- Giáo viên chưa làm rõ các bước cần thiết của một tiết học, chỉ quan tâm đến việc học sinh nói đúng viết đúng theo ý cô giáo sao cho nhanh để giải quyết hết các bài tập đưa ra trong tiế
Trang 1ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TẬP LÀM
VĂN DẠNG BÀI KỂ NGẮN LỚP 2 Ở TIỂU HỌC LIÊN KHÊ"
Trang 2thức Tiếng Việt và rèn cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt như một công cụ
giao tiếp và công cụ để tư duy”
Môn Tập làm văn là một môn học mới đối với học sinh lớp 2 nên môn Tập làm văn
giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi nó đã tận dụng những hiểu biết và kỹ năng về Tiếng
Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp thêm Đồng thời hoàn thiện những
kỹ năng đó trong quá trình làm các bài tập làm văn, học sinh được rèn luyện, hoàn thiện,
phát triển những kỹ năng nói, viết
Sau một số năm làm công tác quản lí, chỉ đạo chương trình Tiểu học mới tôi thấy
cũng cần nhìn nhận lại nội dung và phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 2 để thấy được
những ưu điểm, nhược điểm những hạn chế để từ đó có những biện pháp, cách thức góp
phần nâng cao chất lượng dạy học môn tập làm văn Mặt khác để giúp giáo viên có biện
pháp giúp học sinh nói viết đúng, có khả năng sử dụng chính xác Tiếng Việt trong giao
tiếp ở cộng đồng và trong học tập các môn học khác thuận lợi hơn Bên cạnh đó đáp ứng
được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, phù hợp với năng lực, trình độ của học sinh và chất
lượng của giáo dục
Xuất phát từ thực tế và những lí do trên thì làm thế nào để giúp học sinh học tốt
phân môn Tập làm văn khối Hai tôi xin đưa ra một kinh nghiệm đó là: “Một số biện
pháp giúp học sinh học tốt Tập làm văn dạng bài kể ngắn lớp 2 ở Tiểu học Liên
Khê”.
Trang 3- Khảo sát và phân tích nội dung, phương pháp các loại văn bản dạy học của phân môn
Tập làm văn
- Khảo sát chất lượng học môn Tập làm văn học sinh của nhà trường trong hai năm học
2010-2011; 2011- 2012
- Trên cơ sở phân tích nội dung phương pháp dạy Tập làm văn lớp 2 và đánh giá thực
trạng dạy học Tập làm văn, đề xuất các biện pháp dạy học cụ thể cho từng dạng bài văn
Kể ngắn
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Phạm vi nghiên cứu:
- Phương pháp dạy Tập làm văn lớp 2 trong trường Tiểu học
2 Đối tượng nghiên cứu:
- Để đánh giá chính xác về nội dung, phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 2
cũng như những thực trạng dạy học Tập làm văn lớp 2, từ đó có những biện pháp dạy học
phù hợp góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tập làm văn, tôi đã khảo sát:
- Sách giáo khoa và sách giáo viên lớp 2 trọng tâm là phân môn Tập làm văn
- Thực tiễn các giờ dạy Tập làm văn lớp 2 của trường Tiểu học Liên Khê và một số bài
làm của học sinh
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Làm sáng tỏ những thực trạng của việc dạy Tập làm văn ở lớp 2.
Trang 4Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp quan sát, kháo sát: Tôi đã khảo sát, quan sát tình hình dạy và học môn
Tập làm văn lớp 2 tại Trường Tiểu học Liên Khê nơi tôi đã và đang công tác
- Phương pháp pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
- Đối chiếu thống kê các biểu mẫu
PHẦN II: NỘI DUNG
I NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 2
1 Các giai đoạn của hoạt động lời nói và các kỹ năng làm văn.
Hoạt động lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: Định
hướng, lập chương trình, thực hiện hoá chương trình và kiểm tra Cấu trúc này đã được
các tác giả phương pháp tập dạy học Tập làm văn vận dụng triệt để khi xây dựng hệ
thống kĩ năng làm văn, có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ sau:
Cấu trúc hoạt
động lời nói Hệ thống kỹ năng làm văn
1 Định hướng 1 Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn
đề bài ( kĩ năng tìm hiểu đề )
Trang 56 Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phong cáchkhác nhau (miêu tả, kể chuyện, viết thư, )
4.Kiểm tra 7 Kĩ năng hoàn thiện bài viết ( phát hiện và sửa
chữa lỗi )
Mỗi đề bài tập làm văn đều xác định một nhiệm vụ giao tiếp, việc định hướng trong
một giao tiếp sẽ được thực hiện dưới dạng tìm hiểu đề bài Việc tìm hiểu đề bài phải được
trả lời câu hỏi nói ( viết ) để làm gì ( xác định mục tiêu nói năng ), nói ( viết ) về cái gì
(xác định nội dung nói năng), nói ( viết ) theo thể loại nào ( hình thức nói năng), nói ( viết
) cho ai ( xác định vai nói, thái độ nói) Các đề tập làm văn phải giúp học sinh xác định
được những nội dung này
2 Các dạng lời nói và dạy học tập làm văn
Lời nói trước hết được chia ra thành lời nói miệng ( khẩu ngữ ) và lời viết ( bút
ngữ) Vì vậy kĩ năng tập làm văn trước hết được chia thành kĩ năng nói và viết
Trang 6Kĩ năng nói được hình thành trước kĩ năng viết nhờ giao tiếp tự nhiên, kĩ năng viết
chỉ có được nhờ quá trình học tập, đây là lý do khiến nhiều người cho rằng không cần dạy
“ nói” trong trường học, kĩ năng “ nói” có thể phát triển một cách tự nhiên, chương trình
Tiểu học mới cho rằng dù dạy học tiếng mẹ đẻ, nhà trường vẫn cần phải dạy cho học sinh
nói năng một cách có văn hóa, hơn nữa trong hoạt động sản sinh ngôn bản là nói và viết
thì ở mỗi người hoạt động nói được thực hiện nhiều hơn Chính vì vậy chương trình
Tiếng Việt 2000 rất chú trọng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, ở các lớp đầu cấp học,
khẩu ngữ phát triển hơn, còn kĩ năng viết mới được hình thành nên bị ảnh hưởng của
khẩu ngữ, các em nói thế nào viết thế nấy, mắc các lỗi được tính vào lỗi vi phạm phong
cách
Lời nói miệng có hai dạng: hội thoại và độc thoại Vì vậy, các bài tập luyện nói
trong giờ văn được chia ra: Nói trong hội thoại và độc thoại
Kĩ năng viết là sản phẩm của quá trịnh học tập là phương tiện học tập và giao tiếp
