1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau

90 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng một số hình thức, kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
Tác giả Nguyễn Thị Hương, Thái Văn Phú, Lê Thị Thanh Hòa
Trường học Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022 - 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 6,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI VẬN DỤNG MỘT SỐ HÌNH THỨC, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO DẠY HỌC PHẦN NÓI VÀ NGHE – THẢO LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG L

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI

VẬN DỤNG MỘT SỐ HÌNH THỨC, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO DẠY HỌC PHẦN NÓI VÀ NGHE – THẢO LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH (BÀI 3, BÀI 6 TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, THPT, SÁCH

KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG)

Trang 3

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

7

Chương trình môn Ngữ Văn lớp 10 của Chương trình GDPT

2018

10

Trang 5

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghị quyết 29 ngày 4/11/2013 của BCH Trung ương Đảng (khóa XI) đã xác định rõ mục tiêu của giáo dục phổ thông: “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục

lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Trong xu thế đổi mới căn bản, toàn diện của giáo dục phổ thông, Ngữ văn là môn học có tính đặc thù và có ưu thế trong việc phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

1.2 Chương trình GDPT 2018 đối với lớp 10 đã chính thức được thực hiện từ năm học 2022 – 2023 Chương trình GDPT nói chung mà môn Ngữ văn nói riêng đều hướng đến mục tiêu là bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực của học sinh Thông qua các hoạt động được tổ chức trong mỗi bài học trong môn Ngữ văn, học sinh được phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và các năng lực chung khác như năng lực

tự chủ và tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; cùng với đó những phẩm chất quan trọng của học sinh cũng được bồi dưỡng thêm Bên cạnh các hoạt động của một bài dạy Ngữ văn là đọc – viết thì nói – nghe đóng một vai trò rất quan trọng vào việc phát triển năng lực và bồi dưỡng phẩm chất cho học sinh THPT 1.3 Hoạt động nói – nghe tập trung vào việc thuyết trình, thảo luận, lắng nghe và phản hồi về một nội dung xác định dựa trên kết quả bài viết, nội dung bài đọc hoặc những vấn đề khác SGK Ngữ văn 10 đã thiết kế các hoạt động nói và nghe theo một quy trình rất chặt chẽ Sách yêu cầu học sinh phải xác định mục đích nói – nghe, tuân thủ các bước như chuẩn bị, thực hành nói – nghe, đánh giá phản hồi Việc được luyện tập từ ghế nhà trường ở hoạt động nói nghe sẽ giúp học sinh tự tin, chủ động trình bày suy nghĩ của mình; giúp các em biết lắng nghe, biết phán đoán và có những phản ứng nhanh nhạy trước ý kiến của người khác, trước những vấn đề khác của cuộc sống sau

Trang 6

1.5 Đứng trước một vấn đề, nhất là các vấn đề xã hội, sẽ nảy sinh nhiều quan điểm, nhiều góc nhìn khác nhau Những quan điểm đó phản ánh nhân sinh quan, trí tuệ, nhân cách của người nói Việc tôn trọng góc nhìn của người khác là vô cùng quan trọng Bởi thế, phải làm thế nào để có thể tranh luận, trao đổi một cách văn minh, lịch

sự mà vẫn thể hiện được góc nhìn riêng, quan điểm riêng của mình không phải là điều

dễ dàng đối với học sinh Khi bị tâm lí lứa tuổi, khi bị nhận thức chưa đầy đủ chi phối khiến cho các cuộc thảo luận trở nên căng thẳng, nhiều học sinh đã bị tổn thương trong những lần như thế Bởi vậy, việc giúp cho học sinh có được một góc nhìn khác nhau,

có được một kĩ năng tranh luận phù hợp là một yêu cầu rất quan trọng đối với nội dung phần nói và nghe ở bài 3, bài 6: thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau 1.6 Trước những vấn đề đó, việc tổ chức cho học sinh trao đổi trong một giờ dạy đòi hỏi người giáo viên phải thực sự bản lĩnh, phải vận dụng nhiều hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực, phải là người trọng tài vững vàng cho các cuộc tranh luận, từ đó hướng học sinh đến một cái nhìn đúng đắn về các vấn đề Làm được điều đó thì giờ học nói – nghe sẽ trở nên hấp dẫn, hữu ích với học sinh Quan trọng là hình thành cho học sinh kĩ năng nói, kĩ năng nghe, giúp học sinh tích lũy được nhiều kinh nghiệm, kĩ năng khi rời ghế nhà trường

Xuất phát từ những thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe - thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau nhằm phát triển năng lực học sinh (Bài 3, bài 6 trong Chương trình Ngữ Văn 10 THPT, Sách Kết nối tri thức với cuộc sống) Với

đề tài này, chúng tôi đề xuất một số hình thức, kĩ thuật để dạy học phần nói – nghe ở bài 3 và bài 6 một cách hiệu quả Không chỉ làm cho học sinh có hứng thú, có động lực với hoạt động nói - nghe mà quan trọng hơn là học sinh có được nhận thức đúng đắn, sâu sắc về các vấn đề xã hội; hình thành góc nhìn đa chiều, tôn trọng các góc nhìn đa

Trang 7

chiều về các vấn đề của đời sống Hơn nữa, còn là việc hình thành cho học sinh kĩ năng nói – nghe ở bất cứ tình huống nào, môi trường nào Đó cũng chính là mục tiêu của Chương trình GDPT 2018

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đã có một số đề tài nghiên cứu về các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh của học sinh ở Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn mang tính lẻ tẻ, thiếu tính hệ thống Mỗi đề tài mới chỉ dừng ở việc chú ý đến một năng lực cụ thể thông qua dạy học hoặc sử dụng nội dung

Trong Chương trình GDPT môn Ngữ Văn 2018 được ban hành kèm theo kèm theo thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chi tiết hóa về yêu cầu cần đạt của năng lực ngôn ngữ đối với cấp THPT:

“Biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm trái ngược nhau; có thái độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe thuyết trình và đánh giá được nội dung và hình thức biểu đạt của bài thuyết trình; có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận; trình bày vấn đề khoa học một cách tự tin, có sức thuyết phục Nói và nghe linh hoạt; nắm được phương pháp, quy trình tiến hành một cuộc tranh luận” Trong yêu cầu cần đạt về phần Nói – nghe của lớp 10 cung ghi rất rõ các nội dung cụ thể

Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên sử dụng SGK Ngữ văn 10” với bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống của nhóm tác giả Phan Huy Dũng, Bùi Mạnh Hùng và Nguyễn Thị Ngọc Minh viết, các tác giả có đề cập đến một số nguyên tắc khi tổ chức dạy học hoạt động Nói – nghe Tuy nhiên, đó mới chỉ là những hướng dẫn ban đầu, chưa có những định hướng về hình thức, kĩ thuật dạy học

Trong bài viết “Dạy nói và nghe” đăng trên báo điện tử:

https://www.giaoduc.edu.vn, ngày 11/4/2023, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống cũng đã chia

sẻ tiến trình triển khai giờ dạy nói - nghe với những hoạt động cụ thể và những yêu cầu đặt ra cho nội dung dạy học này

Tuy vậy, qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng: Những bộ tài liệu, những văn bản hướng dẫn chỉ là những căn cứ, những công cụ có tính chất nền tảng

Trang 8

8

còn việc việc thực hiện hiệu quả đến đâu là phụ thuộc vào nhân tố con người, vào thực

tế của từng cơ sở giáo dục, vào những điều kiện chủ quan và khách quan khác Chính

vì vậy, khi lựa chọn nghiên cứu đề tài chúng tôi mong muốn góp một kinh nghiệm nhỏ trong việc vận dụng các kĩ thuật dạy học vào việc dạy Nói – nghe nhằm đạt được một kết quả tốt nhất, phát huy được năng lực và phẩm chất của học sinh Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn ở trường phổ thông nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung, đáp ứng yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tài liệu khảo sát 3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe - thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau nhằm phát triển năng lực học sinh (Bài 3, bài 6 trong Chương trình Ngữ Văn 10 THPT, Sách Kết nối tri thức với cuộc sống)

