1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh 1.Docx

56 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh
Tác giả Nguyễn Chí Thành
Trường học Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh
Chuyên ngành Kinh doanh và Quản trị
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 65,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (6)
  • 1.1.2 Khái quát về hoạt động Kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đông Anh (8)
  • 1.2 Thực trạng DNNVV trên địa bàn và hoạt động cho vay (19)
    • 1.2.1 Số lượng DNNVV có quan hệ tín dụng với chi nhánh Đông Anh … 21 (20)
    • 1.2.2 Dư nợ cho vay DNNVV của chi nhánh Đông Anh (21)
  • 1.3 Đánh giá chung tình hình họat động tín dụng đối với DNNVV tại chi nhánh Đông Anh (0)
    • 1.3.1 Kết quả đạt được (30)
    • 1.3.2 Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân (0)
  • Chương II MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ MỞ RỘNG CHO VAY (5)
    • 2.1 Định hướng phát triển của DNNVV Việt Nam đến 2010 (35)
    • 2.2 Mục tiêu kinh doanh của chi nhánh Đông Anh thời gian tới …. 36 (0)
    • 2.3 Một số giải pháp mở rộng cho vay DNNVV tại chi nhánh Đông (38)
      • 2.3.1 Đa dạng hóa và sử dụng hợp lý các hình thức tín dụng phù hợp với từng DNNVV 37 (0)
      • 2.3.2 Đẩy mạnh họat động Marketting ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng là DNNVV (0)
      • 2.3.3 Đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công nghệ vào ngân hàng (40)
      • 2.3.4 Nâng cao chất lượng thẩm định và giám sát sử dụng vốn vay của DNNVV (42)
      • 2.3.5 Tăng cường đối thoại, tìm hiểu nhu cầu của Doanh nghiệp (44)
    • 2.4 Một số kiến nghị (45)
      • 2.4.1 Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước (45)
      • 2.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước (0)
      • 2.4.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (50)

Nội dung

Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, ngân hàng đã trải qua ba lần đổi tên nhằm phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.

Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, thành lập từ năm 1957, đảm nhiệm vai trò cấp phát và quản lý vốn xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước Ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trong việc tài trợ các dự án xây dựng cơ bản, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội quốc gia Với nhiệm vụ trọng tâm là hỗ trợ các lĩnh vực kinh tế xã hội, ngân hàng góp phần xây dựng nền móng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (BIDC), thành lập từ năm 1981, với nhiệm vụ chủ đạo là cấp phát và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các lĩnh vực kinh tế theo kế hoạch phát triển của Nhà nước Trải qua hơn 40 năm hoạt động, ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia, hỗ trợ các dự án trọng điểm và góp phần hiện đại hóa hạ tầng Với khả năng phù hợp hóa các nguồn vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp, BIDC là đối tác tin cậy trong các hoạt động đầu tư xây dựng lớn của Việt Nam.

Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập từ năm 1990, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của đất nước từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Ban đầu, ngân hàng được đổi tên, tiếp tục nhận vốn từ ngân sách Nhà nước để cho vay các dự án theo kế hoạch của Chính phủ, đồng thời huy động vốn trung và dài hạn để phục vụ các hoạt động đầu tư, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực xây lắp Từ năm 1995 trở đi, BIDV chính thức hoạt động như một ngân hàng thương mại tổng hợp, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong bốn ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất tại Việt Nam, với lịch sử hình thành lâu đời và vị thế vững vàng trên thị trường tài chính BIDV đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước bằng các dịch vụ ngân hàng đa dạng, uy tín và an toàn Với mạng lưới rộng khắp cùng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, ngân hàng này đóng góp tích cực vào sự tiến bộ và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam.

Ngân hàng BIDV là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình tổng công ty Nhà nước, thể hiện sự phát triển bền vững qua nhiều giai đoạn Ban đầu, hệ thống của BIDV chỉ gồm 8 chi nhánh và 200 nhân viên, nhưng đến năm 1990 đã mở rộng lên 45 chi nhánh với 2000 cán bộ Hiện nay, mô hình tổ chức của BIDV đã hình thành gồm 5 khối lớn: Ngân hàng thương mại quốc doanh, các sở giao dịch tại tất cả các tỉnh thành, khối công ty, khối các đơn vị sự nghiệp, khối liên doanh, và khối đầu tư Với tổng số cán bộ khoảng 8.000 người, BIDV tự hào sở hữu đội ngũ nhân viên có trình độ cao, năng động và am hiểu công nghệ ngân hàng hiện đại, khẳng định vị thế hàng đầu trong thị trường tài chính Việt Nam và khu vực.

Trong quá trình hình thành và phát triển, BIDV đã thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với tình hình kinh tế đất nước, từ việc cấp phát vay và quản lý vốn ngân sách nhà nước đến việc chuyển đổi mô hình kinh doanh sang hoạt động ngân hàng đa dạng, không ngừng mở rộng nguồn vốn huy động từ dân cư và các thành phần kinh tế xã hội Từ năm 1995 trở đi, ngân hàng đã tập trung phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại như thanh toán trong và ngoài nước, chuyển đổi, mua bán ngoại tệ, cũng như các dịch vụ thanh toán không tiền mặt qua các sản phẩm thẻ Ngoài ra, BIDV còn mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực bảo hiểm, thị trường chứng khoán và cho thuê tài chính, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và đa dạng hóa dịch vụ, đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng.

BIDV luôn chú trọng phát triển công nghệ và nâng cao vai trò của con người trong giai đoạn đổi mới Ngân hàng đã mở rộng mạng lưới thanh toán, kết nối với gần 200 đơn vị và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng để nâng cao hiệu quả dịch vụ Việc này giúp BIDV thúc đẩy các giải pháp tài chính hiện đại, tăng cường tính tiện ích và an toàn cho khách hàng.

BIDV đã trang bị đầy đủ hệ thống máy trạm, máy chủ và các chương trình thanh toán tập trung, hạch toán kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Hiện tại, ngân hàng đang triển khai dự án hiện đại hoá do WB tài trợ, đạt được nhiều thành công đáng kể Nhiều sản phẩm dịch vụ sử dụng công nghệ thông tin đã được áp dụng rộng rãi ở các quy mô và cấp độ khác nhau, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

Khái quát về hoạt động Kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đông Anh

1.1.2.1 Quá trình hình thành phát triển

Chi nhánh NHĐT&PT Đông Anh, tiền thân của Chi nhánh Đông Anh, được thành lập từ năm 1967 dưới tên Chi điếm 4 Đông Anh, trực thuộc Ngân hàng kiến thiết Hà Nội Ban đầu, chi nhánh chỉ có 10 cán bộ và đảm nhiệm chức năng cấp phát và cho vay các công trình tại hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn.

Năm 1983, Chi điếm tách ra thành Chi nhánh ngân hàng Đông Anh với tên gọi Phòng đầu tư và xây dựng Đông Anh cùng Chi nhánh ngân hàng Sóc Sơn Đến năm 1987, hai đơn vị này sát nhập thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Đông Anh trực thuộc Ngân hàng ĐT&PT Hà Nội Tháng 12/2006, Chi nhánh được nâng cấp lên thành Chi nhánh cấp 1, có tên chính thức là Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Anh, trực thuộc Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, với các nghiệp vụ chính như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán Đây là một trong những đơn vị tiên phong triển khai nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, tập trung phát triển dịch vụ và tiện ích cho khách hàng, hoạt động theo mô hình một cửa, áp dụng quy trình nghiệp vụ ngân hàng hiện đại và công nghệ tiên tiến theo chương trình hiện đại hoá của Hội sở chính.