coa hiệu quả, năng lực viết chứng tỏ trình độ văn hóa, văn minh của một con người
3 Ngữ pháp văn bản và ứng dụng dạy tập làm văn
3.1 Tính thống nhất của văn bản và việc dạy tập làm văn
Để tạo lập một văn bản phải tạo nên tính thống nhất thể hiện cả hai mặt: Sự liên kết
về nội dung và liên kết hình thức, sự liên kết này có được là nhờ tính hướng đích của văn
bản
Bên cạnh liên kết nội dung, ngữ pháp văn bản còn chỉ ra cả một hệ thống các biện
pháp liên kết hình thức, nó biểu hiện ra ngoài của liên kết nội dung, để đạt được mục đích
giao tiếp, văn bản còn phải có sự phát triển, chủ đề cần được triển khai, các đề bài tập
làm văn cần phải chỉ ra các hướng triển khai
Trang 73.2 Hai bình diện ngữ nghĩa củavăn bản
Nội dung thứ nhất của bình diện là nội dung miêu tả hay còn gọi là nội dung sự vật,
là những hiểu biết, những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và chính bản thân
con người, nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản
Bình diện thứ hai là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của
người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động
giao tiếp, nội dung này tạo ra nghĩa liên kết cá nhân của văn bản
3.3 Đoạn văn và cấu trúc của đoạn văn
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ
thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề Nó có một cấu trúc nhất định và
được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng, được bắt đầu bằng chữ
cái hoa viết thụt đầu dòng
Cấu trúc của đạon văn gồm:
+ Cấu trúc diễn dịch+ Cấu trúc quy nạp+ Cấu trúc song song+ Cấu trúc phối hợp
3.4 Một số thể loại tập làm văn được dạy ở Tiểu học
3.4.1 Miêu tả
Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội; 1997 có nghĩa là: “
Thể hiện sự vật bằng lời nói hay nét vẽ”
Trang 8Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, “ miêu tả” là “ lấy nét vẽ hoặc câu văn
để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”
Trong văn học, nhà văn “ miêu tả” là bằng ngôn ngữ sinh động đã khắc họa những
nét đặc trưng những đặc điểm, tính chất … tạo nên bức tranh khiến người đọc, người
nghe như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật hiện tượng đó
3.4.2 Kể chuyện
Truyện là một loại thể hiện văn học lớn thuộc loại tự sự có hai phần chủ yếu là cốt
truyện và nhân vật, thủ pháp nghệ thuật chính là kể
4 Các quy tắc hội thoại và dạy hội thoại ở Tiểu học
Quy tắc hội thoại là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và
những người tham gia hội thoại phải tuân theo khi vận động hội thoại để cho cuộc vận
động như mong muốn
Các quy tắc hội thoại gồm:
+ Quy tắc thương lượng+ Quy tắc luân phiên+ Quy tắc liên kết hội thoại+ Quy tắc tôn trọng thể diện người nghe+ Quy tắc khiêm tốn về phía người nói+ Quy tắc cộng tác
II THỰC TRẠNG DẠY TẬP LÀM VĂN, KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI
DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN SGK LỚP 2
Trang 91 Đánh giá thực trạng dạy Tập làm văn lớp 2 ở trường Tiểu học Liên Khê
Sau khi nghiên cưú chương trình mới, qua các đợt kiểm tra giữa kì, cuối kì, qua các
đợt dự giờ thăm lớp khối 2, tôi thấy thực trạng dạy tập làm văn lớp 2 có những ưu điểm,
nhược điểm sau:
1.1 Những ưu điểm
Nội dung dạy học:
- Rèn luyện học sinh kĩ năng nói, viết với những đề tài, nội dung quen thuộc, gần gũi
với các em Ngữ điệu đưa vào bài dạy khá phong phú
- Dạy được cách giao tiếp, ứng xử, cách làm việc, cách tổ chức đoạn, bài và câu
- Coi trọng việc giáo dục văn hóa trong giao tiếp, ứng xử
- Hệ thống các mạch kiến thức sắp xếp đan xen, không chồng chéo phù hợp với trình
độ nhận thức của học sinh lớp 2
Phương pháp dạy học:
Chương trình coi trọng và khuyến khích dạy trên cơ sở hoạt động học tập tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh, dạy theo phương pháp đổi mới lấy học sinh làm trung tâm
1.2 Những khó khăn, hạn chế:
Về phía học sinh:
- Vốn từ ở giai đoạn này còn quá non nớt, nghèo nàn, chưa phong phú nên học sinh
nói, viết những câu chưa đúng ngữ pháp, chưa có ý thức nói thành câu
Ví dụ: Khi bài tập yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Mẹ của em bao nhiêu tuổi?
+ Học sinh 1: Ngoài 35 tuổi
Trang 10+ Học sinh 2: Mẹ của em gần 14 tuổi
+ Học sinh 3: Mẹ em 60 tuổi
Trong các câu trả lời của học sinh thì câu 1 học sinh trả lời thiếu bộ phận trả lời câu
hỏi Ai?, câu trả lời của học sinh 2, 3 sử dụng độ tuổi với mẹ chưa đúng Tuổi mẹ quá trẻ
hoặc quá già do các em chưa nắm được tuổi của từng tuổi của từng lứa tuổi đối với người
trưởng thành
- Do học sinh trường ở khu vực nông thôn, học sinh ít được giao tiếp trước đám đông
nên khả năng nói của các em còn rụt rè, ngại trình bày ý kiến của mình trước mọi người
- Học sinh chưa xác định rõ nội dung, yêu cầu của bài yêu cầu các em làm gì? Các
câu hỏi phải trả lời như thế nào? Các em chọn những từ ngữ nào để trả lời
- Một số em chưa hiểu bài nhưng chưa mạnh dạn có ý kiến với giáo viên
Về phía giáo viên
Tôi đi sâu vào dự giờ thăm lớp các giáo viên trong trường với phân môn “Tập làm
văn” nói chung ở các khối và đặc biệt môn Tập làm văn ở khối 2 nói riêng, tôi nhận thấy
rằng:
- Giáo viên chưa nắm vững ý đồ, nội dung các bài tập đưa ra trong tiết Tập làm văn
- Phương pháp giảng dạy còn đơn điệu, rập khuôn máy móc theo sách hướng dẫn
- Giáo viên chưa làm rõ các bước cần thiết của một tiết học, chỉ quan tâm đến việc
học sinh nói đúng viết đúng theo ý cô giáo sao cho nhanh để giải quyết hết các bài tập
đưa ra trong tiết học Từ đó dẫn đến học sinh tiếp thu bài một cách thụ động
- Giáo viên chưa quan tâm đến sửa câu, cách dùng từ đặt câu, cách dùng từ sai của
học sinh
Trang 11- Chưa khắc sâu nội dung kiến thức cần đạt được sau mỗi bài tập.