3.2 Phạm vi tài liệu khảo sát: Phần nói và nghe - Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau (Bài 3, bài 6 trong Chương trình Ngữ Văn 10 THPT, sách Kết nối tri thức với cuộc sống)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài: vấn đề phát triển năng lực học sinh, tính cấp thiết của việc đổi mới phương pháp, vai trò của các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực, yêu cầu của hoạt động nói nghe

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

- Vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe - thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả các

đề xuất

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phối hợp 2 nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn Bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và tổng hợp lý thuyết, phương pháp quan sát và điều tra, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thực nghiệm

6 Đóng góp của SKKN

- Về mặt lí luận, góp phần làm rõ khái niệm phát triển năng lực của học sinh, yêu cầu của quá trình dạy nói – nghe trong môn Ngữ văn, các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng vào trong quá trình dạy nói – nghe để phát triển được năng lực học sinh cũng như những yêu cầu cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông

Trang 9

- Về mặt thực tiễn, đề tài bước đầu đề xuất một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực để dạy phần nói nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau nhằm phát triển năng lực học sinh, nâng cao hiệu quả của giờ dạy; góp phần đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học môn Ngữ văn Đây cũng là những thay đổi cần thiết để thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông 2018 một cách hiệu quả

7 Cấu trúc SKKN Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của sáng kiến được triển khai trong 3 chương:

Chương 2: Vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe - thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau nhằm phát triển năng lực học sinh

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số vấn đề về năng lực và phát triển năng lực

* Khái niệm năng lực:

Năng lực là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” (Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998)

Các nhà giáo dục học cũng nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực:

- Theo Tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới) quan niệm: Năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” Định nghĩa này nêu được đặc trưng quan trọng nhất để nhận diện năng lực là “hiệu quả”, nhưng chưa làm rõ được cấu trúc và “địa chỉ” tồn tại của năng lực

- Theo F E Weinert, năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh

và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp.” Định nghĩa này cũng nói tới sự đóng góp của những yếu tố “sẵn có” ở mỗi cá nhân vào việc phát triển năng lực của bản thân

Trang 10

10

- Theo Denyse Tremblay, năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến

bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.”

Dựa vào các kết quả nghiên cứu nói trên, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 giải thích khái niệm năng lực như sau: năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

* Đặc điểm của năng lực: Từ nội hàm của khái niệm đó, có thể chỉ ra những đặc điểm của năng lực là: Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học; năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn

* Những năng lực cần thiết phải hình thành cho học sinh THPT: Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 xác định hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:

- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

- Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh

* Năng lực môn Ngữ văn:

Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp HS có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn;

có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế

Với tư cách là một môn học công cụ và do đặc trưng của mình, môn Ngữ Văn có điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển một số năng lực chung như năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực thẩm mĩ

và một số năng lực đặc thù

Trang 11

Dạy môn Ngữ Văn cấp THPT phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau về năng lực trong môn Ngữ văn:

- Năng lực ngôn ngữ:

+ Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn + Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản

+ Viết được văn bản nghị luận và văn bản thông tin có đề tài tương đối phức tạp + Biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm trái ngược nhau; có thái

độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe và đánh giá được nội dung

và hình thức của bài thuyết trình; có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận…

- Năng lực văn học:

+ Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học Nhận biết được đặc trưng của hình tượng văn học; phân tích và đánh giá được nội dung tư tưởng và cách thể hiện nội dung tư tưởng trong một văn bản văn học…

+ Nêu được những nét tổng quát về lịch sử văn họsc dân tộc và vận dụng vào việc đọc tác phẩm văn học

+ Tạo lập được một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc

và ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ

1.1.2 Vai trò của các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực Các phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại hay còn cách gọi khác hơn là các phương pháp dạy học tích cực đã trở thành một cách thức không thể thiếu trong quá trình dạy học hiện nay Việc áp dụng các phương pháp này để tổ chức các hoạt động học tập đã đem lại những hiệu quả thiết thực đối với cả người dạy, người học

Lợi ích đối với người dạy: Khi áp dụng các PPDH tích cực, giờ giảng của mỗi giáo viên trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động Người học là trung tâm nhưng vai trò, uy tín của người thầy được đề cao hơn bởi học sinh sẽ nhận thấy rõ năng lực, tâm huyết, trách nhiệm của người giáo viên thể hiện qua mỗi tiết dạy Đồng thời, muốn tổ chức được giờ dạy theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi người thầy phải dày công tìm tòi,

Trang 12

12

suy ngẫm, học hỏi để có thể áp dụng những điều tốt nhất nhằm hướng dẫn cho học trò chiếm lĩnh tri thức, chính vì thế mà HS sẽ tôn trọng GV hơn Hơn nữa, dạy học theo quá trình tương tác sẽ nảy sinh rất nhiều tình huống mới Chính điều đó sẽ góp phần rèn giũa thêm bản lĩnh của người GV

Lợi ích đối với người học: Dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, HS sẽ được chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm không chỉ từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp HS sẽ thực sự được học, được sáng tạo, được khám phá tiềm năng, được thể hiện, được làm Nhờ học theo hướng tích cực mà HS ghi nhớ sâu kiến thức sâu hơn, quan trọng hơn là tăng khả năng áp dụng vào thực tiễn cuộc sống một cách chủ động Cũng nhờ đó người học có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phải dần có được những phẩm chất và năng lực thích nghi với PPDH tích cực như: giác ngộ mục tiêu học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về việc học và hình thành phương pháp tự học Mối quan hệ giữa người dạy và người học: Nếu với cách dạy học truyền thống, nghiêng về đọc - chép, GV là người rót kiến thức vào đầu HS và người dạy đóng vai trò trung tâm, quyền “phán xử” thuộc về người thầy hoàn toàn Tuy nhiên, khi áp dụng PPDH chủ động, người học giữ vai trò trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn, giúp đỡ Người học chủ động tìm kiếm tri thức và có thể thu nhận kiến thức không chỉ từ thầy mà còn từ rất nhiều nguồn khác nhau Và do đó, sự tương tác giữa thầy – trò trở nên cởi mở hơn, HS chủ động, tích cực, sáng tạo hơn, tư duy duy độc lập, tư duy phản biện của học sinh được phát triển Cũng nhờ đó năng lực, bản lĩnh của người

GV được thể hiện, tôi rèn

1.1.3 Cấu trúc của bài dạy Ngữ văn trong Chương trình GDPT 2018 Trong Chương trình Ngữ văn 10, các bài học đều có cấu trúc thống nhất Trong mỗi bài, các hoạt động đọc, viết, nói – nghe được thiết kế liền mạch và có kết nối với nhau chặt chẽ Từ việc đọc hiểu theo đặc trưng thể loại văn bản, HS sẽ thực hiện hoạt động viết theo các kiểu bài có mối liên hệ nhất định với thể loại văn bản được học Hoạt động nói và nghe được tổ chức trên cơ sở của hoạt động đọc hoặc viết Như vậy, SGK Ngữ văn 10 được thiết kế theo hướng lấy hoạt động đọc làm cơ sở, cung cấp chất liệu, làm thành “đầu vào” cho các hoạt động viết, nói và nghe

Mạch nội dung chính của mỗi bài học được thiết kế dựa vào các hoạt động giao tiếp: đọc, viết, nói và nghe.; bám sát yêu cầu cần đạt theo quy định của Chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn:

+ Đọc: trung bình mỗi bài sẽ có 3 văn bản đọc hiểu, đáp ứng định hướng đọc hiểu theo thể loại, được thể hiện ở tên của bài học Với mỗi văn bản, được thiết kế một

Trang 13

hệ thống yêu cầu trước, trong và sau khi đọc Sau mỗi văn bản có phần kết nối đọc – viết

+ Thực hành tiếng Việt: được đặt sau văn bản cuối cùng của phần Đọc Ngữ liệu

để thực hành chủ yếu được lấy từ các văn bản đọc hiểu trong cùng bài học nhằm giúp

HS vận dụng kiến thức về tiếng Việt để đọc hiểu văn bản Mục đích cuối cùng là để

HS viết, nói và nghe được tốt hơn

+ Viết: Tìm hiểu yêu cầu của mỗi kiểu bài, phân tích bài viết tham khảo và thực hành viết theo các bước