Ban đầu, Chi nhánh chỉ có trụ sở nhỏ bé với số lượng cán bộ nhân viên còn hạn chế và phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau Tuy nhiên, theo thời gian, Chi nhánh không ngừng mở rộng mạng lưới để phục vụ khách hàng tốt hơn, bao gồm việc mở thêm ba phòng giao dịch tại các vị trí chiến lược như trung tâm thương mại Đông Anh và huyện Sóc Sơn Hiện nay, hoạt động của Chi nhánh đã phủ rộng khắp hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn, với đội ngũ cán bộ ngày càng đông đúc, vượt 80 người, khẳng định vị trí vững chắc trên địa bàn.

Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư Phát triển Đông Anh xây dựng mô hình tổ chức hiện đại, phù hợp với quy mô và đặc điểm của chi nhánh theo hướng đổi mới Giám đốc chi nhánh chịu trách nhiệm điều hành hoạt động, bên cạnh đó còn có một Phó Giám đốc hỗ trợ công tác quản lý Chi nhánh được tổ chức thành 3 khối chính: khối trực tiếp kinh doanh, khối hỗ trợ kinh doanh và khối quản lý nội bộ, đảm bảo hoạt động nội bộ hiệu quả và linh hoạt.

Khối kinh doanh gồm các phòng sau:

 Phòng dịch vụ khách hàng

 Phòng Kế hoạch nguồn vốn

 Phòng Thẩm định và quản lí tín dụng

Khối quản lí nội bộ gồm:

 Phòng Tài chính-Kế toán

 Tổ kiểm tra kiểm soát nội bộ

 Phòng Tổ chức hành chính.

1.1.2.3 Các sản phẩm dịch vụ cơ bản

Ngân hàng đầu tư và Phát triển, chi nhánh Đông Anh, tự hào kế thừa và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên lịch sử hình thành lâu đời Chi nhánh tập trung vào việc phát triển nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, cung cấp đa dạng sản phẩm và dịch vụ như tiền gửi, thanh toán, tín dụng, bảo lãnh và các dịch vụ khác để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Chi nhánh Đông Anh cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi và thanh toán với các hình thức như nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm đa dạng về kỳ hạn, phục vụ cả tổ chức và cá nhân bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ Dịch vụ huy động trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi với các kỳ hạn phù hợp cũng được cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Chủ sở hữu tiền gửi có kỳ hạn có thể chuyển nhượng, thanh toán trước hạn hoặc thanh toán từng phần linh hoạt theo nhu cầu Thủ tục mở tài khoản nhanh chóng, tiện lợi và miễn phí giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận dịch vụ.

Nghiệp vụ tín dụng bao gồm các hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng Chi nhánh ngân hàng cung cấp các khoản vay bổ sung vốn lưu động, vay tiêu dùng, và vay phục vụ đầu tư phát triển nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh Ngoài ra, các hình thức vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, vay dự án, và vay đồng tài trợ được triển khai để phát triển các dự án chiến lược, góp phần nâng cao hiệu quả tài chính và mở rộng quy mô doanh nghiệp.

Nghiệp vụ bảo lãnh bao gồm các loại như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh chất lượng sản phẩm, bảo lãnh nộp thuế, bảo lãnh mua thiết bị trả chậm, bảo lãnh vay vốn nước ngoài, bảo lãnh thanh toán, và bảo lãnh đối ứng Các hình thức này giúp đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính và hợp đồng, nâng cao độ tin cậy trong các giao dịch thương mại và đầu tư quốc tế Việc hiểu rõ các loại bảo lãnh này là chìa khóa để doanh nghiệp đảm bảo an toàn và thúc đẩy các hoạt động kinh doanh hiệu quả.

Các dịch vụ ngân hàng phổ biến bao gồm dịch vụ rút tiền tự động qua máy ATM và dịch vụ HOME-BANKING, cho phép khách hàng kiểm tra tỷ giá, lãi suất, cập nhật thông tin các dịch vụ ngân hàng, theo dõi số dư tài khoản và giao dịch phát sinh Dịch vụ HOME-BANKING cung cấp tiện ích trao đổi điện tử nhanh chóng và an toàn, giúp khách hàng quản lý tài chính mọi lúc, mọi nơi.

Chi nhánh còn mở rộng các dịch vụ bổ sung như dịch vụ ngân quỹ tiền mặt, bao gồm kiểm tra, đếm tiền và nhận tiền tại nhà, nhằm nâng cao tiện ích cho khách hàng Ngoài ra, chi nhánh còn cung cấp dịch vụ chi trả lương cho cán bộ, nhân viên, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình thanh toán lương thưởng Các dịch vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, nâng cao hiệu quả và sự hài lòng trong hoạt động tài chính hàng ngày.

Nguyễn Chí Thành là một bộ nhân viên chuyên đảm nhận các công việc liên quan đến phát hành chứng khoán, vận chuyển tiền, giữ hộ giấy tờ có giá và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác Anh ấy đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và chính xác trong các giao dịch tài chính, giúp khách hàng yên tâm khi thực hiện các hoạt động liên quan đến chứng khoán và tiền tệ Với kinh nghiệm và chuyên môn, Nguyễn Chí Thành góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và tài chính tại công ty.

1.1.2.4 Kết quả kinh doanh của Chi nhánh Đông Anh

Trong những năm gần đây, Chi nhánh đã xây dựng nền tảng vững chắc với đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn đồng đều và tinh thần nhiệt huyết của tuổi trẻ, góp phần thúc đẩy sự đoàn kết và gắn bó của toàn bộ tập thể nhân viên Sau hai năm hoạt động, Chi nhánh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, phát triển mạnh mẽ và hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu đề ra.

1.1.2.4.1 Hoạt động huy động vốn

Bảng 1: Kết quả huy động vốn Đơn vị: triệu đồng

Phân loại theo đối tượng

(% so với tổng huy động) 19,5 45,4 30,5

(% so với tổng huy động) 80,5 54,6 69,5

Phân loại theo đồng nội tệ

(% so với tổng huy động) 81 77,2 84,6

(% so với tổng huy động) 19 22,8 15,4

Trong giai đoạn 2005-2006, chi nhánh ghi nhận tốc độ tăng trưởng vốn nhanh, với mức tăng trưởng 49% năm 2005 và 51% năm 2006, cho thấy thị phần huy động vốn đã mở rộng đáng kể So với các ngân hàng khác trong khu vực, tốc độ phát triển của chi nhánh khá cao, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ về nguồn vốn trong giai đoạn này.

Ban lãnh đạo Chi nhánh luôn xác định công tác huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, đóng vai trò then chốt trong công tác nguồn vốn Việc chủ động trong huy động vốn giúp Chi nhánh đảm bảo nguồn lực tài chính ổn định, phục vụ tốt các hoạt động kinh doanh và phát triển thị trường Đẩy mạnh các phương thức huy động vốn đa dạng nhằm nâng cao hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và thúc đẩy sự phát triển bền vững của Chi nhánh.

1 4 đẩy mạnh công tác huy động vốn, đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh, đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả.