Nội dung chương trình sách giáo khoa
- Các dạng bài tập đưa ra nhiều nhưng chưa khắc sâu được nội dung kiến thức cho
từng dạng bài
- Hình thức các bài tập đưa ra giông nhau nên chưa kích thích sự hứng thú học tập
của các em
- Thời gian mỗi tiết tập làm văn học sinh giải quyết từ 2 đến 4 bài tập trong khoảng
35 đến 40 phút là hơi khó với các em
2 Khảo sát, đánh giá nội dung, phương pháp dạy tập làm văn lớp 2
2.1 Chương trình tập làm văn lớp 2
- Chương trình tập làm văn lớp 2 được sắp xếp mỗi tiết trong một tuần thường gồm
2, 3 bài tập; riêng các tuần ôn tập giữa học kỳ và cuối học kì nội dung thực hành về tập
làm văn được rải ra trong các tiết ôn tập Cụ thể chương trình được bố trí dạy như sau:
+ Học kì 1: 16 tiết
+ Học kì 2: 15 tiết
Cả năm có 31 tiết và số bài thực hành rải rác trong các tiết ôn
2.2 Các kiểu bài tập làm văn trong sách giáo khoa lớp 2
Từ lớp 2 đến lớp 5 có các bài tập làm văn độc lập, ở lớp 2 chỉ gồm các bài tập thực
hành tập làm văn được cấu thành từ một tổ hợp bài tập Chúng bao gồm hai kiểu bài tập
sau:
- Bài tập làm văn mà tên gọi chỉ được ghi theo tên phân môn, còn tên bài ghi ở phần
mục lục
Trang 12- Bài ôn tập ở giữa kì, cuối kì.
2.3 Các kiểu dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa lớp 2
Hệ thống các bài tập của phân môn tập làm văn lớp trong sách giáo khoa Tiếng Việt
2 phong phú và đa dạng Việc phân chia các dạng bài tập ở lớp 2 có thể dựa vào nhiều
góc độ khác nhau như: Xét về các loại bài tập, xét về hình thức, xét về các kĩ năng được
rèn luyện, nếu xét về các kĩ năng được rèn luyện phục vụ cho việc học tập và giao tiếp
hàng ngày có những dạng bài tập sau
+ Dạng 1: Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu
Dạng này gồm: Chào hỏi, tự giới thiệu
- Đáp lời chào, tự giới thiệu - Chia vui
- Nói lời cảm ơn, xin lỗi - Đáp lời chia vui
- Đáp lời cảm ơn, xin lỗi - Chia buồn, an ủi
- Khẳng định, phủ định - Đáp lời chia buồn, an ủi
- Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị - Khen ngợi
- Đáp lời đồng ý, từ chối - Đáp lời khen ngợi
+ Dạng 2: Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày
Dạng bài tập này gồm:
- Khai bản tự thuật - Tra mục lục sách
-Viết tin nhắn để nhắn tin, chia - Luyện tập về thời khóa biểu
Trang 13vui, chia buồn
- Nhận và gọi điện thoại - Luyện thời gian biểu
- Đọc và lập danh sách học sinh
+ Dạng 3: Kể ngắn ( hay thực hành rèn luyện kĩ năng diễn đạt nói )
- Kể ngắn theo tranh - Kể về người thân
- Kể ngắn theo câu hỏi - Kể về con vật
- Kể về gia đình - Kể chuyện được chứng kiến
+ Dạng 4: Tả ngắn ( hay thực hành rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết )
+ Dạng 5: Thực hành rèn luyện kĩ năng nghe
Dạng này dựa vào những câu hỏi gợi ý để kể lại hoặc nêu được ý chính của mẩu
Trang 14Qua việc nghiên cứu nội dung dạy Tập làm văn 2, dạng bài tập “Kể ngắn” được sắp
xếp như sau:
1(Bài 3) Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2
9 ( Bài 2) Dựa vào tranh trả lời câu hỏi 72
Trang 1533 Kể chuyện được chứng kiến ( viết)
Nhìn vào hệ thống nội dung chương trình của dạng bài “Kể ngắn” nằm rải rác trong
cả năm học và được bố trí nhiều ở học kỳ I, dạng bài tập này đưa ra một số câu hỏi, nội
dung các câu hỏi chú ý nhiều đến các đề tài gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em
Qua các câu hỏi các em trả lời sẽ ghép lại thành một đoạn “Kể ngắn” về chủ đề nào đó,
từ đó giáo viên giúp các em rèn luyện kĩ năng nói phục vụ cuộc sống hàng ngày, phục vụ
cho học tập và tích lũy vốn từ phong phú để học sinh viết văn tốt Cũng từ hệ thống
chương trình dạng bài “Kể ngắn” tôi giúp GVphân ra thành những dạng bài nhỏ như sau:
2.4.1 Kể ngắn theo tranh
Dạng bài này được bố trí rải rác ở học kì 1 và xuất hiện rất ít ở học kì 2, loại bài tập
này là một trong những loại bài tập khá quan trọng, nó là tiền đề - là cơ sở để làm nền
tảng vững chắc cho các em học kiểu bài quan sát, lập dàn ý ở các lớp trên Nội dung của
loại bài này được sắp xếp như dưới đây:
Trang
Ghi chú
3 Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây
bằng 1,2 câu để tạo thành câuchuyện
1/12
Bốn tranh không
có gợi ý
Trang 161 Hãy dựa vào các tranh sau trả lời câu
2
Tiết 5 Dựa theo tranh, trả lời câu hỏi 9/72
Mỗi tranh có 1 câuhỏi