+ Nói và nghe: Thực hành để phát triển kĩ năng thuyết trình, thảo luận; chú ý tăng cường kì năng tương tác giữa người nói và người nghe

Cuối mỗi bài sẽ có các phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc

Như vậy, có thể thấy các bài học trong SGK Ngữ văn 10 đều thể hiện sự đổi mới rõ nét trong thiết kế theo mô hình SGK phát triển phẩm chất và năng lực

1.1.4 Yêu cầu cần đạt của phần Nói – nghe trong Chương trình Ngữ văn 10 THPT

Từ mục tiêu và yêu cầu chung của bộ môn Ngữ văn, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được ban hành kèm theo thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng

12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định rất rõ về yêu cầu cần đạt của phần nói – nghe đối với học sinh lớp 10 THPT Nội dung cụ thể như sau:

* Nghe:

– Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói Biết nhận xét

về nội dung và hình thức thuyết trình

*Nói nghe tương tác:

– Biết thảo luận về một vấn đề có những ý kiến khác nhau; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo vệ hay bác bỏ một ý kiến nào đó; tôn trọng người đối thoại

1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Nội dung phần Nói – nghe trong Chương trình Ngữ văn 10 THPT

Trang 14

14

SGK Ngữ văn 10 THPT nội dung phần nói - nghe được xây dựng như sau:

- Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện (Bài 1)

- Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ (Bài 2)

- Thảo luận về một vấn đề đời sống hay một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau (Bài 3, Bài 6)

- Thảo luận về một vấn đề văn học có ý kiến khác nhau (Bài 7)

- Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề (Bài 4, Bài 5)

- Thảo luận về văn bản nội quy hoặc văn bản hướng dẫn nơi công cộng (Bài 8)

- Thuyết trình về một vấn đề xã hội có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ (Bài 9)

1.2.2 Thực trạng của việc dạy Nói – nghe tại trường THPT Trong khuôn khổ của đề tài, để có những cơ sở cho việc triển khai các biện pháp, chúng tôi chỉ khảo sát thực trạng của việc dạy Nói – nghe và việc vận dụng các hình thức, kĩ thuật dạy nói nghe tại trường Phổ thông khi thực hiện chương trình lớp 10 Để

từ đó chũng tôi có cơ sở triển khai các giải giáp khi dạy phần Nói – nghe ở bài số 3, Bài số 6 và những bài khác trong Chương trình

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 40 GV dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai (Nội dung phiếu khảo sát được trình bày trong phụ lục 3) và 222 HS ở các lớp tôi và đồng nghiệp giảng dạy (Nội dung phiếu khảo sát được trình bày trong phụ lục 4)

* Nội dung khảo sát

- Tìm hiểu thực trạng dạy học theo định hướng năng lực của GV môn Ngữ văn

- Tìm hiểu việc xây dựng KHBD để hiểu rõ hơn cách tổ chức các hoạt động

- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy, học phần Nói – nghe trong chương trình lớp

10 (tập trung vào việc nhận diện những khó khăn khi tổ chức dạy học và việc vận dụng các hình thức, ki thuật dạy học tích cực)

- Tìm hiểu hứng thú và thái độ học tập của HS đối với các PPDH dạy phần nói – nghe của GV

Từ đó xác định những khó khăn của GV và HS gặp phải để bước đầu đề xuất việc sử dụng các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả phần nói – nghe nhằm phát triển năng lực HS một cách tốt nhất

* Phương pháp khảo sát

Trang 15

Để thực hiện đề tài, bên cạnh việc dùng phiếu khảo sát, chúng tôi còn tiến hành nghiên KHBD, trao đổi trực tiếp với giáo viên; dự giờ dạy một số giáo viên trong trường

* Kết quả khảo sát

- Đối với giáo viên: sau khảo sát 40 GV chúng tôi thu được các số liệu như sau:

1 Mức độ tiếp nhận lí luận về dạy học phát triển

năng lực của thầy cô là: (Câu hỏi có thể đánh nhiều lựa chọn)

- Đã từng nghiên cứu/ đã từng được tập huấn 40/40 100%

- Đã từng vận dụng trong dạy học môn mình phụ trách

- Đã vận dụng và có những thành công nhất định 20/40 50%

2 Mức độ quan tâm của thầy/ cô về việc dạy học phát

triển năng lực trong trường THPT:

dạy học tích cực trong quá trình dạy học hiện nay:

4 Khả năng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực

của thầy/ cô là?

Trang 16

5 Thầy/cô có gặp khó khăn khi tổ chức dạy học phần Nói

– nghe trong Chương trình Ngữ Văn 10?

6 Nếu gặp khó khăn trong quá trình dạy nói – nghe thì đó

là những khó khăn nào? Thầy/ cô hãy vui lòng chia sẻ:

7 Tần suất sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực của thầy

cô khi dạy phần Nói- nghe trong Chương trình ngữ văn 10?

8 Tần suất thầy/cô rèn luyện cho học sinh các kĩ năng thảo

luận nhóm, thuyết trình, phản hồi, sử dụng CNTT, đánh giá và tự đánh giá… như thế nào?

9 Theo thầy/cô, có cần thiết phải sử dụng các hình thức, kĩ

thuật dạy học tích cực khi dạy phần Nói – nghe trong Bài

3, Bài 6 không?

Trang 17

- Không cần thiết 0/40 0%

10 Thầy/ cô đã tổ chức hoạt động đánh giá Phần nói – nghe

của HS ở Bài 1, Bài 2 trong Chương trình lớp 10 như thế nào?

- Đánh giá qua bảng kiểm và quan sát 13/40 32,5% Cùng với quá trình trao đổi, dự giờ của các đồng nghiệp, cộng với kết quả thu được qua khảo sát nói trên, chúng tôi kết luận một số vấn đề như sau về tình hình dạy phần Nói – nghe trong Chương trình Ngữ văn 10 hiện nay như sau:

- Phần lớn GV đều rất quan tâm dến dạy học theo định hướng phát triển năng lực và họ đều cho rằng áp dụng các PPDH tích cực là yêu cầu có tính chất bắt buộc (100% GV được hỏi đều thừa nhận vai trò của các PPDH tích cực) Các GV đã cố gắng tính tích cực hoá hoạt động của HS nhưng chủ yếu được thực hiện khi có hoạt động thao giảng, thi giáo viên giỏi Tuy nhiên, việc thay đổi PPDH ở đây còn mang tính chắp

vá, chưa có sự thay đổi về chất, các phương pháp sử dụng cũng chưa hẳn phù hợp, khiến cho hiệu quả không thực sự cao, HS không thực sự hứng thú

- Tần suất sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực của GV khi dạy phần Nói- nghe trong Chương trình ngữ văn còn khiêm tốn: thường xuyên (12%), thỉnh thoảng (62,5%) Một số GV còn chưa thực sự tự tin và vận dụng linh hoạt, hiệu quả các PPDH tích cực Một số GV đã có nhiều cố gắng để tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát huy được phẩm chất, năng lực HS Như vậy, vận còn hiện tượng nhiều GV chưa thực

sự đổi mới PPDH hoặc việc vận dụng phương pháp của bộ phận GV trong thực tiễn dạy

cần thiết phải sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong phần dạy nói – nghe: rất cần thiết (70%), cần thiết (30%)

- 100 GV khi chúng tôi trao đổi và qua phiếu khảo sát được hỏi đều trả lời rằng đang gặp rất nhiều khó khăn khi tổ chức dạy học phần Noi – nghe Một số khó khăn đa được nêu ra như:

+ Bản thân GV mới bắt đầu thực hiện chương trình 2018 nên chưa hướng dẫn cho HS một cách hệ thống các kĩ năng cần thiết khi nói – nghe

+ Chưa biết cách, chưa tạo được cơ hội cho HS nói trọn vẹn, chưa có quá nhiều

HS được nói

Trang 18

+ GV chưa thực sự thành thạo CNTT, các kĩ thuật dạy học tích cực…

+ Việc chọn đề tài cho HS nói

+ Việc đánh giá đầy đủ phần nói – nghe của HS còn gặp khó khăn

* Đối với học sinh: Qua việc trao đổi, quan sát trực tiếp với HS, qua 8 câu hỏi nhiều

phương pháp, hình thức giảng dạy không?

pháp dạy học mới, các em cảm thấy?

