Năng lực thưởng th c văn học cảm thụ th m mĩ Biết nhận diện, thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong văn học và cuộc sống, biết làm chủ cuộc sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 4
-� -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
“ MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG DẠY VÀ HỌC THEO VĂN
MẪU TẠI TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 4, TỈNH NGHỆ AN”
L NH VỰC: NGỮ VĂN
Tác giả:
Phan Văn Thành – ĐT: 0931.366.857 Trần Thị Nga - ĐT: 0966.625.978
Tổ: Ngữ văn
Trang 2
Quán triệt Nghị quyết 29/NQ-TW của Đảng, với mục tiêu tổng quát là “Giáo dục con người Việt nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả” Để đạt được mục tiêu Nghị quyết Đảng đặt ra cho ngành giáo dục, dạy học môn Ngữ văn đóng một vai trò quan trọng Môn Ngữ văn là môn học có nhiều khả năng và ưu thế nhất góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung hỗ trợ cho các môn khác trong việc diễn đạt
để trở thành môn công cụ Bởi dạy văn là khám phá cái hay, cái đẹp từ những tác phẩm văn chương nhằm khơi dậy, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, bồi dưỡng cho các em tri thức hiểu biết và làm phong phú đời sống tâm hồn, hướng các em tới Chân - Thiện - Mỹ, những giá trị đích thực của cuộc sống
Dạy học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự
tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên Lộ trình đổi mới dạy học Ngữ văn tính từ năm 2000 đến nay trải qua hai lần điều chỉnh với những thay đổi cơ bản
về mục tiêu, yêu cầu cần đạt và nội dung chương trình Chuyển đổi từ giáo dục truyền thụ kiến thức của chương trình năm 2000 sang chú trọng kết hợp truyền thụ kiến thức và giáo dục kỹ năng của chương trình năm 2006 rồi đến chú trọng hình thành trục kết nối kiến thức - kỹ năng - phẩm chất- năng lực của chương trình
2018 Trong những năm qua, đội ngũ giáo viên đã thực hiện công việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và có những thành công nhất định Tuy nhiên từ thực tế giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp tại trường, từ nhận thức và
kỹ năng học tập của trò chúng tôi thấy rằng sự sáng tạo trong đổi mới phương pháp dạy học phát huy tích cực tự học của học sinh chưa cao, dạy học còn nặng cung cấp kiến thức, kiểm tra đánh giá chưa khách quan mà còn nặng tính hình thức Tình trạng học sinh viết sai chính tả, bài văn viết chung chung, viết không có bố cục, học sinh chán ngán học văn vì ghi nhiều, thầy cô giảng nhiều nghe rất mệt Vì thế mục tiêu học văn của các em chỉ là để thi, giáo viên dạy chỉ để đạt chỉ tiêu đăng
ký chất lượng đầu năm, dẫn đến việc copy văn mẫu, những bài văn “đồng phục”, những bài văn na ná giống nhau Những bài văn trở thành như “mì ăn liền” phục
Trang 3cho giáo viên và học sinh Những bài văn mẫu là bài văn hay, bài văn đạt điểm cao của học sinh trong các kỳ thi, được lấy làm mẫu Nhưng do mục tiêu và động cơ dạy và học không đúng quy trình chỉ dạy phần “ngọn” không dạy phần “gốc – bản chất” nên trở thành vấn nạn
Qua tham khảo tài liệu và thực tế dạy học, chúng tôi xin được trình bày đề tài “Một
số biện pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực, nhằm khắc phục tình trạng dạy và học theo văn mẫu tại trường THPT Đô Lương 4, tỉnh Nghệ An”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nâng cao hiệu quả dạy học, tạo sự hứng thú và phát huy được năng lực tự học sáng tạo cho học sinh, khắc phục tình trạng dạy học theo văn mẫu
- Chia sẻ đồng nghiệp về kinh nghiệm dạy học có hiệu quả
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đánh giá thực trạng về công tác dạy học Ngữ văn tại Trường THPT Đô Lương 4
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài
4 Đối tượng nghiên cứu:
Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tại trường THPT Đô Lương 4, tỉnh Nghệ An
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Quan sát, ph ng vấn, nghiên cứu sản phẩm, so sánh giữa các số liệu thu được
Và nghiên cứu các tài liệu, thu thập thông tin liên quan
6.2 Phương pháp thống kê số liệu trong quá trình khảo sát
6.3 Phương pháp phân tích, phân loại: phân tích những nguyên nhân và những kết quả đạt được trong hoạt động dạy học
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
1.1 Năng lực và các năng lực cần hình thành trong dạy học Ngữ văn
1.1.1 Giới thuyết về năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo những cách khác nhau và mỗi cách hiểu
có những thuật ngữ tương ứng: (1) Năng lực (Capacity/Ability) hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định; (2) Năng lực (Compentence) thường gọi là năng lực hành động: là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành động
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992), năng lực được giải thích
với hai nghĩa: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một loạt hành động nào đó; Năng lực là: Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [7, tr.656]
Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống
Người ta chia ra thành hai loại năng lực:
Năng lực chung: là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm
việc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học Vì thế có nước gọi là năng lực xuyên chương trình Mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho
xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi h i của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người
Năng lực chuyên biệt: là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở
các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như toán học,
Trang 5năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất,…
1.1.2 Dạy học theo hướng phát triển năng lực
Dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu
phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên Trong mô hình này, người học có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình Điều đó có nghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh nghiệm, kiến thức,
kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) trong một môn học hay bối cảnh nhất định, theo tốc độ của riêng mình
Dạy học phát triển năng lực có 04 đặc điểm chính:
Thứ nhất, dạy học theo định hướng phát triển năng lực được thiết kế theo hướng
phân hóa dựa trên hứng thú, nhu cầu và nền tảng kiến thức, sở thích cũng như thế mạnh của học sinh Phương pháp này cho phép người học cá nhân hóa, đa dạng hóa việc học để đáp ứng nhu cầu của bản thân theo hướng có lợi cho họ Tức là, ngoài số giờ lên lớp theo quy định, học sinh có quyền lựa chọn môn học, hình thức học ở bất kỳ đâu và bất cứ thời điểm nào (học online, học nhóm,…) để giúp học sinh phát triển tối đa năng lực vốn có của mình Phương pháp học này mang đến sự
tự do, linh hoạt cho học sinh, loại b sự bất bình đẳng trong quá trình học tập Học sinh được coi là trung tâm của quá trình học và luôn cảm thấy thoải mái, dễ chịu
Thứ hai, dạy học theo hướng phát triển năng lực định hướng để học sinh có thể
tiếp thu kiến thức cần thiết và nâng cao khả năng thực hành, vận dụng kiến thức đã học được Kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử là những “tài nguyên” để các
em thực hiện nhiệm vụ cụ thể để hình thành và phát triển năng lực
Thứ ba, dạy học phát triển năng lực xác định và đo lường năng lực đầu ra của học
sinh dựa trên mức độ làm chủ kiến thức môn học Học sinh thể hiện sự tiến bộ của mình thông qua việc chứng minh năng lực mà không dựa trên khoảng thời gian cố định như học kỳ hay cấp học