1 Quan sát tranh trả lời câu hỏi 14/118 Một bức tranh có 4
câu hỏi2
Tiết 6
Kể chuyện theo tranh, rồi đặt tên
3 bức tranh không
có gợi ý
3 Quan sát tranh và trả lời câu hỏi 25/67 Một bức tranh có 4
câu hỏi
a Mục đích cần đạt
- Giúp học sinh lớp 2 bước đầu vận dụng các giác quan để luyện cách quan sát có
định hướng theo câu hỏi gợi ý
Trang 17- Rèn học sinh kĩ năng nghe, nói, qua trả lời câu hỏi các em ban đầu biết tả sơ lược
về cảnh, về người
- Bước đầu rèn cho các em nắm bắt cách quan sát sự vật hiện tượng, biết quan sát để
miêu tả nội dung tranh
b Kết quả đạt được của học sinh
+ Học sinh thích quan sát tranh
+ Học sinh hứng thú học qua các tranh vẽ
+ Biết kể được nội dung đơn giản của mỗi tranh bằng một câu
c Những hạn chế, khó khăn khi dạy
* Về nội dung, chương trình Sách giáo khoa, sách giáo viên
- Việc sắp xếp nội dung các bài “ quan sát tranh và trả lời câu hỏi” đối với học sinh
lớp 2 chưa có hệ thống thể hiện nội dung, chưa đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp nên học sinh khó định hướng vào nội dung thể hiện trong mỗi bức tranh
Ví dụ: Bài tập 3 trang 12 được học ngay ở tuần 1, bài tập đưa ra 4 bức tranh yêu cầu
học sinh mỗi tranh kể lại bằng 1, 2 câu Mặc dù trong 4 bức tranh đã có 2 bức tranh các
em được quan sát, học ở phân môn Luyện từ và câu nhưng các tranh đều không có gợi ý
làm điểm tựa cho các em là một điều rất khó khi các em mới lên lớp 2, mới học môn mới,
còn hầu hết các bài tập tiếp theo ở các tuần sau đều có những gợi ý từng tranh Hay tính
không hệ thống thể hiệ ở bài tập 1 trang 62 tuần 1, có 4 bức tranh yêu cầu học sinh kể lại
câu chuyện có tên ( Bút của cô giáo) trong khi đó sự gợi ý ở mỗi tranh quá út nên các em
khó kể được chuyện ngay ở tuần 7
- Thời gian cho mỗi bài tập ít, thường mỗi tiết Tập làm văn học sinh làm từ 2 đến 3
bài tập, mỗi bài tập trong một tiết thuộc các dạng khác nhau nên việc khai thác dạng bài
Trang 18tập quan sát tranh trả lời câu hỏi có phần bị hạn chế, bị bó hẹp trong khoảng thời gian
nhất định Vì vậy chỉ học sinh giỏi, nhận thức nhanh mới nắm bắt được nội dung chính
của các tranh còn đa số học sinh học rất thụ động, nhất là học sinh trường tôi ở vùng
nông thôn Chẳng hạn: Tiết tập làm văn tuần 5 trang 47 có 3 bài tập tương ứng với 3 nội dung:
+ Bài 1: Trả lời câu hỏi+ Bài 2: Đặt tên cho bài+ Bài 3: Luyện tập về mục lục sách Hay tiết tập làm văn tuần 7 trang 62 có 3 bài tập tương ứng với 2 nội dung:
+ Bài 1: Kể theo tranh+ Bài 2,3: Luyện tập về thời khóa biểu
- Sách giáo viên hướng dẫn phương pháp dạy học, không có định hướng cụ thể cho
mỗi bài “kể ngắn theo tranh”, hầu hét các dạng bài này đưa ra cách dạy như sau:
+ Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài
+ Giáo viên giúp học sinh chữa một phần bài tập
+ Học sinh làm bài vào vở
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút
ra những điểm ghi nhớ về tri thức
* Về học sinh
Trang 19- Khả năng nắm bắt nội dung chính của mỗi tranh còn chậm, chưa nắm được mối
quan hệ giữa các tranh trong câu chuyện, hầu hết các em chỉ thích quan sát, kể ra tất cả
những gì có trong tranh bằng cáhc liệt kê
Ví dụ: Bài 1 tuần 7 trang 62: Dựa vào tranh vẽ, hãy kể câu chuyện có tên (Bút của cô
giáo), học sinh kẻ theo các tranh.
Tranh 1: Bạn trai mặc áo màu xanh lá cây, bạn gái mặc áo màu xanh da
trời Hai bạn đang nói chuyện khi ngồi học
Tranh 2: Một người đưa cho bạn trai một cái bút
Tranh 3: Hai người ngồi viết bài
Tranh 4: Bạn khoe điểm 10 với mẹ
- Các em ngại nói trước lớp nên khả năng diễn đạt còn hạn chế, chưa biết dùng từ,
câu đúng phù hợ với từng tranh và chưa biết liên kết các tranh để tạo thành câu chuyện
- Vốn từ của các em còn nghèo nên khả năng dùng từ đặt câu còn lủng củng, nói câu
thiếu thành phần chính, câu không diễn đạt được nội dung của từng tranh
2.4.2 Kể ngắn theo câu hỏi
Loại bài tập này được chia ra ở ngay học kì 1, nội dung và chương trình của loại này
được đưa ra dưới hình thức như:
2
Trả lời câu hỏi:
a, Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì?
b, Tình cảm của cô ( hoặc thầy) đối với học sinh như thế
8 / 69
Trang 20c, Em nhớ nhất điều gì ở cô giáo ( hoặc thầy giáo )
d, Tình cảm của em đối với cô giáo ( hoặc thầy giáo)như thế nào?