Trang 19

- Thích 89/222 40,1%

Ngữ Văn như thế nào, nhất là với phần Nói – nghe?

- GV sử dụng đa dạng các kĩ thuật dạy học để hướng dẫn HS tương tác, phát biểu, thảo luận, tranh biện…

như: hoạt động nhóm, chủ động phát biểu ý kiến, thực hiện yêu cầu của GV, nêu câu hỏi thắc mắc, chủ động tìm kiếm thông tin liên quan đến bài học… như thế nào?

Trang 20

20

học phần Nói – nghe bằng cách nào?

- GV cần hướng dẫn kĩ, có nhiều cách thức tổ chức hoạt động

Bên cạnh đó, cùng với kết quả khảo sát và qua quá trình theo dõi hoạt động học tập của HS, chúng tôi thấy bên cạnh những HS có ý thức và kĩ năng học tập tốt thì chúng tôi nhận thấy việc tham gia học tập của HS vẫn còn một số tồn tại như: đa số HS rất thụ động, chưa tích cực, tự lực trong quá trình học tập, HS thiếu kĩ năng làm việc theo nhóm, theo tập thể; hứng thú học tập chưa thực sự nhiều…

Đối với phần Nói – nghe thì các em cũng thực sự đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đói với đối tượng học sinh có học lực trung bình, yếu:

+ Các em chưa tự tin + Khả năng tổng hợp vấn đề còn non + Chưa biết cách phối hợp với các yếu tố phi ngôn ngữ + Thiếu tính hợp tác trong quá trình làm việc nhóm + Kiến thức xã hội còn hạn hẹp, nhiều khi còn nhận thức sai + HS nói được và tự tin nói còn rất ít

Trang 21

+ HS chưa biết cách trình bày vấn đề một cách mạch lạc, sinh động, hấp dẫn + Sản phẩm bài nói chưa đa dạng

+ HS thiếu sự nhiệt tình, hứng thú…

Với kết quả khảo sát GV - HS trình bày ở trên có thể thấy việc dạy Nói – nghe đang gặp rất nhiều khó khăn ở cả GV và học sinh Thực tế này đòi hỏi một sự chuyển động mạnh mẽ đến từ cả 2 phía Và những vấn đề đó đã đặt ra cho chúng tôi những băn khoăn, trăn trở để tìm ra một câu trả lời tương đối thỏa đáng cho quá trình dạy Nói – nghe Vì thế mà chúng tôi đã đề xuất sử dụng một cách linh hoạt các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực khi tổ chức dạy học nội dung Nói – nghe Thảo luận về một vấn

đề xã hội có ý kiến khác nhau (Bài 3, Bài 6) trong chương tiếp theo

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG MỘT SỐ HÌNH THỨC, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO DẠY HỌC PHẦN NÓI VÀ NGHE – THẢO LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI

CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

2 1 Đảm bảo những nguyên tắc của việc dạy nói và nghe 2.1.1 Những nguyên tắc chung

* Nguyên tắc 1: Dạy học Nói và nghe theo nguyên tắc giao tiếp

Để HS thực sự có cơ hội trình bày, chia sẻ, trao đổi trong giờ học nói và nghe theo yêu cầu của Chương trình GDPT môn Ngữ văn năm 2018 thì cần chú ý đến các nhân tố:

- Đối tượng giao tiếp: GV cần xác định rõ cho HS những vấn đề, nội dung nói

và nghe cụ thể Những đề tài này phải xuất phát từ chính thực tiễn cuộc sống, liên quan đến trải nghiệm, va chạm của các em Có như thế học sinh mới có hứng thú đồng thời phù hợp với các yêu cầu cần đạt của bài học mà Chương trình đã quy định

- Nhân vật giao tiếp: GV giúp HS xác định vai trò và các hoạt động phù hợp khi tham gia nói (trình bày) hoặc khi nghe (tiếp nhận và phản hồi trong khi nghe người khác trình bày)

- Mục đích giao tiếp: Trong mỗi bài học, HS đều được hướng dẫn để xác định mục đích nói và nghe của mỗi bài Tuy nhiên, từ việc thực hành nói và nghe với những

đề tài xác định thì HS vừa chủ động trình bày vừa rút ra mục đích nói – nghe rõ ràng hơn Chẳng hạn, liên quan đến quá trình chuẩn bị và thực hành nói – nghe của HS, có một số câu hỏi có thể đặt ra như:

Trang 22

- Phương tiện giao tiếp: Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ khi trình bày, trao đổi, tranh luận thì HS sẽ được hướng dẫn để sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, hành động… Bên cạnh đó là sử dụng các phương tiện hỗ trợ như video, tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu, các bài trình chiếu, các phần mềm hỗ trợ học tập…

- Bối cảnh giao tiếp: Bối cảnh giao tiếp chủ yếu là tại lớp học

* Nguyên tắc 2: Dạy học Nói và nghe gắn với Đọc, Viết Khi dạy Nói – nghe GV cần chú ý tính tích hợp, kết nối chặt chẽ với hoạt động Đọc, Viết với hoạt động Nói và nghe trong cách tổ chức bài học SGK Ngữ văn lớp 10 Mối liên hệ này thể hiện trên cả phương diện loại, thể loại văn bản lẫn cả chủ đề, bài học

* Nguyên tắc 3: Tất cả học sinh phải được nói và nghe

- Nhiệm vụ: HS phải biết cách trình bày và nhận phản hồi của bạn Bên cạnh đó phải biết lắng nghe, tóm tắt và phản hồi bài nói của bạn

- Cơ sở của nguyên tắc này chính là: những tri thức nền của kiểu bài kết hợp với kết quả của phần viết hoặc đề xuất một vấn đề mới Ngoài, với hoạt động Nói – nghe phải dùng đến bảng kiểm Bảng kiểm GV có thể lấy ở SGK hoặc người dạy có thể tự thiết kế, biến tấu thành tiêu chí đánh giá bằng điểm cho học sinh dễ theo dõi s

* Nguyên tắc 4: Áp dụng một cách linh hoạt các chiến lược nói – nghe Quá trình nói – nghe có thể áp dụng nhiều chiến lược khác nhau

- Với hoạt động nói, có thể áp dụng nhiều chiến lược nói như:

+ Phát biểu + Mô tả lại vấn đề + Thuyết trình + Tranh luận, tranh biện + Thảo luận

+ Tạo lời thoại trong kịch

- Với hoạt động nghe, thể áp dụng nhiều chiến lược như:

+ Nghe và phản hồi thông tin dự đoán

Trang 23

+ Nghe và sửa lỗi sai + Nghe và trả lời câu hỏi + Nghe và tóm tắt nội dung văn bản + Nghe và nhận xét bài trình bày của bạn

* Nguyên tắc 5: Đa dạng hóa các hoạt động tổ chức Trong quá trình tổ chức hoạt động Nói – nghe, có thể đa dạng hóa hình thức tổ chuwsv cũng như linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại Bởi đối tượng học sinh khác nhau, vấn đề thảo luận cần được lựa chọn khác nhau

và ki thuật áp dụng cũng phải được dùng khác nhau Chẳng hạn, khi học sinh tiến hành chia sẻ quan điểm, góc nhìn của mình thì có thể dùng đến các ki thuật như: chia sẻ cặp đôi, kĩ thuật chia sẻ vòng tròn, đổi nhóm để chia sẻ, chia sẻ trạm… Có như vậy thì học sinh mới cảm thấy hứng thú và thể hiện tốt năng lực của mình

2.1.2 Quy trình dạy nói và nghe Việc dạy Nói – nghe có thể thực hiện một cách linh hoạt theo quy trình sau:

* Trước khi dạy

- Cho HS chuẩn bị bài nói dựa trên bài viết đã học hoặc đề xuất một vấn đề trao đổi mới

- HS tập nói trước ở nhà dựa trên bảng kiểm trong SGK

- HS có thể chuẩn bị nội dung bài nói bằng các hình thức khác nhau hoặc có thể chuẩn

bị thêm các đạo cụ, phương tiện cần thiết

* Trong khi dạy Tiến hành nhiều hoạt động khác nhau

- Hoạt động 1: Mở đầu Yêu cầu: khơi gợi được tâm thế, giới thiệu kiểu bài và xác định được nhiệm vụ của bài học

