chức dạy học theo định hướng PTPC, NL môn Lịch sử gồm:

“Bài lên lớp”: bài dạy kiến thức và kĩ năng mới; bài thực hành vận dụng kiến thức, kĩ năng; bài ôn tập và hệ thống hóa kiến thức; bài kiểm tra và đánh giá kiến thức, kĩ năng

Hoạt động ngoài giờ lên lớp: hoạt động ngoại khóa như tham quan bảo tàng,

di tích lịch sử; câu lạc bộ lịch sử; trò chơi lịch sử; đóng vai nhân vật lịch sử,

1.1.4 Xây dựng câu hỏi, bài tập theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

1.1.4.1 Tiếp cận bài tập theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

- Tiếp cận phẩm chất, năng lực không định hướng theo nội dung học trừu tượng mà luôn theo các tình huống cuộc sống của HS Nội dung học tập mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn

- Bài tập định hướng phẩm chất, năng lực chính là công cụ để HS luyện tập nhằm hình thành PC, NL, là công cụ để GV và các cán bộ quản lí giáo dục KTĐG phẩm chất, năng lực của HS, biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học

- Các bài tập trong Chương trình đánh giá HS quốc tế (Programme for

International Student Assesment -PISA) là ví dụ điển hình cho xu hướng xây dựng

các bài kiểm tra, đánh giá theo năng lực Trong các bài tập này, người ta chú trọng

sự vận dụng các hiểu biết riêng lẻ khác nhau để giải quyết một vấn đề mới đối với người học, gắn với tình huống cuộc sống PISA không kiểm tra trí thức riêng lẻ của HS mà kiểm tra các năng lực vận dụng như: Năng lực toán học, khoa học tự nhiên và năng lực đọc hiểu

1.1.4.2 Phân loại bài tập theo định hướng phát triển phát triển phẩm chất, năng lực

- Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức mới

- Bài tập đánh giá: Là các bài kiểm tra ở lớp do GV ra đề hay các đề tập trung

như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển

- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả GV và HS

(người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là “mở”

1.1.4.3 Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Bài tập tái

hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng PTPC, NL

- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng

hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn

đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học

Trang 7

- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các

tình huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo

- Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập vận dụng

và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với bối cảnh và tình huống thực tiễn Một câu hỏi hoặc bài tập gắn với thực tiễn thường có 3 phần, phần thứ nhất và thứ hai luôn luôn xuất hiện trong câu hỏi/bài tập loại này, phần thứ ba có thể có hoặc không có tùy theo dạng câu hỏi/bài tập

+ Câu dẫn: mang tính chất vấn đề, gắn liền với thực tiễn, nội dung gây hứng thú cho HS Hình thức có thể trình bày dưới dạng chữ, biểu đồ, hình ảnh, số liệu

+ Câu hỏi: Các dạng như câu hỏi đúng/sai, câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn, câu hỏi mở

+ Các phương án lựa chọn: Đối với câu hỏi đúng/sai phải ghép từ 4 phương

án trở lên, đối với câu hỏi nhiều lựa chọn phải có từ 4 đáp án trở lên

1.1.4.4 Quy trình xây dựng câu hỏi, bài tập theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

- Bước 1: Lựa chọn chủ đề trong chương trình để xác định KT, KN, thái độ

và định hướng hình thành năng lực cần hình thành

- Bước 2: Xác định chuẩn KT, KN của chủ đề ứng với mức độ nhận thức;

xác định các năng lực được hình thành

- Bước 3: Mô tả các mức độ yêu cầu của các chuẩn bằng các động từ hành

động theo 4 mức độ nhận thức của bộ môn lịch sử:

1 Câu hỏi Biết gắn liền với các động từ như nêu, liệt kê, trình bày, kể tên, nhận biết được

2 Câu hỏi Hiểu gắn liền với các động từ như hiểu được, giải thích, tại sao,

vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát, mở rộng,

3 Câu hỏi Vận dụng gắn liền với các động từ như xác định, khám phá, dự đoán, thiết lập liên hệ, giải quyết, lập niên biểu, chứng minh, suy luận, thiết lập quan hệ, phân tích, so sánh được

4 Câu hỏi Vận dụng cao gắn liền với các động từ như bình luận, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn,

- Bước 4: Biên soạn câu hỏi/bài tập theo các mức độ nhận thức của kiến

thức, kĩ năng và định hướng hình thành năng lực

+ Biên soạn các câu hỏi và bài tập ở các mức độ khác nhau theo ma trận đã xây

dựng Câu hỏi phải tường minh, rõ ràng theo hướng dẫn công văn

5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD và ĐT ngày 08-10-2014 về xây dựng chủ đề dạy học

+ Xây dựng hướng dẫn chấm theo năng lực: Các mức đầy đủ, tương đối đầy

đủ, mức không tính điểm dựa theo cách đánh giá của PISA

1.2 Cơ sở lí luận tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao

Trang 8

Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh được nêu lên lần đầu tiên tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm (1991) được tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh dược khái quát lại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011): “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là hệ thống các nguyên lý, quan điểm về thế giới và thời đại, về đường lối quan hệ quốc tế, chiến lược và sách lược ngoại giao Đó là nền ngoại giao vì mục đích hòa bình, độc lập, chủ quyền của dân tộc và

tự do, hạnh phúc cho nhân dân Được tiến hành trên cơ sở pháp lý và đạo lý chung của quốc tế, đấu tranh pháp lý đi đôi với thuyết phục cảm hóa về đạo lý Với cách thức tiến hành gắn kết đối nội với đối ngoại, lấy đối nội phục vụ đối ngoại và ngược lại Đồng thời xác định lực lượng tiến hành ngoại giao là khối đại đoàn kết toàn dân

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Cơ sở thực tiễn dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

2.1.1 Đối với giáo viên

- Sở GD&ĐT Nghệ An, Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức triển khai đầy đủ các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học và KTĐG theo định hướng PTPC, NL học sinh qua dạy học chủ đề; tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử theo tinh thần của Bộ đến tổ chuyên môn và từng GV, được nhân rộng, tổ chức rút kinh nghiệm ở các năm học tiếp theo Hiện nay vẫn đang

Trang 9

tiến hành tập huấn, bồi dưỡng các mudule cho GV để chuẩn bị cho việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018

Trong hoạt động dạy học, việc xây dựng các chủ đề dạy học theo hướng PTPC, NL còn nặng về hình thức, chưa thực sự đầu tư vào chiều sâu nên hiệu quả chưa cao Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới, áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng PTPC, NL trong bài dạy Việc vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng PTPC, NL hiện nay của một số GV còn chưa thường xuyên, thiếu linh hoạt, mang tính rập khuôn, máy móc nên chưa gây được hứng thú học tập cho HS

- Việc đổi mới phương pháp dạy học và KTĐG theo định hướng PTPC, NL học sinh qua dạy học theo chủ đề mới chỉ dừng lại chủ yếu là xây dựng theo chủ đề hàng ngang, tương ứng với các chương/bài trong SGK, việc xây dựng chủ đề lịch

sử theo “hàng dọc”, đi sâu vào một vấn đề hay một nhân vật lịch sử còn ít, vì phần lớn GV còn ngại đảo lộn, sắp xếp lại kiến thức chương trình trong SGK

- Nhiều GV còn lúng túng trong xây dựng hệ thống câu hỏi/bài tập phục vụ dạy học và KTĐG theo hướng PTPC, NL nhất là khi xây dựng các câu hỏi “mở”

- Trong xây dựng ma trận đề kiểm tra, cách làm, đánh giá của GV còn mang tính hình thức, ít có sự thay đổi, còn nặng về kinh nghiệm hơn đổi mới

- Khi ra đề kiểm tra phần kiến thức còn mang tính hàn lâm và phụ thuộc nhiều vào kiến thức trong SGK, sách giáo viên, chưa mạnh dạn xây dựng các câu hỏi gắn với thực tiễn trong đề kiểm tra

- Mức độ đề kiểm tra chưa phân hóa được năng lực của HS, cách ra đề kiểm tra nhiều lúc còn phiến diện, đơn điệu, thiếu cơ sở khoa học

- Khi xây dựng đáp án, thang điểm chấm GV thường chỉ xây dựng, chiết điểm những đáp án đúng cho các câu hỏi nên chưa đánh giá được năng lực và mức

độ trả lời câu hỏi khác nhau của HS

2.1.2 Đối với học sinh

- HS chưa được làm quen nhiều với phương pháp học, các dạng bài tập theo định hướng PTPC, NL