Với một bài tập trên mục đích bài tập đưa ra nhằm:
- Giúp học sinh nói thành câu, nói những điều đã biết về thầy cô giáo lớp 1 của em
- Từ kĩ năng nói, dựa vào các câu trả lời, viết được một đoạn văn khoảng 4, 5 câu về
thầy, cô giáo
- Rèn học sinh cách nói, viết Nói rõ ràng, rành mạch, viết thành câu
Từ những mục đích đề ra, tôi thấy khi giảng dạy học sinh chỉ đạt được yêu cầu sau:
Nói được tên cô giáo lớp 1 của mình, đúng thực tế
- Biết trả lời được 4 câu hỏi
Bên cạnh những học sinh đạt được tôi thấy trong quá trình giảng dạy còn gặp một số
những hạn chế, khó khăn sau đây:
* Về học sinh:
- Chưa biết tìm những từ nói về tình cảm của người lớn đối với trẻ con và ngược lại
- Chưa biết cách sử dụng từ đúng chỗ tùy thuộc vào văn cảnh
Ví dụ: Với câu hỏi 4 học sinh trả lời
+ Em rất chu đáo, tận tình với cô giáo của em
- Học sinh chưa biết cách trả lời mà hầu hết chỉ biết cách bám sát vào câu hỏi và thêm
từ trả lời như trong học Toán học
Trang 21Chẳng hạn với bài tập trên học sinh trả lời:
a Cô giáo lớp 1 của em tên là Thanh
b Tình cảm của cô đối với em là thương yêu
c Em nhớ nhất điều ở cô là cô cho em mượn bút ạ!
d Tình cảm của em đối với cô là kính trọng
* Về phương pháp giảng dạy
Tôi thấy hầu hết giáo viên giảng như sách giáo viên như sau:
- Một học sinh đọc yêu cầu của bài, cả lớp đọc thầm, suy nghĩ
- Giáo viên mở bảng phụ đã viết 4 câu hỏi (a, b, c, d); mời 4 học sinh nêu lần lượt
4 câu hỏi, hỏi các bạn:
Học sinh 1 hỏi: Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì? (Nhiều HS tiếp nối trả
lời)
Học sinh 2 hỏi: Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào? (Nhiều HS
tiếp nối trả lời)
Tương tự như thế với câu 3, 4 giáo viên khuyến khích HS trả lời hồn nhiên, chân thực
về cô giáo của mình, giáo viên nhận xét và khen ngợi những ý kiến hay có cái riêng
Học sinh thi trả lời cả 4 câu hỏi trước lớp, cả lớp và giáo viên nhận xét, góp ý, bình
người trả lời hay
2 4.3 Kể về gia đình
Đây là một loại bài giới thiệu chung về gia đình mình, dạng bài này được trình bày
ở sách giáo khoa như sau:
Trang 22Bài 1: Kể về gia đình em
Gợi ý:
a Gia đình em gồm mấy người? đó là những ai?
b Nói về từng người trong gia đình em
c Em yêu quý những người trong gia đình em như thế nào?
Bài 2: Dựa vào những điều đã kể ở bài tập 1, hãy viết 1 đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5
câu) về gia đình em
a Mục đích cần đạt:
- Học sinh biết kể về gia đình, các em biết nói thành câu, rõ ràng, đủ ý, biết tổ chức
liên kết tạo thành một đoạn văn ngắn
- Nắm được từng thành viên trong gia đình
- Biết thể hiện được tình cảm của mình đối với gia đình
b Kết quả thực tế học sinh đạt được:
- Học sinh nói được tên các thành viên trong gia đình mình
- Biết kể được theo đúng 3 câu hỏi
c Những hạn chế, khó khăn khi dạy
- Lượng thời gian trong khoảng 40 phút, yêu cầu HS nói, viết về gia đình là rất khó
- Đối với học sinh:
+ Học sinh còn nhầm lẫn giữa kiểu bài “ Kể ngắn theo câu hỏi” và “ Kể về gia
đình” những câu hỏi ở dạng này chỉ là gợi ý còn HS phải dựa vào thực tế trong gia đình
để kể, nhưng đa số các em chỉ dựa vào 3 câu hỏi gợi ý để trả lời theo
Trang 23+ Khi nói về từng thành viên trong gia đình thì các em chưa kể được tên từng
thành viên trong gia đình mình có những điểm khác nhau giữa các độ tuổi, sức khỏe hay
nghề nghiệp
+ Nhiều em không biết dùng từ đặt câu đúng với văn cảnh
+ Chưa biết cách xưng hô trong khi kể về gia đình
-Đối với giáo viên: Chỉ đưa ra phương pháp giảng dạy như sách giáo viên
2.4.4 Kể về người thân
Dạng bài “ Kể về người thân” là dạng tiếp nối bài “ Kể về gia đình”, ở dạng bài
“ Kể về gia đình” đòi hỏi học sinh phải kể tất cả thành viên trong gia đình mình, còn ở
dạng bài “ Kể về người thân” sách giáo khoa đưa ra như sau:
Bài Nội dung của bài Yêu cầu, tên bài Tuần /trang
1 Kể về ông, bà (hoặc 1 người thân của
em) Gợi ý:
a, Ông, bà (hoặc người thân )của
em bao nhiêu tuổi?
b, Ông, bà (hoặc người thân ) của
em làm nghề gì?
c, Ông, bà (hoặc người thân ) của
em yêu quý, chăm sóc em như thếnào?
Kể về ngườithân
10/85
Trang 242 Dựa theo lời kể ở bài tập 1, hãy
viết 1 đoạn văn ngắn từ 3 đến 5câu kể về ông, bà hoặc người thâncủa em
3
Hãy viết từ 3 đến 4 câu kể về anh,chị, em ruột ( hoặc anh, chị, emhọ) của em
Kể về anh, chịem
15/126
1
Hãy kể về một người thân của em(bố, me, chú, dì ) theo các câuhỏi gợi ý sau:
a, Bố ( mẹ, chú, dì, ) của emlàm nghề gì?
b, Hằng ngày bố( mẹ, chú, dì, )làm những việc gì?
c, Những việc ấy có ích như thếnào?
Kể ngắn vềngười thân ( nói,viết)
Trang 25- Học sinh nói viét thành câu rõ ràng, rành mạch về người thân và liên kết các
câu thành đoạn văn
- Biết tỏ thái độ tình cảm với người thân và trân trọng thành quả lao động mà
người thân tạo ra
b Những hạn chế, khó khăn khi dạy.