Trong những năm gần đây, Chi nhánh không ngừng đổi mới công nghệ và phong cách phục vụ để khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và tổ chức kinh tế, đảm bảo tính cạnh tranh cao Chúng tôi thực hiện các chính sách linh hoạt, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng quan hệ khách hàng, đặc biệt giữ vững nhóm khách hàng truyền thống như các Tổng công ty và TCKT có nguồn vốn lớn Chi nhánh tích cực khai thác nguồn tiền gửi lãi suất thấp, kéo dài thời gian giao dịch và huy động vốn từ các dự án đền bù giải phóng mặt bằng Đồng thời, chúng tôi mở rộng các dịch vụ mới như phát hành thẻ ATM, hợp tác kinh doanh bảo hiểm và cung cấp thông tin ngân hàng qua mạng di động (BSMS) để thu hút khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Thực trạng DNNVV trên địa bàn và hoạt động cho vay

Số lượng DNNVV có quan hệ tín dụng với chi nhánh Đông Anh … 21

Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Đông Anh là một trong ba ngân hàng thương mại quốc doanh hoạt động trên địa bàn huyện Đông Anh, với thị phần chiếm khoảng 35% mặc dù cạnh tranh khốc liệt Ngoài các doanh nghiệp truyền thống trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, chi nhánh còn phục vụ nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ Khách hàng của chi nhánh đa dạng, từ các doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân (DNNQD) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nguyễn Chí Thành cùng các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với Chi nhánh đã được thống kê rõ ràng Trong đó, số lượng khách hàng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tín dụng tại Chi nhánh chiếm một phần đáng kể, thể hiện mối quan hệ hợp tác lâu dài và tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững Thống kê này giúp đánh giá quy mô và mức độ mở rộng của các khách hàng doanh nghiệp, góp phần vào chiến lược phát triển ngân hàng hiệu quả.

Bảng 6: Số lượng các loại hình DNNVV có quan hệ tín dụng Đơn vị: Doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn 19 32

Công ty có vốn đầu tư nước ngoài 1 2

(Nguồn: Phòng Tín dụng – CN NHĐT&PT ĐA)

Chiến lược mở rộng cơ cấu khách hàng sang nhiều lĩnh vực như dịch vụ, sản xuất công nghiệp, xây lắp đã giúp nâng cao dư nợ của các DNNVV, thúc đẩy sự tăng trưởng tín dụng Việc đa dạng hóa đối tượng khách hàng thông qua chuyển đổi cơ cấu đã mở rộng khả năng cho vay của chi nhánh, góp phần tăng số lượng khách hàng tín dụng đáng kể Đặc biệt, số lượng khách hàng là các DNNVV và tư nhân cá thể tăng trưởng ấn tượng lần lượt là 161,9% và 142,8%, chứng tỏ hoạt động tìm kiếm khách hàng mới và tập trung vào các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ ngày càng hiệu quả.

Dù tốc độ tăng trưởng khách hàng của DNNVV đạt mức cao nhất, số lượng khách hàng vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng thị trường Nguyên nhân khách quan bao gồm cạnh tranh về lãi suất, chất lượng dịch vụ, và uy tín lâu dài của các ngân hàng trên địa bàn Bên cạnh đó, nhiều chi nhánh chưa triển khai những biện pháp tiếp thị và quảng cáo hiệu quả để nắm bắt thị trường; công tác chăm sóc khách hàng chưa trở thành hoạt động thường xuyên Mặc dù công tác mở rộng mạng lưới đã được chú trọng, nhưng số điểm giao dịch còn ít và nhiều nơi chưa tận dụng tối đa lợi thế thương mại để thu hút khách hàng.

Dư nợ cho vay DNNVV của chi nhánh Đông Anh

* Về dư nợ với các DNNVV được cụ thể hoá qua bảng sau:

Bảng 7: Dư nợ của các DNNVV Đơn vị: Triệu đồng

(% so với tổng dư nợ) 18 25 34

(Nguồn: Phòng Tín dụng – CN NHĐT&PT ĐA)

Dư nợ cho vay đối với các DNNVV vẫn không ngừng gia tăng dù tổng dư nợ có biến động không đều trong 3 năm qua, thậm chí giảm trong những năm gần đây Điều này phản ánh sự chuyển biến tích cực về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhờ vào các kế hoạch quy hoạch cụ thể từ chính quyền các cấp Thị trường đã có những thay đổi mới, nhu cầu của khách hàng tăng đáng kể, khiến các DNNVV cần nhiều vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Chính những yếu tố này đã giúp chi nhánh thu hút thêm nhiều khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Dư nợ DNNVV trong năm 2006 tăng gấp 1,27 lần so với năm 2005 và gấp 1,78 lần so với năm 2004, phản ánh xu hướng phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này Tỷ trọng dư nợ DNNVV so với tổng dư nợ đã không ngừng tăng, chiếm tới 34% vào năm 2006, cao hơn nhiều so với mức 25% của năm 2005, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu tín dụng Mặc dù dự kiến dư nợ đối với DNNN sẽ giảm dần do xu hướng cổ phần hóa, nhưng dư nợ của DNNVV vẫn liên tục tăng, góp phần thúc đẩy tổng dư nợ của chi nhánh Chính vì vậy, các chi nhánh ngân hàng cần áp dụng các giải pháp thu hút khách hàng mới để củng cố dư nợ hiện tại và thúc đẩy doanh thu hiệu quả hơn.

* Về dư nợ tín dụng cụ thể đối với các loại hình doanh nghiệp:

Trong những năm qua, Chi nhánh đã không ngừng triển khai các biện pháp nhằm thu hút DNNVV, góp phần giải quyết vốn lớn cho doanh nghiệp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đầu tư công nghệ mới mở rộng quy mô Mặc dù số lượng DNNVV thu hút chưa nhiều, nhưng những hỗ trợ này đã mang lại tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Các giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bảng 8: Dư nợ các loại hình DNNVV Đơn vị: Triệu đồng

(% trên tổng dư nợ DNNVV) 0,1 0,09 0,6

(% trên tổng dư nợ DNNVV) 52,9 52,36 53,36

(% trên tổng dư nợ DNNVV) 47 47,55 46,04

Doanh nghiệp tư nhân có tốc độ tăng trưởng thấp, vốn kinh doanh nhỏ và quy mô thường xuyên nhỏ, khiến khả năng tiếp cận vốn hạn chế Từ năm 2001, chi nhánh ngân hàng bắt đầu có khách hàng là doanh nghiệp tư nhân, nhưng tỷ lệ vay vốn vẫn còn thấp, chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng dư nợ DNNVV vào năm 2004, đến năm 2006 tăng lên 0,6% và dư nợ đạt mức tăng gấp 11,15 lần so với năm 2005 Phần lớn doanh nghiệp tư nhân vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu sản xuất thời vụ Tuy loại hình doanh nghiệp này vẫn còn phổ biến trên địa bàn, nhưng việc tiếp cận vốn gặp nhiều khó khăn do các thủ tục pháp lý phức tạp và chưa thực sự ổn định.

Trong các công ty cổ phần, số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng do cả việc thành lập mới và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Tuy nhiên, dư nợ vay đối với thành phần này đang tăng lên đáng kể, trong khi dư nợ cho vay DNNN có xu hướng giảm, phản ánh sự chuyển đổi trong cơ cấu tài chính và hoạt động của các công ty cổ phần.

Dư nợ trong năm 2006 tăng gấp 1,29 lần năm 2005, gần gấp 2 lần năm 2004.

Tỷ trọng dư nợ của các công ty cổ phần trên tổng dư nợ DNNVV vẫn duy trì mức tăng ổn định, chiếm hơn 53%, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của loại hình doanh nghiệp này trong hệ thống vay vốn Các công ty TNHH chiếm tỷ lệ lớn nhất trong danh sách các doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh, thường hoạt động trong lĩnh vực mua bán, ký gửi hàng hóa, gia công cơ khí, và sản xuất hàng tiêu dùng, với tỷ lệ dư nợ gần 47% trên tổng dư nợ DNNVV Tuy nhiên, tỷ lệ này chưa hoàn toàn phản ánh rõ ràng tiềm năng thực sự của các doanh nghiệp thuộc loại hình này, cho thấy cần có các đánh giá sâu hơn để nhận diện đầy đủ các cơ hội phát triển.

2006 Chi nhánh đã cho vay doanh nghiệp này gần 86 tỷ đồng, tăng hơn năm

2005 là gần 16 tỷ đồng (tăng hơn 23%) và tốc độ dư nợ đối với loại hình này vẫn tăng trưởng ổn định.