Thứ tư, dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp người học có thể chọn
cách tiếp nhận các tài liệu học tập kể cả thời điểm và nhịp độ học tập Điều này khuyến khích khả năng làm việc độc lập và tự chủ của học sinh, phát triển tối đa các kỹ năng để đạt được mục tiêu học tập
1.1.3.Ý nghĩa của dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển các phẩm chất nhân cách và năng lực của học sinh một cách toàn diện
Trang 6Dạy học theo định hướng phát triển năng lực chú trọng năng lực vận dụng kiến thức của bài học vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn từ đó giúp học sinh
áp dụng được những gì đã học vào thực tế cuộc sống Điều này giúp người học có năng lực giải quyết các vấn đề cuộc sống và nghề nghiệp cũng như giúp học sinh thích ứng với những thay đổi của cuộc sống
Với một số học sinh, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho phép đẩy nhanh tiến độ hoàn thành chương trình học, tiết kiệm thời gian và công sức cho việc học
Dạy học theo hướng phát triển năng lực tạo ra những giờ học thú vị, sôi động và cuốn hút học sinh vào các hoạt động tìm tòi, khám phá kiến thức.Từ đó phát triển các kỹ năng học tập của học sinh một cách toàn diện để giải quyết vấn đề, tự học
và hợp tác cùng tư duy sáng tạo
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp cách giờ giảng dạy trở nên hiệu quả hơn, giáo viên đáp ứng được nhu cầu học của từng học sinh và đảm bảo mọi học sinh đề tận dụng giờ học một cách tối đa
1.2 Các năng lực hình thành trong dạy học môn Ngữ văn
Trong định hướng phát triển CT GDPT sau 2015, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ là năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung dạy học của môn học
Năng lực đặc điểm thể hiện trong môn Ngữ văn
1.2.1 Giải quyết vấn đề – Phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp
Đánh giá – Phát hiện và lý giải những vấn đề nhập nhằng, mơ hồ, đa nghĩa, khó hiểu trong nội dung và nghệ thuật
Phát hiện và lý giải những vấn đề trong thực tiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm Phát hiện và đánh giá những khó khăn, thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập văn bản nói và viết
1.2.2 Năng lực tưởng tượng và sáng tạo – Phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống
Đề xuất các giải pháp một cách thiết thực
Áp dụng vào tình huống mới – Có cách tiếp cận và cắt nghĩa độc đáo về nội dung, giá trị của tác phẩm
Phát hiện những nét nghĩa mới, giá trị mới của văn bản
Có cách nói và cách viết sáng tạo, độc đáo, hiệu quả
1.2.3 Hợp tác -Phối hợp, tương tác hỗ trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ để cùng đạt mục tiêu chung (thảo luận nhóm )
Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều quan trọng
ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức hợp, có vấn
Trang 7đề, cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người, thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận
cá nhân Điều chỉnh thái độ, cách ứng xử
1.2.5 Năng lực giao tiếp Tiếng Việt
Sử dụng tiếng Việt một cách phù hợp và hiệu quả trong tình huống giao tiếp Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng
cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống
1.2.6 Năng lực thưởng th c văn học cảm thụ th m mĩ
Biết nhận diện, thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong văn học và cuộc sống, biết làm chủ cuộc sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện
Cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận ra những giá trị thẩm mĩ trong văn học, biết rung cảm, hướng thiện
Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộ môn, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1 hái lược về địa bàn nghiên c u – Trường THPT Đô Lương 4
Trường THPT Đô Lương 4 thành lập năm 2006, đóng trên địa bàn xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Học sinh chủ yếu là con em xã Hiến Sơn, Trù Sơn, Đại Sơn, Mỹ Sơn Hiện tại trường có 22 lớp với tổng học sinh là 928 học sinh Đội ngũ giáo viên 100% chính quy sư phạm Cơ sở vật chất của trường đảm bảo mức tối thiểu cho việc dạy học và đang từng bước cố gắng đảm bảo tốt hơn Học sinh của nhà trường cơ bản chăm ngoan, hiếu học nhưng kỹ năng sống còn hạn chế: nhút nhát, ngại giao tiếp, tính cầu tiến vượt đói vượt ngh o chưa cao, ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa nhiều như học đòi, sa ngã Đặc biệt có nhiều luồng
tư tưởng, mục tiêu khá phức hợp:
Trường THPT Đô Lương 4 tuổi nghề còn khiêm tốn, khó khăn nhiều mặt nhưng đội ngũ giáo viên đã nỗ lực không ngừng trong học tập, giảng dạy và giáo dục học sinh Các khóa học của học sinh sau ba năm học tập và r n luyện dưới mái trường
Trang 8THPT Đô lương 4 đều trưởng thành và lớn lên nhiều mặt: có lý tưởng sống, có khát vọng, đậu đạt cao, Chất lượng đại trà được khẳng định, chất lượng mũi nhọn
có nhiều đột phá: đậu tốt nghiệp 100% nhiều năm liền; đã có học sinh đậu thủ kỳ thi THPT quốc gia, kết quả thi học sinh gi i tỉnh đứng vị thứ cao trên toàn tỉnh (13,
19, ) Hiện nay trường đã trở thành một địa chỉ được nhân dân và các cấp chính quyền tin tưởng
2.2.1 hảo sát về thực trạng dạy học Ngữ văn tại trường THPT Đô Lương 4
2.2.1.1: Phiếu khảo sát: (Xem phụ lục 01)
Mức độ Hoàn toàn
(4 điểm) (3 điểm) (2 điểm) (1 điểm)
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Từ 1
Từ 47 đến 48
90% trở lên
(5 điểm) 80% - 90% (4 điểm) 65% - 80% ( 3điểm) Từ 50% - 65% (2 điểm) Dưới 50% (1 điểm)
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
45 225 92 368 180 540 33 66 16 16
Từ 49 đến 57
Rất hài lòng
(4 điểm) Hài lòng (3 điểm) Tạm hài lòng (2 điểm) Không hài lòng (1 điểm)
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
Số lượng Điểm
64 256 155 465 121 242 26 26
2.2.1.2.1 Những mặt làm được:
Dạy học nghiêm túc, phát hiện được những học sinh có năng khiếu văn học bồi dưỡng phát triển tốt phẩm chất năng lực cho học sinh, kết quả học sinh gi i cấp tỉnh đạt kết quả đáng kể ( 2022: 2 giải ba; 2021: 1 giải ba, 1 kk, 2020: 1kk, 1 giải
ba, 2019 1 giải nhì, 1 giải ba, 2018; hai giải nhì) Chiến lược ôn tập tốt, kết quả thi THPT hàng năm đạt kết quả cao, đứng trong tốp 10 của tình
Trang 9Đội ngũ giáo viên Ngữ văn đạt chuẩn, 3/8 giáo viên gi i cấp tỉnh Giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, ý thức cầu thi cao
2.2.1.2.2 Những tồn tại, và nguyên nhân
* Tồn tại:
Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh ở môn Ngữ văn chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức Việc r n luyện kỹ năng chưa được quan tâm Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giá cuối kỳ chưa chú trọng đánh giá quá trình Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học còn thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn Điều đó thể hiện ở những tồn tại sau:
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống… một cách cứng nhắc Chưa làm cho học sinh huy động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập Việc tích hợp nội môn và tích hợp liên môn chưa thực sự hiệu quả, chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinh chưa được phát triển
- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang tính hình thức Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức ở các lớp thực hiện chương trình SGK hiện hành nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày
t quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân
- Khẩu kiểm tra đánh giá còn nhiều l ng lẻo từ khâu ra đề, coi thi và chấm Tình trạng học sinh học vẹt văn mẫu để có điểm khá phổ biến Theo suy nghĩ nước nổi