- Đa số HS còn cảm thấy xa lạ về việc học tập theo chủ đề “hàng dọc” vì đã quen học theo chương/bài trong SGK, còn hình thức khi tiến hành thảo luận nhóm

Trang 10

- Đa số các em còn lúng túng với phương pháp học, dạng bài tập “mở” khi

đọc - hiểu để trả lời câu hỏi hoặc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống

- Đa số câu trả lời của các em còn dựa vào kiến thức trong SGK Bài làm thường thiếu tính sáng tạo Học sinh chưa biết cách sử dụng các kiến thức thực tiễn

và kiến thức liên môn trong giải quyết các bài tập và làm bài kiểm tra

2.2 Cơ sở thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử

2.2.1 Đối với gáo viên

- Hiện nay, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh” đang được đẩy mạnh, Bộ GD&ĐT cùng các Sở đã chỉ đạo, tập huấn, hướng

dẫn GV các môn học liên quan tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong quá trình dạy học Hầu hết các GV dạy Lịch sử đều nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc dạy học tích hợp nội dung này trong chương trình Lịch sử dân tộc 100% GV cho rằng nên đưa nội dung giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vào chương trình SGK để dạy học cho HS Tuy nhiên, vấn đề còn dừng lại ở nhận thức lý luận

Nhiều GV còn khá lúng túng khi khai thác các nội dung lịch sử liên quan đến tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong chương trình giảng dạy nói chung và đấu tranh ngoại giao nói riêng, nhất là việc lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với nội dung yêu cầu

- Nhiều GV khi giảng dạy những nội dung có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung, của chủ đề này nói riêng họ tiến hành rất đơn giản chỉ cần kể cho các em một số mẩu chuyện là được, nhưng thông qua câu chuyện thì GV chưa giáo dục cho các em về tư tưởng, đạo đức của Người để các em thấm nhuần và học tập theo

- Số GV thường xuyên chủ động sáng tạo trong việc vận dụng, tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vào bài dạy nhằm phát huy được năng lực tự học, năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS chưa nhiều Vì vậy trong các tiết dạy-học lịch sử thường không thu hút và gây hứng thú đối với HS, nặng về cung cấp kiến thức, liệt kê sự kiện lịch sử

- Đa số GV chỉ sử dụng một phương pháp dạy học duy nhất đó là trình bày miệng, chưa kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong một bài học Lịch sử, do đó dẫn đến sự nhàm chán, đơn điệu, không khai thác hết nội dung và yêu cầu bài học Một số GV còn lạm dụng khi sử dụng tài liệu tham khảo nên dẫn đến tình trạng "quá tải", làm cho giờ học trở nên nặng nề, hoặc làm loãng nội dung, làm mất tính đặc trưng của bài học Lịch sử

Trang 11

- Bên cạnh đó do phương pháp dạy học của nhiều GV còn thụ động, điều kiện dạy học còn nhiều bất cập Đồ dùng trực quan môn lịch sử như tranh ảnh, lược đồ, bản đồ, hiện vật còn rất công kềnh, trong những năm gần đây khi công nghệ thông tin được ứng dụng trong dạy học, GV và HS có hứng thú dạy-học nhiều hơn so với trước nhưng số lượng phòng máy còn hạn chế nên cơ hội dạy học với việc ứng dụng công nghệ thông tin không phải lúc nào cũng thực hiện được

- Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với chiều dài của lịch sử dân tộc Người đã dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Những tư tưởng, đạo đức của Người là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo, tư tưởng của Người còn định hướng cho mọi hoạt động của Đảng và nhà nước ta trong công cuộc đổi mới hiện nay Vì vậy để giáo dục thế

hệ trẻ, có lối sống lành mạnh, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội sâu sắc thì việc lồng ghép giáo dục tư tưởng, đạo đức của Bác trong dạy lịch sử là rất cần thiết

để góp phần hình thành nhân cách, lối sống của học sinh

2.2.2 Đối với học sinh

- Theo khảo sát thì hiện nay khoảng 95% HS THPT đều có nhưng hiểu biết

cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh qua học tập các môn học Khoa học xã hội, sinh hoạt Đoàn, tiếp nhận những thông tin đại chúng, tiến hành các hoạt động công ích

xã hội Ở mức độ nhất định, các em nhận thức được vai trò, công lao to lớn của Người đối với dân tộc, nhân loại, đối với gia đình và bản thân mỗi em Khoảng 40% HS THPT hiểu biết về cuộc đời, hoạt động, tư tưởng, đạo đức của Người chưa sâu sắc, có một số nhầm lẫn, sai lầm về sự kiện do không quan tâm hoặc ít quan tâm Một phần rất nhỏ không nhiệt tình trong việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh, mà chỉ học thuộc để trả bài

- Nguồn tư liệu và phương tiện để HS tiếp cận với tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh chủ yếu là SGK Sách đọc thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Người (qua tranh ảnh hay văn viết) ít được học sinh THPT quan tâm

- Các hình thức học tập ở nhà truyền thống, nói chuyện, dự thi tìm hiểu lịch

sử được thực hiện nhưng chủ yếu dưới hình thức tập thể, còn mang tính hình thức, theo phong trào thi đua

- Hiệu quả của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở các Trường THPT chưa cao vì:

+ Số ít HS chỉ xem hơn là tìm hiểu trao đổi, chép bài của nhau để có thành tích

là tham gia đông đảo cuộc thi

Trang 12

+ Học sinh e ngại nhất là những quyển sách viết về lý luận cao xa, dài dòng

- Sự hiểu biết về Bác Hồ và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở HS THPT còn đơn giản, nặng về cảm tính, nên tác động về tư tưởng, đạo đức của Người đến suy nghĩ, hành động của các em chưa mạnh mẽ, chưa có hiệu quả cao

- Về mặt lý tưởng, tình cảm cách mạng, các em khẳng định và trong thực tế

đã “sống, học tập, lao động theo gương Bác Hồ vĩ đại”, nhưng chưa hiểu gì nhiều

về tư tưởng của Bác

3 Giải pháp

- Trong dạy học theo định hướng PTPC, NL:

+ Xây dựng chủ đề dạy học theo “hàng dọc”, đi sâu vào một nội dung hoặc một vấn đề trọng tâm và các hoạt động dạy học phù hợp theo chủ đề

+ Xác định kiến thức, PC, NL cần được hình thành và xây dựng bảng mô tả

+ Xây dựng đề kiểm tra đánh giá cho kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định

kỳ trong chủ đề và vận dụng câu hỏi trong ôn thi tốt nghiệp THPT

+ Hệ thống câu hỏi/bài tập được đưa vào sử dụng trong quá trình dạy kiến thức mới, ôn tập ở lớp, củng cố bài học, hướng dẫn HS ôn tập làm bài ở nhà

- Trong kiểm tra đánh giá theo định hướng PTPC, NL:

+ GV luôn bám sát vào qui trình biên soạn đề kiểm tra đã được tập huấn

+ GV cần dành nhiều thời gian để suy nghĩ, tìm tòi, cân nhắc, quyết định, ra

đề kiểm tra bám sát bảng mô tả các mức độ nhận thức và năng lực cần được hình thành để ra đề phù hợp với từng đối tượng HS

+ GV cần nắm chắc các cụm từ có tính chất dấu hiệu để phân biệt các mức

độ tư duy (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) để biên soạn cho đúng

+ Xây dựng hướng dẫn chấm theo năng lực: Các mức đầy đủ, tương đối đầy

đủ, mức không tính điểm dựa theo cách đánh giá của PISA

+ Đánh giá khách quan, bám sát đáp án đã được xây dựng Cần khuyến khích những bài làm tự luận có tính sáng tạo, đầy đủ ý trả lời như đáp án đã xây dựng

Trang 13

- Trong quá trình giảng dạy tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh ở bộ môn Lịch

sử, bản thân tôi đã rút ra được những kinh nghiệm cụ thể, để đạt kết quả cao mà không cứng nhắc thì GV phải lựa chọn những nội dung kiến thức, phương pháp tích hợp sao cho phù hợp với trình độ của HS và tình hình thực tế của địa phương, đơn vị Tránh trình trạng biến giờ dạy Lịch sử thành giờ kể chuyện về đạo đức cách mạng, về cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh để HS cảm thấy khô khan, nhàm chán và mang lại hiệu quả giáo dục thấp Muốn làm được điều đó giáo viên phải thực hiện đảm bảo những nguyên tắc sau:

- Tích hợp nội dung bài học Lịch sử với nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

- Dựa theo “chuẩn kiến thức, kĩ năng và hướng thái độ” của môn học ở trường phổ thông mà Bộ GD&ĐT ban hành Tránh trình trạng lan man, quá tải làm cho giờ học trở nên nặng nề, nhồi nhét

- Việc giáo dục tư tưởng nói chung và đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh nói riêng phải được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc phương pháp luận về sư phạm sau đây:

+ Trình bày, khai thác nội dung sự kiện

+ Nêu kết luận khái quát về sự kiện

+ Vận dụng sáng tạo, cụ thể những kiến thức khoa học về nội dung sự kiện trong hoạt động thực tiễn về tiếp thu kiến thức mới

- Bồi dưỡng kỹ năng, phát huy tính tích cực của học sinh

- Tuân thủ những nguyên lý giáo dục nói chung, giáo dục thái độ, tình cảm,

tư tưởng nói riêng là học đi đôi với hành, tự nguyện tự giác, tránh việc áp đặt, cưỡng bức, mệnh lệnh

- Phải tạo điều kiện cần thiết về thiết bị, đổi mới phương pháp dạy học, các phương tiện dạy học để có hiệu quả giáo dục được nâng cao

Để thực hiện tốt việc tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vào trong dạy học Lịch sử theo tôi GV phải thực hiện trình tự theo các bước sau:

Bước 1: GV phải nghiên cứu kỹ chương trình, SGK, chuẩn KT, KN và nội

dung giảm tải để xác định những loại bài có sở trường, ưu thế trong việc tích hợp

Bước 2: Dựa vào mục tiêu của bài học để tìm mối liên hệ và xác định KT,

KN, thái độ cần đạt

Bước 3: Xác định địa chỉ tích hợp (tích hợp vào mục nào của bài, phần nào

trong từng mục), tránh trình trạng gượng ép hoặc tích hợp một cách chung chung không cụ thể dẫn đến hiệu quả giáo dục thấp

Bước 4: Xác định chủ đề và mức độ tích hợp

Trang 14

Bước 5: Chuẩn bị các phương tiện, tài liệu có liên quan đến việc dạy học

tích hợp

Bước 6: Xác định phương pháp dạy học tích hợp cho phù hợp với từng nội

dung cụ thể của bài học (Chọn phương pháp tối ưu nhất phù hợp với từng kiểu bài kinh tế, văn hoá - xã hội, quân sự, ngoại giao) Đây là bước quan trọng nhất quyết định sự thành công của tiết dạy

Trang 15

Chương 2: Xây dựng chủ đề “Bước phát triển trong quá trình đấu tranh

ngoại giao Việt Nam 1945-1973 và mối liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử”

I Vị trí của Lịch sử việt Nam từ 1945 - 1973 trong phần Lịch sử Việt Nam

- Về cấu trúc chương trình môn Lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản có cấu tạo gồm hai phần:

Phần 1: Lịch sử thế giới hiện đại gồm 6 chương, 11 bài và 14 tiết

Phần 2: Lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) gồm 5 chương, 15 bài, 32 tiết và 2 tiết Lịch sử địa phương

- Trong 2 phần trên thì phần Lịch sử Lịch sử Việt Nam 1945 - 1973 chiếm 6 bài, 14 tiết Đây là khóa trình với nhiều vấn đề lịch sử quan trọng, tái hiện những biến động của Việt Nam trong gần 30 năm của thế kỷ XX Những biến động đó tạo nên những chuyển biến sâu sắc đến tình hình cách mạng Việt Nam và có ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử của một số dân tộc trên thế giới

- Phần lịch sử Việt Nam từ 1945 - 1973 còn có tầm quan trọng về nội dung trong việc tổ chức kì thi tốt nghiệp THPT, qua đó phát triển các năng lực tự học, giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, tư duy trang bị các PC, NL cần thiết cho các em bước vào đời

II Xây dựng chủ đề “Bước bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao Việt Nam 1945-1973 và mối liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử”

1 Xác định chủ đề dạy học

1.1 Lý do xây dựng chủ đề

- Về Nội dung:

+ Bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao Việt Nam 1945-1973

có ảnh hưởng trực tiếp tới những biến động to lớn của Việt Nam ở nửa sau thế kỉ

XX như kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và góp phần kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ 1954-1975, Đồng thời những hoạt động ngoại giao

và thắng lợi của cuộc đấu tranh này có ảnh hưởng ít nhiều tới phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Tầm ảnh hưởng của những hoạt động này gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tư tưởng của Người trong đấu tranh ngoại giao, có sức lan tỏa và in dấu sâu đậm trong các nhà hoạt động chính trị, xã hội và nhân dân lao động, trí thức quốc tế từ những năm giữa thế kỉ XX Việt Nam - Hồ Chí Minh

đã thành biểu tượng không tách rời Tư tưởng, đạo đức, nhân cách, sự nghiệp hoạt động của Người là tài sản vô cùng quý giá cho dân tộc và thời đại

Trang 16

+ Với vai trò to lớn của mình trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc

và những đóng góp cho phong trào Cộng sản quốc tế, ngoại giao Việt Nam giai đoạn này cần tạo thành một chủ đề để đi sâu vào những nội dung bên trong, giúp cho HS hiểu rõ hơn về bước phát triển đấu tranh ngoại giao ở nước ta từ 1945-

1973, hiểu rõ về vị cha già kính yêu của dân tộc và quan điểm của Người về đấu tranh ngoại giao, trên cơ sở đó giúp các em hình thành những PC, NL cần thiết khi học chủ đề này

Chủ đề gồm một số nội dung kiến thức trong hai chương:

Chương 3 Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954

Chương 4 Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975

Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử với nền ngoại giao tinh tế và hiển hách

Từ thời phong kiến, Việt Nam chủ yếu có quan hệ ngoại giao với các triều đại phong kiến Trung Quốc, lịch sử đã ghi lại nhiều kì tích ngoại giao của ông cha ta thể hiện ý chí độc lập tự cường, tài năng sáng tạo và khí phách hào hùng của một dân tộc, qua đấu tranh đã tạo nên một truyền thống đấu tranh ngoại giao Việt Nam

Năm 1945, với sự thành công của cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời Cùng với

sự ra đời của chế độ mới, nền ngoại giao hiện đại Việt Nam hình thành do Chủ tịch

Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo và điều hành ngay từ những ngày đầu thành lập với tư cách là Bộ trưởng ngoại giao đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong hoàn cảnh đó, truyền thống ngoại giao Việt Nam, tinh hoa của nhân loại kết tinh ở Hồ Chí Minh, trải qua thực tiễn đấu tranh ngoại giao cam go nhưng đầy thắng lợi, do chính Người chỉ đạo và thực hiện, đã đưa nền ngoại giao hiện đại Việt Nam trong thế kỷ XX lên một trình độ mới và hình thành nên tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

- Thời kỳ 1945-1946, nền ngoại giao của nước Việt Nam mới dưới sự lãnh đạo và có khi trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử Ở một tình thế thù trong, giặc ngoài, chế độ mới như “ngàn cân treo sợi tóc”, ngoài sự ủng hộ của nhân dân mới được giải phóng sau cách mạng, thì dường như vũ khí duy nhất và hàng đầu được sử dụng là ngoại giao để giữ vững nền Cộng hòa dân chủ mới ra đời Vũ khí đó đã khẳng định vị thế của nước Việt Nam mới, ngăn được những