- Học sinh chưa xác định được yêu cầu của đề, đó là chưa biết chọn được một
người thân trong gia đình của mình để kể
- Khi kể việc xác định tuổi tác của người thân còn sai lệch, chưa ước lượng đúng
độ tuổi Ví dụ: Khi kể về bà có em nói “ Bà em năm nay đã 30 tuổi”, hoặc “chị em năm
nay đã 40 tuổi”
- Chưa biết tìm những đặc điểm nổi bật của người thân để kể
- Khi kể việc sử dụng từ của các em còn lặp lại từ, liên kết giữa các câu còn chưa
chặt chẽ
Ví dụ: Mẹ em đã cao tuổi, mẹ em trắng hồng, mẹ em làm ruộng, em rất yêu mẹ
2.4.5 Kể về con vật
Dạng bài kể về con vật sách giáo khoa đưa ra một bài tập được trình bày như sau:
Bài : Kể về một con vật nuôi trong nhà mà em biết
( Tiếng Việt2 tập 1 trang 137, tuần 16 )
a Mục đích cần đạt:
- Học sinh biết kể về một vật nuôi trong gia đình
- Biết quan sát và nói được đặc điểm nổi bật của con vật mà các em đã quan sát
Trang 26- Rèn kĩ năng nói thành câu, liên kết các câu thành đoạn văn
- Có ý thức bảo vệ, chăm sóc vật nuôi trong nhà
b Những hạn chế, khó khăn khi dạy
- Thời gian dành cho bài tập quá ít, một tiết Tập làm văn đòi hỏi học sinh thực
hiện 3 yêu cầu: Khen ngợi Kể về con vật Lập thời gian là rất khó
- Học sinh chưa biết lựa chọn những đặc điểm nổi bật về hình dáng, về hoạt động
để kể mà hầu hết các em chỉ kể mang tính liệt kê tất cả các bộ phận Chẳng hạn: Con
chó nhà em có bộ lông vàng Nó có 2 cái tai, một cái đầu, 4 cái chân và 1 cai đuôi ngoe
nguẩy
- Học sinh chưa biét kể tình cảm, thái độ của mình đối với con vật nuôi
2.4.6 Kể chuyện được chứng kiến
Dạng bài này cũng như dạng bài “ Kể về vật nuôi được đưa ra 1 bài tập ở tuần 33 và
được trình bày như sau:
Bài: Hãy viết 1 đoạn văn ngắn (3 đến 4 câu) kể một việc tốt của em (hoặc của bạn
em)
Ví dụ: Săn sóc mẹ khi mẹ bị ốm; Cho bạn đi chung áo mưa
(Tiếng Việt 2, tập 2 trang 132)
a Mục đích cần đạt:
- Học sinh biết được thế nào là một việc làm tốt
- Biết viết 1 đoạn văn ngắn kể vè 1 việc tốt của em hoặc của bạn em
- Rèn kĩ năng viết đoạn văn gồm 3, 4 câu
Trang 27- Có ý thức tham gia việc làm tốt.
b Những hạn chế khó khăn khi dạy
- Do thời lượng chương trình ít, với 1 bài tập yêu cầu học sinh viết ngay là rất khó
- Học sinh chưa biết viết về 1 việc làm tốt theo đúng trình tự việc làm tốt diễn ra vào
lúc nào? Em hoặc bạn em đã làm, kết quả của việc làm đó như thế nào?
- Sách giáo viên hướng dẫn còn chung chung chưa cụ thể
III MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TẬP LÀM VĂN DẠNG
BÀI KỂ NGẮN LỚP 2
1 Biện pháp 1: Giúp học sinh nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của phân
môn Tập làm văn ở Tiểu học
Làm cho häc sinh hiểu vai trò quan trọng của phân môn này đổi với tất cả các môn học
trong nhà trường vì vậy ngay từ lớp 2 mọi giáo viên phải chú trọng trong quá trình dạy và
học, tuyệt đối không được lơ là
2 Biện pháp 2: Cải tiến qui trình giảng dạy (phương pháp học) phân môn Tập làm
văn dạng bài “Kể ngắn” lớp Hai
Với dạng bài “ Kể ngắn” được chia thành 6 dạng bài nhỏ, tuy mỗi dạng có một yêu
cầu, một nội dung riêng, mỗi dạng bài tôi đưa ra cách hướng dẫn
riêng phụ thuộc từng bài nhưng về phương pháp giảng dạy đều có chung các bước như
sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
Bước 2: Bài mới
- Giới thiệu bài
Trang 28- Hướng dẫn làm bài tập+ Tìm hiểu yêu cầu của bài tập+ Học sinh tiến hành làm+ Báo cáo kết quả, nhận xét, rút ra điều cần lưu ý và ghi nhớ.