* Về dư nợ tín dụng DNNVV theo kỳ hạn

Dư nợ ngân hàng bao gồm cả dư nợ ngắn hạn và trung dài hạn, với sự chênh lệch đáng kể giữa hai hình thức cấp tín dụng này Đây là thực trạng phổ biến chung của tất cả các ngân hàng, không riêng gì Chi nhánh Số liệu cụ thể của Chi nhánh được thể hiện qua bảng số liệu đính kèm, phản ánh rõ cấu trúc dư nợ hiện tại.

Bảng 9: Dư nợ các loại hình DNNVV theo kỳ hạn Đơn vị: Triệu đồng

2005 Tổng dư nợ ngắn hạn 90.200 130.478 153.432 1,44 1,18

(% trên tổng dư nợ DNNVV) 86,2 88,86 82,17

(% trên tổng dư nợ NH) 0,11 0,08 0,75

(% trên tổng dư nợ NH) 39,96 48,69 52,87

(% trên tổng dư nợ NH) 59,93 51,23 46,38

Tổng dư nợ trung dài hạn 14.440 16.348 33.295 1,13 2,04

(% trên tổng dư nợ DNNVV) 13,8 11,14 17,83

(% trên tổng dư nợ TDH) 58,94 60,64 31,80

(% trên tổng dư nợ TDH) 41,06 39,36 68,20

Dư nợ tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn, hơn 80%, trong khi dư nợ trung và dài hạn có tỷ trọng nhỏ nhưng đang có xu hướng tăng đáng kể, đặc biệt là gần 20% vào năm 2006 Sự gia tăng dư nợ trung và dài hạn cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang thay đổi quy mô sản xuất, đầu tư nhiều vào công nghệ mới để mở rộng sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.

Chủ yếu vay trung dài hạn là các công ty TNHH chiếm gần 70% năm

Năm 2006, tăng trưởng vượt bậc so với các năm trước, gấp 3 lần so với năm 2005 Trong khi đó, năm 2005 chỉ tăng gần 10% so với năm trước Trước đây, các công ty cổ phần vay dài hạn chiếm tỷ trọng trên 90% Tuy nhiên, gần đây, tỷ trọng này đã chuyển sang các công ty TNHH, vì họ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh Đây cũng là loại hình chi nhánh thu hút nhiều nhất trong số các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Cho vay ngắn hạn chiếm đa số trong cơ cấu dư nợ của DNNVV, phản ánh nhu cầu vay vốn thường xuyên để phù hợp với chu kỳ sản xuất Các công ty cổ phần, dù số lượng vay ít hơn so với công ty TNHH, lại có khối lượng vay lớn hơn và chiếm hơn 50% tổng dư nợ DNNVV, nhờ vào vốn ban đầu lớn từ cổ phần hóa DNNN và sự hỗ trợ của Nhà nước Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty cổ phần khi tiếp cận vốn vay tại các ngân hàng và tổ chức tài chính.

Dưới góc độ về số lượng, công ty TNHH có 28 nhánh, mặc dù tăng về số lượng nhưng vẫn chiếm phần nhỏ hơn so với các loại hình doanh nghiệp cổ phần trong các khoản vay trung dài hạn Các khoản vay ngắn hạn và trung hạn của doanh nghiệp có xu hướng tăng đều về số dư, tuy nhiên tỷ trọng của chúng chỉ chiếm hơn 45% tổng dư nợ hiện nay Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân là loại hình DNNVV có số lượng và quy mô vay vốn nhỏ nhất tại chi nhánh, chủ yếu tập trung vay ngắn hạn và không có khoản vay trung dài hạn nào, song tỷ trọng vay ngắn hạn trong tổng dư nợ của DNNVV vẫn có xu hướng tăng nhẹ dù không đáng kể.

Phần lớn dư nợ DNNVV tập trung vào các công ty cổ phần, đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần được hình thành sau cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Trong cơ cấu vay vốn, chủ yếu vẫn là vay ngắn hạn, trong khi vay trung hạn đang ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể Tuy nhiên, dư nợ tín dụng đối với DNNVV vẫn chưa đáp ứng đầy đủ tiềm năng và nhu cầu trên địa bàn, đòi hỏi chi nhánh cần không ngừng củng cố mối quan hệ khách hàng hiện có Đồng thời, việc thu hút thêm khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân và mở rộng quy mô cho vay các công ty TNHH là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng dư nợ và phát triển bền vững.

* Về các phương thức cho vay:

Chi nhánh chủ yếu cung cấp các phương thức vay vốn gồm vay theo món và vay theo hạn mức, trong đó vay theo món là hình thức phổ biến dành cho các DNNVV với các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Vay theo món ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tức thời của doanh nghiệp, trong khi vay trung và dài hạn thường dành cho các khách hàng đầu tư vào tài sản cố định hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh Số lượng khách hàng vay theo món ít hơn do quy trình thủ tục phức tạp và hồ sơ riêng biệt, phù hợp cho các doanh nghiệp chưa có nhu cầu vay vốn dài hạn hoặc chưa đủ điều kiện để mở hạn mức vay tại chi nhánh.

Cho vay theo hạn mức là hình thức cho vay chủ yếu của Chi nhánh hiện nay, phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Mô hình này giúp các doanh nghiệp vay vốn theo chu kỳ, linh hoạt đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh nghiệp một cách hiệu quả.▼

Nguyễn Chí Thành cho biết, kinh doanh sẽ thuận tiện hơn trong việc chi trả, thanh toán với ngân hàng nhờ vào hình thức cho vay hạn mức Hình thức này yêu cầu cán bộ ngân hàng liên tục xác định hạn mức và thường xuyên yêu cầu các tài liệu kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp cho các doanh nghiệp có quan hệ lâu dài với Chi nhánh Không đòi hỏi thủ tục phức tạp như vay theo món, nên hình thức cho vay hạn mức dễ áp dụng hơn cho khách hàng Hiện nay, Chi nhánh chủ yếu áp dụng hình thức vay này với các công ty cổ phần đã có quan hệ lâu dài và các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN).

* Về tài sản đảm bảo:

Đánh giá chung tình hình họat động tín dụng đối với DNNVV tại chi nhánh Đông Anh

Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân

Chương I: Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đông Anh

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ MỞ RỘNG CHO VAY

Định hướng phát triển của DNNVV Việt Nam đến 2010

Mức độ quốc tế hoá nền kinh tế Việt Nam diễn ra mạnh mẽ kể từ những năm 1980, đặc biệt là từ thập niên 90 khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, thu hút nguồn vốn FDI và chuẩn bị gia nhập WTO Các doanh nghiệp lớn đóng vai trò chính trong quá trình này, ban đầu chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, nhưng hiện nay doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn Doanh nghiệp nhà nước đang giảm dần do quá trình cổ phần hoá, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ngày càng giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Những năm gần đây, DNNVV trở thành trọng tâm của các tranh luận và chính sách phát triển kinh tế.

Trong những năm 80 và đầu những năm 90, doanh nghiệp Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực công nghiệp do khả năng đầu tư hạn chế vào khu vực tư nhân Tuy nhiên, vai trò áp đảo của khu vực Nhà nước trở thành trở lực khi cạnh tranh ngày càng khốc liệt và chính sách bảo hộ của Nhà nước dần được gỡ bỏ Sự giảm bao cấp từ ngân sách và khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn ngân hàng quốc doanh khi nợ xấu tăng khiến doanh nghiệp Nhà nước gặp nhiều thách thức Khu vực doanh nghiệp Nhà nước cũng không thành công trong việc tạo việc làm, khi tổng lao động trong khu vực này vẫn khoảng 2,2 triệu người và không có sự biến động đáng kể Trong khi đó, khu vực tư nhân đã trở thành nguồn tạo nhiều việc làm hơn, và các chính sách hướng về khu vực này đã trải qua nhiều cải cách quan trọng trong những năm gần đây.