Trang 17

hành động phá hoại của quân THDQ, hòa hoãn với Pháp để đẩy 20 vạn quân THDQ về nước bằng Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 để tập trung lực lượng chống lại một kẻ thù ở xa và đang bị kiệt quệ vì Chiến tranh thế giới thứ 2 Từ Hiệp định Sơ

bộ tới Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Phôngtennơblô đến Tạm ước ngày 14-9, Chính phủ Pháp phải đàm phán, phải kí các Hiệp định, Tạm ước với Chính phủ Hồ Chí Minh là sự thừa nhận một Chính phủ mà chế độ thực dân muốn tiêu diệt, nó bộc lộ

rõ ràng tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Tạm ước ngày 14-9-1946 nhằm cứu vãn hòa bình cho tới lúc không thể, để cho dù hòa bình không được vãn hồi ta cũng có đủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho những biện pháp khác dù ngoài mong muốn Lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam mới đã bay trên Thủ đô nước Pháp và thiện chí của một dân tộc yêu tự do và hòa bình, hữu nghị cũng được Người Pháp biết đến Để khi người Pháp thức tỉnh đã coi cuộc chiến tranh đó là bẩn thỉu và đấu tranh đòi chấm dứt nó Như thế, ngoại giao Hồ Chí Minh không chỉ là câu chữ của văn bản được ký kết mà nó còn có ý nghĩa lâu dài nhằm chuyển hóa so sánh lực lượng, không chỉ ở lĩnh vực vật chất mà cả trên lĩnh vực tinh thần Chính trong thời gian này, những nguyên tắc quan hệ quốc tế

hiện đại được Hồ Chí Minh nêu lên rất rõ nét: đó là “hòa bình, bình đẳng giữa các

dân tộc, là tôn trọng chủ quyền và hợp tác cùng có lợi, là quan hệ với tất cả các nước dân chủ nhằm mục đích đem lại hòa bình, thịnh vượng cho mọi dân tộc”

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954), ngoại giao Việt Nam đã đấu tranh chính trị để hình thành liên minh với Lào, Campuchia chống Pháp; xây dựng quan hệ với Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, Ấn Độ Ngoại giao Việt Nam có cơ sở và đã thành công trong việc góp phần làm sáng tỏ tính chính nghĩa của dân tộc, để cùng với thắng lợi quân sự ở Chiến dịch Biên giới

1950 đã chấm dứt thời kỳ cô lập Cách mạng nước ta: một loạt nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam đã mở cửa ra thế giới và sự nghiệp kháng chiến vì thế được tăng cường cả thế lẫn lực, cả về vật chất và tinh thần, đủ sức chống lại thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mĩ Trên thế và lực mới đó, khi chiến thắng quân sự và tình hình quan hệ quốc tế hội tụ đủ điều kiện cho đàm phán, ngoại giao Việt Nam đã ghi nhận thắng lợi từng bước của cách mạng nước ta bằng một Hiệp định quốc tế và giành được những cơ sở pháp lý quốc tế về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, làm

cơ sở chính trị cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước, thống nhất đất nước sau này Hiệp định Giơnevơ năm 1954

đã trực tiếp ghi nhận vị thế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế

Giai đoạn 1954-1975: Ngoại giao của ta đã "tấn công" hậu phương quốc tế của Mĩ, mở rộng hậu phương quốc tế của Việt Nam, hình thành phong trào phản chiến trên toàn thế giới

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam

Trang 18

đã thành công trong việc mở rộng và tăng cường mối quan hệ toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa, thiết lập mối quan hệ hữu nghị với các nước trong khu vực, xây dựng mối quan hệ láng giềng thân thiện với Lào, Campuchia và bắc cầu hữu nghị đến các nước Châu phi và Mĩ Latinh Thành công đó đã tăng cường sức mạnh vật chất và sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Việt Nam, làm cho cách mạng nước ta vượt qua mọi trở lực của các mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế và độc lập giải quyết các vấn đề của dân tộc mình

Sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận ngoại giao, mặt trận quân sự và mặt trận chính trị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa cuộc đấu tranh của dân tộc thắng lợi từng bước vững vàng Chuẩn bị kỹ lưỡng từ đầu cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ngoại giao Việt Nam đã đi những bước thích hợp và khi thắng lợi quân sự trên chiến trường cũng như điều kiện quốc tế đã thuận lợi cho bước vào đàm phán, ngoại giao Việt Nam đã ghi nhận, phản ánh đầy đủ thắng lợi cuộc chiến đấu của nhân dân ta và thực hiện thành công ý tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tìm một lối thoát hòa bình và danh dự cho kẻ xâm lược Kết quả của Hội nghị Pari (1968 - 1973) là một minh chứng sinh động tư tưởng đó của Người Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí kết (27-1-1973) Hiệp định là thắng lợi của ngoại giao Việt Nam, buộc Mĩ và các nước liên quan rút quân khỏi Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, tôn trọng các quyền dân tộc

cơ bản của Việt Nam Trong quá trình đàm phán Hiệp định này, ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã phối hợp nhịp nhàng, theo phương châm "tuy hai mà một, tuy một mà hai", "vừa đánh, vừa đàm"

Chủ đề được xây dựng cụ thể với các đề mục:

1 Cơ sở để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành đấu tranh ngoại giao

2 Đấu tranh ngoại giao trong những năm đầu sau thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945

2.1 Đấu tranh ngoại giao với quân Trung Hoa Dân Quốc và Pháp (từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 6-3-1946) (SGK trang 125, 127)

2.2 Đấu tranh ngoại giao với Pháp (từ 06/3/1946- trước 19/12/1946) (SGK trang 128-129)

3 Đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp 1946-1954 (SGK trang 153)

4 Đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Mĩ 1954-1975 (SGK trang 186-187)

1.3 Mục tiêu chủ đề

Trang 19

+ Giải thích được chính sách ngoại giao của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch

Hồ Chí Minh đối với quân THDQ và tay sai; sự thay đổi trong chính sách ngoại giao đối với thực dân Pháp

+ Phân tích được những kết quả của ngoại giao nước ta đạt được giai đoạn 1945-1973 qua các văn kiện ngoại giao kí kết với chính phủ Pháp, Hoa Kỳ để thấy được bước phát triển từ thấp đến cao

+ So sánh được điểm giống và khác nhau về những thắng lợi ta đạt được qua các văn kiện ngoại giao từ 1946-1973

+ Phân tích được tác động và ý nghĩa của những thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao đối với việc kết thúc hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ

+ Rút ra được bài học lịch sử đấu tranh ngoại giao cần kế thừa và phát huy trong thời đại ngày nay

+ Đánh giá được những thắng lợi của đấu tranh ngoại giao đối với lịch sử dân tộc

+ Rút ra được quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu

tranh ngoại giao và việc vận dụng những quan điểm, tư tưởng đó trong công tác ngoại giao ngày nay

- Tích hợp: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh ngoại giao; KT Địa lý;

KT Giáo dục công dân 11, Bài 15 Chính sách đối ngoại; kiến thức Văn học

- Phẩm chất:

+ Giáo dục ý thức quan tâm sâu sắc tới việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trở thành thói quen tự giác và nếp sống hằng ngày của HS

+ Nâng cao cho HS ý thức và ý chí học tập, rèn luyện vì bản thân, gia đình

và xã hội, chú trọng tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, hành vi ứng xử, tuân thủ nội quy nhà trương và pháp luật của nhà nước, tích cực tham gia các công tác xã hội, các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng, giúp cho các em trở thành những người

Trang 20

công dân tốt trong xã hội, biết sống theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và có trách nhiệm với đất nước

+ Tích cực đọc sách báo, tìm tư liệu trên mạng Internet để mở rộng hiểu biết về bước phát triển của cuộc đấu tranh ngoại giao ở nước ta Có trách nhiệm trong việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao, thành thật trong học tập, KTĐG

- Năng lực:

+ Năng lực chung: Giải quyết vấn đề và sáng tạo: HS biết thu thập và làm

rõ các thông tin liên quan đến vấn đề ngoại giao Việt Nam 1945-1973; biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất để giải quyết vấn đề do GV yêu cầu

Tự chủ và tự ho ̣c: HS tự phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm khi hoạt động nhóm, tự quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ và tự đánh giá về quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ nhóm

Giao tiếp và hợp tác: Tăng cường khả năng trình bày và diễn đạt ý tưởng;

sự tương tác tích cực giữa các thành viên trong nhóm khi thực hiện nhiệm vụ chung

+ Năng lực chuyên môn: Tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận

dụng kiến thức, kĩ năng đã học qua những yêu cầu cần đạt ở mục kiến thức

+ Tìm hiểu lịch sử: HS biết cách sưu tầm và sử dụng tư liệu để tìm hiểu về

bước phát triển của ngoại giao Việt Nam từ 1945-1973; trình bày những nét chính

về bước phát triển của ngoại giao Việt Nam từ 1945-1973; nêu được những thành tựu cơ bản của ngoại giao Việt Nam từ 1945-1973

+ Nhận thức và tư duy lịch sử: HS phân tích được các kết quả đạt được; rút

ra được ý nghĩa của những thắng lợi ngoại giao nước ta qua các thời kỳ; so sánh được điểm giống và khác nhau giữa các văn kiện ngoại giao; lí giải được mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao; đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện

+ Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: HS rút ra được bài học lịch sử về đấu

tranh ngoại giao; vận dụng được kiến thức đã học để lí giải chính sách ngoại giao

ngày nay của Đảng và nhà nước ta

1.4 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

Trang 21

- Giáo viên: Kế hoạch dạy học, tư liệu, phiếu học tập, tranh ảnh, phim tư

liệu liên quan tới chủ đề; máy tính kết nối máy chiếu

- Học sinh: Sách vở, bút dạ, bút viết, giấy Ao

- Bảng KWHL ở tiết 2, trong đó cột K (đã biết), W (muốn biết) được chuẩn

bị ở nhà theo hướng dẫn của GV

- Sưu tầm, tìm hiểu các tranh ảnh, tư liệu về bước phát triển trong đấu tranh ngoại giao của nước ta từ 1945-1973

- Sưu tầm, tìm hiểu tranh ảnh, tư liệu hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh ngoại giao từ 1945-1969

- Đọc kĩ các nội dung SGK và trả lời các câu hỏi liên quan tới chủ đề trước khi tới lớp

1.5 Phương pháp và kĩ thuật dạy học

- Phương pháp dạy học: Sử dụng đồ dùng trực quan; sử dụng tài liệu; dạy

học giải quyết vấn đề; dạy học hợp tác; dạy ho ̣c khám phá; dạy học đàm thoại gợi mở/tìm tòi/phát hiện

- Kĩ thuật dạy học: tranh luận; sơ đồ tư duy; khăn trải bàn; dạy học động não, KWL/KWLH

2 Xây dựng bảng mô tả và biên soạn hệ thống câu hỏi/bài tập (TỰ LUẬN VÀ TRẮC NGHIỆM)

2.1 Bảng mô tả các mức độ nhận thức và năng lực cần được hình thành trong chủ đề

Mức độ Nội dung

cao

1 Những cơ

sở để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành đấu tranh ngoại giao

- Giải thích được cơ sở để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành đấu tranh ngoại giao

Trang 22

2 Đấu tranh ngoại giao trong những năm đầu sau thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945

- Trình bày được chủ trương, sách lược của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Trình bày được sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao

- Trình bày được nội dung Hiệp định sơ

bộ 6-3 và Tạm ước 14-9

- Lí giải được những chủ trương của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra

- Hiểu được thiện chí hòa bình của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh

- Phân tích được quyền dân tộc cơ bản

ta đạt được trong Hiệp định sơ bộ 6-3

và khái quát được quá trình đấu tranh để đạt được

- Phân tích được tác dụng, ý nghĩa

trương hòa với Trung

Quốc và hòa với Pháp

- Nhận xét được những chính sách của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Rút ra được bài học kinh nghiệm cho đấu tranh ngoại giao

- Rút ra được quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh ngoại giao

3 Đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp 1946-

1954

- Trình bày được sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao

- Trình bày được nội dung Hiệp định

- Hiểu được thiện chí hòa bình của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh

- Giải thích được việc Pháp phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ và nguyên nhân của những hạn chế trong

- Khái quát được những điều kiện dẫn tới việc triệu tập Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương

- Phân tích được nội dung, ý nghĩa của Hiệp định Giơ-ne-vơ

- So sánh được nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ với Hiệp định sơ

- Nhận xét được một số nội dung của Hiệp định Giơ-ne-vơ

- Rút ra được bài học kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh

- Rút ra được quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh ngoại

Trang 23

Giơ-ne-vơ Hiệp định đối

với 3 nước Đông Dương

bộ 1946 giao

4 Đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống

Mĩ 1954-1973

- Trình bày được nội dung Hiệp định Pari

- Giải thích được vì sao Hội nghị Pari được triệu tập

và đến tháng 1-1973 Mĩ phải kí Hiệp định Pari

- Khái quát được quá trình đấu tranh ngoại giao dẫn tới việc kí Hiệp định Pari

- Phân tích được nội dung

và ý nghĩa của Hiệp định Pari

- So sánh được Hiệp định Pari với Hiệp định Giơ-ne-vơ

- Nhận xét được một số nội dung của Hiệp định Pari

- Rút ra được bài học kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh

- Rút ra được

tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh ngoại giao và việc vận dụng tư tưởng đó trong công tác đối ngoại hiện nay

2.2 Biên soạn câu hỏi/bài tập theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong chủ đề

* Câu hỏi, bài tập mức độ nhận biết:

* Câu hỏi trắc nghiệm:

Câu 1 Sách lược của Đảng, Chính phủ đối với quân Trung Hoa Dân quốc và thực dân Pháp từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 6-3-1946 là

A hòa Pháp đuổi Trung Hoa Dân quốc B hòa Trung Hoa Dân quốc, đánh Pháp

C hòa Pháp và Trung Hoa Dân quốc D đánh Pháp và Trung Hoa Dân quốc

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án B Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Trang 24

Câu 2 Sách lược của Đảng, Chính phủ đối với thực dân Pháp từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946 là

A hòa Pháp đuổi Trung Hoa Dân quốc về nước

B hòa Trung Hoa Dân quốc, đánh Pháp

C hòa Pháp và Trung Hoa Dân quốc D đánh Pháp và Trung Hoa Dân quốc

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án A Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

* Câu hỏi tự luận:

Câu 1 Trình bày chính sách đối ngoại của Đảng, Chính phủ và Hồ chủ Tịch từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946)

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

a Từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 6-3-1946: Hòa với quân THDQ để đánh Pháp

- Đối với quân THDQ ta chủ trương: tạm thời hòa hoãn, tránh xung đột vũ trang

- Biện pháp:

+ Với quân THDQ: Nhân nhượng cho chúng một số quyền lợi kinh tế như: cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông, nhận tiêu tiền Trung Quốc

+ Với tay sai của chúng: nhượng cho chúng 70 ghế trong quốc hội không qua bầu

- Hoàn cảnh: + Sau khi chiếm đóng các đô thị miền Nam, đầu năm 1946 Pháp vạch

kế hoạch tiến công ra Bắc thôn tính cả Việt Nam Chúng điều đình với quân Trung

Trang 25

Hoa Dân Quốc bằng việc kí Hiệp ước Hoa - Pháp (28-2-1946)

+ Hiệp ước Hoa - Pháp đặt Việt Nam trước hai sự lựa chọn: một là đánh Pháp, hai

là hòa với Pháp, ta chọn giải pháp “Hòa để tiến”, ngày 6-3-1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện chính phủ Pháp Xanh-tơ-ni bản Hiệp định Sơ bộ

- Nội dung: + Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do… nằm trong Khối liên hiệp Pháp

+ Chính phủ Việt Nam cho Pháp đem 15.000 quân ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân Quốc và phải rút dần trong thời hạn 5 năm…

+ Hai bên ngừng xung đột vũ trang giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ…

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

a Trình bày những nét nổi bật về bối cảnh Việt Nam sau ngày độc lập dân tộc

Nhấn mạnh khó khăn thử thách đe doạ chính quyền non trẻ và nền độc lập dân tộc…

b Quá trình đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao từ sau ngày

2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946 nhằm giữ vững chính quyền bảo vệ độc lập dân tộc

Trang 26

- 23-9-1945 nhân dân Nam Bộ được sự hưởng ứng của nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến chống Pháp bảo vệ độc lập dân tộc

- Ở miền Bắc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông qua con đường ngoại giao tranh thủ Mĩ kiềm chế THDQ, nhân nhượng cho THDQ một số yêu sách nhất định, dành cho các thế lực tay sai thân THDQ một số ghế trong Quốc hội, trong Chính phủ liên hiệp, nhưng buộc chúng phải ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp, ủng hộ chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta Nhờ sách lược ngoại giao mềm dẻo đó, ta đã củng cố được chính quyền, phân hoá kẻ thủ, bảo vệ độc lập dân tộc

- 28-2-1946 Pháp và THDQ ký hiệp ước Hoa - Pháp Lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động ký với Pháp Hiệp định sơ bộ 6-3-1946… Ý nghĩa của Hiệp định đối với công cuộc bảo vệ chính quyền, độc lập dân tộc

- Những hoạt động ngoại giao của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày 6-3-

1946 nhằm tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng để bước vào cuộc chiến tranh chống Pháp sau này Hội nghị trù bị Đà Lạt, hội nghị chính thức ở Phôngtennơblô, chuyến thăm Pháp dài ngày của Hồ Chí Minh dẫn đến Tạm ước 14-9-1946 đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân ta tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp

c Quá trình đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao từ 19-12-1946 đến 13-3-1954

- Thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”, ngay từ đầu Đảng ta và Hồ Chí Minh đã kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao nhằm phá tan âm mưu đánh nhanh thắng nhanh, cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân ta của thực dân Pháp

- Trên mặt trận quân sự, giành thắng lợi trong 60 ngày đêm ở Thủ đô Hà Nội và các đô thị lớn, bảo vệ và giữ vững chính quyền, đưa cuộc kháng chiến của ta về chiến khu Việt Bắc an toàn Chiến thắng trong chiến dịch Việt Bắc thu đông năm

1947 đập tan kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, bảo vệ và mở rộng căn cứ địa của cuộc kháng chiến

- Ở mặt trận ngoại giao, ta đã chủ động vượt biên giới Tây Nam lập cơ quan đại diện ở một số nước Đông Nam Á, Đông Âu, làm phá sản bước đầu âm mưu cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân ta của thực dân Pháp

Trang 27

- 1-10-1949, cách mạng Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời; từ tháng 1-1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta góp phần nâng cao uy tín và địa vị của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế

- Chiến thắng trong Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950 ta đã dành được quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính, mở rộng căn cứ địa nối liền hậu phương của cuộc kháng chiến với Trung Quốc và các nước XHCN

d Quá trình kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến: Chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ

và Hiệp định Giơ-ne-vơ

- Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận định đánh đến một lúc nào đó sẽ mở mặt trận ngoại giao, vừa đánh vừa đàm, lấy đấu tranh quân sự làm cơ sở cho đấu tranh ngoại giao

- Quan hệ giữa chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ…

- Ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp…, sự phối hợp nhịp nhàng giữa đấu tranh quân

sự với đấu tranh ngoại giao góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc chính quyền và nền độc lập dân tộc

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

* Câu hỏi, bài tập mức độ thông hiểu:

* Câu hỏi trắc nghiệm:

Câu 1 Đâu không phải là cơ sở để Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến

hành đấu tranh ngoại giao sau khi giành độc lập?

A Truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam

B Thực tế hoàn cảnh đất nước và chủ trương của Đảng, Chính phủ

C Xu thế chung của thế giới

D Các thế lực ngoại xâm đặt vấn đề ngoại giao với ta

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án D Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Trang 28

Câu 2 Mục đích hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc của Đảng, Chính phủ ta trước ngày 6-3-1946 là

A tranh thủ thời gian hòa bình chuẩn bị lực lượng

B lôi kéo, cô lập và phân hóa kẻ thù

C tránh trường hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù

D lấy lòng quân Trung Hoa Dân quốc để nhận được sự giúp đỡ

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án C Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 3 Lí do Đảng, Chính phủ ta chọn giải pháp “hòa để tiến” với Pháp (3-3-1946)

A Pháp cấu kết với Trung Hoa Dân quốc bằng hiệp ước Hoa-Pháp

B quân Trung Hoa Dân quốc phải rút về nước

C Mĩ đưa quân đội can thiệp vào nước ta

D Trung Hoa Dân quốc âm mưu mở rộng khu vực chiếm đóng vào Nam Bộ

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án A Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 4 Mục đích Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 là để

A buộc Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập

B tạo điều kiện để quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật

C tránh việc cùng lúc đối phó với nhiều thế lực ngoại xâm

D buộc Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia dân chủ

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án C Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 5 Nội dung nào thể hiện quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi nhận trong Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946?

A 15000 quân Pháp ra Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm

Trang 29

B Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia độc lập, có chính phủ riêng và quân đội riêng

C Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia

tự do, có chính phủ riêng và quân đội riêng

D Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở phía Nam, tạo không khí thuận lợi đi đến đàm phán chính thức

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án C Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 6 Thắng lợi của ta trong chiến dịch quân sự nào đã buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương?

A Chiến dịch Việt Bắc (1947) B Chiến dịch Biên giới (1950)

C Chiến dịch Thượng Lào (1953) D Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án D Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 7 Thắng lợi quân sự nào của quân dân ta đã buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari năm 1973?

A Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

B Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972

C Trận “Điện Biên Phủ trên không’’ năm 1972

D Chiến thắng Phước Long năm 1975

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án C Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

* Câu hỏi tự luận:

Câu 1 Thiện chí của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm giải quyết quan hệ với Pháp bằng con đường hoà bình trong những năm 1945-1954 được thể hiện như thế nào?

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

- Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời mong muốn được công nhận quyền tự

Trang 30

do độc lập Pháp âm mưu chia cắt và thôn tính Việt Nam một lần nữa

- Từ khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam (9-1945), với thiện chí nhân đạo

và hoà bình, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng biện pháp đàm phán và nhân nhượng cho thực dân Pháp nhiều quyền lợi, thể hiện rõ nhất qua việc

kí Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946 Trái ngược với thiện chí của Việt Nam, thực dân Pháp nuôi hi vọng giành thắng lợi bằng quân sự

Vì thế, thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam không đem lại kết quả như mong muốn

- Kiên trì giải quyết quan hệ Việt-Pháp bằng biện pháp đàm phán, thương lượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam; đẩy nhanh quân Trung Hoa Dân Quốc về nước và phá tan âm mưu Pháp cấu kết với THDQ chống lại nhân dân ta; kéo dài thời gian hòa bình để củng cố xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mà ta biết trước là không thể nào tránh khỏi

- Đến đông - xuân 1953-1954, cùng với quyết định mở cuộc tiến công chiến lược, Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc

kháng chiến Tháng 11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “ nếu Chính phủ

Pháp đã rút ra được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết các vấn đề Việt Nam theo đường lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó”

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

Câu 2 Từ nội dung của Hiệp định Giơ-ne-vơ hãy rút ra những hạn chế của hiệp định và nguyên nhân dẫn tới những hạn chế đó?

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

- Khái quát nội dung Hiệp định…, hạn chế của Hiệp định Giơ-ne-vơ là:

+ Miền Nam chưa được giải phóng và đất nước chưa được thống nhất Cụ thể là việc xác định ranh giới quân sự tạm thời và phân chia khu vực tập kết chuyển quân

ở Việt Nam không phải vĩ tuyến 13 hay 16 theo phương án đấu tranh của Việt Nam, mà là vĩ tuyến 17 Như vậy Việt Nam phải bỏ lại toàn bộ vùng giải phóng khu V và nhiều vùng tự do phía Nam vĩ tuyến 17 làm vùng tập kết, chuyển quân cho Pháp

Trang 31

+ Với hiệp định này thì Lào mới chỉ được 2 tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ giải phóng và quân đội tập kết ở đây, còn Campuchia chưa có vùng giải phóng nên lực lượng cách mạng phải phục viên tại chỗ Hiệp định Giơ-ne-vơ đã quyết định những vấn đề có liên quan đến các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia mà không

có sự tham gia của các chính phủ kháng chiến của hai nước này

+ Mĩ không chịu ràng buộc về mặt pháp lý, mà chỉ ra tuyên bố riêng tôn trọng Hiệp định Như vậy, các quyền dân tộc cơ bản của 3 nước Đông Dương chưa được trọn vẹn Về việc thi hành, trên thực tế Hiệp định Giơ-ne-vơ chỉ được thực hiện một phần: chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương; tập kết, chuyển quân theo khu vực và thời gian quy định Bên cạnh đó, việc tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam đã không thể thực hiện do chính sách can thiệp và xâm lược của Mĩ Chính vì vậy, một cuộc chiến tranh mới cũng bắt đầu

- Nguyên nhân dẫn tới những hạn chế:

+ Hiệp định chưa phản ánh đúng những thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận quân

sự, đó chính là hạn chế của Hội nghị Giơnevơ Nguyên nhân dẫn đến hạn chế này

là do Hội nghị Giơ-ne-vơ là hội nghị quốc tế, có sự tham gia và chi phối của các nước lớn nên chịu tác động tiêu cực của xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn và cục diện Chiến tranh lạnh Các cường quốc tham gia Hội nghị có lợi ích và động cơ khác nhau

+ Những quyết định của hội nghị chịu ảnh hưởng của cách giải quyết vấn đề Triều Tiên, đó như một tiền lệ gây bất lợi cho Việt Nam trên mặt trận ngoại giao

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

Câu 3 Những thắng lợi quân sự nào của quân và dân ta đã tác động trực tiếp đến việc triệu tập Hội nghị và kí Hiệp định Pari về Việt Nam? Hiệp định này có ảnh hưởng như thế nào đối với cục diện chiến trường miền Nam?