Cách làm:

+ Có thể bắt đầu bằng những câu hỏi lí giải tại sao tại bàn luận, trao đổi về vấn đề này

GV có thể hướng dẫn học sinh chia sẻ điều này bằng giấy note hoặc trình bày ngay sau khi GV nêu vấn đề

+ GV cũng có thể bắt đầu bằng những video, hình ảnh, tình huống, câu chuyện, trò chơi…

- Hoạt động 2: Tổ chức, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài nói

Trang 24

24

- Hoạt động 3: Tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành nói – nghe

- Hoạt động 4: Tổ chức, hướng dẫn HS nhận xét, trao đổi về bài nói

* Sau khi dạy:

Tùy theo năng lực của HS và yêu cầu của từng kiểu bài mà GV có thể vận dụng quy trình này một cách linh hoạt để đảm bảo hoạt động nói – nghe một cách hiệu quả

GV có thể yêu cầu HS tiếp tục thực hiện, hoàn thiện các sản phẩm nói nghe dưới nhiều hình thức khác nhau Các sản phẩm sẽ chuyển lên nhóm lớp

Hơn nữa, vì thời gian dành cho Nói – nghe thường chỉ là 1 tiết nên GV cần yêu cầu HS tìm hiểu kĩ phần hướng dẫn trong SGK khi chuẩn bị bài ở nhà Còn phần đầu tiết có thể yêu cầu HS nhắc lại phần lý thuyết và yêu cầu bài tập đã giao trước Còn phần lớn thời gian cần được dành cho HS trình bày vấn đề và thảo luận

2.2 Đa dạng, linh hoạt trong hình thức tổ chức dạy học nói và nghe 2.2.1 Lựa chọn cách thức khởi động hấp dẫn

Hoạt động khởi động, trong tiếng Anh là Warm up (làm nóng), là hoạt động giáo viên dùng để xây dựng không khí đầu tiết dạy, nhằm thu hút sự tập trung của học trò vào mảng kiến thức mình sẽ hướng đến Nếu giáo viên làm bước này thật tốt, thì bước hình thành kiến thức mới cho học trò sẽ thuận lợi hơn, và hiệu quả học tập vì thế sẽ được nâng lên

Đã đến lúc người giáo viên phải nhìn nhận lại tầm quan trọng của hoạt động khởi động Dù nó chỉ là hoạt động kéo dài trong những phút đầu tiên của giờ dạy và về nội dung, nó không ảnh hưởng nhiều đến kiến thức mới của tiết học; tuy nhiên nó là hoạt động không thể thiếu, không thể xem nhẹ và không thể hời hợt Cần thấy rằng, hoạt động khởi động cũng quan trọng như bất cứ hoạt động nào trong chuỗi hoạt động học của học sinh Chỉ khi nhìn nhận rõ điều đó, chúng ta mới mong thay đổi được thái độ làm việc của chính mình đối với hoạt động này

Việc thiết kế hoạt động khởi động phải chú ý các nguyên tắc sau:

Khởi động để tạo sự hứng thú cho học sinh, giúp học sinh có tâm thế, tinh thần đón nhận bài học Vốn việc học với học sinh là một hoạt động khá nặng nhọc Việc tiếp nhận một lúc nhiều môn học với sự thay đổi liên tục càng khiến tâm trạng của học sinh mệt mỏi hơn Giáo viên chủ động thay đổi không khí, xây dựng môi trường tiết học tích cực là điều cần thiết Nó giúp xua tan áp lực, chán nản và kéo học sinh vào bài học của mình một cách chủ động tự nguyện và chờ đợi

Khởi động để tăng sự kết nối: kết nối giữa giáo viên và học sinh, kết nối học sinh với mảng kiến thức mà tiết học sẽ hướng đến, kết nối giữa học sinh với nhau Cái cuối cùng giáo viên đạt đến được không phải là mình đã vận dụng phương pháp nào,

kỹ thuật gì, mà cơ bản nhất vẫn là giải quyết được sự kết nối của mình, của bài học với

Trang 25

học sinh Sự kết nối đem lại sự tự nhiên, hài hòa Chỉ khi có được sự kết nối, tức là các mối quan hệ được liên kết với nhau thì tiết học mới trở nên nhịp nhàng, nhuần nhuyễn

và sâu sắc

Khởi động như một cách chuẩn bị kĩ năng, kiến thức nền cho học sinh trước bài học: Mỗi bài học cần phải có sự chuẩn bị, bởi một đơn vị kiến thức mới không bao giờ tôn tại độc lập xa rời, nó luôn luôn là sự kế thừa có hệ thống Hoạt động khởi động chính là cách mà giáo viên giúp học sinh huy động vốn kiến thức, kỹ năng nền tảng để phục vụ cho việc tiếp thu những kiến thức mới một cách nhẹ nhàng hơn Điều này lại càng đúng với cách xây dựng cấu trúc chương trình đồng tâm của sách giáo khoa hiện hành

Hoạt động khởi động là cơ hội để giáo viên gieo vào học sinh niềm khát khao khám phá tri thức, yêu thích môn học Khởi động thành công là khơi gợi được sự tò

mò, nhu cầu được tìm hiểu nhiều hơn nữa, triệt để hơn nữa những vấn đề còn bỏ ngỏ, còn băn khoăn trong những hoạt động tiếp theo của bài học

Để có thể phát huy hết tất cả những vai trò như trên của hoạt động khởi động, giáo viên cần hiểu bản chất của hoạt động khởi động để từ đó có định hướng thiết kế hoạt động khởi động trong kế hoạch bài dạy của mình Giáo viên cần xác định rõ: Thứ nhất: họạt động khởi động là một hoạt động học Theo các văn bản hướng dẫn của ngành trong việc đổi mới thì rõ ràng, Khởi động có tư cách là một hoạt động học đầu tiết dạy, có vai trò quan trọng như các hoạt động sau đó Vậy thì giáo viên cần thiết kế nó là một hoạt động học:

- Cần xác định rõ mục tiêu của mỗi khởi động: để gợi dẫn vào mảng kiến thức nào Tổ chức hoạt động cho học sinh ra sao

- Phải qua các bước của một hoạt động học: có giao nhiệm vụ (phát câu lệnh ngắn gọn), học sinh thực hiện nhiệm vụ (hoạt động học, phải chắc chắn tất cả học sinh đều được giáo viên kéo vào, nhập cuộc), báo cáo kết quả, và đánh giá nhận xét Vì sao phải như vậy: thứ nhất, đảm bảo tính bài bản và khoa học

Thứ hai, chính những hoạt động bài bản như vậy mới tạo được hứng thú cho học sinh, học sinh được có cơ hội, có quyền trải nghiệm, được đánh giá nhận xét Nếu giáo viên chỉ dẫn vào bài, dù rất hay nhưng học sinh chỉ ngồi nghe thì vẫn không thể “làm nóng”, học sinh vẫn không thực sự được trải nghiệm Và khi đó, nó vẫn chỉ là bước mở bài chứ không thể xem là một hoạt động học Học sinh cần được làm việc, động não, khơi gợi cảm xúc thực sự Và giáo viên cần đánh giá kết thúc quá trình đó, có thể là điểm thưởng, điểm miệng, hoặc nếu không vẫn phải là một câu nói khen ngợi bài tốt

và nhắc nhở bài chưa tốt Như thế, mới tạo động lực học tập cho học sinh, tránh cảm giác hụt hẫng đầu voi đuôi chuột và gây chán nản vào những lần khởi động sau

Trang 26

26

Khi dạy phần Nói – nghe của bài 3 và bài 6: Thảo luận về một vấn đề xã hội có

ý kiến khác nhau, chúng tôi đã thiết kế một số cách khởi động khác nhau – dành cho các lớp khác nhau:

* Cách 1: Khởi động bằng một video, clip hình ảnh

GV tìm kiếm trên internet một video, clip ngắn kết hợp với một bài hát, một bản nhạc (nếu không có video sẵn thì giáo viên có thể làm các sản phẩm clip bằng hình ảnh theo ý đồ) Đây là một trong những hình thức khởi động hiệu quả và có thể áp dụng trong nhiều bài học văn bản có nội dung sâu sắc, thông điệp nhân văn

