1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) một số phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 10 rèn luyện kỹ năng viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (bài 4 sức sống của sử thi” ngữ văn 10)

73 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 10 rèn luyện kỹ năng viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề
Tác giả Phan Thị Hà, Phạm Thị Hồng Lê
Trường học Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Đề tài đã phân tích và hệ thống nội dung từ cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn, qua đó đề xuất được một số giải pháp mới giúp học sinh vừa tập nghiên cứu, viết

Trang 1

t SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG “VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU MỘT VẤN ĐỀ”

(BÀI 4 “SỨC SỐNG CỦA SỬ THI” - NGỮ VĂN 10)

Tên tác giả : PHAN THỊ HÀ, PHẠM THỊ HỒNG LÊ

Tổ chuyên môn : NGỮ VĂN

Số điện thoại : 0366 374 701

Trang 2

II ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 2

III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3

1 Phạm vi nghiên cứu 3

2 Đối tượng nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 3

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

V CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1 Cơ sở lý luận 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.2 Một số vấn đề về Viết báo cáo nghiên cứu được học trong SGK Ngữ văn 10-tập 1 10

1.3 Một số vấn đề về tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu trong “Chuyên đề học tập Ngữ văn 10” 11

2 Cơ sở thực tiễn 11

2.1 Khảo sát thực trạng việc viết báo cáo nghiên cứu trong học sinh trên địa bàn huyện Thanh Chương 11

2.2 Hoạt động viết báo cáo nghiên cứu của học sinh THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương phát triển chưa mạnh 13

2.3 Hoạt động viết báo cáo nghiên cứu của học sinh THPT Nguyễn Sỹ Sách còn nhiều hạn chế 14

2.4 Bài thực hành viết: “Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề” (SGK Ngữ văn 10) chưa phát huy hết năng lực viết báo cáo nghiên cứu của HS 14

2.5 Giáo viên và HS gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận Chương trình Ngữ văn lớp 10 (2018) 15

Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG “VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU MỘT VẤN ĐỀ” 17

2.1 Hướng dẫn học sinh cách viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian 17

2.2 Hướng dẫn học sinh cách viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề trong đời sống 21

2.3 Các bước hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng viết báo cáo nghiên cứu trong tiết học: “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (Bài 4 “Sức sống của Sử thi” - Ngữ văn 10) 27

Chương 3: KHẢO SÁT TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI 29 3.1 Mục đích của khảo sát 29

Trang 3

3.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

31

Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 46

4.1 Hình thành ý tưởng 46

4.2 Đối chứng, thực nghiệm 46

PHẦN III KẾT LUẬN 50

1 Những đóng góp của đề tài 50

1.1 Tính mới 50

1.2 Tính khoa học 50

1.3 Tính khả thi khi ứng dụng thực tiễn 50

2 Kiến nghị, đề xuất 50

2.1 Đối với cấp quản lý giáo dục 50

2.2 Đối với giáo viên 51

2.3 Đối với học sinh 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 1,2,3

Trang 5

quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Nghị quyết chỉ rõ:

“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí luận với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội […] Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”

Thông tư 32/2018/TT-BGDDT ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới cũng đã cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh (HS) và trọng tâm là hình thành, phát triển năng lực tự học

Từ những văn bản trên, chúng ta thấy, mục đích của đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình GDPT 2018 chính là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng qua đó hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất Điều này cho thấy vai trò của người dạy vô cùng quan trọng Giáo viên phải là người tích cực trong việc đổi mới hình thức, kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực, chủ động nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn Đặc biệt phải làm sao cho quá trình “Học” là quá trình kiến tạo; tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, biến kiến thức sách

vở thành hiểu biết thực tế Một trong những hoạt động trong trường học hiện nay góp phần phát huy tính tích cực chủ động của học sinh chính là hoạt động nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một trong những hoạt động mang lại ý nghĩa

vô cùng lớn cho cộng đồng xã hội, đồng thời là sân chơi để học sinh nâng cao khả năng tư duy, thỏa đam mê sáng tạo phát triển bản thân học sinh NCKH có vai trò quan trọng đối với học sinh THPT trong việc giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống, đồng thời nâng cao khả năng

tự học, tự nghiên cứu của học sinh; khơi dậy tiềm năng và phát huy tư duy sáng tạo, phát triển năng lực của HS Có thể những nội dung nghiên cứu của HS không lớn như các nhà khoa học nhưng nó vẫn thể hiện được sự sáng tạo trong quá trình vận dụng kiến thức phổ thông vào đời sống thực tiễn Do đó hiện nay, trong các trường THPT xuất hiện nhiều cuộc thi, nhiều sân chơi trí thức bổ ích, giúp học sinh bộc lộ khả năng nghiên cứu của mình như: cuộc thi khoa học kĩ thuật (KHKT), báo cáo dự

án dạy học, báo cáo một chuyên đề trong hội thảo khoa học cấp trường, cuộc thi vận

dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn

Trang 6

2 Viết báo cáo nghiên cứu vốn là một hoạt động của NCKH, là hoạt động

thực hành giúp học sinh phát triển kỹ năng tìm hiểu, khám phá về đời sống xã hội

và tự nhiên (con người, sự kiện, địa điểm, môi trường, ) qua tư liệu thu thập được

và trình bày kết quả tìm hiểu, khám phá đó Chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 - Chương trình GDPT 2018 rất đề cao việc học tập nghiêng về nghiên cứu của học sinh THPT Vì thế trong cuốn sách Chuyên đề học tập môn Ngữ văn có hẳn

một chuyên đề: “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”

Còn trong Sách giáo khoa Ngữ văn (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) ở bài 4 “Sức

sống của Sử thi” có phần rèn luyện kĩ năng Viết “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn

đề” Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của việc hướng dẫn học sinh tập nghiên

cứu và viết báo cáo nghiên cứu đối với học sinh lớp 10 THPT Tuy nhiên việc nghiên cứu trong sách Chuyên đề đang dừng lại ở việc tập nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian chứ chưa hướng đến nghiên cứu một vấn đề trong đời sống Hơn nữa, không phải tất cả các lớp đều chọn học Chuyên đề học tập môn Ngữ văn Do đó trong quá trình dạy học, giáo viên cần mở rộng hướng dẫn học sinh nghiên cứu một vấn đề trong đời sống Đây chính là cách nhận diện khả năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn của học sinh không chỉ ở lĩnh vực Văn học mà có thể ở những lĩnh vực khác như Lịch sử, Địa lý, Hóa học, Vật lý…

3 Nhiều năm qua, thực tiễn nghiên cứu khoa học trong học sinh THPT, đặc

biệt là học sinh vùng nông thôn huyện Thanh Chương diễn ra còn đơn điệu, ít có hiệu quả Nhiều em khi được hướng dẫn viết đề tài nghiên cứu KHKT hoặc nghiên cứu và trình bày các dự án dạy học, chuyên đề dạy học đều tỏ ra lúng túng hoặc nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu trong quá trình học tập của mình

Nhằm đạt được những mục tiêu dạy học trong chương trình GDPT 2018, nhiều năm học qua, bản thân chúng tôi đã có những tìm tòi, đổi mới trong phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học, đổi mới cách kiểm tra, đánh giá học sinh… nhằm đạt được hiệu quả giáo dục tốt nhất Tuy nhiên trong hoạt động nghiên cứu khoa học

và hướng dẫn HS nghiên cứu khoa học vần còn nhiều hạn chế nhất định

Đó chính là lý do chúng tôi quyết định chọn đề tài: Một số phương pháp

hướng dẫn học sinh lớp 10 rèn luyện kỹ năng “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (Bài 4 “Sức sống của Sử thi” - Ngữ văn 10)

II ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài đã phân tích và hệ thống nội dung từ cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn, qua đó đề xuất được một số giải pháp mới giúp học sinh vừa tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian, vừa tập nghiên cứu, viết báo cáo một vấn

đề trong đời sống để tạo ra được nhiều sản phẩm khoa học có giá trị

- Xác định được các nguyên tắc xây dựng giải pháp giúp học sinh rèn luyện

kỹ năng Viết báo cáo nghiên cứu

Trang 7

- Trình bày được phương pháp thực nghiệm, kết quả cũng như bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình thực nghiệm

III PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài đề xuất một số phương pháp khi dạy tiết Thực hành kỹ năng Viết:

“Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (thuộc Bài 4: Sức sống của Sử thi)

- Hướng dẫn học sinh nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian từ đó biết nghiên cứu một vấn đề trong đời sống

2 Đối tượng nghiên cứu

- Tiết thực hành kỹ năng Viết: “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (thuộc

Bài 4: Sức sống của Sử thi) trong chương trình Ngữ văn 10

- Chuyên đề Ngữ văn: “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn

học dân gian” trong chương trình Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)

- Học sinh lớp 10 năm học 2022 - 2023 trường THPT Nguyễn Sỹ Sách

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Đối với giáo viên:

- Giúp giáo viên có điều kiện đào sâu hơn, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến thức về lĩnh vực mình đang trực tiếp giảng dạy, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình

- Trong quá trình hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động nghiên cứu, sẽ giúp giáo viên bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học, góp phần phát triển năng lực sáng tạo, giúp bản thân rèn luyện và phát triển thêm tư duy độc lập, tư duy phản biện, biết bảo vệ lập trường khoa học của mình Đây cũng là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy

- Từ việc hướng dẫn học sinh nghiên cứu, giáo viên có thể tham gia NCKH cấp trường, cấp tỉnh, nếu đạt kết quả tốt, sẽ là yếu tố quan trọng góp phần khẳng định chính bản thân trong đơn vị công tác

3.2 Đối với học sinh:

- Việc tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu sẽ giúp học sinh hoàn thành tốt tiết học theo yêu cầu, biết nghiên cứu những vấn đề đơn giản và tham gia các cuộc thi cấp trường, cấp tỉnh nếu có Ngoài ra, nó còn góp phần rèn luyện những kỹ năng mềm cho học sinh khi học tập ở môi trường Đại học

- Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp học sinh THPT mở mang trí thức, nâng cao về trình độ văn hóa, phát triển sâu và rộng hơn về nhận thức Đây cũng là bước

cơ bản giúp học sinh THPT hoàn thiện chính mình đáp ứng nhu cầu đổi mới của chương trình GDPT 2018

Trang 8

- Từ việc Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian để hướng đến Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề trong đời sống Đây là một cách hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, đối chiếu, thực nghiệm

- Phương pháp thu thập, khảo sát, so sánh số liệu

V CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

Ngoài Mở đầu và Kết luận, Nội dung đề tài tập trung vào một số vấn đề chính như sau:

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

2 Một số phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 10 rèn luyện kỹ năng Viết

trong “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề”

3 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của đề tài

4 Thực nghiệm và kết quả đạt được

Trang 9

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Báo cáo nghiên cứu là gì?