8 nhân đang ngày càng được chú ý và đánh giá là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời các văn bản pháp lý chính thức đã nâng vị thế của khu vực doanh nghiệp tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp này Những nỗ lực giảm thiểu đặc quyền của doanh nghiệp nhà nước và xây dựng sân chơi bình đẳng đã góp phần thúc đẩy cạnh tranh công bằng trong nền kinh tế Các cuộc thảo luận về việc Đảng viên có thể sở hữu công ty tư nhân và việc luật doanh nghiệp mới đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh đang mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho cộng đồng doanh nghiệp tư nhân.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang xây dựng chương trình phát triển DNNVV giai đoạn 2006-2010, góp phần vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả giai đoạn Cục phát triển DNNVV của Bộ sẽ thiết kế các chương trình và biện pháp hỗ trợ giúp doanh nghiệp này phát triển bền vững Chính phủ và Đảng đánh giá cao vai trò của DNNVV và đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, nhiều dự án nước ngoài như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), ngân hàng tái thiết Đức và quỹ Mekong đang phối hợp cung ứng nguồn tín dụng cho DNNVV và hộ gia đình thông qua hệ thống ngân hàng, tạo cơ hội tiếp cận vốn vay thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hội nhập kinh tế và mở rộng quan hệ thương mại quốc tế là xu hướng tất yếu của thời đại Chính sách thông thoáng, quyền tự do kinh doanh được mở rộng và khuyến khích sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển Môi trường kinh tế tích cực chính là cơ hội lớn để thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập quốc tế thành công.

Nguyễn Chí Thành nhấn mạnh vai trò quan trọng của DNNVV trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Theo dự báo, trong thời gian tới, nước ta dự kiến có thêm 250.000 doanh nghiệp mới, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động lên gần nửa triệu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam không thể thiếu sự năng động và phát triển của DNNVV đa dạng trong nhiều ngành, lĩnh vực, đặc biệt là ngành công nghiệp phụ trợ Xu hướng phát triển trong tương lai sẽ tập trung vào sự bứt phá của DNNVV, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế.

2.2 MỤC TIÊU MỞ RỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH ĐÔNG ANH THỜI GIAN TỚI

Trong năm 2006, Chi nhánh vẫn gặp khó khăn về vấn đề tài sản đảm bảo trong hoạt động tín dụng, với tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo còn thấp so với kế hoạch đề ra Đến nay, tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo của Chi nhánh đã đạt 65%, chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch 75% Hiện tại, Chi nhánh đang tập trung đẩy mạnh công tác đôn đốc khách hàng tăng cường tài sản đảm bảo nhằm nâng cao tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo phù hợp với mục tiêu kế hoạch năm 2006.

Chi nhánh đang gặp khó khăn trong việc phát triển khách hàng mới do các ngân hàng đối thủ áp dụng chính sách ưu đãi hấp dẫn như lãi suất vay thấp, thủ tục nhanh gọn, phục vụ tận tình Để cạnh tranh hiệu quả, chi nhánh đang xây dựng các chính sách phù hợp nhằm thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) - nhóm khách hàng tiềm năng có khả năng hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững. -Giúp chi nhánh xây dựng chính sách thu hút DNNVV hiệu quả với [Draft Alpha](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha) – tạo tiếng nói thương hiệu doanh nghiệp chuyên nghiệp dễ dàng.

Chi nhánh hoạt động trong khu vực có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tuy nhiên gặp khó khăn trong việc mở rộng khách hàng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu do khu vực này không tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động trong ngành này Việc phát triển chiến lược khách hàng hiệu quả gặp thách thức vì thiếu các khách hàng tiềm năng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu tại địa bàn Điều này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng thị trường và tăng trưởng doanh thu của chi nhánh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Đông Anh đã đề ra phương hướng triển khai hoạt động nhằm khắc phục những khó khăn trong năm 2006 Đây là bước cụ thể hoá các phương hướng để hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra Việc xác định rõ chiến lược giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng tốt hơn các mục tiêu đề ra trong năm.

Năm 2006, đơn vị đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu đề ra, tập trung phát triển chi nhánh hiện đại và cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao Mục tiêu mở rộng thị trường, đa dạng hóa hình thức huy động vốn, tăng cường tìm kiếm khách hàng mới, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa phù hợp với khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro Trọng tâm của hoạt động là nâng cao chất lượng tín dụng và tăng cường đầu tư nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng.

2.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY DNNVV TẠI CHI NHÁNH ĐôNG Anh

2.3.1 Đa dạng hoá và sử dụng hợp lý các hình thức tín dụng phù hợp với từng DNNVV

Việc mở rộng tín dụng cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn do rủi ro thanh khoản cao và các rào cản về tài sản đảm bảo Chính sách riêng biệt dành cho DNNVV là cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bền vững, trong đó việc mở rộng danh mục tài sản đảm bảo là một giải pháp hiệu quả Ngoài tài sản đảm bảo từ tài sản sở hữu của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp còn có thể dùng tài sản cá nhân như bất động sản, đồ trang sức hoặc giấy tờ có giá để thế chấp, giúp thúc đẩy khả năng vay vốn và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Nghiên cứu cho vay không cần thế chấp thông qua hiệp hội DNNVV là giải pháp hiệu quả để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Các chi nhánh liên hệ và ký cam kết với hiệp hội DNNVV để tài trợ cho các thành viên, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của hiệp hội về khoản tín dụng Điều kiện vay vốn bao gồm doanh nghiệp mở tài khoản tại ngân hàng và giao dịch thanh toán qua ngân hàng, giúp kiểm soát việc sử dụng vốn vay Cho vay qua hiệp hội giúp mở rộng đối tượng khách hàng, tăng phạm vi giải ngân và thu nợ dễ dàng hơn Ngoài ra, việc thu thập thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trở nên thuận lợi vì hiệp hội có trách nhiệm cung cấp hoặc yêu cầu các dữ liệu cần thiết.

Nguyễn Chí Thành nhấn mạnh rằng các thành viên phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ theo yêu cầu của ngân hàng để thuận tiện trong việc xử lý hồ sơ Đồng thời, việc thu hút tiền gửi giao dịch từ các thành viên này là điều kiện bắt buộc để được vay vốn, góp phần tăng tính thanh khoản cho ngân hàng Ngân hàng cũng có thể thực hiện các hình thức cho vay đa dạng, như thuê mua tài sản nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chưa đủ khả năng đầu tư lớn vào máy móc thiết bị, khi đó ngân hàng sẽ bỏ tiền mua và cho thuê theo điều kiện phù hợp, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn và mở rộng sản xuất.

Lãi suất cạnh tranh là yếu tố quan trọng thu hút khách hàng, tuy nhiên hiện nay chi nhánh vẫn áp dụng khung lãi suất do Hội sở chính quy định, khiến lãi suất cho vay còn cao và thiếu linh hoạt Trong các nước phát triển, ngân hàng thể hiện sự linh hoạt bằng cách điều chỉnh lãi suất khác nhau cho từng khách hàng và áp dụng các điều khoản ưu đãi, hạn chế riêng biệt, tạo sự cá nhân hóa trong hình thức cho vay Trong tương lai, cần khai thác tối đa hình thức cho vay với lãi suất thỏa thuận cùng các điều kiện ưu đãi và hạn chế riêng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhằm tăng tính cạnh tranh và phù hợp hơn với từng đối tượng khách hàng.