b o nổi của thời thế nên giáo viên cũng xuôi chiều theo lối học để thi như học sinh
- Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi cách thức tổ chức giờ học, kiểm tra đánh giá nhằm đạt mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh song kết quả chưa đạt được như mong muốn
* Nguyên nhân tồn tại:
- Nguyên nhân khách quan:
Việc học văn của học sinh chỉ để phục vụ cho thi để qua cầu tốt nghiệp nên các
em chỉ học những gì liên quan đến thi và giáo viên cũng chỉ dạy những gì nằm trong khung chương trình thi
Số lượng học sinh yêu thích học văn ít, đam mê viết lách hầu như không có Nháp tính bài toán là điều bình thường còn nháp văn, viết văn thành nhu cầu muốn viết được viết như lập dị
Trang 10Thói quen đọc sách ở học sinh hầu như không có, ngay cả sách giáo khoa học sinh cũng đọc qua quýt, thậm chí không đọc theo hướng dẫn và yêu cầu của giáo viên trước khi học bài mới
Đề thi các năm, phần điểm đọc hiểu có nhiều câu mang tính cho điểm, khuyến khích điểm, đẩy điểm đại trà lên cao Phần nghị luận xã hội rất rõ vấn đề, học sinh viết đại khái thành đoạn là có điểm, nghị luận văn học đơn điệu lặp đi lặp lại kiểu
đề và số lượng văn bản
- Nguyên nhân chủ quan:
Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống, có đổi mới song chỉ dừng lại ở hình thức, chưa đi sâu vào thực chất nhằm giúp khai thác kiến thức một cách có chiều sâu; việc hiểu hết bản chất của nhóm năng lực chung và năng lực chuyên biệt ở môn Ngữ văn ở một vài GV vẫn còn hạn chế Kiểm tra đánh giá học sinh nặng hình thức nhiều,…
Về phía học sinh: Học sinh ở trường chủ yếu là học sinh vùng nông thôn, nên việc tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học nên chưa đảm bảo các năng lực Học sinh ngại học văn, ngại phải viết, học sinh chỉ học khi bắt đầu kiểm tra khảo sát chung, học thuộc lòng
tài liệu và sau khi thi xong thì quên ngay
Kết luận chung:
Dạy học văn khi áp dụng vào thực tiễn, do quán tính của lối dạy học phân tích tác phẩm, không ít giáo viên vẫn ghi trong giáo án là hướng dẫn học sinh đọc-hiểu văn bản nhưng lại dành phần lớn thời gian để nói lên cách hiểu của thầy và cách phân tích tác phẩm từ các sách hướng dẫn dạy học Với phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, nếu người thầy không thấu hiểu một cách rốt ráo đó là phương pháp dạy học chống lại sự độc quyền trên hành trình chiếm lĩnh tri thức, là phương pháp chủ trương khai mở vấn đề trên “nguyên lý đối thoại” thì sẽ không khuyến khích được “những tiếng nói khác” từ phía học trò Cuối cùng, tiếng nói quyền uy vang lên từ người thầy và các cuốn sách văn mẫu vẫn là tông giọng chủ đạo Tiếp
đó, thành tích ngắn hạn của nhà trường, của địa phương là một áp lực lớn để người thầy sử dụng các bài văn mẫu theo các khuôn khổ sáo mòn làm tài liệu học tập cho học sinh Chừng nào không có phương thức để buộc người giáo viên Ngữ văn nhận thấy phải thường xuyên tự học, tự đọc để nâng cao trình độ, để ý thức sâu sắc những giới hạn tri thức của chính mình; chừng nào tâm lý học hành cử tử, học để
đi thi chưa được quét sạch; chừng nào tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục giữa các địa phương, các nhà trường vẫn thông qua đối chiếu kết quả thống kê cuối những kỳ thi, thì lối dạy học áp đặt, việc người thầy nắm giữ độc quyền thông hiểu tác phẩm, vấn nạn văn mẫu vẫn khó có thể xóa b hoàn toàn
3 Biện pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nhằm khắc phục tình trạng dạy và học văn mẫu
Trang 113.1 Truyền lửa từ say mê, hứng thú của bản thân
Uyliam Bato Dit từng nói: “Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà
đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn” Nhất là đối với môn Ngữ văn, giáo viên muốn học sinh không quay lưng lại với môn học thì bản thân giáo viên dạy cũng phải trung thành yêu mến với nghề mình đã chọn Để “truyền lửa” cho học sinh thì trong tim thầy cô cũng phải cần có “lửa” Bởi bản chất của văn chương là đời sống tâm hồn, con đường đến trái tim phải xuất phát từ trái tim Điều này đặt ra những năng lực chuyên biệt cần có của giáo viên văn Giáo viên trở thành hình mẫu rất “văn”, học sinh yêu thích học văn như vì yêu cô/thầy dạy văn
3.1.1 Lập trường tư tưởng, thái độ và hành động
Giáo dục thời kinh tế thị trưởng, lập trường tư tưởng không vững vàng, không xác định rõ cuộc sống vật chất và đam mê bản thân rất dễ bị giao động tư tưởng mà quên đi “phút giây mà ta bắt đầu” Lập trường, tư tưởng vô cùng quan trọng, văn giữa đời mong manh dễ vỡ nên rất cần văn nuôi lớn giữa đời để níu giữ con người
để được là Con Người GV dạy Ngữ Văn không cho phép nguội lạnh cảm xúc mỗi khi lên lớp, không được có những tư tưởng chán nản, buông b , mất niềm tin vào những giá trị cuộc sống, con người Vậy nên, ngoài lý thuyết suông nói ở miệng là yêu trò, yêu nghề thì hãy hành động như những ngày đầu mà ta bắt đầu, nghiên cứu bài giảng, trăn trở phương pháp, không ngừng thói quen đọc sách mỗi ngày, hãy cầm bút viết bài với đề bài ra cho học sinh làm trước khi phát đề cho học sinh
“Cơm áo không đùa với khách thơ” vì bén duyên, tạo nghiệp nên có lẽ nói như Hộ trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao “tôi mê văn quá nên mới khổ ấy thế mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng.”
3.1.2 Tôn trọng đối tượng học và tự trọng bản thân (từ trang phục, giọng nói, chữ viết, tiết chế cảm xúc ….) - nguyên tắc kỷ luật
Tôn trọng nhân cách học sinh có nghĩa là phải coi học sinh là một cá nhân, một con người, một chủ thể với đầy đủ các quyền được học tập, vui chơi, nhận thức, lao động… với những đặc trưng tâm lý riêng biệt, họ được có quyền bình đẳng với mọi người trong các quan hệ xã hội Trong quá trình giao tiếp hãy tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng giao tiếp bộc lộ những nét tính cách, thái độ, nhu cầu, nguyện vọng… Điều đáng lưu ý trong nguyên tắc này là giáo viên không nên áp đặt học sinh phải tuân theo ý của thầy, cô một cách duy ý chí Tôn trọng nhân cách đối tượng, giao tiếp thể hiện ở phút ban đầu phải gây được
ấn tượng tốt đẹp
Trong giao tiếp, giữa chủ thể giao tiếp với đối tượng giao tiếp có sự hiểu biết lẫn nhau, chủ thể giao tiếp biết lắng nghe ý kiến của đối tượng giao tiếp, dù đó là đúng
Trang 12hay sai thì cũng không cắt ngang hay t thái độ không vừa lòng để học sinh sợ hãi
mà không tiếp tục cuộc đối thoại, không bày t hết nguyện vọng của mình
Biểu hiện của sự tôn trọng trong dạy học:
Sự tử tế, nhã nhặn với học sinh Hãy cư xử với trò như những gì mà ta muốn
nhận lại được Đó là biểu hiện đầu tiên của sự tôn trọng trong giáo dục Khi biết quan tâm đến cảm nhận của trò thì giáo viên sẽ tự biết cách điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp nhất Đôi khi chỉ những hành động nh cũng khiến người khác ấm lòng và nhận rằng họ được bạn coi trọng Đây là điều mấu chốt để gắn kết giáo viên với học sinh và tạo ra môi trường học tập tốt hơn
Không phân biệt đối xử Hãy cảm ơn trò vì chúng mà mình mới được là cô là
thầy Tất cả mọi trò đều đáng nhận được sự tôn trọng Cho dù trò học tốt hay học chưa tốt, hoàn cảnh sống khác nhau …, tất cả đều nên được đối xử với thái độ như nhau Trong giao tiếp, thầy cô giáo luôn động viên khích lệ tinh thần các em Trong học tập, thầy, cô giáo đừng khi nào nghĩ là học sinh của mình học kém, đạo đức tồi, là học sinh cá biệt… Cho dù học sinh đó có kém thật đi chăng nữa, đạo đức thuộc vào diện có vấn đề đi, thì thầy, cô giáo vẫn nên nghĩ rằng đó là những nét tính cách chưa được hoàn thiện và nó chỉ biểu hiện trong thời gian ngắn và nhất định những học sinh này sẽ trở thành người tốt về mọi mặt Do đó thầy, cô giáo không nên quát mắng học sinh là: “Dốt nát, ngu như lợn…” Thực chất những lời nói trên là thể hiện sự thiếu thiện chí, sự bất lực của giáo viên đối với học sinh Đó