Cách tiến hành:

Bước 1: Giáo viên nêu yêu cầu: Mời cả lớp xem video sau đây một cách chăm chú, tập trung Sau đó, trong vòng 2 phút, ghi lại những cảm nhận của mình sau khi xem clip đó (những cảm xúc, những điều em ấn tượng, những bài học em rút ra, thông điệp của clip) Viết tự do, không gò ép vào khuôn khổ nào

Chúng tôi đã sử dụng video có chứa hình ảnh các con vật ở những góc nhìn khác nhau sẽ cho ra những hình ảnh khác nhau

Vì nó là hoạt động chia sẻ - viết tự do nên giáo viên không được áp đặt và không

có nhận xét đúng – sai, chỉ có sự lắng nghe và tôn trọng cảm xúc cá nhân mỗi người

- Để những suy nghĩ cảm xúc đồng điệu, thấu hiểu, giáo viên cần thật thận trọng chọn nguồn dữ liệu clip, video Những clip, video phải có thông điệp liên quan chặt chẽ đến bài học và thông điệp đó thật rõ ràng, dễ nhận ra, dựa trên những nền nhạc giàu

ý nghĩa

- Trước những chia sẻ đi quá xa bài học, giáo viên tránh những hành động cười đùa, hay mắng mỏ học sinh Mà kiên nhẫn cùng học sinh chờ đợi câu trả lời vào sau tiết học Lúc đó giáo viên có thể hỏi lại suy nghĩ của học sinh đó sau khi học bài

* Cách 2: Khởi động bằng việc đưa ra một tình huống có vấn đề:

Trang 27

Tạo tình huống học tập là giúp các em tưởng tượng ra một tình huống cụ thể nào

đó gần với nội dung bài học để các em trải nghiệm, tưởng tượng

Học tập là một quá trình khám phá Quá trình ấy bắt đầu bằng sự tò mò, nhu cầu cần được hiểu biết và giải quyết mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều muốn biết Một khởi động bài học thành công cần khơi gợi trong học trò mong muốn được tìm hiểu, khám phá bằng những hoạt động tiếp theo trong giờ học, thậm chí là sau giờ học Muốn như vậy, hoạt động khởi động cần tạo ra mâu thuẫn trong nhận thức cho học trò Đây

là tiền đề để thực hiện một loạt các hoạt động tìm tòi, giải quyết vấn đề Muốn như vậy, giáo viên phải là người có ý tưởng, biết gieo vấn đề để kích thích trí tò mò của người học

Cách tổ chức:

Bước 1: Giáo viên chuẩn bị chu đáo tình huống Tình huống mà GV đưa ra: 1 thanh niên đã bỏ nhà ra đi, có viết thư để lại cho gia đình Lí do mà anh thanh niên đó đưa ra là không thể ở sống ở nhà vì bố đã không chấp nhận con người đồng tính của anh ấy Khi nhận lá thư, ông bố kiên quyết: Nó đi cho khuất mắt, tôi không có đứa con như nó, con trai chả ra con trai, con gái chả ra con gái Còn bà mẹ vừa khóc vừa nói: Con nó muốn được sống là chính mình cơ mà!

* Cách 3: Khởi động bằng kỹ thuật bắt cặp: thinhk – write – pair – share (nghĩ – viết – bắt cặp – chia sẻ)

Bước 1: Giáo viên phát hiệu lệnh: chuẩn bị hoạt động “bắt cặp – chia sẻ” Giáo viên mở bản nhạc cổ điển không lời Đề nghị học sinh nhắm mắt yên lặng tuyệt đối khoảng 1 phút sau, giáo viên yêu cầu: hãy nghĩ về điều em mong muốn về các mối quan hệ mà em đang có, bên cạnh bạn bè, người thân, …Hãy nghĩ về ba điều em mong muốn nhất về các mối quan hệ và ghi nó ra giấy note

Bước 2: trong âm thanh bản nhạc đó, học sinh ghi ra ba điều em mong muốn nhất về các mối quan hệ Và sau đó, chia sẻ điều vừa viết với bạn bên cạnh Trao đổi trong yên tĩnh Việc trao đổi không giới hạn, có thể nhiều hơn một bạn

Trang 28

vì học sinh sẽ chú tâm vào lời bài hát

2.2.2 Lựa chọn vấn đề thảo luận có sức hút, có góc nhìn đa chiều

Hiện nay giới trẻ Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đang có những vấn đề xã hội nổi bật Khi xã hội ngày một phát triển thì những vấn đề xã hội mới càng nảy sinh nhiều Các vấn đề đó luôn đòi hỏi những kiến giải có cơ sở khoa học Giới trẻ schính là nhóm xã hội chịu tác động mạnh mẽ của những biến đổi xã hội này Khi quá trình biến đổi xảy ra, lúc nào cũng xuất hiện hai trường phái đối lập nhau Đó chính là

sự đan xen nhau giữa những giá trị cũ và giá trị mới Chính vì thế mà hiện nay xuất hiện rất nhiều vấn đề xã hội nổi bật trong giới trẻ hiện nay cần được nghiên cứu để định hướng, điều chỉnh và đề xuất những kiến giải khoa học cần thiết để góp phần làm cho

xã hội ngày càng phát triển

Xã hội càng phát triển thì những vấn đề xã hội mới càng nảy sinh đòi hỏi những kiến giải khoa học Thanh niên là nhóm xã hội chịu sự tác động mạnh mẽ của những biến đổi xã hội Trong quá trình biến đổi xã hội luôn có sự đan xen giữa những giá trị

cũ, mới do vậy ở thanh niên luôn xuất hiện nhiều “vấn đề” mới cần được “mổ xẻ”, nghiên cứu để định hướng, điều chỉnh hoặc đề xuất những kiến giải khoa học phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trao đổi cùng học sinh, chúng tôi cho học sinh nêu ý kiến, quan điểm của mình bằng việc trực tiếp phát biểu đề xuất hoặc ghi ra giấy note những vấn đề các em quan tâm Tùy từng lớp, phụ thuộc góc nhìn của học sinh, GV sẽ chọn một vấn đề mà nhiều thành viên nêu ra để tiến hành thảo luận Hay nói cách khác là GV không nên áp đặt quan điểm cho HS, nên nới rộng biên độ để HS mở rộng tư duy, tự phát hiện và giải quyết vấn đề

Từ thực tế dạy tại các lớp 10, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề mà học sinh rất quan tâm hiện nay như:

- Sống theo xu hướng, chạy theo những giá trị ảo

- Mong muốn của người trẻ: thành người nổi tiếng (KOL), kiếm nhiều tiền, công việc tốt, du lịch…

- Phản ứng của người trẻ trước các vấn đề của xã hội: ô nhiễm môi trường, cái xấu cái ác tràn lan, người tốt việc tốt…

Trang 29

- Chat GPT

- Học sinh, sinh viên đi làm thêm

- Người trẻ với mạng xã hội

- Bệnh vô cảm của người trẻ

- Hoạch định tương lai

- Kế hoạch sau khi tốt nghiệp THPT

- Sự thờ ơ với các giá trị văn hóa truyền thống của giới trẻ

- Sống đúng là mình: những người đồng tính, cộng động LGBT, lối sống tự do… Thực sự thì hiện nay, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu toàn diện mổ xẻ những “vấn đề” của giới trẻ Tuy nhiên, những vấn đề nêu trên mặc dù không nằm trong số đông giới trẻ song cũng gợi ra nhiều suy nghĩ cho chính các bạn trẻ và những người có trách nhiệm trong xã hội Làm thế nào để định hướng, điều chỉnh và giải quyết những “vấn đề” mà giới trẻ Việt Nam đã, đang và sẽ vẫn phải đối diện?