- Báo cáo nghiên cứu là văn bản trình bày kết quả nghiên cứu về một vấn đề dựa trên các dữ liệu khách quan, chính xác, đáng tin cậy

Viết báo cáo nghiên cứu là một hoạt động thực hành giúp chúng ta phát triển

kĩ năng tìm hiểu, khám phá về đời sống xã hội và tự nhiên (con người, sự kiện, địa điểm, môi trường,…) qua tư liệu thu thập được và trình bày kết quả tìm hiểu, khám phá đó Vấn đề nghiên cứu có thể là một vấn đề đời sống hoặc một vấn đề gợi ra từ tác phẩm văn học mà bạn đã đọc

- Báo cáo nghiên cứu chính là một hoạt động nghiên cứu mang tính khoa học, hay còn gọi là Nghiên cứu khoa học (NCKH)

NCKH là hoạt động phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học

về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người, giúp nâng cao sự hiểu biết của con người về những vấn đề cụ thể mà thực tiễn đòi hỏi cần phải được giải quyết

Trong nhà trường phổ thông nói chung, NCKH là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với học sinh Đó là giúp HS vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống; nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của HS; khơi dậy tiềm năng và phát huy tư duy sáng tạo, phát triển năng lực của HS; từ đó thắp lên ngọn lửa đam mê nghiên cứu cho HS

Hoạt động NCKH của HS THPT có những đặc điểm cơ bản như: Đối tượng hoạt động NCKH của HS là những tình huống và những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn có mối quan hệ gần gũi với kiến thức phổ thông mà các em đã được học; nội dung nghiên cứu không tập trung vào vấn đề quá to tát như đề tài của các nhà khoa học mà đi vào chi tiết đối tượng nhưng vẫn thể hiện được sự sáng tạo; thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu còn khá đơn giản…

1.1.2 Một số khái niệm trong nghiên cứu khoa học

- Đề tài nghiên cứu (research project): là hình thức tổ chức nghiên cứu khoa

học do một người hoặc một nhóm người thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc ứng dụng vào thực tế Mỗi đề tài nghiên cứu có tên đề tài (research title), là phát biểu ngắn gọn và khái quát về các mục tiêu nghiên cứu của

đề tài

- Nhiệm vụ nghiên cứu (research topic): là những nội dung được đặt ra để

nghiên cứu, trên cơ sở đã xác định tên đề tài nghiên cứu

Trang 10

- Đối tượng nghiên cứu (research focus): là bản chất cốt lõi của sự vật hay

hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong đề tài nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu (research objective): những nội dung cần được xem

xét và làm rõ trong khuôn khổ đối tượng nghiên cứu đã xác định nhằm trả lời câu hỏi “Nghiên cứu cái gì?” Dựa trên mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu được xây dựng

- Mục đích nghiên cứu (research purpose): ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Mục đích trả lời câu hỏi “Nghiên cứu nhằm vào việc gì?” hoặc “Nghiên cứu để phục

vụ cho cái gì?”

- Khách thể nghiên cứu (research population): là sự vật chứa đựng đối tượng

nghiên cứu Khách thể nghiên cứu có thể là một không gian vật lý, một quá trình, một hoạt động, hoặc một cộng đồng

- Đối tượng khảo sát (research sample): là mẫu đại diện của khách thể nghiên

cứu

- Phạm vi nghiên cứu (research scope): sự giới hạn về đối tượng nghiên cứu,

đối tượng khảo sát và thời gian nghiên cứu (do những hạn chế mang tính khách quan

và chủ quan đối với đề tài và người làm đề tài)

1.1.3 Một số yêu cầu khi viết báo cáo nghiên cứu

+ Nêu được đề tài và vấn đề nghiên cứu được đặt ra trong báo cáo + Trình bày được kết quả nghiên cứu thông qua hệ thống các luận điểm sáng

rõ, thông tin xác thực

+ Khai thác được các nguồn tham khảo chính xác, đáng tin cậy, sử dụng các trích dẫn, cước chú và phương tiện hỗ trợ phù hợp, thể hiện sự minh bạch trong công việc kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có

+ Có danh mục tài liệu tham khảo ở cuối báo cáo

1.1.4 Phân loại nghiên cứu khoa học

1.1.4.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả (Descriptive research): nhằm đưa ra một hệ thống tri thức giúp con người phân biệt các sự vật, hiện tượng xung quanh; bao gồm mô tả định tính và mô tả định lượng, mô tả một sự vật, hiện tượng riêng lẻ hoặc so sánh giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau

Ví dụ: Nghiên cứu sở thích của khách du lịch khi đến thăm thành phố Hồ Chí Minh

- Nghiên cứu giải thích (Explanatory research): nhằm làm rõ các qui luật chi phối các hiện tượng, các quá trình vận động của sự vật

Ví dụ: Nghiên cứu những lý do khiến khách du lịch ít quay lại để tham quan,

du lịch thêm nhiều lần nữa

Trang 11

- Nghiên cứu dự báo (Anticipatory research): nhằm chỉ ra xu hướng vận động của các hiện tượng, sự vật trong tương lai

Ví dụ: Nghiên cứu các xu hướng của ngành du lịch trong 10 năm tới

- Nghiên cứu sáng tạo (Creative research): nhằm tạo ra các qui luật, sự vật, hiện tượng mới hoàn toàn

Ví dụ: Nghiên cứu mối liên hệ giữa kết quả học tập với thời gian lướt facebook của sinh viên

1.1.4.2 Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research): nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc bên trong của các sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng

về chất lượng dịch vụ

- Nghiên cứu ứng dụng (Applied research): vận dụng thành tựu của các nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, hiện tượng; tạo ra các giải pháp, qui trình công nghệ, sản phẩm để áp dụng vào đời sống và sản xuất

Ví dụ: Nghiên cứu những giải pháp nhằm nâng cao lượng khách hàng đến mua sản phẩm tại cửa hàng

- Nghiên cứu triển khai (Implementation research): vận dụng các nghiên cứu

cơ bản và ứng dụng để tổ chức triển khai, thực hiện ở qui mô thử nghiệm

Ví dụ: Nghiên cứu thử nghiệm việc áp dụng Quy định về thời gian tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên

1.1.4.3 Phân loại theo lĩnh vực nghiên cứu

- Khoa học nhân văn

1.1.4.4 Phân loại theo phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định tính

- Phương pháp nghiên cứu định lượng

- Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp

Trang 12

1.1.4.5 Trình tự tiêu biểu của hoạt động nghiên cứu khoa học

Để xây dựng một đề tài nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả, thông thường có 7

bước tiêu biểu cho người làm công tác nghiên cứu khoa học

- Lựa chọn vấn đề nghiên cứu

- Tổng quan tài liệu nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu

1.1.5 Các bước nghiên cứu khoa học

Bước 1: Lên ý tưởng

Ý tưởng bao giờ cũng là bản phác thảo đầu tiên cho một dự định, một dự án

Đó là những viên gạch đầu tiên cho công trình nghiên cứu khoa học của chúng ta

Có thể tìm được ý tưởng từ đâu? Thật đơn giản vì nghiên cứu khoa học cũng chính

là những vấn đề thường xảy ra xung quanh cuộc sống của con người Ý tưởng được tìm thấy từ sách báo, mạng xã hội facebook, instagram…, từ đài phát thanh, từ quan sát thực tế cuộc sống hàng ngày của chúng ta…

Khi chúng ta trăn trở một vấn đề nào đó, thấy điều đó cần phải làm rõ điểm này, điểm kia thì đó là lúc trong suy nghĩ của bạn đã “nảy mầm” của sự sáng tạo, tìm tòi, lúc đó hãy chọn cho mình một hướng nghiên cứu phù hợp nhất

Bước 2: Xác định hướng đi phù hợp

Khi nảy sinh ra sự kiện làm chúng ta trăn trở, hãy gọi tên được vấn đề đó tóm gọn lại và bắt đầu vạch ra hướng nghiên cứu bằng cách tìm hết tất cả tài liệu xung quanh vấn đề đó xem đã có ai nghiên cứu vấn đề đó chưa, điểm tồn đọng lại của vấn

đề đó là gì, ý kiến của mọi người xung quanh về vấn đề đó như thế nào? Như vậy sẽ dần vẽ ra được định hướng cho đề tài của bạn tốt hơn

Bước 3: Chọn tên đề tài

Tên đề tài luôn là điều hấp dẫn người chấm, người đọc đầu tiên Do vậy, chúng

ta phải chọn được tên đề tài mang tiêu chí ngắn gọn, cô đọng được nội dung nghiên cứu của mình bao gồm từ đối tượng, phạm vi, chủ thể, khách thể, thời gian, không gian, địa điểm nghiên cứu, tránh lan man và lạc chủ đề nghiên cứu