là điều cấm kỵ trong giao tiếp sư phạm
Có niềm tin vào trò Nhà giáo dục học nổi tiếng V.A.Xukhomlinxki đã khuyên
rằng cần phải tin tưởng ở con người, vì đó là cái tha thiết nhất đối với con người Cần gìn giữ nó, chống lại sự nghi ngờ lạnh nhạt của tính nghi ngờ lạnh nhạt.Trong những hoàn cảnh khó khăn, lòng thành thực, thái độ chân thành và cởi mở của nhà giáo hết sức quan trọng V A Xukhômlinxki cũng nhắn nhủ giáo viên rằng nếu nghi ngờ một điều gì đó, cứ nói thẳng, đừng để sự nghi ngờ lại trong lòng, nhất là
sự nghi ngờ trẻ em, vì đối với nhà giáo, đó là gánh nặng rất nguy hiểm
Không lấy khuyết điểm của trò để chỉ trích Nhân vô thập toàn, con người
không ai là hoàn hảo, mỗi người đều có những cái hay cái dở của riêng mình Khi giao tiếp, chúng ta không nên nhắc tới những yếu điểm của người khác để chỉ trích, nhắc lại những lỗi lầm hay đau khổ trong quá khứ của trò Đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt, nhạy cảm, dế bị tổn thương, khi giao tiếp với chúng ta phải hết sức thận trọng “ muốn ăn mật đừng phá tổ ong”
Lắng nghe ý kiến của trò Được lắng nghe và bày t ý kiến là một trong những
nhu cầu của con người Biết lắng nghe cũng là cách biểu hiện sự tôn trọng.Biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến của trò không chỉ thể hiện sự hiểu biết, để cao trò và
cả bản thân mình Có như vậy hoạt động dạy học và giáo dục mới có thể dễ dàng, hài hòa và tốt đẹp
Khen ngợi những ƣu điểm Một chuyên gia tâm lý nói: Cái vốn quý nhất của
chúng ta là năng lực kêu gọi được lòng hăng hái của mọi người Chỉ có khuyến
Trang 13khích và khen ngợi mới làm phát sinh và gia tăng những tài năng quý nhất của mình mà thôi Nhà tâm lí học Emerson nói: Đừng tiếc những lời cảm ơn và khuyến khích! Những lời nói đó, ít lâu sau ta có thể quên đi, nhưng những người được ta khen tặng sẽ hoan hỉ và luôn nhớ tới Con người ai cũng thích được khen ngợi những điểm mạnh, những điều tốt đẹp họ đã làm Nếu được nhận những lời khen chân thành thì ai cũng cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy mình có giá trị, và hữu ích,
và cũng cảm thấy cảm mến người trao tặng lời khen Trong dạy học, chúng ta hãy tinh tế phát hiện ra những điểm mạnh dù chỉ là nh ở trò Trên cơ sở đó hãy đưa ra những lời khen chân thành, kịp thời Đừng quá quan tâm hay chỉ trích những điểm yếu, điểm hạn chế Ai cũng có điểm mạnh và điểm yếu, những lời khen chân thành
sẽ giúp trò có thêm động lực để phát huy những điểm mạnh Hãy luôn nhớ: lời khen thường dễ nghe những lời chê, lời chỉ trích lại thường khó chấp nhận- “Muốn
ăn mật đừng phá tổ ong”(Đắc nhân tâm)
Đặt bản thân vào vị trí của trò Giáo viên biết đặt vị trí của mình vào vị trí của
trò, phác hoạ chân dung tâm lý trò, khi giao tiếp bao giờ cũng tự mình trả lời được câu h i “nếu mình ở vị trí học sinh thì sẽ như thế nào” Thầy, cô giáo biết sống trong niềm vui, nỗi buồn của các em, biết đặt vị trí của thầy, cô vào vị trí của học sinh khi tiếp xúc, khi giải quyết các tình huống sư phạm Có như vậy giáo viên mới
có thể cùng rung cảm với học sinh, quan tâm đến học sinh, hiểu hoàn cảnh của từng học sinh
Trong quá trình tiếp xúc, giáo viên biết mỉm cười thân mật, biết buồn cùng với học sinh Sự biểu hiện đó được thể hiện trong ngôn ngữ; trong thái độ thiện cảm, dịu dàng ngay cả lúc cần kiên quyết dứt khoát Và khi giao tiếp, giáo viên không nên gây căng thẳng trong tâm trí học sinh qua mỗi lần giao tiếp Sau mỗi lần tiếp xúc, nên tạo cho các em một niềm vui mới, một khát vọng muốn tiếp xúc với thầy,
cô giáo
Lòng tự trọng bản thân V A.Xukhimlinxki đã viết “Hãy kính trọng những ưu
điểm của người khác Hãy làm cho người khác những cái như anh muốn để những người khác làm như thế cho anh” Một điều kiện rất quan trọng trong giao tiếp là tôn trọng nhân cách của đối tượng giao tiếp ý thức này được thường trực trong mỗi thầy, cô giáo Phải chăng sự tôn trọng các em chính là tôn trọng mình, chính nghề nghiệp của mình Hay nói cách khác đó là lòng tự trọng Tôn trọng nhân cách học sinh còn được thể hiện ở trang phục của giáo viên: trang phục thể hiện tính lịch sự, vì vậy trang phục cần hài hòa, cân xứng với vóc dáng, (màu da, điệu bộ, lời nói…)
Sử dụng ngôn ngữ nói: từ giọng điệu, cách phát âm, việc sử dụng từ sao cho đảm
bảo tính văn hóa Bất kỳ trong trường hợp nào cũng không được xúc phạm đến danh dự, tổn thương đến phẩm giá của học sinh
Trang 14Hành động của thầy, cô trong tiếp xúc với học sinh cũng phần nào thể hiện sự tôn trọng nhân cách của họ, hành động đập bàn, cau mày nhăn trán, nghiến răng… đều biểu hiện sự thiếu tôn trọng, thể hiện một hành vi thiếu văn hóa
Chữ viết: “ Nét chữ là nết người”, môn Ngữ văn là môn duy nhất trong khi thi
THPT thi tự luận, ngoài yêu cầu về nội dung bài thi còn yêu cầu về hình thức chính
là nét chữ, chính tả, cách trình bày … của thi sinh Vậy nên trước khi yêu cầu trò thì chính bản thân giáo viên là người thực hiện đầu tiên, làm gương, làm chuẩn mực Chữ viết trên bảng có thể không đẹp nhưng phải rõ ràng, dễ đọc, phê vào bài làm của học sinh không được cẩu thả, tưởng minh trong góp ý sửa bài cho học sinh
Giữ chữ tín Chữ tín hay có thể nói là lời hứa của giáo viên với học sinh Hứa sẽ
cộng điểm, hứa sẽ kiểm tra, hứa sẽ trả bài, hứa sẽ …., chúng ta càng phải thận trọng và giữ lời khi hứa với những trò, nếu không muốn làm mất đi lòng tin và sự tôn trọng của chúng Trong giảng dạy, giáo dục chữ tín vô cùng quan trọng, đã nói
là phải làm, đã hứa là phải thực hiện không được nói suông…
3.1.3 Năng lực chuyên môn
Đứng trước yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới ở môn ngữ văn, người giáo viên (GV) cần tự trang bị cho mình rất nhiều hiểu biết, tri thức, năng lực, kỹ năng Bên cạnh nhận thức một cách thấu đáo về bản chất của dạy học phát triển năng lực người học, người GV phải tự trang bị những năng lực thiết yếu để đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giảng dạy ngữ văn mới “Người GV có năng lực sư phạm là người biết vận dụng một cách thành thạo những kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm và những hiểu biết tổng hợp có được không chỉ trong nhà trường mà cả kinh nghiệm từ cuộc sống để giúp người học đạt kết quả một cách tốt nhất” Đó là một GV phải thực sự là người đọc, người nói, người viết, người nghe tích cực, chủ động, có khả năng tự nghiên cứu chuyên môn,
có hiểu biết, đặc biệt là sự độc lập, sáng tạo, tinh tế, nhạy cảm, có chất văn Trong bối cảnh hiện nay, theo tôi, bên cạnh những năng lực chung, GV môn ngữ văn cần bồi đắp 3 năng lực chuyên môn sau đây:
3.1.3.1 Năng lực cảm thụ th m mỹ
Thứ nhất, năng lực cảm thụ thẩm mỹ Có lẽ không ai nghi ngờ về sự đòi h i năng lực này ở GV môn ngữ văn Từ trước đến nay, mọi người đều dễ thống nhất ở quan niệm, dạy văn học là dạy một bộ môn có tính nghệ thuật nhằm đánh thức những rung cảm thẩm mỹ tinh tế, bồi đắp khả năng cảm thụ cái đẹp trong văn học cho
HS Chương trình môn học này đã có những thay đổi theo từng thời kỳ, song loại văn bản nghệ thuật (thơ, truyện, ký, kịch) bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất Thực tế ở bậc THPT, dù HS có thiên hướng nghề nghiệp khác nhau nhưng những rung cảm thẩm mỹ vẫn là yếu tố không bao giờ vắng bóng trong đời sống thường nhật của mỗi con người Có những GV đã ghi được dấu ấn rất sâu trong tâm hồn