2.1-Dạng bài “ Kể ngắn theo tranh”
Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát tranh ở nhà
Việc học sinh có thời gian quan sát kĩ các bức tranh ở nhà là bước cực kì quan
trọng, nó có tính chất quyết định sự thành công của việc học sinh luyện nói tốt ở trên lớp
Việc học sinh được quan sát trước bức tranh giúp học sinh không bị lúng tíng khi làm bài
trên lớp, bươc quan sát ở nhà được giáo viên định hướng như sau:
+ Giao việc quan sát trước 1 tuần khi học đến bài quan sát tranh, trả lời câu hỏi
+ Học sinh ghi ra vở nháp những điều học sinh quan sát của từng tranh theo yêu cầu
của bài tập trong sách giáo khoa
+ Với những bài tập không có sự định hướng bằng những câu hỏi, lời của nhân vật thì
giáo viên xây dựng định hướng quan sát cho các em
Bước 2: Sự chuẩn bị của giáo viên
Giáo viên phải chuẩn bị tranh, tranh phải to và đẹp sao cho mọi học sinh trực tiếp
tiếp xúc với đối tượng quan sát được thuận lợi
Bước 3: Hướng dẫn làm bài tập trên lớp
+ Kiểm tra bài cũ: Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của học
sinh
Trang 29+ Bài mới:
* Giới thiệu bài
- Yêu cầu học sinh nhắc lại chủ điểm đang học trong tuần
- Yêu cầu học sinh kể lại những bài tập đọc đã học liên quan đến nội
dung trong giờ Tập làm văn, từ những bài đó giáo viên dẫn dắt vào nội
dung chính bài học ( hoặc giáo viên giới thiệu trực tiếp nội dung bài
học )
* Hướng dẫn học sinh làm bài tập
Hướng dẫn học sinh nắm yêu cầu của bài:
- Giáo viên gọi học sinh đọc to yêu cầu của bài, cả lớp đọc thầm và theo dõi
Em nhìn thấy hình ảnh của mỗi nhân vật trong tranh có điểm gì đáng
chú ý? Câu hỏi này giúp học sinh quan sát kĩ từng bức tranh
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập:
Tùy từng bài giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài dưới nhiều hình
thức như: nhóm, cá nhân Với hình thức nhóm giáo viên chia nhóm, nêu
yêu cầu nhiệm vụ thảo luận trong nhóm, các nhóm tiến hành thảo luận,
trong nhóm cử nhóm trưởng, thư kí điều hành và ghi lại nội dung thảo
Trang 30Giáo viên theo dõi, quan sát hoạt động làm việc của các nhóm, giáo
viên cần quan tâm nhiều hơn nhóm có đối tượng học sinh yếu
Giáo viên gọi đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận, hướng
dẫn học sinh nhận xét, đánh giá kêt quả của học sinh
Khi các nhóm trả lời, giáo viên gọi 3- 4 học sinh nhận xét xem câu trả
lời của bạn đã đúng, đủ ý chưa, dùng từ đã đúng và hay chưa? Nếu dùng
từ chưa hay có thể thay từ nào cho câu văn hay hơn
Giáo viên gọi một vài học sinh nói lại toàn bộ nội dung bức tranh theo
câu hỏi gợi ý của chủ đề bài Giáo viên nhận xét cho điểm
* Sau đây tôi đưa ra một ví dụ minh họa về cách hướng dẫn học sinh
làm một bài tập cụ thể khi dạy học sinh
Đề: Dựa vào tranh vẽ, hãy kể câu chuyện có tên ( Bút của cô
giáo)
( Bài 1, tuần7, trang 62, tiếng Việt 2 tập 1)
Mục đích của bài tập là dựa vào tranh vẽ liên hoàn – kể được câu
chuyện đơn giản có tên “ Bút của cô giáo”
Với bài tập này cần hướng dẫn HS như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát ở nhà
- Giáo viên giao trước 1 tuần:
+ Tìm đọc bài tập đọc có liên quan nội dung chủ đề bài học
+ Quan sát từng tranh theo thứ tự 1, 2, 3, 4 đọc lời nhân vật trong tranh và
Trang 31quan sát xem mỗi bức tranh vẽ gì? Các nhân vật làm gì? Nét mặt cử chỉ như thế
nào?
Bước 2: Giáo viên chuẩn bị tranh phóng to nội dung bài học
Bước 3: Hướng dẫn học sinh làm bài tập trên lớp
*Kiểm tra bài cũ:
GV: Về nhà các em tìm được bài tập đọc nào có liên quan đến nội dung
bài tập cô yêu cầu các em quan sát, bài tập ở nhà?
HS: Thưa cô bài “ Chiếc bút mực”
GV: Yêu cầu học sinh đọc bài “ Chiếc bút mực” cả lớp lắng nghe, giáo
viên gọi 2 - 3 học sinh đọc bài đã quan sát được qua 4 bức tranh ở bài tập
1 trang 62, sau đó giáo viên nhận xét
* Bài mới:
+ Giới thiệu bài mới: Các em vừa nghe bạn đọc bài “ chiếc bút mực” các
em thấy Mai là 1 cô bé tốt bụng, chân thực, biết giúp bạn, đã cho bạn
mượn chiếc bút mực khi bạn quên bút ở nhà Còn nội dung các bức tranh
mà các em quan sát, ghi lại ở nhà có đúng sự quan sát của các em không?
Cô cùng các em đi tìm hiểu bài tập 1 trang 62 nhé!
+ Hướng dẫn làm bài tập
Hướng dẫn học sinh nắm yêu cầu của đề bài
Giáo viên: Gọi 1 học sinh đọc yêu cầu của đề bài các bạn khác đọc thầm
theo Giáo viên treo 4 bức tranh phóng to
Trang 32Hướng dẫn học sinh làm bài tập:
Đầu tiên yêu cầu các em quan sát từng tranh, đọc lời các nhân vật trong
mỗi tranh để hình dung sơ bộ diễn biến của câu chuyện, sau đó dừng lại ở
từng tranh để kể lại nội dung, mỗi tranh giáo viên có thể đưa ra câu hỏi gợi ý
như:
Tranh 1: Hai bạn học sinh đang làm gì? Bỗng bạn trai nói với bạn gái
ngồi bên cạnh điều gì? Bạn gái nói với bạn trai thế nào?
Tranh 2: Cô giáo đến và làm gì? Bạn trai nói gì với cô giáo?
Tranh 3: Cả 2 bạn làm gì? Với thái độ ra sao?
Tranh 4: Về nhà, bạn trai khoe điều gì với mẹ? Mẹ nói thế nào?
Hướng dẫn học sinh làm bài:
Học sinh thực hiện làm bài theo hình thức, hướng dẫn học sinh kể mẫu
tranh 1 theo câu hỏi gợi ý trên sau đó 2- 3 học sinh tập kể hoàn chỉnh tranh
1:
Chẳng hạn
Học sinh 1: Giờ tập viết, bạn nam hỏi bạn nữ ngồi cạnh: “ Tớ quên không
mang bút” bạn nữ đáp: “ Tớ chỉ có 1 cái bút”
Học sinh 2: Hôm ấy, có tiết kiểm tra thế mà Tùng quên không mang bút, Tùng
nói với Hoa: “ Mình quên bút ở nhà, bạn còn chiếc bút nào không cho mình
mượn với”, Hoa đáp: “ Nhưng tớ cũng chỉ có một cái bút, biết làm thế nào bây
giờ”
Sau khi học sinh kể mẫu tranh 1, giáo viên cho học sinh làm việc
Trang 33theo nhóm bàn ( 3- 4 học sinh ) thảo luận kể toàn bộ câu chuyện theo 4
bức tranh Đại diện các nhóm kể, giáo viên giúp học sinh kể đúng, kể đủ
ý, tiến tới kể sinh động, hấp dẫn Sau mỗi lần học sinh kể, cả lớp và giáo
viên nhận xét, bình chọn học sinh kể giỏi nhất
Với yêu cầu trên khi dạy các em có thể kể:
Tùng và Hoa mở vở chuẩn bị làm bài, Tùng tìm mãi trong cặp không
thấy bút đâu cả, Tùng quay sang hỏi Hoa:
- Mình quên bút ở nhà, bạn còn chiếc bút nào không cho mình mượn với
Hoa đáp: - Nhưng tớ chỉ có một cái bút
Cả 2 bạn đang lúng tung thì cô giáo đẫ đến bên cạnh, cô đưa bút cho Tùng và
nói:
- Em cầm bút của cô mà viết, lần sau đi học đừng quên bút nhé!