Trang 13

Bước 4: Lập đề cương:

Đề cương là sự vạch ra ý tưởng một cách khoa học và dễ nhớ nhất, đề cương phác họa cơ bản những ý chính của một bài nghiên cứu khoa học thường bao gồm các mục sau:

- Đặt vấn đề (Lý do chọn đề tài)

- Mục đích nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

- Bảng hỏi nghiên cứu

- Nguồn số liệu, tài liệu tham khảo…

1.1.6 Một số lưu ý khi lựa chọn đề tài nghiên cứu

- Thứ nhất, việc lựa chọn đề tài phải xuất phát từ sự quan tâm, trăn trở của bản thân về những sự vật, sự việc, hiện tượng xung quanh trong cuộc sống Đó có thể là những vấn đề thường nhật hàng ngày xảy ra xung quanh địa phương, khu vực mình sinh sống; hoặc có thể là các vấn đề mang tính thời sự, đã và đang được cộng đồng quan tâm, có sự thu hút mạnh mẽ sự chú ý của mọi người đánh sâu vào sự nhận thức cũng như vấn đề nóng hổi cần được mổ xẻ để tìm ra nguyên nhân, giải pháp

Thứ hai, việc lựa chọn đề tài phải dựa trên căn cứ, cơ sở là tiêu chí của cuộc thi Bởi bất kể cuộc thi hay dự án nào cũng đều có tiêu chí để đánh giá riêng, từ hình thức bài nghiên cứu đến nội dung nghiên cứu và cách chấm điểm Cá nhân hay nhóm nghiên cứu phải tìm hiểu thật kĩ thể lệ cuộc thi để từ đó có định hướng phát triển bài nghiên cứu của mình một cách phù hợp từ việc áp dụng pháp luật, áp dụng thực tiễn cuộc sống, phương pháp nghiên cứu, phương án giải quyết vấn đề… Đến cuối cùng, kết quả cuộc thi chính là sự đền đáp, công nhận xứng đáng cho nỗ lực, công sức mình bỏ ra

Thứ ba, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu phải phù hợp – phù hợp với năng lực

và thời gian Khi bắt tay vào nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải trả lời các câu hỏi rằng nghiên cứu mang lại lợi ích gì cho mình? Mục đích làm nghiên cứu khoa học là vì đâu? Mình đam mê lĩnh vực gì? Mình có sẵn sàng đánh đổi thời gian cho công cuộc nghiên cứu khoa học?… để từ đó tạo dựng động lực từ nội tại bên trong con người mình, nhìn nhận năng lực của chính mình đến đâu để lựa chọn được đề tài nghiên cứu vừa sức Đấy chính là bước khởi đầu cho hành trình nghiên cứu

Thứ tư, chúng ta nên liên hệ và tìm được giáo viên hướng dẫn phù hợp Bởi giáo viên là những thầy cô có năng lực, chuyên môn có thể dẫn dắt ta đi đúng hướng,

hỗ trợ trong việc đưa ra phương pháp ngay từ đầu để tránh bị lạc hướng khi nghiên cứu Sinh viên nên mạnh dạn và chủ động trao đổi ý kiến với thầy cô, có thể bằng cách trực tiếp hoặc qua mạng xã hội, qua e-mail…

Trang 14

Ví dụ khi chọn đề tài nghiên cứu lĩnh vực giáo dục – xã hội, chúng ta có thể lựa chọn một trong các vấn đề

- Ảnh hưởng của khoa học công nghệ 4.0 đến nền giáo dục hiện nay

- Nhận định quan điểm: “Đại học không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công”

- Thái độ của cha mẹ trong việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên hiện nay

- Mạng xã hội có phải là nền tảng tốt để nói về quan điểm bản thân?

Hoặc chọn đề tài nghiên cứu khoa học về môi trường:

- Yếu tố con người ảnh hưởng đến môi trường như thế nào và phương pháp giải quyết

- Ô nhiễm môi trường không khí trên địa bàn Thành phố Hà Nội

- Hỏa hoạn và biện pháp ngăn chặn

- Bài 1: Sức hấp dẫn của truyện kể

- Bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca

- Bài 3: Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận

- Bài 4: Sức hấp dẫn của Sử thi

Trong bài 4: Sức hấp dẫn của Sử thi có nội dung phần Viết: Viết báo cáo

nghiên cứu về một vấn đề được bố trí dạy trong 2 tiết

Bố cục của bài học như sau:

- Yêu cầu của viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề

- Phân tích bài viết tham khảo (một tác phẩm Sử thi)

- Thực hành viết (Chuẩn bị viết, xây dựng đề cương, viết, chỉnh sửa hoàn thiện)

Đây là một nội dung học hoàn toàn mới đối với học sinh THPT Với những kiến thức này, học sinh sẽ được làm quen với cách viết một báo cáo nghiên cứu khoa

Trang 15

học một cách bài bản, hệ thống Và nếu có định hướng đúng, biết mở rộng cách rèn luyện kĩ năng viết nghiên cứu thì học sinh sẽ dành được kết quả tốt trong các cuộc thi về NCKH

1.3 Một số vấn đề về tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu trong “Chuyên

đề học tập Ngữ văn 10”

Bên cạnh SGK Ngữ văn 10, học sinh lớp 10 còn có cuốn Chuyên đề học tập nhằm bổ trợ thêm kiến thức Cấu trúc sách Chuyên đề học tập Ngữ văn 10 có 3 nội dung chính:

- Chuyên đề 1: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân

gian (được bố trí học trong 10 tiết)

- Chuyên đề 2: Sân khấu hóa tác phẩm văn học (được bố trí học trong 15 tiết)

- Chuyên đề 3: Đọc, viết, giới thiệu một tập thơ, một tập truyện ngắn hoặc

một tiểu thuyết (được bố trí học trong 10 tiết)

Trong 3 chuyên đề trên thì Chuyên đề 1 được giáo viên và học sinh quan tâm nhiều nhất bởi đó là một nội dung rất thiết thực, gần gũi với học sinh THPT trong vấn đề NCKH

Bố cục của Chuyên đề 1 như sau:

- Phần 1: Tập nghiên cứu (gồm có: Xác định đề tài, vấn đề, mục tiêu, nội dung

và lập kế hoạch nghiên cứu; Thu thập thông tin; Xử lý, tổng hợp thông tin)

- Phần 2: Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian (gồm có: Cách triển khai báo cáo nghiên cứu theo từng loại đề tài; Thuyết trình về kết quả nghiên cứu)

Đây là cơ sở quan trọng để học sinh tiếp cận và làm quen với hoạt động nghiên cứu Ban đầu là nghiên cứu văn học dân gian, tiếp đó là những vấn đề trong cuộc sống và cao hơn sẽ là những vấn đề mang tính khoa học

2 Cơ sở thực tiễn 2.1 Khảo sát thực trạng việc viết báo cáo nghiên cứu trong học sinh trên địa bàn huyện Thanh Chương

Để tìm hiểu thực trạng kỹ năng viết báo cáo nghiên cứu trong học sinh, tôi đã tiến hành khảo sát 9 lớp ở 3 trường: THPT Nguyễn Sỹ Sách, THPT Đặng Thúc Hứa, THPT Đặng Thai Mai

Hình thức khảo sát: thông qua phiếu khảo sát Cách thức khảo sát: Phát phiếu tận tay cho HS trong 15 phút sinh hoạt đầu giờ

Ở trường bạn, gửi phiếu nhờ đồng nghiệp khảo sát hộ ở từng lớp, sau đó gửi phiếu lại để tổng hợp số liệu

Trang 16

1 Có ý tưởng khoa học, nêu được

một số đề tài nghiên cứu

2 Biết cách thu thập thông tin cho

một đề tài nghiên cứu

3 Biết xây dựng đề cương bài báo cáo

4 Biết viết bài báo cáo nghiên cứu hoàn chỉnh

Bảng kết quả khảo sát thực trạng

HS có các kĩ năng để viết một bài báo cáo nghiên cứu

Trường THPT Đặng Thúc Hứa

Trường THPT Đặng Thai Mai

Trang 17

Trên cơ sở số liệu khảo sát thực trạng, chúng tôi dùng phần mềm Add chart

để tổng hợp theo biểu đồ hình tròn giúp chúng ta dễ nhận diện thực trạng của vấn đề như sau:

Kết quả khảo sát thực trạng

Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy: số HS chưa có các kỹ năng để viết một

bài báo cáo nghiên cứu chiếm tỉ lệ nhiều hơn

(67,89%, màu cam) so với số HS có kĩ năng viết một bài báo cáo nghiên cứu (32,11%, màu xanh) Thực tế đó cho thấy nếu giáo viên không mạnh dạn đưa ra các phương pháp dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng

và hình thành năng lực thực sự cho học sinh thì trước mắt HS sẽ không hiểu nội dung bài học và lâu dần sẽ không hình thành được cho

HS khả năng nghiên cứu khoa học trong nhà trường

Trên cơ sở khảo sát, nắm bắt tình hình, chúng tôi nhận thấy được một số vấn

đề về thực trạng viết báo cáo nghiên cứu khoa học của HS trường THPT Nguyễn Sỹ Sách như sau

2.2 Hoạt động viết báo cáo nghiên cứu của học sinh THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương phát triển chưa mạnh