HS qua những giờ dạy văn chính nhờ điều này Muốn bồi đắp say mê cái đẹp cho
HS, dĩ nhiên người GV cần có năng lực cảm thụ thẩm mỹ dồi dào Năng lực ấy
Trang 15biểu hiện ở trực giác bén nhạy, ở những rung cảm sâu sắc, ở khả năng phân tích cái đẹp của hình tượng nghệ thuật và các hình thức biểu hiện của nó Trước một áng thơ hay, một cuốn truyện hấp dẫn, một vở kịch đặc sắc, nếu người GV hoàn toàn thờ ơ lãnh đạm thì làm sao có khả năng đánh thức ở HS niềm say mê hứng thú về cái đẹp của văn chương Không thể đòi h i GV phải là người nghệ sĩ nhưng tâm hồn của một GV môn ngữ văn thì nhất thiết phải có chất nghệ sĩ
3.1.3.2 Năng lực ngôn ngữ
Thứ hai, năng lực ngôn ngữ Theo đó, ngôn ngữ chung là công cụ của người
GV Tuy nhiên đối với họ, tiếng Việt không chỉ là phương tiện dạy học mà còn là tri thức cần nắm vững và vận dụng linh hoạt, sáng tạo Năng lực ngôn ngữ phải là năng lực đặc thù của GV môn ngữ văn Năng lực này thể hiện ở khả năng đọc hiểu văn bản vì đây là một năng lực chuyện biệt của môn ngữ văn Năng lực đọc hiểu nói cho cùng chứa đựng trong nó hàng loạt “năng lực bộ phận” như năng lực nắm bắt cái mã riêng của văn bản, năng lực phát hiện thông tin chính yếu của văn bản, năng lực tư duy hệ thống, năng lực cắt nghĩa - lý giải các tầng bậc ý nghĩa của văn bản, năng lực đối thoại Để có khả năng đọc hiểu văn bản, GV phải có được một năng lực ngôn ngữ ngày càng hoàn thiện, nhờ đó, thầy cô có thể hoàn thiện khả năng nói và viết của mình Muốn vậy, GV phải tự bồi dưỡng bằng nhiều cách: hướng dẫn HS giải quyết những đề đọc hiểu trong các tài liệu khác nhau, tự kiểm tra khả năng giải mã các văn bản nghệ thuật mới mẻ ngoài chương trình Nếu tiến hành thường xuyên những “bài tập” kiểu này chắc chắn trình độ cảm thụ thẩm mỹ
và năng lực ngôn ngữ của GV sẽ được nâng lên rõ rệt
Một trong những “công cụ” của GV là lời nói Công cụ này có sắc bén thì dạy học mới có hiệu quả, đặc biệt đối với môn ngữ văn Dù các phương pháp khác được đề cao những phương pháp diễn giảng vẫn không bị khai tử Dù lấy HS làm chủ thể nhưng không thể hình dung một giờ dạy học lại thiếu sự điều hành của GV thông qua phương tiện ngôn ngữ Đối thoại và tổ chức đối thoại cũng là năng lực
cơ bản của GV môn ngữ văn Trước hết, GV cần tạo không khí dân chủ thật sự trong hoạt động dạy học Theo đó, GV nên đóng vai trò là “người tham dự - chia sẻ” trong lớp học, tạo quan hệ bình đẳng với HS trên con đường đi tìm chân lý khoa học cũng như chân lý đời sống
Ngoài việc nắm chắc, đúng, tốt ngôn ngữ tiếng Việt, để tiếp cần với văn bản văn học nước ngoài như văn học Trung Quốc, văn học Mỹ, văn học Anh, văn học Pháp giáo viên không ngừng học tập, tìm tòi và tra từ điển để giải mã những ngôn ngữ Hán Việt, Anh ngữ …
3.1.3.3 Năng lực kích thích khả năng tư duy và khả năng phản biện của học sinh
Thứ ba, năng lực kích thích khả năng tư duy và khả năng phản biện của HS Trong hệ thống các môn khoa học xã hội, môn ngữ văn đặc biệt thuận lợi cho việc trình bày những ý kiến riêng của HS Tinh thần phản biện của HS thể hiện rất đa dạng, nhất là khi GV chú trọng đến hoạt động đối thoại Nếu phản biện là sự thể hiện rõ rệt năng lực tư duy của HS thì kích thích khả năng phản biện lại là một
Trang 16năng lực sư phạm quan trọng của GV môn ngữ văn Trong chương trình mới, những vấn đề văn học và đời sống đều gợi mở nhiều cách cảm nhận, đánh giá khác nhau HS có thể tiếp cận nhiều luồng thông tin, nhiều nguồn tri thức Vì thế, kích thích khả năng phản biện phải đi đôi với sự định hướng tư duy và nhận thức Những gì các em tiếp thu hôm nay trong nhà trường sẽ được kiểm chứng gắt gao
và rất nhanh ở đời sống xã hội cũng như ở bậc học kế tiếp Đây là những thử thách không nh đối với trình độ và bản lĩnh của GV môn ngữ văn
3.2 Một số phương pháp rèn luyện tư duy học văn giúp học sinh đổi mới phương pháp học
Giáo viên đổi mới phương pháp dạy, nhưng học sinh không đổi mới phương pháp học thì kết quả không thay đổi và ngược lại Vì thế song song với nhận thức
và hành động đổi mới của giáo viên thì giáo viên cần định hướng một phương pháp học tập phù hợp cho trò Những phương pháp r n luyện tư duy học văn giúp học sinh có hứng thú, chủ động đến với môn học
3.2.1 Phương pháp rèn luyện tư duy học văn
3.2.1.1 Thời gian học:
Thói quen sinh hoạt, học tập phải được hình thành ngay từ khi còn nh và hãy
cố gắng tìm ra những "khoảnh khắc vàng" của bộ não và để dành chúng cho những công việc đòi h i tư duy nhiều nhất Hãy dành một thời gian tối thiểu trong ngày cho việc học tập theo phân môn Thời gian nào học thuộc môn sử tốt nhất, làm toán hiệu quả nhất và học văn sáng suốt nhất, viết văn lắng đọng nhất Và bắt tay vào thực hành thường xuyên.Việc thực hành thường xuyên trên một số lĩnh vực đã khiến khả năng nhận thức và trí nhớ làm việc tốt … mặt khác khi tiếp xúc với kiến thức mới hoặc bắt đầu một công việc trí tuệ, hãy cố gắng gạt b ra kh i đầu mọi vấn đề khác không liên quan Nên tạo ra một môi trường thuận lợi: Đóng cửa phòng, tắt điện thoại, yêu cầu người khác không làm phiền
Tạo ra khoảng thời gian cố định cho việc làm bài tập về nhà sau giờ học Tập thói quen làm bài tập về nhà sớm hơn sẽ giúp r n luyện kỹ năng lập kế hoạch Đừng để bản thân đợi đến 11 giờ đêm vào tối Chủ nhật để bắt đầu một báo cáo về cuốn sách
mà bắt đầu nghiên cứu từ một tuần trước đó Khi ấy, bản thân sẽ trở thành một người trì hoãn mất kiểm soát và chẳng ai mong muốn điều này Vì vậy, hãy bắt đầu các kỹ năng lập kế hoạch và quản lý thời gian ngay từ sớm, sẽ gặt hái được nhiều lợi ích
Đặt ra quy tắc Các quy tắc là xương sống của một cá nhân trong mọi hoạt động học tập Các quy tắc được đặt ra rõ ràng, bởi chưa thể là một người có kỷ luật khi không có một luật lệ nào để làm theo Đặt ra các quy tắc rõ ràng như không sử dụng điện thoại khi đang học, không ỷ lại tài liệu trước khi suy nghĩ để làm bài, không chép văn mẫu … v.v có thể giúp bản thân hiểu về khuôn khổ tự do của bản thân Điều này giúp phát triển khả năng kiểm soát mong muốn, những điều gì được mong đợi Thời gian đi liền với quy tắc sẽ lập trình cho các bước thành công 3.2.1.2 Nói to suy nghĩ:
Trang 17Nói to suy nghĩ là một trong những phương pháp quan trọng, có tính chiến lược
để giúp HS hình thành được kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Nói to suy nghĩ là cách thức nói to những suy nghĩ trong quá trình tư duy khi thực hiện một kỹ năng nào
đó để người học có thể quan sát quá trình tư duy và học theo, từ đó hình thành được kỹ năng cần học Nói to suy nghĩ cách thức tư duy để lựa chọn cách mở đầu bài nói ấn tượng, lôi cuốn được người nghe Hoặc dùng nói to suy nghĩ để làm mẫu
kỹ năng nghe và ghi chép
Nói to suy nghĩ sau khi thực hiện sản phẩm để tái hiện lại cách thức HS tư duy Chẳng hạn: Em dựa vào căn cứ nào để có được kết luận này? Em đã có những suy luận nào để dẫn đến kết luận này? Ở kết quả đọc này, em hãy trình bày lại cách thức em suy nghĩ khi thực hiện kĩ năng đọc… Nói to, rõ ràng mạch lạc sẽ viết tốt
và viết được nhanh và ngược lại Nói to, dám nói trước tập thể lớp đông … tư duy phản biện tốt
3.2.2.3.Viết ra những gì chợt đến trong đầu …
Văn chương nhiều lúc ta ép mình vào khuôn khổ, “kỷ luật” lại không có cảm xúc, phát hiện vấn đề lại khuôn mẫu cứng nhắc Thế nhưng có những phút bất chợt rung cảm của tâm hồn khi chạm vào cuộc sống ta lại có những tư duy, tưởng tượng