2.3.2 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng là DNNVV

Một số giải pháp mở rộng cho vay DNNVV tại chi nhánh Đông

2.3.1 Đa dạng hoá và sử dụng hợp lý các hình thức tín dụng phù hợp với từng DNNVV

Tín dụng với DNNVV gặp nhiều khó khăn do rủi ro thanh khoản và hạn chế về tài sản đảm bảo Để mở rộng cho vay mà vẫn đảm bảo an toàn, cần có chính sách riêng phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp này Việc mở rộng danh mục tài sản đảm bảo có thể bao gồm cả tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp như bất động sản, đồ trang sức, giấy tờ có giá để làm công cụ thế chấp Điều này giúp giải quyết vấn đề tài sản đảm bảo hạn chế và thúc đẩy tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với DNNVV.

Nghiên cứu phát triển hình thức cho vay không cần thế chấp thông qua hiệp hội DNNVV là giải pháp hiệu quả để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiệp hội DNNVV là tổ chức uy tín, có vai trò trong việc ký kết cam kết tài trợ cho các thành viên, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của cả hai bên Việc cho vay qua hiệp hội yêu cầu doanh nghiệp mở tài khoản ngân hàng và thực hiện giao dịch qua ngân hàng, giúp kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay Đây cũng là cách mở rộng đối tượng khách hàng, tăng quy mô cho vay, giải ngân, và thu nợ hiệu quả hơn Ngoài ra, việc thu thập thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trở nên dễ dàng hơn nhờ vào trách nhiệm của hiệp hội trong cung cấp hoặc yêu cầu dữ liệu cần thiết.

Nguyễn Chí Thành nhấn mạnh rằng các thành viên cần cung cấp đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu của ngân hàng để đảm bảo tiêu chuẩn vay vốn Việc thu hút tiền gửi giao dịch từ các thành viên này là điều kiện quan trọng để được ngân hàng xem xét cho vay Ngoài ra, ngân hàng có thể thực hiện các hình thức cho vay đa dạng như thuê mua tài sản nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chưa đủ khả năng đầu tư lớn vào máy móc thiết bị, bằng cách mua tài sản rồi cho doanh nghiệp thuê với những điều kiện linh hoạt.

Lãi suất cạnh tranh là yếu tố quan trọng thu hút khách hàng, tuy nhiên hiện tại các chi nhánh vẫn áp dụng khung lãi suất do Hội sở chính quy định, dẫn đến mức lãi suất chưa thực sự cạnh tranh và thiếu linh hoạt Trong các quốc gia phát triển, ngân hàng thường áp dụng các chính sách khác nhau về lãi suất, điều khoản ưu đãi và hạn chế tùy thuộc vào từng khách hàng, giúp cá nhân hóa các khoản vay Do đó, trong tương lai, ngân hàng cần khai thác triệt để hình thức cho vay với lãi suất thỏa thuận cùng các điều kiện ưu đãi và hạn chế riêng biệt để phục vụ tốt hơn các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2.3.2 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng là DNNVV

Ngân hàng có lợi thế lớn nhờ vào lượng khách hàng là DNNVV trên địa bàn, tạo điều kiện cho sự phát triển tiềm năng của chi nhánh Tuy nhiên, cạnh tranh gay gắt giữa các chi nhánh ngân hàng trong khu vực là thách thức chính trong việc mở rộng tín dụng cho DNNVV Trong bối cảnh các ngân hàng cổ phần phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh khốc liệt, ngân hàng buộc phải đổi mới phương pháp tiếp cận và thu hút khách hàng Khi hệ thống ngân hàng mở cửa sau thời kỳ bao cấp, doanh nghiệp đã có nhiều lựa chọn hơn, với các ngân hàng cung cấp dịch vụ chất lượng cao và lãi suất cạnh tranh Để mở rộng cho vay hiệu quả, ngân hàng cần chủ động tiếp cận doanh nghiệp, mang đến sự thuận tiện, nhanh chóng, chi phí thấp và tiện lợi trong các dịch vụ ngân hàng.

Những năm gần đây lượng khách hàng là DNNVV của chi nhánh tuy đã có sự tăng trưởng nhanh chóng nhưng chưa tương xứng với tiềm năng

Chi nhánh hiện thiếu phòng Marketing và bộ phận chuyên trách, các hoạt động Marketing chủ yếu được thực hiện bởi phòng kế hoạch nguồn vốn, tuy nhiên do khối lượng công việc lớn và cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm nên hiệu quả còn hạn chế Nhiều khách hàng chưa nhận thức rõ về các tiện ích, sản phẩm dịch vụ cũng như thủ tục vay vốn tại chi nhánh, làm cản trở quá trình mở rộng thị trường Để thúc đẩy hoạt động cho vay, chi nhánh cần tăng cường hoạt động Marketing, chủ động liên hệ và tìm kiếm khách hàng doanh nghiệp, xác định rõ đối tượng cho vay nhằm thu thập thông tin đầy đủ, chính xác, qua đó nâng cao hiệu quả công tác thẩm định Một chiến lược Marketing hiệu quả sẽ giúp chi nhánh giữ chân khách hàng truyền thống, mở rộng các hình thức cho vay, tăng doanh số và giảm chi phí thẩm định, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

Để mở rộng hoạt động quảng cáo hiệu quả, cần sử dụng đa dạng hình thức như panô, áp phích, phát tờ rơi và các chương trình khuyến mãi để thu hút sự chú ý của khách hàng Sự hài lòng của khách hàng hiện tại chính là yếu tố then chốt, giúp chi nhánh thu hút thêm nhiều khách hàng mới Việc đầu tư vào nhiều phương tiện thông tin đại chúng sẽ tăng cường hiệu quả truyền thông và nâng cao nhận thức thương hiệu.

2.3.3 Đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công nghệ vào ngân hàng

Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã triển khai chương trình hiện đại hóa với việc trang bị máy móc thiết bị hiện đại như máy vi tính, máy fax, và thiết lập mạng nội bộ (LAN) nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khách hàng Mặc dù đã kết nối Internet, chi nhánh vẫn chưa có website riêng để mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng trực tuyến Tuy nhiên, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác dữ liệu qua mạng của cán bộ vẫn còn hạn chế, cần được đào tạo và phát triển thêm để tối ưu hóa hoạt động ngân hàng.

Trong thời gian tới, cần xây dựng website riêng để quảng bá hình ảnh của chi nhánh, thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp và khách hàng Website sẽ cung cấp kịp thời thông tin về sản phẩm, lãi suất, các chương trình khuyến mãi và tiện ích nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng Ngoài ra, website còn hướng dẫn thủ tục, điều kiện liên quan đến các dịch vụ, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ của chi nhánh một cách thuận tiện và hiệu quả.