Nghiên cứu khoa học của học sinh là hoạt động quan trọng trong trường trung học cơ sở, trung học phổ thông hiện nay Qua khảo sát 70 cán bộ quản lí, giáo viên

và 140 học sinh THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương Kết quả cho thấy, phần lớn cán bộ quản lí, giáo viên đã nhận thức được vai trò của hoạt động nghiên cứu Tuy nhiên, vẫn còn không ít giáo viên và học sinh chưa nhận thức đầy đủ về các ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu khoa học Từ năm học 2020 trở về trước, ở mỗi trường THPT trên địa bàn huyện chỉ có khoảng 5-7 sản phẩm nghiên cứu khoa học của Giáo viên và 1-2 sản phẩm NCKH của Học sinh ở mức độ cấp trường Và các sản phẩm NCKH đã đạt vẫn chưa xứng tầm với quy mô phát triển giáo dục của huyện nhà, tỉnh nhà

Nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong hoạt động NCKH của học sinh THPT là Nhà trường chưa tạo được động lực cho giáo viên hướng dẫn và học sinh tham gia NCKH Bên cạnh đó, điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật của học sinh trong nhà trường còn thiếu thốn, chưa đồng bộ Năng lực NCKH của học sinh còn hạn chế

Trang 18

Thực trạng này là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác NCKH trong các nhà trường

2.3 Hoạt động viết báo cáo nghiên cứu của học sinh THPT Nguyễn Sỹ Sách còn nhiều hạn chế

Cũng như một số trường THPT trong huyện Thanh Chương, học sinh ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách cũng tham gia vào một số hoạt động nghiên cứu như: sáng tạo KHKT, báo cáo chuyên đề, báo cáo dự án dạy học… cấp trường và đạt được một

số giải cấp tỉnh về sáng tạo KHKT Tuy nhiên thành tựu đạt được cũng rất khiêm tốn Từ năm 2016 đến năm 2022 trường THPT Nguyễn Sỹ Sách mới chỉ có 3 em đạt giải KHKT cấp tỉnh (năm 2016 đạt giải khuyến khích; năm 2019 đạt giải ba và năm

2022 đạt giải ba)

Số lượng học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách dao động hằng năm từ 1210

em đến 1240 em Trong đó số Học sinh giỏi toàn diện chiếm khoảng 18%, HSG cấp tỉnh hằng năm đạt 75-80% có năm đạt trên 80% Tuy nhiên số học sinh tham gia NCKH đạt tỉ lệ rất thấp, chưa đạt 0,01%

Băn khoăn trước thực trạng này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu nguyên nhân đối với 45 em học sinh khá, giỏi tại trường và được biết có 31% học sinh (14 em) không quan tâm đến hoạt động NCKH trong nhà trường, các em cho rằng hoạt động nghiên cứu hoa học là quá cao đối với bản thân; có 68,8% học sinh (31 em) mong muốn được tham gia hoạt động NCKH nhưng không thể biến ý tưởng sáng tạo của mình thành một báo cáo nghiên cứu hoàn chỉnh, nghĩa là các em không biết cách trình bày một sản phẩm khoa học một cách bài bản

Đó là thực trạng để chúng tôi đưa ra một số biện pháp để khắc phục nhằm đẩy mạnh hoạt động viết báo cáo nghiên cứu khoa học trong học sinh THPT

2.4 Bài thực hành viết: “Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề” (SGK Ngữ văn

10) chưa phát huy hết năng lực viết báo cáo nghiên cứu của HS

Hiện nay trong nhà trương THPT tồn tại hai chương trình dạy học: Chương trình dạy học cũ (2006) đối với học sinh 11,12 và Chương trình dạy học mới (2018) đối với học sinh lớp 10 Thực tế cho thấy Chương trình GDPT 2018 đối với môn Ngữ văn có nhiều điểm ưu việt so với Chương trình cũ Cụ thể là đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh

Năm học 2022 - 2023, trường THPT Nguyễn Sỹ Sách chọn dạy bộ sách Kết nối Tri thức với Cuộc sống đối với môn Ngữ văn Cũng như những bộ sách khác, bộ sách Kết nối Tri thức với Cuộc sống được biên soạn một cách khoa học hướng đến rèn luyện năng lực toàn diện (nghe, nói, đọc và viết) cho học sinh Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong việc tiếp cận bài học một cách sáng tạo, linh hoạt

Trang 19

Chẳng hạn như trong SGK Ngữ văn tập 1, bài “Sức sống của Sử thi” có kết cấu như sau:

Phần Đọc:

Tri thức ngữ văn

Văn bản 1: “Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác” (Trích I-li-át – Hô-me-rơ)

Văn bản 2: “Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời” (Trích “Đăm Săn”- Sử thi đê)

Ê-Thực hành tiếng Việt: Sử dụng trích dẫn cước chú và cách đánh dấu phần bị

tỉnh lược trong văn bản

Phần Viết: Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề Phần nói và nghe: Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề

Cách bố trí kiến thức như thế là rất phù hợp với việc hướng đến rèn luyện năng

lực, phẩm chất cho học sinh Tuy nhiên nội dung ở phần Viết “Viết báo cáo nghiên

cứu về một vấn đề” đang dừng lại ở việc hướng dẫn học sinh nghiên cứu một vấn đề

về văn học dân gian Kể cả Chuyên đề học tập “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về

một vấn đề văn học dân gian” cũng dừng lại ở việc nghiên cứu một vấn đề văn học

dân gian, và chưa hướng đến nghiên cứu các vấn đề trong đời sống

Vốn dĩ học sinh vùng nông thôn rất thụ động trong cách học, nếu giáo viên không hướng dẫn cụ thể thì học sinh cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong cách triển khai nghiên cứu các vấn đề trong cuộc sống, trong khoa học Do đó, giáo viên cần

có những giải pháp mở rộng các kỹ năng nhằm hỗ trợ, giúp đỡ học sinh hướng đến nghiên cứu các vấn đề trong đời sống và khoa học

2.5 Giáo viên và HS gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận Chương trình Ngữ văn

lớp 10 (2018) 2.5.1 Khó khăn từ phía giáo viên

Chương trình Ngữ văn lớp 10 - Chương trình GDPT 2018 được thực hiện bắt đầu từ năm học 2022-2023 Mặc dù chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu chương trình SGK rất kĩ nhưng khi tiếp cận chương trình, giáo viên vẫn không tránh khỏi sự bỡ ngỡ, thậm chí rất lúng túng khi triển khai dạy học ở mỗi bài

Do đó nhiều giáo viên lâu nay đã quen kiểu dạy cũ (nhất là những giáo viên

đã có tuổi), dù đã cố gắng đổi mới và hướng tới người học là trung tâm nhưng thực chất phần lớn giáo viên vẫn đóng vai trò trung tâm trong việc giảng dạy Nhiều giáo viên vẫn nặng tâm lý cho rằng nều nói ít, ghi bảng ít, học sinh sẽ mất kiến thức, sẽ không hiểu bài…(một phần cũng do thói quen tự tìm hiểu, tự học tập của học sinh chưa nhiều) Bên cạnh đó việc áp dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học vào thực tiễn nhất là ở vùng nông thôn cũng là một thách thức lớn

Trang 20

Một khó khăn nữa của giáo viên thường đến từ việc thiết kế các hoạt động trong giờ học, giáo viên vẫn ôm đồm quá nhiều dẫn đến tình trạng “cháy giáo án”, không đủ thời gian khi dạy trên lớp; hoặc lúng túng khi triển khai nội dung vì quá nhiều kiến thức không biết đưa cái nào bỏ cái nào Và thực tế đó dẫn đến hiện tượng giáo viên “tranh việc” của học sinh, không để cho các em làm việc theo định hướng ban đầu đã đặt ra khi thiết kế giáo án

2.5.2 Khó khăn từ phía học sinh

Nhìn chung, chương trình GDPT 2018, giáo viên lấy học sinh làm trung tâm cho mọi hoạt động giảng dạy Qua đó, giúp học sinh được tôn trọng sự khác biệt và đạt được độc lập trong tư tưởng Và mục tiêu của môn Ngữ văn là giúp học sinh nắm được ngôn ngữ tiếng Việt, có một kĩ năng nghe và đọc tốt, biết khám phá và tiếp cận giá trị của văn chương để hướng tới giá trị chân, thiện, mĩ Tuy vậy, thực trạng học Văn của học sinh ngày nay nói chung, ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách nói riêng là nỗi băn khoăn lớn nhất của thầy cô giảng dạy môn Ngữ văn

Hiện nay, việc bùng nổ mạng Intenet đã khiến việc học của nhiều học sinh trở nên thụ động, hoàn toàn thờ ơ với SGK Ngữ văn là môn học rất cần đọc, đọc để soạn bài, đọc để hiểu và chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên Vậy mà hầu hết các em đều không chịu đọc Việc soạn bài đều đối phó với giáo viên bằng cách mở Google chép một số câu trả lời mà không cần biết đúng sai như thế nào Do đó việc hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức văn bản trong SGK cũng rất khó chứ chưa nói đến việc yêu cầu các em vận dụng để thực hiện những nội dung tương tự

Các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết của một bộ phận học sinh ngày nay còn rất yếu nên việc chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp dạy học phát triển năng lực (ở môn Ngữ văn là năng lực giao tiếp, năng lực văn học) là một điều không hề dễ dàng chút nào Ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách, trong các lớp chọn tốp đầu, mỗi lớp có khoảng 18/42 em tự tin với 4 kĩ năng này; còn các lớp tốp giữa có khoảng 10/42 em; còn các lớp tốp sau chỉ có khoảng 5/42 em Đặc biệt ở tốp 5 lớp sau có rất nhiều em nhút nhát, không tự tin khi lên bảng thuyết trình một nội dung nào đó Đặc biệt việc thảo luận, phản biện về các nội dung liên quan đến bài học rất hiếm khi xảy ra Thực tế đó làm cho nhiều giáo viên cảm thấy bất lực, dẫn đến việc giáo viên tự nói cho hết bài Thực trạng học như thế nếu diễn ra lâu dài, học sinh sẽ rơi vào trạng thái thụ động, học trước, quên sau