vô cùng sống động Những giây phút đó nó chợt đến, như một tia chớp rồi tan đi như đám mây chiều nếu không được ghi chép lại Vây nên luôn luôn mang theo sổ
và bút, hoặc bất cứ phương tiện nào giúp ta ghi lại những gì nhìn thấy, nghe thấy
mà ta cho là quan trọng hoặc những ý tưởng chợt đến Hơn 99% những điều này có thể là vô dụng, nhưng 1% còn lại sẽ khiến bạn trở thành thiên tài Đừng ngại thể hiện quan điểm riêng khi viết, hãy cứ viết nếu các em nghĩ là sáng tạo, là điểm riêng của cá nhân trong phong cách hành văn Điều đó giúp các em có được một bài viết nổi bật, không trùng lặp với người khác Khả năng sử dụng ngôn ngữ thêm phong phú hơn
3.2.2 Phương pháp học tập hiệu quả
3.2.2.1 Tự tạo đam mê, cảm xúc, tâm thế tiếp nhận tích cực về môn học
Tâm lý là một yếu tố quan trọng giúp các bạn có thể học tốt các môn Nếu học sinh có hứng thú với môn học nào đó thì đương nhiên sẽ dành nhiều thời gian hơn, vậy thì môn học đó sẽ có kết quả học tập tốt Ngược lại nếu không hứng thú hay chán nản sẽ không học được Vì không giống các môn Tự nhiên như: Toán Lý Hóa
Trang 18Sinh, một khi đã mất căn bản thì rất khó để tiếp thu và học tiếp chương trình Nhưng với môn Văn thì chỉ cần trong các em có một tình yêu văn chương công một chút siêng năng là có thể giải quyết môn học này một cách dễ dàng Khi có cảm xúc, các bạn sẽ hòa mình vào tác phẩm, vào nhân vật để cảm nhận và triển khai các ý mà các bạn nắm được Học với tâm trạng thoải mái, không gượng ép bản thân,kết quả học tập vô cùng lớn Học với niềm đam mê, hứng thú sẽ giúp các bạn thoải mái, tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và mau thuộc nhất Cảm xúc tốt,tâm thế tiếp nhận tích cực tăng khả năng viết văn bản của chúng ta rất nhiều Ban đầu viết bản thân tập thói quen, về sau viết như là nhu cầu không viết không được
3.2.2.2 Đọc – hiểu, tái hiện nội dung từ dễ đến khó, từ đơn giản đến nâng cao theo logic tư duy (có thể bằng sơ đồ tư duy, …)
Hoạt động đọc - hiểu
Điều quan trọng ở đây các bạn phải tìm được nội dung chính trong tác phẩm, sau
đó hãy tự mình triển khai các ý để phân tích sâu hơn khi viết bài
Các bạn đừng học theo cách đọc thuộc từng câu chữ và trả bài Đó là cách học vô cùng thụ động và tốn thời gian, không hiệu quả, khiến chúng ta không sáng tạo được nội dung để triển khai các ý trong bài viết
Điều mấu chốt là các bạn phải học và nắm được nội dung chính của tác phẩm, nên dành một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày để đọc tác phẩm Ví dụ dành 30 phút đến 1 tiếng để đọc Khi đọc hãy có cảm xúc chứ đừng đọc theo kiểu học vẹt hoặc thuộc lòng Đây là một cách rất hiệu quả để có thể ghi nhớ các nội dung của các tác phẩm văn học Khi cần tới thì câu chữ, ý nghĩa, nội dung luôn trôi chảy trong đầu và có thể sử dụng vốn tri thức, hiểu biết bất cứ lúc nào
Đọc - hiểu bằng sơ đồ tư duy là một biện pháp lưu nhớ hiệu quả và ghi nhớ tri thức lâu dài
3.2.2.3 Đọc, học sách mẫu, sách tham khảo một cách thông minh
Khi được phong là người khổng lồ trong giới khoa học nhà bác học Niu tơn nói:
“ Tôi không phải là người khổng lồ, tôi nhìn xa hơn người khác vì tôi biết đứng trên vai người khổng lồ” … Sách tham khảo, những bài văn “mẫu” - những bài văn đạt giải quốc gia … là nguồn tài liệu vô cùng có ý nghĩa giúp cho quá trình học tập tốt Phát huy được vai trò của sách tham khảo hay không nó hoàn toàn phụ thuộc vào cách tiếp nhận và sử dụng thông minh của học sinh Ví dụ: Sách học tốt văn, là sách gợi ý cho học sinh học bài, thế nhưng học sinh dùng nó để soạn bài đối phó với giáo viên, nên học sinh lãng phí thời gian cũng như vật chất khi ngồi chép như một người đánh văn bản, nhìn mặt chữ để viết theo thói quen, chép xong rồi bản thân không biết mình chép gì Thậm chí học sinh không đọc yêu cầu từ sách giáo khoa Hay khi giáo viên yêu cầu viết bài văn thì học sinh chép theo văn mẫu,
dù đó là đề gì hay yêu cầu gì thì cũng cứ chép theo một mẫu Giáo viên yêu cầu cảm nhận đoạn văn sau( Đoạn văn Ông đò … ) thì chép nguyên bài văn mẫu phân tích nhân vật ông đò qua tác phẩm Người lái đò sông Đà Đây là một vấn nạn, theo
Trang 19kiểu “học con rận” Vậy việc thiếu đi thói quen đọc hiểu nghiêm túc sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ và cảm xúc
Sử dụng sách tham khảo thông minh chính là quá trình đọc - hiểu sách tài liệu Nhưng văn mẫu không phải chỉ để chép đối phó với bài tập về nhà hay những bài kiểm tra trên lớp Chúng cũng là một trong những phương pháp học tập hiệu quả môn Ngữ văn Trước hết, các bài văn mẫu cũng giúp em học tập cách triển khai luận điểm rõ ràng Đây đều là những bài văn có dàn ý chuẩn chỉnh, đúng như barem điểm, đảm bảo đủ luận cứ, luận chứng Do đó, em sẽ nắm được trình tự trình bày ý chính, cách viết các ý phụ sao cho mạch lạc
Tiếp theo, không chỉ đảm bảo viết đúng và đủ ý mà những bài văn mẫu có cách viết trôi chảy Thế nên em hãy thường xuyên đọc để có được cách viết văn “mượt mà” nhé Đọc nhiều các bài văn được điểm cao là phương pháp học tập hiệu quả giúp em hình thành được lối tư duy văn học, tăng vốn từ, hiểu được cách viết câu văn sao cho hấp dẫn, thu hút người đọc
Cuối cùng là những bài văn mẫu thường có rất nhiều liên hệ văn học phong phú Bao gồm các trích đoạn thơ, lời phê bình văn học, châm ngôn,… Thường xuyên đọc văn mẫu sẽ giúp em nhớ được các liên hệ văn học một cách rất tự nhiên mà không cần học thuộc vất vả Từ đó dễ dàng áp dụng vào các bài văn một cách trôi chảy Một bài văn có nhiều liên hệ văn học chất lượng, thú vị chắc chắn sẽ được người chấm bài đánh giá rất cao
Đọc hiểu thông minh không chỉ là hiểu thông tin, mà phải đào sâu, mở rộng và ghi nhớ nội dung tài liệu lâu dài để đạt được cần tuân thủ theo quy tắc:
Quy tắc 1: Chọn nguồn tài liệu( tác giả sách, nhà xuất bản …) Quy tắc 2: Đọc - hiểu nội dung tài liệu, tóm tắt nội dung bài văn mẫu Quy tắc 3: Xác định cấu trúc, bố cục cách triển khai các bước của bài văn mẫu Quy tắc 4: Nhận diện cách dẫn dắt, cách chuyển luận điểm, trích dẫn nguồn tư liệu
… bản thân có thể học tập được Quy tắc 5: Xác định nội dung đề bài yêu cầu thực hiện với nội dung đề bài trong văn mẫugiống và khác nhau như thế nào, những gì cần học từ văn mẫu những gì không
Quy tắc 6: Văn mẫu chỉ là nguồn tài liệu để tham khảo trước khi làm bài không phải khi làm bài vừa xem vừa nhìn vừa viết
Quy tắc 7: Khi thực hiện bài viết gấp hết sách tài liệu, văn mẫu … làm bài bằng tư duy logic và cảm xúc văn thực thụ
3.2.2.4 Đọc thêm nhiều tác phẩm văn học bên ngoài chương trình Trong giới hạn dung lượng của chương trình Ngữ văn phổ thông, giáo viên Ngữ văn chỉ có thể giảng kỹ càng về một đoạn trích của tác phẩm Còn lại, với toàn văn của tác phẩm hoặc những tác phẩm văn học khác có liên quan, học sinh phải tự tìm đọc
Trang 20Nếu muốn nâng cao trình độ Ngữ văn của mình, phương pháp học tập hiệu quả là hãy tìm đọc toàn bộ tác phẩm được trích trong sách (với các đoạn trích) Hoặc đọc thêm cả những tác phẩm khác của chính nhà văn nhà thơ ấy
Ví dụ, khi học về truyện ngắn Chí Phèo của tác giả Nam Cao, các em có thể tìm đọc thêm cả tuyển truyện ngắn Nam Cao: Lang rận, Một bữa no, Lão hạc, Đời
thừa, …
Khi học về đoạn trích Đất nước trong chương trình Ngữ văn lớp 12, em hãy đọc
cả trường ca Mặt đường khát vọng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Học Vợ chồng
A Phủ cần đọc phần hai của tác phẩm và tìm đọc truyện Mường Giơn, C u đất c u
mường Khi học Chiếc thuyền ngoài xa không thể không đến với truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu sau 1975 qua truyện Bến quê, Dấu chân người lính, Cỏ lau,