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

- Những thắng lợi quân sự có tác động trực tiếp đến việc triệu tập Hội nghị Pari:

+ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên toàn miền Nam, trọng tâm là ở các đô thị

+ Quân dân ta ở miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của

đế quốc Mĩ…

- Những thắng lợi của quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc đã làm cho ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ bị lung lay, phải tuyên bố "phi Mĩ hoá" chiến tranh xâm

Trang 32

lược, chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari

- Những thắng lợi quân sự có tác động trực tiếp đến việc kí Hiệp định Pari:

+ Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta ở miền Nam, hướng chủ yếu là Quảng Trị, cùng các hướng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, rồi phát triển rộng ra khắp chiến trường miền Nam… buộc Mĩ phải "Mĩ hoá" trở lại cuộc chiến tranh

+ Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mĩ, làm nên trận thắng quyết định: trận "Điện Biên Phủ trên không" Mĩ buộc phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc, và

kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam

- Ảnh hưởng của Hiệp định Pari tới cục diện chiến trường miền Nam:

+ Làm so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam thay đổi có lợi cho cách mạng: Mĩ rút quân, chính quyền và quân đội Sài Gòn suy yếu…

+ Tạo ra những điều kiện thuận lợi mới để quân và dân ta tiếp tục tiến lên, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

*Câu hỏi, bài tập vận dụng

* Câu hỏi trắc nghiệm

Câu 1 Nội dung nào không phải là ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946?

A Ta tránh được cuộc chiến bất lợi vì phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc

B Ta đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay sai ra khỏi nước ta

C Ta có thêm thời gian hòa bình quý báu để củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng

D Ta buộc thực dân Pháp phải công nhận nước Việt Nam là một quốc gia độc lập

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án D Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 2 Tác dụng của việc đàm phán và kí kết Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp là

A chuyển quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ đối đầu sang đối thoại

B tạo thời gian hòa bình để Việt Nam tổ chức bầu Quốc hội

Trang 33

C giúp Việt Nam ngăn chặn mọi nguy cơ xung đột với Pháp

D thể hiện thiện chí hòa bình của hai chính phủ Việt Nam và Pháp

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án A Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 3 Thắng lợi lớn nhất của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mặt ngoại giao trong việc kí với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 là

A đẩy được quân Trung Hoa Dân quốc về nước

B buộc Pháp phải công nhậnViệt Nam là một quốc gia tự do

C nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

D làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án B Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 4 Ý nghĩa của việc kí bản Tạm ước 14-9-1946 giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp là

A buộc Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do

B đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc về nước

C kéo dài thêm thời gian hòa bình quý báu để chuẩn bị lực lượng

D tránh được một cuộc chiến bất lợi vì đối phó nhiều kẻ thù cùng lúc

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án C Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 5 Sự kiện đánh dấu cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945-1954) kết thúc là

A hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết

B chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

C quân đội Việt Nam tiến vào tiếp quản thủ đô Hà Nội

D toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà (Hải Phòng)

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án A

Trang 34

Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 6 Điều khoản nào của Hiệp định Pari năm 1973 có ý nghĩa quyết định đối với

sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước?

A Hai bên ngừng bắn và giữ nguyên vị trí ở miền Nam

B Nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị

C Các bên thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền

D Hoa Kì rút hết quân viễn chinh và quân các nước đồng minh

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án D Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 7 Nội dung nào không phải là ý nghĩa của Hiệp định Pari năm 1973 về Việt

Nam?

A Là văn bản pháp lí quốc tế đầu tiên ghi nhận quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam

B Mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước

C Là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao

D Tạo ra thời cơ thuận lợi để nhân dân Việt Nam tiến lên giải phóng miền Nam

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án A Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Câu 8 Trong thời kì 1954-1975, sự kiện nào là mốc đánh dấu nhân dân Việt Nam

đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ “đánh cho Mĩ cút”?

A Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972

B Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972

C Hiệp định Pari về Việt Nam được kí kết năm 1973

D Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ: Đáp án C Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

* Câu hỏi tự luận:

Câu 1 Phân tích ý nghĩa chủ trương hòa với Trung Hoa Dân Quốc và hòa với Pháp

Trang 35

của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày 2-9-1945

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

- Ý nghĩa của chủ trương hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân Quốc:

+ Hạn chế thấp nhất các hoạt động chống phá của quân THDQ và tay sai…

+ Làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng…

+ Tránh được xung đột vũ trang cùng một lúc với nhiều kẻ thù, ổn định miền bắc, tạo điều kiện chi viện cho miền nam kháng chiến chống pháp…

+ Thể hiện thiện chí yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam…

+ Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với nước ta…

- Ý nghĩa của chủ trương “hòa để tiến” với Pháp qua hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946:

+ Là thắng lợi lớn của ta, buộc Pháp phải công nhận ta là một quốc gia thống nhất…

+ Đẩy nhanh 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc về nước giảm bớt khó khăn cho cách mạng…

+ Tránh được cuộc xung đột vũ trang quá sớm bất lợi cho ta, tạo thời gian hòa bình để chuẩn bị kháng chiến lâu dài về sau…

+ Thể hiện thiện chí yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam…

+ Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với nước ta…

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

Câu 2 Khái quát những điều kiện dẫn tới việc triệu tập Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

- Thắng lợi về quân sự của nhân dân Việt Nam tạo cơ sở cho đấu tranh ngoại giao:

Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam liên tiếp giành nhiều thắng lợi to lớn và toàn diện Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đã đập tan cố gắng quân sự cao nhất và cũng là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp với sự giúp sức của đế quốc Mĩ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến

Trang 36

- Về phía thực dân Pháp: Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương trở thành một

gánh nặng về kinh tế và xã hội đối với nước Pháp Họ muốn đi đến một giải pháp thương lượng trên thế mạnh, vì vậy đã quyết định tranh thủ viện trợ Mĩ nhằm thực hiện kế hoạch quân sự Nava với hi vọng tìm lối thoát trong danh dự Nhưng

nỗ lực cuối cùng này cũng bị thất bại Pháp cần tới bàn đàm phán để kết thúc chiến tranh

- Về mặt quốc tế: Nguyện vọng của nhân dân thế giới là hoà bình Cuộc chiến tranh

Triều Tiên (1950-1953), thực chất là một cuộc đọ sức giữa hai phe kết thúc mà không phân thắng bại Xu thế hoà hoãn xuất hiện Các nước lớn đều cho rằng tương quan lực lượng quốc tế đang ở thế cân bằng Tháng 1-1954, Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp ở Béclin thoả thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề Triều Tiên và chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

Câu 3 Quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi nhận như thế nào trong Hiệp định sơ bộ (6-3-1946), Hiệp định Gio-ne-vơ (21-7-1954) và Hiệp định Pari (27-1-1973)? Khái quát quá trình đấu tranh của nhân dân ta để từng bước giành các quyền dân tộc cơ bản sau mỗi hiệp định trên

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

- Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia dân tộc Trong Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Việt Nam đã trở thành một quốc gia tự do, độc lập và toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy

- Trước những khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, nhất là âm mưu thôn tính của thực dân Pháp; để đẩy nhanh quân đội Trung Hoa quốc dân đảng về nước, ngăn chặn một cuộc chiến tranh quá sớm và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho một cuộc kháng chiến lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ (6-3- 1946) Theo đó, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp Như vậy, Hiệp định này mới chỉ công nhận tính thống nhất (là một quốc gia), nhưng chưa công nhận nền độc lập Việt Nam còn bị ràng buộc vào nước Pháp

Trang 37

- Hiệp định trên không được thực dân Pháp tôn trọng Họ lập ra chính phủ Nam

Kỳ tự trị, âm mưu tách Nam Kỳ khỏi Việt Nam (phá vỡ sự thống nhất nước Việt Nam mà họ đã công nhận) Mặt khác, họ tiếp tục bám giữ lập trường thực dân, nuôi hi vọng giành thắng lợi bằng quân sự, xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta mới giành được

- Nhân dân Việt Nam phải tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và

tự lực cánh sinh, giành thắng lợi trong các chiến dịch Việt Bắc 1947, Biên giới 1950…, kết thúc bằng cuộc tiến công chiến lược đông-xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương

- Với Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954), thực dân Pháp buộc phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