Hiện nay, thiết bị, đồ dùng, như tranh ảnh hay video phục vụ cho Chương trình Ngữ văn lớp 10 đang còn đơn điệu, ít ỏi Trong thư viện nhà trường chỉ có mấy cuốn SGK, Sách giáo viên dành cho giáo viên, tranh ảnh, video đều không có Giáo viên khi lên lớp chủ yếu thông qua mạng Internet để tìm kiếm các nguồn học liệu phù hợp phục vụ cho mỗi bài dạy Để cho mỗi bài dạy trở nên sinh động, giáo viên

cố gắng tự làm phiếu học tập, hoặc hướng dẫn học sinh làm video giới thiệu nội dung bài học, thực hiện sân khấu hóa… tạo hứng thú cho học sinh và tránh được sự nhàm

Trang 21

chán trong mỗi tiết học Tuy nhiên thực trạng đó chưa có sự đồng bộ và thống nhất trong giáo viên và chất lượng học sinh ở mỗi lớp cũng khác nhau nên hiệu quả và chất lượng vẫn không đồng đều

Đối với học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách, khi tiếp cận bài thực hành

“Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề”, nhiều em cảm thấy rất khó khăn từ bước

lựa chọn đề tài, tìm hiểu thu thập thông tin, xây dựng đề cương đến viết thành bài nghiên cứu

Chẳng hạn khi giáo viên nêu yêu cầu: Hãy lựa chọn đề tài và viết một bài nghiên cứu về Sử thi Đam Săn Nhiều học sinh xác định được các đề tài cụ thể như:

Văn hóa của người Ê-Đê trong Sử thi Đam Săn; Vấn đề văn hóa trang phục của người Ê-Đê trong Sử thi Đam Săn; Tục lệ Chuê nuê của người Ê-Đê trong Sử thi Đam Săn… Tuy nhiên khi đến phần xây dựng đề cương thì các em bắt đầu lúng túng

hoặc lập đề cương - dàn ý như làm một bài làm văn vậy Lúng túng từ bước xây dựng đề cương cho nên học sinh không thể triển khai hoàn chỉnh bài nghiên cứu

Một khó khăn nữa là khi giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng cách viết Nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian để nghiên cứu về một vấn đề trong đời sống thì các em càng tỏ ra lúng túng, thậm chí không hiểu phải làm như thế nào cả Nhiều

em đối phó bằng cách viết bài nghiên cứu đó như một bài làm văn nghị luận văn học hay nghị luận xã hội

Thực trạng này cho thấy, chúng ta cần phải tìm ra nhiều giải pháp để làm sao chỉ trong hai tiết dạy có thể giúp học sinh hình thành được một cách đầy đủ các kỹ năng cần thiết để các em mạnh dạn tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu các vấn đề diễn ra trong đời sống hằng ngày

Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG “VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU MỘT VẤN ĐỀ”

Như chúng tôi đã nêu một trong những mục tiêu của đề tài là từ việc Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian để hướng đến Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề trong đời sống Đây là một cách hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức

để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn

2.1 Hướng dẫn học sinh cách viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian

2.1.1 Tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian được học trong sách giáo khoa

Sách giáo khoa Ngữ văn 10 - tập 1 (Bộ Kết nối Tri thức với Cuộc sống) đã hướng dẫn học sinh thực hành viết báo cáo nghiên cứu theo các bước sau đây:

Trang 22

+ Kết luận: Khẳng định kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu, gợi mở những hướng tiếp cận mới

+ Tài liệu tham khảo: Ghi rõ tên tác giả, thời gian công bố tài liệu, nơi công

bố

Trên cơ sở tìm hiểu dàn ý “Dấu ấn của sử thi Ấn Độ Ra-ma-ya-na trong văn

hóa Việt Nam” giáo viên hướng dẫn học sinh tập nghiên cứu, viết báo cáo về một

vấn đề văn học dân gian được học trong chương trình Ngữ văn 10 tập 1

Chẳng hạn như sau khi học xong văn bản “Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời” (Trích Đăm Săn) – Sử thi Ê-đê, giáo viên có thể gợi ý cho học sinh lựa chọn một trong các đề tài nghiên cứu như: Nét độc, lạ trong tập tục Chuê nuê của người Ê-đê;

Vẻ đẹp văn hóa trang phục của người Ê-đê; Khát vọng chinh phục thế giới tự nhiên của người Ê-đê thông qua nhân vật Đăm Săn; Văn hóa, đời sống của người Ê-đê từ

sử thi Đăm Săn đến đời thực”…

Trên cơ sở lựa chọn đề tài, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh cách thu thập thông tin: Cách thu thập phổ biến nhất hiện nay là gõ Google Chẳng hạn khi

chọn đề tài Nét độc, lạ trong tập tục Juê nuê của người Ê-đê, học sinh chỉ cần gõ

dòng chữ này trên Google, nó sẽ hiện lên cho chúng ta nhiều thông tin quan trọng, các em đọc và nghiên cứu rồi lựa chọn nội dung phù hợp với đề tài của mình

Sau khi thu thập xong thông tin, học sinh tiến hành xây dựng đề cương theo 4 phần đã được hướng dẫn: Đặt vấn đề - Giải quyết vấn đề - Kết luận – Tài liệu tham khảo Đây là khâu rất quan trọng trước khi học sinh viết thành bài nghiên cứu hoàn chính, vì thế giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện thành thục các bước

Ví dụ đề cương cho đề tài: “Nét độc, lạ trong tập tục Juê nuê của người

Ê-đê” có thể xây dựng như sau:

Trang 23

1 Đặt vấn đề:

Sử thi Đăm Săn là một tác phẩm văn học chứa đựng nhiều vẻ đẹp văn hóa đa dạng, trong

đó có tập tục Juê chuê là một nét văn hóa đầy bí ẩn, lí thú

2 Giải quyết vấn đề:

2.1 Quan niệm về tục Juê chuê của người Ê-đê:

- Cộng đồng dân tộc Ê Đê trước đây sống biệt lập ở những vùng núi cao, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên và luôn phải đối phó với thiên tai, dịch bệnh, nên đồng bào có tục “Juê nuê” (nối dây) để duy trì nòi giống, sức lao động, bảo vệ buôn làng

- Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có quyền lực và quyết định nhiều vấn đề quan trọng Vì thế, trong trường hợp chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình Ngược lại, nếu người vợ chết thì chồng người phụ nữ ấy buộc phải lấy em gái vợ (em ruột hoặc em họ của vợ) để nối giống nòi Những người này được gọi là “nuê” (nối dây)

2.2 Các hình thức “Juê nuê” (nét độc đáo)

- Đi tìm người thay thế: đây là trường hợp khi một trong hai (bố hoặc mẹ) mất đi, việc tìm cho những đứa trẻ bất hạnh một người để nuôi dạy chúng là điều cần thiết, nhưng không hề dễ dàng, cần có người thay thế phù hợp

- Tự nguyện: người phụ nữ trong dòng họ của vợ chấp nhận làm vợ Nuê không những xuất phát từ tình yêu thương với người góa kia mà còn có trách nhiệm và tình thương đối với những đứa trẻ bất hạnh, mang lại hạnh phúc cho con cháu, dòng họ và gìn giữ truyền thống mẫu

hệ

2.3 Giá trị văn hóa của tập tục “Juê nuê”

- Việc những người phụ nữ, đàn ông chấp nhận làm vợ, chồng “nuê” không những xuất phát từ tình yêu thương, mà còn có trách nhiệm và tình thương đối với những đứa trẻ của mình

Đó là biểu hiện của tính nhân văn cao đẹp

- Tuy nhiên, vẫn có những đứa trẻ mồ côi này sau khi mẹ chết, không có người nối dây, theo đúng luật tục cha cũng bỏ trở về nhà bố mẹ và đi cưới vợ khác Đây là hậu quả đau lòng của một luật tục có từ rất lâu ở vùng đất này

3 Kết luận:

4 Tài liệu tham khảo:

Việc xây dựng đề cương khó nhất là ở cách xác lập luận điểm, vì thế giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết cách đặt ra các vấn đề để làm sáng tỏ đề tài Và có nhiều cách để triển khai luận điểm như đi theo trật tự thời gian, không gian; đi theo trật tự logic của vấn đề; đi từ khái quát đến cụ thể…

Khi học sinh xây dựng đề cương rõ ràng, cụ thể thì việc triển khai viết bài nghiên cứu sẽ trở nên đơn giản nhẹ nhàng Nội dung quan trọng ở bước này chính là

Trang 24

cách trình bày phải có sự kết hợp logic giữa ngôn ngữ, dẫn chứng, lí lẽ để bài nghiên cứu trở nên thuyết phục

2.1.2 Tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian ngoài sách giáo khoa

Từ việc tập nghiên cứu, viết bài về một vấn đề văn học dân gian được học trong sách giáo khoa, giáo viên mở rộng hướng dẫn học sinh tập nghiên cứu những vấn đề văn học dân gian ngoài sách giáo khoa Phần này giáo viên có thể gợi ý cho học sinh vận dụng kiến thức trong Chuyên đề học tập để thực hiện các bước tập nghiên cứu

và viết báo cáo nghiên cứu

Đầu tiên là khâu chọn đề tài: việc chọn một đề tài về một vấn đề văn học dân gian ngoài sách giáo khoa vừa dễ vừa khó: dễ là nó rất rộng, có nhiều đề tài lựa chọn, nhưng khó là làm sao để chọn đúng, hay, vừa sức với học sinh

Ví dụ giáo viên có thể gợi ý cho học sinh chọn những đề tài vừa sức nghiên cứu với mình bằng cách đi vào một tác phẩm cụ thể, một nhân vật/hình tượng cụ thể, hoặc một vấn đề truyền thống ở một lễ hội cụ thể… thì học sinh sẽ dễ nghiên cứu hơn, chẳng hạn như:

- Vẻ đẹp của người lao động trong một số bài ca dao

- Về nhân vật chàng trai mồ côi, nghèo khổ trong truyện dân gian

- Hình tượng con cò, dòng sông, con thuyền… trong ca dao Việt Nam

- Sức sống của lễ hội đền Dạ Trạch (gắn với truyền thuyết về Chử Đồng Tử và Tiên Dung)…

Tiếp đó là bước thu thập thông tin: cũng giống như ở trên, học sinh có thể gõ Google hoặc mượn tài liệu ở thư viện nhà trường, ngoài ra học sinh có thể thực hiện phỏng vấn chuyên gia, trải nghiệm thực tiễn… Cách thu thập thông tin hoàn toàn

dựa vào việc mình chọn đề tài nào Chẳng hạn chọn đề tài Sức sống của lễ hội đền

Dạ Trạch (gắn với truyền thuyết về Chử Đồng Tử và Tiên Dung)…thì học sinh nên

chọn cách thu thập thông tin bằng hình thức: Phỏng vấn chuyên gia, trải nghiệm thực tiễn Bởi đây là cách thu thập thông tin quan trọng để nắm bắt được những vấn đề thực tế ở một lễ hội truyền thống của địa phương Nhưng việc trải nghiệm để thực hiện những đề tài như thế này rất khó do khoảng cách về địa lý Bởi vậy, giáo viên nên hướng dẫn học sinh chọn những đề tài khác dễ thực hiện hơn Chẳng hạn như

chọn đề tài Vẻ đẹp của người lao động trong một số bài ca dao học sinh sẽ dễ tìm

kiếm thông tin hơn, các tài liệu liên quan sẽ nhiều hơn Do đó, để tìm kiếm thông tin một cách chính xác, học sinh phải xác định rõ bài ca dao nào mình lựa chọn để tìm hiểu vẻ đẹp của người lao động, từ mới có thể thu thập các thông tin liên quan Bước thứ 3 là xây dựng đề cương: việc xây dựng đề cương cho một vấn đề văn học dân gian ngoài sách khoa cũng tiến hành các bước như SGK đã hướng dẫn

Trang 25

Chẳng hạn với đề tài Vẻ đẹp của người lao động trong một số bài ca dao, giáo

viên có thể hướng dẫn học sinh lập đề cương như sau:

1 Đặt vấn đề:

Ca dao Việt Nam phản ánh vẻ đẹp nhiều mặt của người lao động

2 Giải quyết vấn đề:

2.1 Người lao động nhận thức rõ được về thân phận của mình

- Thân phận nhỏ bé, thấp hèn (thông qua hình ảnh so sánh “như miếng cau khô, như giếng giữa đàng…)

- Bị lệ thuộc, hông có quyền quyết định cuộc đời mình (thông qua mô típ “Thân em….”)

2.2 Người lao động luôn có một đời sống tinh thần phong phú

- Họ luôn mong ước có một tình yêu đẹp, một cuộc sống hạnh phúc

Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

- Tình cảm chung thủy sắt son với người mình yêu

Tay nâng chén muối đĩa gừng, Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau

Tay bưng đĩa muối sàng rau, Căn duyên ông trời định, bỏ nhau sao đành

- Tình yêu quê hương, làng xóm

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

3 Kết luận

- Ca dao là kho tàng quý giá về mặt tinh thần của người lao động Việt Nam xưa

4 Tài liệu tham khảo

Sau khi hoàn thành đề cương, giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành bài nghiên cứu một cách đầy đủ, chu đáo

2.2 Hướng dẫn học sinh cách viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề trong đời

sống

Sau khi hướng dẫn học sinh tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề trong đời sống Đây là nội dung học sinh không được học trong SGK mà là nội dung học sinh cần biết vận dụng những kiến thức đã học để có

Trang 26

những sản phẩm nghiên cứu về một vấn đề trong đời sống Do đó giáo viên phải có định hướng cụ thể để học sinh tiếp cận

Trong giới hạn của đề tài này, tôi xin trình bày cách hướng dẫn học sinh nghiên cứu hai nội dung cụ thể:

- Tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề trong đời sống

- Tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề khoa học

2.2.1 Tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề trong đời sống

Đầu tiên, để chọn được đề tài về một vấn đề trong đời sống nói chung, học sinh cần hình dung được những vấn đề liên quan đến cuộc sống hiện đại mà chúng ta đang sinh sống, học tập, làm việc để có cái nhìn đầy đủ Chẳng hạn như:

- Các vấn đề liên quan đến gia đình: quan niệm sống, cách giáo dục con cái, bạo lực gia đình, việc học hành vui chơi của con cái, phát triển kinh tế gia đình, truyền thống gia đình, sức khỏe gia đình, văn hóa gia đình…

- Các vấn đề liên quan đến môi trường sống: Ô nhiễm môi trường, vấn đề trồng cây xanh ở thành phố, rác thải các nhà máy, lốc xoáy sạt lở ở miền núi…

Thực tế những vấn đề trong đời sống rất đa dạng và phong phú để học sinh lựa chọn Nhưng học sinh phải biết cách lựa chọn sao cho phù hợp với sức nghiên cứu của mình Không nên chọn những vấn đề quá lớn, ở tầm vĩ mô, quá mức hiểu biết của mình Nếu học sinh biết chọn những đề tài đơn giản, phổ biến thì sẽ dễ hơn trong việc lựa chọn thông tin Chẳng hạn lựa chọn các đề tài sau đây:

- Hiện tượng bạo lực gia đình ở vùng nông thôn hiện nay

- Quan điểm trái chiều trong việc giáo dục con cái trong thời đại Công nghệ 4.0

- Hiện tượng sạt lở, lốc xoáy vào mùa mưa ở miền núi Nghệ An

… Bước tiếp theo của việc nghiên cứu là thu thập, tìm kiếm thông tin Cách tìm kiếm thông tin dễ nhất vẫn qua mạng Intenet Chẳng hạn, khi học sinh lựa chọn đề

tài Hiện tượng bạo lực gia đình ở nông thôn hiện nay, chỉ cần học sinh gõ lên Google

nhiều thông tin về nội dung sẽ hiện lên để học sinh tìm kiếm Việc tìm kiếm thông tin, cần phải biết lựa chọn sao cho phù hợp với nội dung nghiên cứu, phải có trích dẫn, lược chú cụ thể, tránh trường hợp cóp nguyên bài viết của người khác thành bài viết của mình, tức là phải tránh việc vi phạm bản quyền (nội dung này học sinh đã được học)

Trên cơ sở thu thập thông tin, học sinh bắt đầu xây dựng đề cương theo các

phần Chẳng hạn với đề tài: Hiện tượng bạo lực gia đình ở nông thôn hiện nay, học

sinh ở vùng Thanh Chương sẽ đi sâu nghiên cứu hiện tượng bạo lực gia đình ở địa phương mình sinh sống để có số liệu cụ thể, trên cơ sở đó nghiên cứu rộng hơn, sâu hơn Sau đây là một dạng đề cương cho đề tài trên

Trang 27

1 Đặt vấn đề:

- Bao lực gia đình đang là vấn đề nhức nhối của nhiều vùng nông thôn hiện nay

2 Giải quyết vấn đề:

2.1 Thực trạng: Nêu số liệu cụ thể về vấn nạn bạo lực gia đình

- Trung bình mỗi năm, nước ta xảy ra hơn 31.500 vụ bạo lực gia đình, mỗi ngày có

64 phụ nữ, 10 trẻ em là nạn nhân của hành vi bạo lực

- Tỉnh Nghệ An từ 2010-2020 có đến 8.400 vụ bạo lực gia đình với nhiều hậu quả

- Ở nông thôn vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ

- Rượu chè, ghen tuông, tệ nạn xã hội và nhận thức của các đối tượng về hành vi bảo vệ hạnh phúc gia đình

- Người phụ nữ khi bị bạo lực thường có tâm lí bao che, sợ hãi, không dám tố cáo

2.3 Hậu quả:

- Hạnh phúc gia đình tan vỡ, con cái hư hỏng

- Tổn thương về tinh thần cho cả gia đình

- Người bị bạo hành chịu thương tật, tàn tật suốt đời

2.4 Giải pháp

- Cần sự đấu tranh quyết liệt của chính đối tượng bị bạo hành

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật

- Nâng cao khả năng nhận thức về quyền, kỹ năng cho phụ nữ

- Các địa phương có phương án triển khai các mô hình phòng chống bạo lực gia đình

3 Kết thúc vấn đề:

- Vấn đề bạo lực không còn là vấn đề riêng của phụ nữ mà là nỗi đau chung của xã hội, cần phải được loại bỏ

4 Tài liệu tham khảo:

Học sinh liệt kê các tài liệu mình đã sử dụng trong bài nghiên cứu

Sau khi hoàn thành đề cương, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh viết bài báo cáo nghiên cứu dựa trên khả năng của từng cá nhân Học sinh cần phải rèn luyện

kĩ năng viết thật nhiều mới có được những bài nghiên cứu có giá trị

2.2.2 Tập nghiên cứu, viết báo cáo về một vấn đề khoa học

Từ nghiên cứu một vấn đề trong đời sống đến nghiên cứu một vấn đề mang tính khoa học là một bước vận dụng hết sức quan trọng đối với học sinh Bởi hiện nay có rất nhiều cuộc thi Khoa học liên quan đến học sinh như KHKT, Văn hóa đọc… đặc biệt là cuộc thi KHKT diễn ra hằng năm đối với học sinh THPT Cho nên từ những