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành …Đây là một yêu cầu rất chính đáng để
học tốt môn văn và cũng là yêu cầu để đổi mới theo chương trình giáo dục phổ thông mới Trong đề kiểm tra giáo viên có thể sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa cho bài tập đọc hiểu Giáo viên lên lớp tiết học tự chọn rất nên đưa những văn bản này vào giới thiệu và hướng dẫn đọc hiểu
Đọc thêm nhiều tác phẩm văn học bên ngoài chương trình trước hết duy trì thói quen đọc các tác phẩm văn học lớn sẽ giúp em nâng cao vốn từ và biết cách cảm thụ văn học một cách tự nhiên Bên cạnh đó, khi đọc toàn bộ tác phẩm, em sẽ có được cái nhìn sâu sắc hơn về nội dung và ngấm tác phẩm hơn rất nhiều
3.2.2.5 Viết văn vừa cảm xúc vừa lý trí, có cá tính
Môn Ngữ văn là môn học giao thoa giữa nghệ thuật và khoa học, vừa đòi h i tính chính xác vừa đòi h i tính nghệ thuật - thẩm mỹ,
Văn học là sáng tạo, các bạn hãy học, viết bằng cảm xúc, tâm hồn của mình thay
vì đi ăn cắp chất xám của người khác Các bạn hãy cứ thể hiện suy nghĩ, cảm nhận, hiểu biết của mình qua bài viết một cách chân thực Viết văn là một quá trình khổ nhục như con tằm rút ruột nhả tơ, là quá trình đồng sáng tạo cùng tác giả vậy nên không thể coi nhẹ cảm xúc cũng không thể chỉ đề cao lỹ trí mà cần có một tư duy mạch lạc theo một hình thức kết cấu của văn bản Viết văn ban đầu là tạo thói quen sau thói quen nó sẽ trở thành nhu cầu không viết không được và lúc đó bạn đã hoàn toàn làm chủ được hoạt động viết Nói to suy nghĩ, viết những gì chợt đến trong đâu, sau đó hãy dùng lý trí tư duy định hình, sắp xếp lại hợp lý bắt đầu viết Để có
kỹ năng này cần có thói quen đọc sách, phát triển ngôn ngữ từ nh , nắm vững từ vựng, hiểu nghĩa của từ,
3.3 Vận dụng linh hoạt một số phương pháp và chiến thuật dạy học tích cực phù hợp cho từng phân môn (Tiếng Việt, làm văn, đọc văn)
Để khắc phục tình trạng dạy học nặng về thuyết giảng, đọc chép, và yêu cầu thuộc lòng văn mẫu, giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng, giữ vị trí độc tôn trong dạy học, cần phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học, chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học thì đó
Trang 21là phương pháp tối ưu Xác định mục tiêu, chọn phương pháp, tiến hành xây dựng
kế hoạch bài dạy và tổ chức học theo hướng tăng cường r n luyện cho học sinh phương pháp đọc, viết, nói và nghe, thực hành, trải nghiệm tiếp nhận và vận dụng kiến thức tiếng Việt, văn học thông qua các hoạt động, hình thành ý tưởng, biết cách trình bày ý tưởng mạch lạc, sáng tạo có tính thuyết phục Qua đó r n luyện tư duy và cách viết các loại văn bản Sau đây là một số phương pháp tối ưu dạy học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực:
3.3.1 Phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại trong dạy học Ngữ văn
Mở đầu Sự phát triển KT-XH hiện nay đặt ra cho giáo dục yêu cầu không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội” Chiến lược đổi mới, phát triển giáo dục được các cấp học, ngành học từng bước triển khai một cách sâu rộng với nhiều hình thức khác nhau như: đổi mới nội dung chương trình đào tạo, phương pháp, phương tiện dạy học, Do đặc thù của văn học nên việc đổi mới phương pháp dạy học h i cần có sự kết hợp giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại
3.3.1.1 Phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại Thuật ngữ phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “Methodos”, có nghĩa
là cách thức, con đường để đạt tới mục tiêu nhất định Trong lí luận dạy học có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Nhưng có thể hiểu, phương pháp dạy học chính là cách thức, con đường làm việc, phối hợp thống nhất giữa người dạy và người học nhằm đạt được mục đích dạy học Phương pháp dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được duy trì qua nhiều thế hệ, bao gồm ba nhóm phương pháp: nhóm các phương pháp dùng lời (phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp,…), nhóm các phương pháp trực quan (phương pháp quan sát, phương pháp minh họa,…), nhóm các phương pháp thực hành (phương pháp luyện tập, phương pháp thực hành thí nghiệm,…) Về cơ bản, phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp “lấy hoạt động của người dạy
là trung tâm”, là quá trình truyền tải thông tin từ người dạy sang người học Người dạy là người thuyết trình, diễn giảng; người học là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Phương pháp dạy học truyền thống coi trọng việc truyền tải kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp này có tính hệ thống, logic cao; người dạy có thể truyền tải được nhiều nội dung kiến thức đến người học Song, “do lấy người dạy làm trung tâm” nên phương pháp này có nhược điểm đó là không phát huy được tính tích cực, chủ động, năng lực tư duy sáng tạo của người học, làm cho giờ học dễ đơn điệu, buồn tẻ, nặng về lí luận, ít chú ý đến việc hình thành năng lực cho người học Yêu cầu của việc thực hiện phương pháp dạy học truyền thống đó là: Người dạy phải chuẩn bị nội dung bài học một cách kĩ lưỡng, theo hệ thống, logic, chủ yếu thông qua thuyết trình, diễn giảng để truyền tải những tri thức đó đến với người học Phương pháp dạy học hiện đại là phương pháp dạy học theo
Trang 22hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Đây là phương pháp hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tập trung vào phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Ở đó, người dạy giữ vai trò định hướng, tổ chức cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới Người dạy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy Người dạy nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và luận giải các ý kiến đối lập của người học;
từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững Ưu điểm của phương pháp này là phát huy năng lực tư duy sáng tạo, tự mày
mò, tự chiếm lĩnh tri thức của người học; chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng tự học, tự nghiên cứu; giảm bớt thuyết trình, diễn giảng; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức, xử lí tình huống làm cho giờ học trở nên sôi nổi, hấp dẫn hơn
3.3.1.2 Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp truyền thống và hiện đại trong dạy học môn Ngữ văn
Ngữ văn là môn học đưa văn bản về với thực tiễn đời sống không chỉ dừng lại ở việc hiểu mà còn phải thấu hiểu và có thể vận dụng vào mọi mặt của cuộc sống Vì
lẽ đó, thông qua giảng dạy các nội dung, GV phải giúp HS hiểu được những kiến thức đồng thời biết vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống Mặt khác, thông qua việc học, GV cần giúp HS hình thành những năng lực cần thiết nghe - nói - đọc - viết trong hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, hiện nay, việc dạy học vẫn còn nhiều khó khăn, chưa thực sự phát huy được hiệu quả, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác, sự say mê của học sinh, chưa làm cho học sinh thực sự hứng thú với môn học
Trên cơ sở thấy rõ mặt ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập đòi h i phải có sự kết hợp giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại Do đặc thù của môn văn nên phương pháp dạy học truyền thống