Thế nên, khi cùng học sinh lựa chọn những vấn đề, những nội dung có “vấn đề” của giới trẻ để trao đổi thì đã phần nào có tính định hướng góc nhìn đúng đắn, tích cực cho học sinh bên cạnh việc tạo sự hứng thú cho các em

2.2.3 Đa dạng hóa hình thức tổ chức

Để đạt được yêu cầu đặt ra cho tiết học thì hoạt động nói – nghe cần được tổ chức một cách linh hoạt với nhiều hình thức khác nhau

2.2.3.1 Tổ chức dưới dạng talk show

Talk show là gì? Talk show được định nghĩa là một chương trình phát thanh hoặc truyền hình Trong đó, một nhóm người ngồi lại với nhau để thảo luận những chủ đề mà người dẫn chương trình đề cập tới

Talk show là một chương trình truyền hình hoặc phát thanh mà ở đó nhóm người ngồi với nhau cùng thảo luận đến chủ đề mà người dẫn chương trình đưa ra Đa số, trong các cuộc talkshow có một ban (panel) khách mời phải là người có hiểu biết rõ ràng và có kinh nghiệm trong lĩnh vực đang được thảo luận trong chương trình đó

Một chương trình Talkshow được tiến hành qua 3 bước:

+ Người dẫn chương trình nói lý do, mục đích và chủ đề của cuộc tọa đàm, cùng những yêu cầu cụ thể đã được đặt ra

+ Tiến hành giới thiệu chương trình talk show + Người dẫn bày tỏ quan điểm trước vấn đề và lần lượt đặt câu hỏi cho những khách mời tham dự

Trang 30

30

Một buổi talkshow thành công không chỉ nhờ chất lượng đầu tư của thành viên tham gia, mà còn phụ thuộc vào vai trò của người dẫn dắt Các quan điểm, ý kiến của khách mời cần được sắp xếp logic để mang đến sự hấp dẫn và giải quyết vấn đề hiệu quả nhất

Xuất phát từ những đặc điểm của talk show như vậy, chúng tôi nghĩ tổ chức giờ dạy nói nghe theo hình thức nêu trên vô cùng hợp lí

Muốn tổ chức được, trước hết, GV phải cùng học sinh lựa chọn các vấn đề mà các

em quan tâm Có một số vấn đề đã được nêu ra như:

+ Bạn có muốn trở thành một KOL? (KOL là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng đến xã hội);

Người trẻ sống theo trend, theo xu hướng;

+ Bạn muốn xuất khẩu lao động sau khi tốt nghiệp…

Trong thực tế, chúng tôi đã hướng dẫn cho học sinh tổ chức hoạt động nói – nghe dưới dạng một talk show Yêu cầu được đặt ra sau khi chọn vấn đề là:

+ Xây dựng kịch bản + Mục đích muốn đạt đến là gì?

+ Lựa chọn người dẫn chương trình + Lựa chọn người đóng vai

+ Tập luyện

Hình ảnh: Một buổi talk show với chủ đề: Người trẻ sống theo trend, chạy theo giá trị ảo tại lớp 10A1 do tác giả sáng kiến hướng dẫn HS thực hiện Kịch bản được thể hiện ở Phụ lục 5

Trang 31

Có thể nói với việc chuẩn bị kĩ càng, việc tổ chức hoạt động Nói và nghe dưới dạng một talk show có một sức hấp dẫn không thể thay thế cũng như việc phát triển năng lực hóc sinh Tuy nhiên, việc tổ chức theo hình thức này đòi hỏi một sự đầu tư chu đáo, bài bản, học sinh phải có năng lực khá tốt mới có thể tiến hành Hơn nữa, việc

tổ chức dưới dạng này thì số lượng HS được nói, được chia sẻ ý kiến cũng không quá nhiều Chủ yếu là các học sinh tham gia đóng vai và một số học sinh đóng vai khán giả khi được người dẫn chương trình hỏi đến Dẫu vậy, mỗi hình thức tổ chức dạy học đều

có một ưu thế nhất định Với tiết Nói và nghe Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau thì đó là một sự lựa chọn đúng đắn Bởi với một talk show, học sinh sẽ thoải mái trình bày quan điểm trái chiều của mình

2.2.3.2 Tổ chức dưới hình thức tranh biện Cuộc tranh luận giữa 2 cá nhân/nhóm nhằm hình thành một kết luận về vấn đề tranh luận giữa 2 bên

Tranh biện là một trong những biện pháp dạy học hữu ích giúp HS giải quyết những vấn đề mà bản thân còn đang cảm thấy mâu thuẫn, xung đột …, từ đó giúp các em nâng cao và mở rộng kiến thức, tôn trọng khách quan, đồng thời phát triển nhiều năng lực quan trọng, trong đó bặc biệt có năng lực phản biện Như vậy, biện pháp tranh biện là cách thức sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố biểu đạt phi

Trang 32

32

ngôn ngữ (bảng biểu, sơ đồ, mô hình ) bổ trợ để thể hiện quan điểm, chứng minh

ý kiến của mình là đúng, bác bỏ quan điểm phiến diện bằng hệ thống các lập luận khoa học Đó là cách giải quyết những xung đột, mâu thuẫn giữa các quan điểm khác nhau nhằm thuyết phục chính bản thân mình hoặc người khác đồng tình với luận điểm mình đưa ra, qua đó chọn được phương án tối ưu cho các chủ thể tranh biện Mục đích của tranh biện là tìm ra những góc nhìn mới, phân tích về chiều sâu của vấn đề, phá vỡ những định kiến, nhìn nhận tổng quát hơn về vấn đề

Muốn tranh biện thành công thì người tham gia phải có:

+ Có tư duy phản biện: Luôn trả lời câu hỏi: Tại sao phải vậy, Tại sao không phải như vậy

+ Có lập luận rõ ràng, có thứ tự: Sử dụng tối đa các từ mở đầu mỗi ý: thứ nhất, thứ hai

+ Trong chứng không trọng cung: Lấy tối đa ví dụ thực tế

- Cách thức tổ chức tranh biện:

+ Bước 1: Hướng dẫn thể lệ, cách thức Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, gợi ý các đề tài tranh biện Các tổ thảo luận, cử ra 3 bạn đại diện cho tổ tham gia tranh biện với các nhóm của tổ khác, mỗi lượt tranh biện diễn ra trong 3 phút BGK gồm giáo viên và 2 học sinh của 2 tổ không tham gia tranh biện, cho điểm theo thang điểm 10 trên các phương diện: Phong thái - Tính thuyết phục - Sức hấp dẫn - Sự mạch lạc trong triển khai luận điểm

+Bước 2: Giao đề tài

Đề tài tranh biện hướng tới mục đích tạo tình huống tranh luận, hình thành năng lực phản biện, rèn luyện kĩ năng trình bày, khả năng lập luận và tiếp cận văn bản tự sự

từ các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, làm sâu sắc hơn cách hiểu về văn bản, có thể không theo cấu trúc lô gic của kiểu bài học truyền thống

+ Bước 3: Tiến hành tranh biện Các nhóm tiến hành tranh biện theo các đề tài đã chuẩn bị Các nhóm sẽ tiến hành 3 cặp tranh biện theo đề tài được gợi ý và chuẩn bị

Các bước tranh biện + Trình bày quan điểm + Nêu ý kiến phản đối quan điểm của đối phương + Nêu ra những lập luận đáp trả lại đối phương +Bước 4: Tổng kết

Trang 33

Giáo viên tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm chung Những màn tranh biện xuất sắc có thể đưa lên facebook, youtube cá nhân (lớp) …

GV có thể gợi ý cho học sinh các đề tài:

Trang 34

34

Khi tổ chức hoạt động tranh biện khi thảo luận thì không những mở thêm cho

HS những góc nhìn về các vấn đề xã hội mà còn giúp các em rèn luyện, hình thành cho mình những năng lực hết sức cần thiết trong cuộc sống hiện đại: năng lực tự học và giải quyết vấn đề; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực tư duy; năng lực phản biện… Tất cả đều góp phần đáp ứng quá trình đổi mới giáo dục giáo dục phổ thông 2018 nhằm phát huy năng lực người học; chuyển từ giáo dục nội dung sang giáo dục kĩ năng, hình thành cho HS những phẩm chất của công dân trong thời đại mới

2.2.3.3 Tổ chức dưới hình thức nêu ra câu hỏi định hướng và thảo luận nhóm

Trong rất nhiều hình thức tổ chức dạy học thì thảo luận nhóm là một hình thức mang lại nhiều hiệu quả Qua việc các học sinh trong nhóm cùng thảo luận một vấn đề các em sẽ được bày tỏ quan điểm, thái độ của mình khi đứng trước một nội dung, một câu hỏi cần tháo gỡ Từ đó sẽ khiến các em tự tin hơn khi đứng trước đám đông, biết hợp tác với bạn bè để cùng tiến bộ trong học tập

Một số câu hỏi định hướng:

- Nên sống nhanh hay sống chậm?