Ngân hàng hiện nay cung cấp các dịch vụ và nghiệp vụ ngân hàng đa dạng qua website giúp khách hàng dễ dàng vay vốn, kiểm tra tài khoản và cập nhật thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận chi nhánh và xây dựng quan hệ tín dụng Việc tổ chức các chương trình đào tạo ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ là cần thiết nhằm nâng cao khả năng khai thác thông tin trên mạng về kinh tế xã hội, doanh nghiệp, phục vụ hoạt động ngân hàng Nhiều doanh nghiệp có trang web riêng, từ đó ngân hàng có thể khai thác thông tin cần thiết cho hoạt động tín dụng và gửi tài liệu hoặc thư giới thiệu Áp dụng công nghệ giúp rút ngắn thời gian, tăng độ tin cậy trong thẩm định tín dụng, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu khách hàng, đặc biệt với lượng khách hàng lớn đòi hỏi xử lý khối lượng công việc quản trị rủi ro đáng kể Các cán bộ tín dụng hiện gặp khó khăn trong việc thẩm định, thường dựa vào việc điền biểu mẫu và chấm điểm chỉ tiêu, sau đó đối chiếu để xác định nhóm tín dụng, tuy nhiên quy trình này mất nhiều thời gian và dễ xảy ra sai sót hoặc chủ quan Trên thế giới đã ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp tự động hóa trong phân loại tín dụng, mang lại lợi ích nhanh chóng, chi phí thấp và giảm thiểu rủi ro sai sót hoặc thiên vị cá nhân Các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã áp dụng thành công hệ thống xếp hạng tự động, giúp loại bỏ tối đa những rủi ro do sai sót của cán bộ thẩm định, từ đó nâng cao hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

Hệ thống cung cấp 4 cấp thông tin theo mẫu định sẵn dành cho nhân viên tín dụng, dựa trên các tiêu chí đánh giá đã được chọn lọc từ dữ liệu khách hàng trong quá khứ Phần mềm tự động phân loại khách hàng vào nhóm phù hợp nhất và chính xác nhất, giúp nâng cao độ chính xác trong quá trình đánh giá Kết quả xếp hạng được trả về trực tiếp cho khách hàng và là cơ sở quyết định của ngân hàng về việc chấp thuận hay từ chối vay vốn, dựa trên các hạn mức vay và lãi suất đề xuất.

2.3.4 Nâng cao chất lượng thẩm định và giám sát sử dụng vốn vay của DNNVV

Việc mở rộng cho vay DNNVV phải tuân theo các nguyên tắc chặt chẽ để đảm bảo an toàn và hiệu quả Phân tích tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng một khoản vay tốt, trong đó ngân hàng cần thực hiện thẩm định kỹ lưỡng dựa trên các thông tin về năng lực sử dụng vốn, khả năng tạo lợi nhuận của khách hàng, cũng như quyền đối với tài sản và thu nhập trong trường hợp có vấn đề về khoản vay Phòng tín dụng chịu trách nhiệm thu thập và xử lý dữ liệu liên quan để đánh giá chính xác khả năng thu hồi vốn nhanh chóng, giảm thiểu rủi ro và chi phí.

Phương pháp thu thập thông tin bao gồm phỏng vấn trực tiếp, thăm quan đơn vị vay vốn, và tìm kiếm thông tin qua trung gian hoặc các báo cáo tài chính như báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán Các số liệu này giúp ngân hàng dự đoán chính xác tình hình của khách hàng trong tương lai gần, từ đó ước tính nhu cầu vốn, đánh giá khả năng sinh lời và khả năng trả nợ, cũng như khả năng chịu thiệt hại khi khách hàng không trả nợ Quá trình phân tích bao gồm đánh giá tài sản của khách hàng như ngân quỹ, chứng từ có giá, hàng hóa trong kho, các khoản nợ và phân tích các luồng tiền, góp phần vào việc thẩm định dự án một cách bài bản và chính xác Thẩm định dự án là bước rất quan trọng, phức tạp và đòi hỏi sự chuẩn xác cao để đảm bảo quyết định tài chính chính xác và hiệu quả.

Nguyễn Chí Thành cho rằng thông tin về tình hình doanh nghiệp không đầy đủ hoặc không chính xác, gây khó khăn cho công tác tín dụng Thẩm định trước khi giải ngân là bước quan trọng, nhưng giám sát sau giải ngân mới là điều kiện quyết định về việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả Kiểm soát tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc phát hiện các khoản vay có vấn đề, đảm bảo các cán bộ tín dụng tuân thủ chính sách của ngân hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt các thay đổi bất lợi trong hoạt động của khách hàng Quá trình này còn giúp ngân hàng thu thập thêm thông tin, đánh giá chất lượng tín dụng, từ đó có các biện pháp xử lý kịp thời như yêu cầu bổ sung tài sản thế chấp hoặc giảm hạn mức vay Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có hoạt động không ổn định, dễ bị ảnh hưởng bởi biến động kinh tế, thường có rủi ro cao hơn các doanh nghiệp lớn, nhưng lại là thị trường tiềm năng không thể bỏ qua trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt Để giám sát hiệu quả các doanh nghiệp này, ngân hàng cần xây dựng hệ thống thông tin chính xác và đầy đủ, dựa trên nguồn dữ liệu trực tiếp từ doanh nghiệp, trao đổi với hội sở chính, hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội, hoặc thông tin sơ cấp từ cán bộ khảo sát thực địa.

Cần nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong việc thẩm định và giám sát các doanh nghiệp khi cho vay để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho ngân hàng Việc tổ chức các lớp đào tạo nhằm nâng cao trình độ thẩm định tín dụng cho các cán bộ trẻ là yếu tố then chốt, giúp họ có kiến thức vững vàng và xử lý các tình huống khó khăn một cách chuyên nghiệp Ngoài ra, cần kết hợp đào tạo lý thuyết với thực hành thực tế, tạo điều kiện cho cán bộ tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng lực trong quá trình đánh giá rủi ro và quyết định vay vốn.

Một số kiến nghị

2.4.1 Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về doanh nghiệp là yếu tố then chốt để nâng cao tính ổn định và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư Hệ thống pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện, vì nhiều luật, pháp lệnh hiện tại còn nhiều điểm chưa rõ ràng và thiếu đồng bộ Điều này dẫn đến chính sách chưa ổn định, gây tâm lý bất an cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư Việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và thống nhất sẽ thúc đẩy môi trường kinh doanh phát triển bền vững, thu hút đầu tư hiệu quả hơn.

Hệ thống pháp luật cần đảm bảo tính đồng bộ để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, nhưng thực tế các quy định về sử dụng đất, huy động vốn, lao động và thuế vẫn còn bất cập Các quy định không đồng bộ, không còn phù hợp khiến luật doanh nghiệp bị hạn chế hiệu lực và gây ra nhiều vướng mắc cho DNNVV sau đăng ký kinh doanh Việc thường xuyên lắng nghe ý kiến doanh nghiệp và thúc đẩy đối thoại giữa doanh nghiệp và chính phủ là cần thiết để xác định các hạn chế, đề xuất các cải cách phù hợp, qua đó hoàn thiện hệ thống pháp luật và loại bỏ các bất cập, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Cần kiểm tra và rà soát lại các văn bản pháp quy của các bộ ngành, địa phương liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để loại bỏ, bổ sung hoặc sửa đổi những nội dung không còn phù hợp Xây dựng các văn bản mới phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế và chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển Các cơ quan ban hành văn bản cần sửa đổi hoặc huỷ bỏ nội dung trái pháp luật, đồng thời xử lý nghiêm những người có trách nhiệm ký duyệt hoặc tham mưu cho các sai phạm đó theo thẩm quyền Ngoài ra, cần có văn bản hướng dẫn rõ ràng cho doanh nghiệp về những thay đổi trong các văn bản mới để đảm bảo thực thi hiệu quả.

Để hỗ trợ DNVVN phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, việc đồng bộ các chương trình trợ giúp là điều tối quan trọng Việc tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi chỉ là bước đầu, cần phải thực hiện các biện pháp hỗ trợ đa dạng từ phía nhà nước để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhà nước cần thiết lập các chính sách hỗ trợ toàn diện nhằm giúp DNVVN vượt qua khó khăn và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Thứ nhất:Nhanh chóng thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại các địa phương:

Theo quy định của Luật các tổ chức Tín dụng, các doanh nghiệp cá nhân vay vốn bắt buộc phải có tài sản thế chấp DNNVV thường gặp khó khăn trong việc vay vốn do thiếu tài sản thế chấp, trong khi các DNNN có điều kiện thuận lợi hơn trong việc vay vốn mà không cần thế chấp Quỹ bảo lãnh tín dụng (BLTD) được thành lập nhằm hỗ trợ DNNVV khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn tổ chức tín dụng Vốn điều lệ của quỹ là 30 tỷ đồng, và theo Nghị định 90/2001/CP, các địa phương được khuyến khích thành lập BLTD để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên, sau 5 năm kể từ khi Nghị định này ban hành, chỉ có 8 địa phương đã thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng.