Trang 28

vấn đề của đời sống, học sinh biết vận dụng kiến thức đã được học để đưa ra các giải pháp để góp phần giải quyết thực tiễn thì đó chính là khoa học Nếu ngay từ lớp 10 học sinh được làm quen, được rèn luyện cách tập nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu thì chắc chắn nhiều học sinh sẽ có những sản phẩm Khoa học thú vị, bổ ích Tuy nhiên để có một sản phẩm nghiên cứu Khoa học, cần có sự hướng dẫn chu đáo của giáo viên ở tất cả các bước, từ bước chọn đề tài, tìm thông tin, xây dựng đề cương

và viết bài

Ở khâu chọn đề tài, cần hướng dẫn học sinh chọn những đề tài phù hợp với thực tế hiện nay của học sinh và gắn với các cuộc thi Chẳng hạn như ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách năm học 2022-2023, học sinh tập nghiên cứu và có các sản phẩm đạt cấp trường với các đề tài như sau:

- Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ở trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương

- Tác dụng của dung dịch tẩy mực trên vải

- Một số giải pháp nâng cao ý thức về trang phục học đường cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách

- Nâng cao ý thức của học sinh trường THPT nguyễn Sỹ Sách về tái tạo và sử dụng đồ tái chế nhằm góp phần bảo vệ môi trường

- Một số giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về giá trị sống cho học sinh

Tiếp theo là bước thu thập và xử lí thông tin, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm kiếm thông tin trên hai phương diện: lý thuyết và thực tiễn Thông tin về lý thuyết cần tìm hiểu qua mạng xã hội, sách báo… nhưng thông tin về thực tế cần dựa

vào sự hiểu biết của bản thân về vấn đề mình nghiên cứu Chẳng hạn ở đề tài “Bảo

tồn và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ở trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương”, ngoài kiến thức về dân ca Ví, Dặm nói chung thì học sinh

cần tìm hiểu sự phát triển dân ca Ví, Dặm ở xã Ngọc Sơn (huyện Thanh Chương) và

ở trường THPT Nguyễn Sỹ Sách như thế nào, cần có những số liệu nào để chứng

minh Hoặc ở đề tài “Một số giải pháp nâng cao ý thức về trang phục học đường

cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách”, học sinh cần tìm hiểu thực trạng về

trang phục của học sinh từ đó đưa ra các giải pháp để khắc phục Những thông tin

Trang 29

đó đòi hỏi học sinh phải tìm kiếm dựa trên thực tế của vấn đề nghiên cứu đang diễn

ra, như thế thông tin mới có giá trị khoa học

Sau khi tìm kiếm thông tin đầy đủ, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh xây dựng đề cương Cũng giống như khi nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian, việc nghiên cứu một vấn đề trong đời sống, hay một vấn đề mang tính khoa học đều cần

có đủ các căn cứ mang tính khoa học để chứng minh, làm rõ Chỉ khác là trong đề cương nghiên cứu một vấn đề có tính khoa học cần phải nêu được thực trạng của vấn đề, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục thực trạng Do đó đề cương nghiên cứu về một vấn đề khoa học có thêm một số nội dung khác (như khái niệm, thực trạng, giải pháp…) chứ không đơn thuần chỉ là trình bày các luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề như ở nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian

Chẳng hạn khi nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp nâng cao ý thức về trang

phục học đường cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách, học sinh đã tiến hành

nghiên cứu và xây dựng đề cương như sau:

II Giải quyết vấn đề:

1 Khái niệm về trang phục, trang phục học đường và ý thức về trang phục

a Trang phục hay y phục là từ dùng để chỉ những đồ để mặc như quần, áo, váy hay để đội như mũ, nón, khăn và để đi như giày, dép, ủng… Ngoài ra, trang phục còn có thể thêm các phụ kiện khác như thắt lưng, găng tay, đồ trang sức…

b Trang phục học đường là khái niệm dùng để chỉ áo, quần, váy và phù hiệu… mà các nhà trường quy định cho học sinh khi đến trường

c Ý thức về trang phục

- Ý thức về trang phục là cách ứng xử của mỗi người đối với cộng đồng phù hợp với những quy tắc và chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

2 Ý nghĩa của trang phục học đường:

+ Tạo được nét khác biệt và thương hiệu riêng cho nhà trường

+ Thể hiện sự quan tâm của nhà trường trong cách giáo dục học sinh ở cách ăn mặc đúng chuẩn mực

+ Giúp học sinh rèn luyện thói quen chấp hành nội quy của nhà trường

+ Tạo ra sự bình đẳng, thân thiện giữa học sinh với học sinh, xóa bỏ ranh giới giàu nghèo, sang hèn trong tư tưởng của học sinh

+ Tiết kiệm chi phí cho gia đình vì giá thành đồng phục rẻ hơn các loại trang phục khác Tránh được tình trạng đua đòi, chơi trội

Trang 30

3 Thực trạng về trang phục học đường của học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách 3.1 Mặt tích cực:

- Học sinh trên địa bàn huyện Thanh Chương nói chung, trường thpt Nguyễn Sỹ Sách nói riêng cơ bản đều thực hiện đồng phục với áo trắng sơ mi và quần tây đen vào những ngày do nhà trường quy định, vào mùa đông có thêm áo ấm đồng phục

- Trong những ngày không quy đinh mặc đồng phục thì học sinh vẫn mặc áo có cổ và quần tây hợp với thuần phong mĩ tục, không phản cảm

3.2 Mặt tiêu cực

- Mặc dù nhà trường quy định ngày mặc đồng phục rất cụ thể nhưng vẫn có nhiều học sinh không chấp hành đúng quy định, mặc sai đồng phục hoặc mặc trang phục không phù hợp

- Một số ngày nhà trường không quy định đồng phục, học sinh thoải mái hơn trong cách

ăn mặc nên có rất nhiều hiện tượng phản cảm đã diễn ra Học sinh nữ mặc áo quá ngắn, quần quá sát, để lộ hết nhược điểm cơ thể; học sinh nam mặc quần bò xé rách phần ống quá nhiều, te tua như quần rách, hoặc phần ở đầu gối bị xé rách quá rộng Những chiếc áo quá mỏng, quá hở,

áo thun in hình ảnh đầu lâu phản cảm hoặc những dòng chữ tối nghĩa, tục tĩu là hiện tượng chúng

ta có thể bắt gặp trong sân trường học đường

- Thậm chí có nhiều học sinh học theo, bắt chước cách ăn mặc của các ngôi sao, idol Kpop biểu diễn trên sân khấu, trang phục ấy mặc ngoài đời trông rất lập dị, bụi bặm không phù hợp

4 Một số giải pháp nâng cao ý thức về trang phục học đường cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách

4.1 Giải pháp đã thực hiện trong nhà trường:

- Qua tiết chào cờ, nhà trường giáo dục, tuyên truyền cho học sinh hiểu ý nghĩa và vai trò của trang (trang phục có kèm logo nhà trường) và niềm tự hào khi mặc trang phục truyền thống của nhà trường

- Đưa vào nội quy của nhà trường quy định về đồng phục để mọi học sinh đều chấp hành tốt, tạo ra nét đẹp học đường cho trường học

4.2 Giải pháp cần tiếp tục thực hiện để nâng cao ý thức về trang phục cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách

- Thông qua các hoạt động ngoài giờ, hoạt động trải nghiệm, giáo viên tích hợp, lồng ghép

vào trong các môn học và các hoạt động giáo dục trải nghiệm ý thức chấp hành quy định về trang phục học đường (tiết chào cờ, tiết sinh hoạt, tiết học trải nghiệm hướng nghiệp…)

- Tăng thêm số ngày quy định đồng phục trong tuần (buối sáng và buổi chiều

- Tổ chức các cuộc thi tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức chấp hành trang phục học đường

- Đoàn trường cần tổ chức các cuộc thi tài năng nhằm phát huy năng lực, sở trường của

học sinh như: cuộc thi tìm kiếm tài năng, cuộc thi thiết kế đồ họa học đường (có ứng dụng CNTT), thiết kế mẫu thời trang …

- Ngoài ra cũng cần tổ chức sưu tầm, trưng bày, giới thiệu các sản phẩm về trang phục đẹp do học sinh tự thiết kế trên các trang mạng xã hội (hoặc trang facebook Đoàn trường)…

III Kết luận:

- Tóm lại, việc nâng cao ý thức về trang phục học đường là việc làm rất cần thiết cho mọi trường học

Trang 31

- Công việc này có thể được tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau, cần phải vận dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với từng thời điểm và điều kiện cụ thể Nếu như các nhà trường tổ chức tốt các hoạt động trên, việc giáo dục ý thức về trang phục học đường trong nhà trường sẽ đạt được kết quả như mong muốn

IV Tài liệu tham khảo

1 Suy nghĩa về vấn đề trang phục học đường của học sinh hiện nay

https://dongphuchaianh.com

2 Trang phục và văn hóa! (tác giả - Khắc Trường) https://dangcongsan.vn

3 Trang phục học đường, mặc như thế nào cho đẹp và đúng quy định (tác giả- Lê Hồng Hạnh) https://vieclam123.vn

4 Trang phục và văn hóa tính người- Báo quân đội nhân dân https://www.qdnd.vn

5 Văn hóa trang phục của người Việt (đề tài nghiên cứu của sinh viên Nguyễn Thanh Thảo - Trường ĐH Ngoại Ngữ)

6 Văn hóa mặc - tác giả: Từ Xuân Trọng https://sesanhpc.vn

Để có một đề cương nghiên cứu khoa học, nó đòi hỏi ở học sinh nhiều kỹ năng quan trọng như biết xác lập ý, xây dựng ý thành một hệ thống có mối quan hệ logic; cách đặt mục, mối quan hệ giữa các mục; cách lập luận vấn đề; cách đưa số liệu… Những yếu tố này phụ thuộc nhiều vào khả năng thực sự của học sinh, cho nên giáo viên cần biết phát hiện những học sinh khá giỏi để giao nhiệm vụ