- Nếu như trong Hiệp định sơ bộ (6-3-1946), Pháp mới chỉ thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, thì đến Hiệp định Giơ-ne-vơ, lần đầu tiên một hiệp định quốc

tế với sự tham gia của các nước lớn, phải công nhận đầy đủ các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam

- Sau hai năm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, nước Việt Nam không được thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử, mà bị chia cắt thành hai miền Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhưng ở miền Nam, Mĩ thay thế Pháp, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta - Nhân dân Việt Nam phải tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng, từ phong trào “Đồng khởi”, tiến lên làm thất bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa” chiến tranh ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, buộc Mĩ phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

- Hiệp định Pari (27-1-1973) ghi rõ: Hoa kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Hoa Kì rút hết quân viễn chinh ra khỏi miền Nam Việt Nam Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta Ta đã “đánh cho Mĩ cút”, làm so sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi có lợi để tiếp tục tiến lên “đánh cho Nguỵ nhào”, giải phóng miền Nam

- Mặc dù cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và rút quân viễn chinh về nước, nhưng Mĩ chưa từ bỏ chính sách thực dân mới ở miền Nam, cùng chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari, tiếp tục chia cắt đất nước ta

Trang 38

- Nhân dân Việt Nam phải đấu tranh chống địch phá hoại Hiệp định Pari, tạo thế, tạo lực, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc

Qua 30 năm chiến tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới (1945- 1975), giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, nhân dân ta đã giành được độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được thực hiện trọn vẹn

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

Câu 4 So sánh Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) với Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) theo các tiêu chí: Hoàn cảnh kí kết, nội dung, ý nghĩa và tác động của Hiệp định

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ:

* Hoàn cảnh:

- Giống nhau: + Đều là những hiệp định được kí kết giữa chính phủ Việt Nam với

chính phủ Pháp

+ Đều có sự tham gia chứng kiến, giám sát của một tổ chức hoặc đại diện quốc tế

- Khác nhau: + Hiệp định sơ bộ được đàm phán và kí kết trong hoàn cảnh ta có nhiều bất lợi, chưa có thế và lực, chưa có thắng lợi quyết định về mặt quân sự

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tình thế bị bao vây, cô lập, chưa được nước nào đặt quan hệ ngoại giao còn Hiệp định Giơ-ne-vơ được đàm phán và kí kết sau những thắng lợi chính trị và quân sự trong chiến tranh, trận thắng quyết định: Điện Biên Phủ (1954) Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ cuộc đấu tranh quân sự và đặt quan hệ ngoại giao với ta

+ Hiệp định Sơ bộ là hiệp định kí kết giữa hai bên (Việt Nam và Pháp), để giải quyết vấn đề Việt Nam, được quyết định bởi hai nước còn Hội nghị Giơ ne vơ là hội nghị quốc tế gồm 9 nước: Anh, Pháp, Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, 3 chính phủ tay sai của Pháp ở Đông Dương vì vậy Hiệp định Giơ-ne-vơ ít nhiều có

sự can thiệp và chi phối của các nước lớn chịu sự chi phối của các nước lớn khi bàn về vấn đề của 3 nước Đông Dương

* Nội dung:

- Giống nhau:

+ Đều bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

Trang 39

+ Các bên tham gia kí kết đều phải thực hiện lệnh ngừng bắn để tiến hành cách hoạt động giải quyết mâu thuẫn bằng biện Pháp hòa bình

+ Đều có điều khoản yêu cầu các nước nước ngoài phải rút quân có thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam

+ Đều có điều khoản thống nhất đất nước do nhân dân Việt Nam trực tiếp quyết định (thừa nhận sự thống nhất của nhân dân Việt Nam)

- Khác nhau: + Quyền dân tộc cơ bản đạt được: Hiệp định sơ bộ Pháp công nhận Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do (chỉ công nhận tính thống nhất), có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương, thuộc khối Liên hiệp Pháp còn Hiệp định Giơ -ne- vơ các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

+ Vùng kiểm soát và thời gian rút quân: Hiệp định sơ bộ Pháp can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, bằng việc đưa 15 nghìn quân vào miền Bắc giải giáp quân đội phát xít Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm còn Hiệp định Giơ -ne-vơ quy định các nước không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ khí nước ngoài vào các nước Đông Dương Quy định về tập kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực chiếm đóng, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, tập kết quân làm

2 vùng riêng biệt Pháp rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam sau 300 ngày và Nam Đông Dương sau 2 năm

* Ý nghĩa và tác động:

- Giống nhau: + Thể hiện khát vọng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam

+ Là cơ sở pháp lí để ta tiếp tục đấu tranh giành thắng lợi cuối cùng

- Khác nhau: + Hiệp định sơ bộ: Ta loại bỏ bớt kẻ thù, tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu với nhiều kẻ thù một lúc; tạo thêm thời gian hoà bình để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài; tỏ rõ thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam còn Hiệp định Giơ-ne-vơ Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương, rút hết quân đội về nước, kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương, đáp ứng nguyện vọnh hoà bình của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới; làm thất bại âm mưu của đế quốc Mĩ muốn kéo dài, mở rộng và quốc tế hoá cuộc chiến tranh Đông Dương;

phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước lớn trên trường quốc tế, phản ánh

Trang 40

tính phức tạp và ý đồ chiến lược của các nước lớn trên bàn hội nghị, phản ánh không đầy đủ những thắng lợi của VN trên mặt trận quân sự

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ Mức không tính điểm: HS không trả lời

Câu 5 So sánh Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) về Đông Dương với Hiệp định Paris (27-1-1973) về Việt Nam theo các tiêu chí: Hoàn cảnh kí kết, nội dung, ý nghĩa và tác động của Hiệp định

Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ

- Về hoàn cảnh:

+ Giống nhau: Cả hai Hiệp định đều đánh dấu thắng lợi chính trị và quân sự trong chiến tranh, trận thắng quyết định: Điện Biên Phủ (1954) và Điện Biên Phủ trên không (1972)

+ Khác nhau: Hiệp định Giơ-ne-vơ ít nhiều có sự can thiệp và chi phối của các nước lớn vì Giơ-ne-vơ là Hội nghị quốc tế, chịu sự chi phối của các nước lớn, còn Paris là Hội nghị hai bên (Việt Nam và Hoa Kỳ), được quyết định bởi hai nước

- Về nội dung:

+ Giống nhau: Cả hai Hiệp định, đế quốc Pháp, Mĩ công nhận các quyền dân tộc

cơ bản của Việt Nam (độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ); cả hai Hiệp định đều đưa đến quyết định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình; và đều đưa đến việc đế quốc xâm lược rút khỏi chiến tranh

+ Khác nhau: Hiệp định Giơ-ne-vơ là Hiệp định về Đông Dương còn Hiệp định Paris là Hiệp định về VN; Thời hạn rút quân của đế quốc sau chiến tranh: Hiệp định Giơ-ne-vơ: Pháp rút quân từng bước (rút khỏi miền Bắc sau 300 ngày và miền Nam sau 2 năm) còn Hiệp định Paris: Mĩ rút quân cùng một lúc sau 2 tháng; Vùng tập kết của quân đội hai bên: Hiệp định Giơ-ne-vơ: quân đội hai bên tập kết ở vùng hoàn chỉnh thuộc hai miền Nam-Bắc còn Hiệp định Paris: lực lượng vũ trang của

ta ở miền Nam vẫn giữ nguyên

- Về ý nghĩa và tác động:

+ Giống nhau: cả hai hiệp định đều là sự phản ánh, sự ghi nhận thắng lợi giành được trên chiến trường Cả hai Hiệp định đều là sự hòa hoãn, đều đưa đến việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, là cơ sở pháp lí để ta tiếp tục đấu tranh

+ Khác nhau: Hiệp định Giơ-ne-vơ không phản ánh đầy đủ những thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường và cũng không phản ánh đúng khả năng cách mạng của ba nước Đông Dương Với giải pháp Giơ-ne-vơ, Việt Nam mới giải phóng

Ngày đăng: 06/08/2023, 12:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1. Bảng mô tả tổ chức hoạt động dạy - học - (SKKN HAY NHẤT) xây dựng chủ đề bước phát triển trong quá trình đấu tranh ngoại giao việt nam 1945 1973 và mối liên hệ với tư tưởng hồ chí minh về đấu tranh ngoại giao trong dạy học lịch sử
3.1. Bảng mô tả tổ chức hoạt động dạy - học (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w