Nguyên nhân chính gây chậm trễ là do nhiều tỉnh vẫn còn hạn chế về nguồn ngân sách hoặc không đủ vốn điều lệ để thành lập quỹ Bên cạnh đó, các quy định pháp lý liên quan vẫn còn mơ hồ và chưa rõ ràng, đặc biệt về trách nhiệm và quyền hạn trong quá trình thực hiện dự án Điều này khiến cho quá trình triển khai gặp nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng và hoạt động của các quỹ tại các địa phương Để thúc đẩy tiến độ, cần có sự rõ ràng hơn trong các quy định pháp lý và bổ sung nguồn vốn phù hợp cho các tỉnh.

Nguyễn Chí Thành nhấn mạnh rằng quyền lợi của tổ chức tham gia góp vốn còn gặp nhiều hạn chế do quy chế điều hành phức tạp và không khả thi Quy trình xin bảo lãnh còn chưa thuận tiện, trong khi các đối tượng, tỷ lệ và chi phí bảo lãnh chưa được phân loại rõ ràng, gây ra khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục liên quan.

Để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống bảo lãnh nhằm hỗ trợ các DNNVV tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng một cách dễ dàng và an toàn Việc xóa bỏ phân biệt đối xử giữa DNNN và DNNVV về yêu cầu cần thế chấp giúp các doanh nghiệp nhỏ có cơ hội huy động vốn từ nhiều loại tài sản khác nhau Mở rộng điều kiện thế chấp cho phép các DNNVV huy động mọi tài sản và khoản phải thu chắc chắn, qua đó tăng khả năng vay vốn của doanh nghiệp và giúp ngân hàng tăng trưởng tín dụng một cách bền vững Nhờ đó, hệ thống tài chính sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn diện và bền vững.

Thứ hai : Thành lập quỹ đầu tư vốn vào DNNVV:

Chính sách hỗ trợ DNNVV sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi được thúc đẩy thông qua các giải pháp tài chính, trong đó thành lập quỹ đầu tư vốn của nhà nước là một phương án chủ đạo Nhà nước có thể góp vốn vào các DNNVV triển vọng, hoạt động trong các lĩnh vực chiến lược bằng cách mua cổ phần, giúp các doanh nghiệp này phát triển bền vững Các dự án hợp tác giữa nhà nước và DNNVV, được lập kế hoạch, tài trợ và thực hiện chung với mục tiêu tối đa hóa lợi ích quốc gia và doanh nghiệp, sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, công nghệ cao và mở rộng thị trường Đồng thời, các chính sách này còn góp phần giới thiệu công nghệ mới, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế bền vững Nhà nước cần có quy hoạch rõ ràng và định hướng phát triển DNNVV phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, công nghệ cao, nhằm thúc đẩy sự phát triển cân đối và bền vững của nền kinh tế.

Thị trường vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện còn rất thiếu hụt tại Việt Nam, gây khó khăn trong việc phát triển của các doanh nghiệp này Việc hỗ trợ tài chính thông qua các nguồn quỹ, có thể từ ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc các tổ chức tài trợ trong và ngoài nước, là một giải pháp hiệu quả để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn Đây cũng là cách giúp nhà nước quản lý và kiểm soát tốt hơn hoạt động của DNNVV, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thứ ba: Kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh

Hiện vẫn còn nhiều vướng mắc giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh, gây ra các bất cập trong hệ thống DNNVV Nhiều doanh nghiệp mới thành lập nhưng công tác quản lý chưa hiệu quả, do nhận thức chưa đầy đủ về quyền hạn và trách nhiệm quản lý sau đăng ký kinh doanh Một số ý kiến cho rằng quản lý này thuộc về sở kế hoạch đầu tư các tỉnh thành, dẫn đến việc xử lý vi phạm doanh nghiệp bị trì hoãn hoặc không kịp thời Cơ quan đăng ký kinh doanh từ trung ương đến cấp tỉnh huyện thiếu nhân lực và khả năng kết nối mạng lưới thông tin rộng rãi trong cả nước, khiến việc chia sẻ dữ liệu gặp nhiều khó khăn Việc tích hợp hệ thống thông tin giữa các cơ quan như thuế, hải quan, ngân hàng, công an, toà án còn chưa thực hiện triệt để, gây ra các tranh chấp không đáng có do chưa phân biệt rõ ràng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy đăng ký kinh doanh về mặt pháp lý Ngoài ra, quy trình rút giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp không hoạt động, đăng ký không đúng nội dung vẫn còn nhiều khó khăn, thủ tục kéo dài, làm hạn chế khả năng giám sát và nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký.

Nhiều doanh nghiệp hoạt động không minh bạch, các báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo tài chính thiếu rõ ràng gây mất lòng tin từ các tổ chức tín dụng, khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay ngân hàng Quản lý doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và tin cậy Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý doanh nghiệp giúp cải thiện quy trình và tăng tính chính xác của dữ liệu Ngoài ra, cần có quy định rõ ràng về trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý doanh nghiệp, đảm bảo những người có thẩm quyền chịu trách nhiệm khi xảy ra vi phạm ở từng khâu cụ thể.

2.4.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính Việt Nam với vai trò vừa là ngân hàng của các ngân hàng vừa là cơ quan chức năng quản lý hệ thống ngân hàng thương mại Ngân hàng Nhà nước cũng có trách nhiệm ban hành các văn bản nội quy, quy chế nhằm điều hành hoạt động của các ngân hàng thương mại Với vai trò này, Ngân hàng Nhà nước vừa là cấp trên, vừa là bạn hàng của các ngân hàng thương mại, giúp đảm bảo sự ổn định và phát triển của ngành ngân hàng Để thúc đẩy hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), Ngân hàng Nhà nước cần mở rộng các chương trình hỗ trợ, cải thiện chính sách tín dụng và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

Chúng tôi chủ động ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm hỗ trợ và phối hợp hiệu quả với các ngân hàng trong việc thực hiện quy trình cho vay Đặc biệt, chú trọng đến quy trình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp này Các hướng dẫn này giúp đảm bảo quá trình vay vốn diễn ra thuận lợi, minh bạch, phù hợp với các quy định hiện hành, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng bền vững của DNNVV.

Để thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng, cần nâng cao hiệu quả thị trường liên ngân hàng, hiệp hội ngân hàng và trung tâm thông tin tín dụng Điều này giúp cải thiện khả năng nắm bắt thông tin về khách hàng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng các nghiệp vụ trên thị trường.

Ngày đăng: 04/08/2023, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả huy động vốn - Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh 1.Docx
Bảng 1 Kết quả huy động vốn (Trang 11)
Bảng 2: Kết quả hoạt động tín dụng năm 2006 - Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh 1.Docx
Bảng 2 Kết quả hoạt động tín dụng năm 2006 (Trang 13)
Bảng 7: Dư nợ của các DNNVV - Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh 1.Docx
Bảng 7 Dư nợ của các DNNVV (Trang 22)
Bảng 8: Dư nợ các loại hình DNNVV - Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh 1.Docx
Bảng 8 Dư nợ các loại hình DNNVV (Trang 23)
Bảng 9: Dư nợ các loại hình DNNVV theo kỳ hạn - Giải Pháp Mở Rộng Cho Vay Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Đông Anh 1.Docx
Bảng 9 Dư nợ các loại hình DNNVV theo kỳ hạn (Trang 24)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w