Sau khi hoàn thành đề cương, giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành bài viết trong thời gian nhanh nhất

2.3 Các bước hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng viết báo cáo nghiên cứu

trong tiết học: “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (Bài 4 “Sức sống của Sử

thi” - Ngữ văn 10)

* Bước 1: Trước khi tiết học diễn ra, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh:

- Đọc bài tham khảo trong SGK “Một số dấu ấn cảu Sử thi Ấn Độ

Ra-ma-ya-na trong văn hóa Việt Nam”

- Tìm hiểu, nghiên cứu, lập đề cương trước cho một đề tài nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian ngoài SGK Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh chọn một trong số các đề tài (như ở trên đã nêu)

+ Vẻ đẹp của người lao động trong một số bài ca dao

+ Về nhân vật chàng trai mồ côi, nghèo khổ trong truyện dân gian + Hình tượng con cò, dòng sông, con thuyền… trong ca dao Việt Nam + Sức sống của lễ hội đền Dạ Trạch (gắn với truyền thuyết về Chử Đồng Tử và Tiên Dung)…

* Bước 2: Đầu tiết học (hoạt động Mở đầu) giáo viên yêu cầu học sinh:

- Trình bày đề cương đã chuẩn bị, ví dụ chọn đề tài “Vẻ đẹp của người lao động

trong một số bài ca dao”

Trang 32

- Giáo viên đề nghị các học sinh khác nhận xét về cách trình bày đề cương của bạn

* Bước 3: Trong tiết học (hoạt động Hình thành kiến thức) giáo viên hướng

dẫn học sinh

- Phân tích Bài viết tham khảo trong Sách giáo khoa

- Giáo viên đặt câu hỏi cho các nhóm học sinh đã chuẩn bị bài ở nhà: Để hoàn thành đề tài trên, các em đã thực hiện như thế nào? Nêu các bước để hoàn thành đề tài nghiên cứu?

- Trên cơ sở đó GV cho HS so sánh hai sản phẩm: một là của học sinh đã chuẩn

bị ở nhà, hai là Bài tham khảo trong Sách giáo khoa Từ đó thống nhất cách viết báo

cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian

- Giáo viên căn cứ vào cách trả lời của học sinh và kiến thức ở phần “Thực hành viết” để thống nhất các bước thực hiện: Lựa chọn đề tài; Thu thập thông tin;

Xây dựng đề cương; Viết; Hoàn thiện

* Bước 4: Cuối tiết học (hoạt động Luyện tập) giáo viên giao nhiệm vụ mới:

- Tìm hiểu một đề tài nghiên cứu về một vấn đề trong đời sống và lập đề cương

thật ngắn gọn cho đề tài ấy GV có thể gợi ý một số đề tài:

+ Hiện tượng bạo lực gia đình ở vùng nông thôn hiện nay

+ Quan điểm trái chiều trong việc giáo dục con cái trong thời đại Công nghệ 4.0

+ Hiện tượng sạt lở, xoáy lốc ở miền núi Nghệ An

* Bước 5: Kết thúc tiết học (hoạt động Vận dụng) giáo viên định hướng, mở

rộng hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghiên cứu, biết báo cáo một số đề tài mang tính khoa học HS về nhà hoàn thành bài báo cáo (dạng đề cương) và trình bày ở tiết học

sau đó

+ Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ở trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương

+ Tác dụng của dung dịch tẩy mực trên vải

+ Một số giải pháp nâng cao ý thức về trang phục học đường cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách

Trang 33

Chương 3: KHẢO SÁT TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Mục đích của khảo sát

Việc khảo sát các số liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu là một việc rất quan trọng trong NCKH Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra

Mục đích khảo sát của đề tài Một số phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 10

rèn luyện kỹ năng “Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề” (Bài 4 “Sức sống của Sử thi” - Ngữ văn 10) là chọn ra nội dung và phương pháp khảo sát đơn giản nhất nhưng

hiệu quả nhất, trên cơ sở khảo sát đối tượng để đưa ra kết quả nghiên cứu chính xác, đầy đủ Qua việc khảo sát, chúng ta có thể thấy được tính cấp thiết và tính hiệu quả của đề tài thông qua việc xử lí các số liệu

Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của đề tài còn cho thấy tầm quan trọng của sự đổi mới phương pháp trong tình hình dạy học hiện nay Phương châm của đổi mới phương pháp trong giáo dục hiện nay là giúp học sinh phát triển năng lực, trí tuệ sáng tạo của riêng mình Ngoài ra, còn giúp thực hiện những bước chuyển mình

từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang việc tiếp cận năng lực của những người học.

3.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 3.2.1 Nội dung khảo sát

Nội dung khảo sát của đề tài là hướng đến các giải pháp đã được đồng nghiệp

áp dụng trong đơn vị và ở đơn vị bạn Đề tài đưa ra ba giải pháp rất quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng viết báo cáo nghiên cứu khoa học cho HS lớp 10

Các giải pháp được đề xuất thực sự cấp thiết đối với vấn đề nghiên cứu hiện nay, bởi hoạt động NCKH đối với HS THPT là một nội dung mới, lần đầu tiên được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn 10 (GDPT 2018) và là một nội dung được GV,

HS và nhiều phụ huynh quan tâm Hơn nữa hoạt động nghiên cứu chính là quá trình

đi từ lý thuyết đến thực tiễn của HS, HS biết vận dụng kiến thức sách vở vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống và làm quen sớm với NCKH

Các giải pháp của đề tài được đề xuất có tính khả thi cao, dễ thực hiện trong quá trình dạy học môn Ngữ văn lớp 10 (GDPT 2018) Các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức của HS trong việc rèn luyện kĩ năng viết báo cáo nghiên cứu khoa học

- một hoạt động rất ý nghĩa trong nhà trường hiện nay Nếu HS được làm quen nhiều với hoạt động nghiên cứu và viết báo cáo nghiên cứu thì sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm khoa học bổ ích cho cuộc sống

Trang 34

3.2.2 Phương pháp khảo sát và thang đánh giá Phương pháp được sử dụng để khảo sát ở đề tài này là Trao đổi bằng bảng hỏi;

với tháng đánh giá là 4 mức (tương ứng với số điểm từ 1 đến 4) Sử dụng bảng câu hỏi là phương pháp phổ biến để thu thập các thông tin từ người trả lời các câu hỏi đơn giản Các câu hỏi được thiết kế bởi người nghiên cứu gửi cho người trả lời phỏng vấn trả lời và gửi lại bảng trả lời câu hỏi cho người nghiên cứu bằng hình thức thuận tiện nhất

Bảng hỏi nhằm đánh giá các nội dung sau đây của các giải pháp mà đề tài đưa ra:

Khảo sát về tính cấp thiết có các mức độ: (1) Không cấp thiết; (2) ít cấp thiết; (3) cấp thiết; (4) rất cấp thiết

Khảo sát về tính khả thi có các mức độ: (1) Không khả thi; (2) ít khả thi; (3) khả thi; (4) rất khả thi

Thang đánh giá: kết quả khảo sát từ Bảng hỏi được xử lí bằng phần mềm SPSS

phiên bản 22.0, với các đại lượng thống kê mô tả như: phần trăm, tỉ lệ trung bình,

độ lệch…

BẢNG 1: PHIẾU KHẢO SÁT VỀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI BẢNG 2: KHẢO SÁT VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI

(Phần phụ lục 1)

3.3 Đối tượng khảo sát

BẢNG 3A: Tổng hợp đối tượng khảo sát HS

BẢNG 3B: Tổng hợp đối tượng khảo sát GV

1 Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn trường THPT Nguyễn Sỹ Sách

Trang 35

3.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

3.4.1 Sự cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất

* Để có kết quả chính xác về sự cấp thiết từ đối tượng HS, chúng tôi dùng Google Porm để khảo sát thông qua đường link sau đây:

https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSd94Mb6ydr7Y1DaeRDQKe0TFShL-iQ0vWYWGfif4UGwmMSZhQ/viewform?usp=sharing

Và sau đây là kết quả khảo sát bằng hình ảnh:

Hình 1: Kết quả khảo sát tính cấp thiết theo từng giải pháp xuất ra từ Google

Porm, đối tượng HS (số được khảo sát là 281: có 281 câu trả lời)

(Hình 1: ở phụ lục 2)

* Để có kết quả chính xác về sự cấp thiết từ đối tượng GV, chúng tôi dùng Google Porm để khảo sát thông qua đường link sau đây:

https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSfCRlPqboFeJ3RMJj3J26eoNlJzt7wqtWDMb9k7hTf1NvSBmA/viewform?usp=sharing

Và sau đây là kết quả khảo sát bằng hình ảnh:

Hình 2: Kết quả khảo sát tính cấp thiết theo từng giải pháp xuất ra từ Google

Porm, đối tượng GV (số được khảo sát là 36: có 36 câu trả lời)

(Hình 2: ở phụ lục 2)

* Kết quả về tính cấp thiết được chạy từ phần mềm SPSS:

- Kết quả khảo sát tính cấp thiết từ HS: Trong 281 khảo sát, có 272 khảo sát hợp lệ

BẢNG 4A1: Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các giải pháp đề xuất

tính theo tỉ lệ phần trăm (khảo sát HS)

Bảng tần suất Tần số

(số lượng)

Tỷ lệ phần trăm

Tỷ lệ phần trăm chỉ tính trên các giá trị hợp lệ

Tỷ lệ phần trăm tích lũy chỉ tính trên các giá trị hợp

lệ Giải pháp 1.1

Chỉ số cần kiểm định

Trang 36

kiểm định

Ngày đăng: 04/08/2023, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w