Tùng mừng rỡ đưa 2 tay nhận bút rồi nói: - Em cảm ơn cô ạ!
Tùng và Hoa chăm chỉ làm bài, bài hôm đó cô giáo chấm cho Tùng
điểm 10, sau buổi học Tùng về nhà khoe với mẹ Cầm điểm 10 đỏ chói
trên tay mẹ mỉm cười xoa đầu Tùng và nói:
- Mẹ rất vui vì con học giỏi, nhưng hôm nay ai cho con mượn bút
- Dạ, bút của cô giáo ạ!
- Con nhớ cảm ơn cô giáo nhé!
- Dạ, vâng ạ!
Qua ví dụ trên để cac em làm tốt được dạng bài “ Kể ngắn theo tranh”
Trang 34tôi yêu cầu GV cần phải chú ý:
+ Quan sát kĩ từng tranh
+ Đọc nội dung được ghi ở từng tranh
+ Nắm vững ý chính mỗi tranh thể hiện
+ Biết kết nối nội dung thể hiện trong các tranh thành một câu chuyện ngắn
+ Biết kết hợp lời kể với ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ
2 2- Kể ngắn theo câu hỏi
Tôi hướng dẫn như sau:
a.Kiểm tra bài cũ
- Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh: Chẳng hạn như đọc bài “ bàn tay dịu
dàng” em tìm được những từ ngữ nào thể hiện tình cảm của thầy giáo đối với An? ( nhẹ
nhàng, dịu dàng, trìu mến)
- Giáo viên nhận xét sự chuẩn bị bài ở nhà
b.Bài mới
+ Giới thiệu bài:
- Giáo viên yêu cầu HS nhắc lại các bài tập đã đọc nói về chủ đề thầy cô
- Giáo viên giới thiệu: Các bài tập đọc trong tuần 7, 8 đều nói về tình cảm của thầy
cô đối với học sinh, trong tiết tập làm văn hôm nay các em sẽ thi kể về cô giáo (thầy
giáo) lớp 1 của mình được thể hiện ở bài tập 2 trang 69
+ Hướng dẫn làm bài:
- Hướng dẫn HS nắm vững yêu cầu của bài
Trang 35- Gọi và HS đọc yêu cầu, cả lớp đọc thầm theo.
- Giáo viên giúp HS hiểu nội dung, HS nối tiếp đọc câu hỏi, GV gợi mở để một
số ý HS nhớ lại: Tên của cô giáo (thầy giáo) dạy hồi lớp 1; tình cảm của cô giáo (thầy
giáo) đối với em và các bạn trong lớp; điều mà em đáng nhớ nhất; tình cảm của em đối
với cô giáo (thầy giáo)
Điều đáng nhớ nhất có thể là: Khi em mắc khuyết điểm thầy cô ân cần khuyên bảo
em như thế nào? Lúc em viết sai thầy cô đã uốn nắn cho em từng nét chữ như thế nào?
+ Học sinh làm bài:
- Học sinh thảo luận nhóm đôi: 1 HS hỏi, 1 HS trả lời và ngược lại
- Học sinh hỏi - đáp trước lớp theo cặp
- Học sinh thi kể về thầy cô theo 4 câu hỏi
- Bình chọn bạn kể hay nhất
Học sinh có thể kể là:
Cô giáo lớp 1 của em tên là Thanh, cô rất yêu thương học sinh và luôn luôn chăm
lo cho chúng em từng li từng tí Mỗi khi em mắc lỗi cô chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo em,
tuy không học cô nữa nhưng em và các bạn luôn nhớ về cô - cô là người mẹ thứ 2 của
em
c Một số điểm khi dạy giáo viên cần lưu ý và ghi nhớ
+ Khi thực hiện kể chuyện theo câu hỏi GV cần hướng học sinh:
- Đọc kĩ từng câu hỏi
- Hiểu đúng nội dung yêu cầu của câu hỏi
- Lựa chọn nội dung để trả lời câu hỏi
Trang 36- Biết nối kêt các câu trả lời thành câu chuyện ngắn.
- Biết kết hợp lời kể với ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ
2.3- Kể về gia đình
Tôi áp dụng như sau:
a.Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra kiến thức bài trước, sự chuẩn bị bài của học sinh.
b.Bài mới:
+ Giới thiệu bài:
Gia đình là cái nôi nuôi các em khôn lớn, ở đó có tất cả những người thân yêu của
em, đó là nơi gần gũi, thân thiết với các em Hôm nay các em sẽ kể về gia đình mình cho
cô và các bạn trong lớp cùng nghe
+ Hướng dẫn làm bài tậpBài tập 1:
- Học sinh đọc yêu cầu: 1 HS đọc cả lớp đọc thầm theo
- Các em nhớ lại nội dung đã tìm hiểu ở nhà
- Học sinh làm miệng trong nhóm bàn: HS đọc bài của mình các hS khác bổ sung
ý cho bạn
- Học sinh nói miệng trước lớp: HS nhận xét, GV nhận xét
Kết quả của bài tập HS có thể nói như sau:
Gia đình tôi gồm có 6 người: đó là ông, bà, bố, mẹ, chị Lan và tôi Ông , bà tôi đã già
Bố là công nhân đang làm việc ở công ty may Hưng Yên Mẹ tôi là giáo viên trường Tiểu