- Có nên bán hàng online trong trường học Câu hỏi định hướng mà chúng tôi nêu ra cho HS trao đổi đó là: Người trẻ và mạng xã hội

Một số hình ảnh của nội dung trao đổi, thảo luận của HS

Trang 35

2.2.4 Đa dạng hóa sản phẩm nói nghe

Trang 36

36

Không chỉ đa hạng hóa hình thức tổ chức hoạt động mà sản phẩm Nói – nghe cũng cần được thực hiện một cách đa dạng, phong phú Có như thế mới phát huy hết năng lực của học sinh và tăng sức hấp dẫn của hoạt động học này

2.2.4.1 Trình bày sản phẩm bằng bài thuyết trình, powerpoint, câu trả lời ngắn Sản phẩm của bài nói nghe có thể được trình bày một cách đa dạng Đó có thể

là những câu trả lời ngắn khi trao đổi cùng các bạn, khi trả lời trực tiếp câu hỏi của GV hoặc thực hiện qua phiếu học tập

Mức độ đầy đủ hơn sẽ là những bài thuyết trình Những bài thuyết trình bày có thể được thể hiện bằng bài trình chiếu powerpoint, bằng giấy Ao hoặc có các clip hỗ trợ Đây thường là cách trình bày sản phẩm đơn giản nhất, nhanh chóng nhất mà học sinh có thể sử dụng

Với việc nêu ra vấn đề: Sau khi dạy phần đọc Bài 6 – Dành còn để trợ dân cày liên quan đến cuộc đời Nguyễn Trãi, một bài học được các em học sinh rút ra rất ý nghĩa là: cuộc đời của Nguyễn Trãi chính là những sự lựa chọn Để rồi từ những sự lựa chọn đó Nguyễn Trãi đã sống một cuộc đời vô cùng ý nghĩa, Xuất phát từ vấn đề - các hoạt động đọc viết nói nghe đều có sự liên kết nên GV và HS đã chọn một vấn đề để thảo luận – Sự lựa chọn trong cuộc sống (dành cho bài vận dụng về nhà) Sau một thời gian chuẩn bị, một nhóm HS đã trình bày phần chuẩn bị của mình dưới dạng bài trình chiếu như dưới đây

Trang 38

38

án thuyết trình bài của mình bằng sơ đồ, tranh ảnh, kết hợp cả kênh hình và kênh chữ

Hình ảnh: HS đang trình bày phần chuẩn bị

2.2.4.2 Trình bày sản phẩm bằng việc thu âm

Thu âm là hình thức lưu lại âm thanh của sóng âm (analog) và chuyển đổi nó thành tín hiệu số (digital) Có thể hiểu đơn giản rằng là khi chụp ảnh, thì sẽ cho ra ảnh chụp còn thu sóng âm sẽ ra file âm thanh Hoặc có thể hiểu là thu âm giúp lưu giữ giọng hát hay giọng nói của bạn để bạn có thể nghe lại nhiều lần hơn khi có nhu cầu Thu âm có thể giúp bạn phục vụ được rất nhiều mục đích đa dạng trong cuộc sống, từ phát triển thành một nghề nghiệp cho đến lưu trữ tài liệu thông thường

Hiện nay, thu âm giọng đọc hay thu âm lồng tiếng đã trở thành một xu hướng nghề nghiệp mới Bạn có thể nhanh chóng bắt gặp một sản phẩm thu âm trên các nền tảng mạng xã hội như các clip review phim, các clip quảng cáo hoặc các podcast tin

Trang 39

tức, podcast kể truyện Các sản phẩm thu âm hiện nay đều đa dạng thể loại và rất được

ưa chuộng

Đơn giản, nhanh chóng và tự do là những điều mà nghề thu âm chuyên nghiệp

có thể mang lại cho bạn Cùng với sáng tạo nội dung và rèn luyện giọng nói của mình, bạn có thể trở thành một người thu âm chuyên nghiệp trong tương lai

Trong quá trình tổ chức dạy học phần Nói – nghe, GV cũng có thể hướng dẫn

HS thu âm bài nói của mình Phần việc này có thể giao cho học sinh làm ở nhà – phần luyện tập, vận dụng sau khi đã có bài thực hành ở lớp

Khi hướng dẫn HS thu âm phần bài nói của mình, GV cần hướng dẫn HS chuẩn

+ Cần luyện giọng nói, luyện thanh để đảm bảo mình có thể phát huy hết khả năng Việc luyện tập trước khi thu chính thức giúp bạn khởi động được cổ họng của mình đồng thời cũng nắm bắt được nội dung mà mình chuẩn bị thu âm Giọng nói cần truyền cảm, rõ ràng Việc chuẩn bị kĩ càng trước khi thực hiện thu âm chuyên nghiệp giúp bạn hạn chế tối đa những lỗi âm thanh, lỗi kĩ thuật không đáng có và cho bạn được một trải nghiệm thu âm tốt nhất

Khi dạy xong phần Nói – nghe bài 3, chúng tôi đã cho học sinh thảo luận và thu

âm bài nói với nội dung: Học sinh có nên đi làm thêm?

Sau khi HS đã hoàn thành sản phẩm, chúng tôi yêu cầu học sinh đưa sản phẩm lên nhóm lớp trên facebook https://www.facebook.com/groups/837912690701503

lớp sẽ giúp GV và HS dễ theo dõi sự tiến bộ của HS từ sản phẩm trước đến sản phẩm sau Hơn nữa, những video được lưu lại cũng là những tư liệu học tập rất tốt để các HS khác học tập, rút kinh nghiệm

Một vài ảnh bìa của file thu âm của HS thực hiện ở nhà

Trang 40

Để học sinh thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi đã cùng trao đổi và lựa chọn vấn đề: Tốt nghiệp THPT, bạn có muốn đi xuất khẩu lao động?

Ngày đăng: 04/08/2023, 09:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.5  Hình dung  38 - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
2.5 Hình dung 38 (Trang 4)
Hình ảnh: HS đang trình bày phần chuẩn bị - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
nh ảnh: HS đang trình bày phần chuẩn bị (Trang 38)
Bảng kiểm để dạy học là một bảng liệt kê các bước tiến hành của một kỹ năng  theo một trình tự hợp lý và yêu cầu phải đạt được để thực hiện một quy trình kỹ thuật,  một công việc, một nhiệm vụ, dạy học theo bảng kiểm dùng để dạy thực hành các kỹ  năng - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
Bảng ki ểm để dạy học là một bảng liệt kê các bước tiến hành của một kỹ năng theo một trình tự hợp lý và yêu cầu phải đạt được để thực hiện một quy trình kỹ thuật, một công việc, một nhiệm vụ, dạy học theo bảng kiểm dùng để dạy thực hành các kỹ năng (Trang 43)
Hình ảnh: HS giới thiệu cuốn sách - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
nh ảnh: HS giới thiệu cuốn sách (Trang 47)
Bảng tổng hợp số lượng GV tham gia khảo sát - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
Bảng t ổng hợp số lượng GV tham gia khảo sát (Trang 52)
Bảng 1: Kết quả khảo sát sự cấp thiết của các giải pháp pháp Vận dụng một số hình  thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe - thảo luận về một vấn đề - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
Bảng 1 Kết quả khảo sát sự cấp thiết của các giải pháp pháp Vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe - thảo luận về một vấn đề (Trang 53)
Bảng 2: Kết quả khảo sát tính khả thi của các giải pháp Vận dụng một số hình thức, - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
Bảng 2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các giải pháp Vận dụng một số hình thức, (Trang 55)
Bảng kiểm đánh giá nói – nghe - (Skkn 2023) vận dụng một số hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học phần nói và nghe – thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau
Bảng ki ểm đánh giá nói – nghe (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w