là không thể b qua bởi nó cung cấp kiến thức cho học sinh một cách hệ thống, logic Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống thì sẽ làm cho quá trình dạy học trở thành quá trình truyền thụ một chiều, không phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của HS, làm cho bài giảng trở nên đơn điệu, khó tạo được sự hứng thú, say mê của người học Còn nếu chỉ sử dụng phương pháp dạy học hiện đại mà b qua phương pháp dạy học truyền thống thì sẽ làm cho bài giảng thiếu tính hệ thống, học sinh khó nắm bắt được tổng quan, logic của vấn đề, làm hạn chế tư duy và không đạt được mục tiêu bài học, môn học Chính vì vậy, trong giảng dạy văn đòi h i cần có sự kết hợp một cách nhuần nhị giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, làm cho nội dung bài học vừa đảm bảo tính hệ thống, logic vừa có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác của HS, làm cho HS hứng thú với môn học, làm cho tiết học trở nên sôi nổi, hiệu quả hơn
Trang 233.3.1.3 Kết hợp phương pháp truyền thống và hiện đại trong dạy học Ngữ văn
- ết hợp phương pháp thuyết trình truyền thống với phương pháp dạy học nhóm
Vì tri thức ngữ văn vừa khoa học vừa nghệ thuật nên khi sử dụng phương pháp dạy học nhóm đòi h i GV phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng để định hướng, dẫn dắt HS để qua hoạt động nhóm HS có thể bước đầu khám phá được các tri thức Mỗi vấn đề đưa ra để thảo luận nhóm, GV cần thuyết trình giảng giải để HS có cái nhìn tổng quan về bài học, khái quát được các nội dung kiến thức của bài học, vị trí của bài học trong mối tương quan với những bài học trước… từ đó thiết kế những câu h i
rõ ràng, cụ thể nhằm dẫn dắt HS suy luận logic, đúng hướng, có trọng tâm, nắm được nội dung chính của vấn đề thảo luận Tránh tình trạng, GV yêu cầu các nhóm
HS tự đọc, tự nghiên cứu một mục nào đó mà không đưa ra những câu h i để định hướng HS tìm tòi, suy luận khiến HS không hiểu gì, không biết mình cần nắm được gì, không thấy phát sinh vấn đề gì… Sau khi các nhóm trình bày nội dung đã chuẩn bị, GV sẽ tổ chức cho các nhóm nhận xét, phản biện lẫn nhau và đóng vai trò làm trọng tài để kết luận vấn đề, rút ra những nội dung HS cần nắm được
- ết hợp phương pháp thuyết trình truyền thống với phương pháp Think - Aloud ( nói ra suy nghĩ )
Trong quá trình dạy học, cùng với phương pháp thuyết trình, vấn đáp, GV có thể
sử dụng phương pháp Think – Aloud Khi dạy Ngữ văn theo chương trình mới, phương pháp nói to suy nghĩ (think – aloud) là một trong những phương pháp quan trọng, có tính chiến lược để giúp HS hình thành được kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Phương pháp nói to suy nghĩ (think aloud) là cách thức nói to những suy nghĩ trong quá trình tư duy khi thực hiện một kỹ năng nào đó để người học có thể quan sát quá trình tư duy và học theo, từ đó hình thành được kỹ năng cần học Như vậy, phương pháp nói to suy nghĩ khác với phương pháp thuyết trình – diễn giảng Nếu phương pháp thuyết trình – diễn giảng chủ yếu trình bày những kết quả sẵn có thì phương pháp nói to suy nghĩ tập trung vào trình bày quá trình tư duy (những suy nghĩ trong đầu, những cân nhắc, những chỉnh sửa, diễn giải…) để đạt được kết quả đó Trên cơ sở đó mà GV đưa ra, GV cần dẫn dắt, khơi gợi, đặt câu h i để HS
tự suy ngẫm, đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết
Ví dụ: hiện nay, khi dạy đọc hiểu văn bản, GV chủ yếu thuyết trình – diễn giảng những kết quả đọc sẵn có (như là phân tích nhân vật, ý nghĩa chi tiết, phân tích đoạn thơ,…) mà ít chú trọng, nhấn mạnh đến cách thức tư duy để ra được những kết quả đọc đó Hệ quả là HS chỉ biết từng tác phẩm cụ thể, chấp nhận những kết quả đọc sẵn có được GV đưa ra, mà không nắm được các kĩ năng đọc, chiến thuật đọc để tự đọc các văn bản có độ khó tương tự
Đối với giờ dạy Ngữ văn theo chương trình mới, lớp học là một cộng đồng học thuật mà trong đó giáo viên là một người có kinh nghiệm hơn về đọc, viết, nói và nghe, có thể hỗ trợ, dẫn dắt, hướng dẫn người học để giúp hình thành các kỹ năng
ấy Chính vì vậy, phương pháp nói to suy nghĩ là một lựa chọn tốt để giáo viên làm
Trang 24mẫu các kỹ năng cần dạy, giúp cho việc học được trực quan, sinh động và dễ tiếp thu hơn
- ết hợp phương pháp truyền thống với phương pháp nêu vấn đề
Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp thường được GV sử dụng để kết hợp với phương pháp thuyết trình Để có thể sử dụng phương pháp nêu vấn đề một cách hiệu quả, đòi h i GV phải có cái nhìn tổng quan về môn học, mối quan hệ, tính logic giữa các bài học, cũng như giữa các đơn vị kiến thức trong bài học Từ
đó, giáo viên đặt ra các vấn đề chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết để đưa HS vào tình huống có vấn đề làm nảy sinh trong HS những câu h i, những thắc mắc, kích thích học sinh tự suy nghĩ, khám phá để giải quyết vấn đề nhằm giải quyết nội dung bài học Việc đưa học sinh vào tình huống có vấn đề đòi
h i người GV phải thuyết trình, dẫn dắt một cách logic, đúng hướng, tránh lan man khiến học sinh khó phát hiện vấn đề đặt ra cần giải quyết
- ết hợp phương pháp truyền thống với phương pháp dự án
Mục đích của việc học văn là nhằm trang bị cho HS có hiểu biết về thế giới nghệ thuật, để nâng cao hiệu quả trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Thông qua việc học văn, GV cần hình thành cho HS khả năng nhìn nhận, đánh giá, triển khai, giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống Vì vậy, việc dạy văn phải gắn liền với thực tiễn, tránh sa vào lý thuyết chung chung, trừu tượng, xa rời thực tiễn, thiếu chất kết dính với thực tiễn Qua mỗi bài học, GV phải cho HS thấy được chất màu hiện thực, giá trị thực tiễn của các tác phẩm Và việc sử dụng phương pháp dự án trong dạy học văn có ý nghĩa rất lớn, giúp HS thấu hiểu kiến thức cả về mặt lý luận và thực tiễn Để sử dụng phương pháp này đòi h i GV phải có sự am hiểu thực tiễn, tính quy luật trong sự vận động muôn màu của thực tiễn Từ đó, GV lựa chọn và giao cho các nhóm HS tìm hiểu những chủ đề có liên quan trực tiếp đến nội dung môn học Trong quá trình HS thực hiện, GV sẽ là người “cố vấn”, định hướng, hỗ trợ khi cần thiết Sau khi HS hoàn thành chủ để, GV sẽ là người đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm giúp HS không những nắm được kiến thức mà quan trọng hơn là hình thành được những năng lực cần thiết cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
3 Kết luận:
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học ngữ văn trong các nhà trường nói riêng là yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng nhu cầu xã hội Tuy nhiên, mỗi phương pháp dạy học truyền thống hay hiện đại cũng đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, không có phương pháp nào là vạn năng Vấn đề ở đây là đổi mới không có nghĩa là loại b các phương pháp dạy học truyền thống mà cần cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các phương tiện dạy học hiện đại ngày càng được sử dụng rộng rãi trong dạy học nhưng điều đó không thể thay thế được vai trò, chức năng của người GV mà nó chỉ
có tác dụng giảm nhẹ sức lao động, tăng thêm năng lực dạy học, giáo dục Người
Trang 25GV không chỉ là cầu nối giúp HS đến với tri thức mà còn giúp HS có lí tưởng, niềm tin đúng đắn, khơi dậy và bồi dưỡng cho HS những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, năng lực sáng tạo của một người công dân Người GV trong nền giáo dục hiện đại phải là người đề xướng, thiết kế nội dung và lựa chọn, sử dụng các phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo của HS, giúp HS biết cách học, cách tự r n luyện để hình thành những năng lực cần thiết Điều đó đặt ra cho mỗi người GV phải không ngừng trau dồi, học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, hình thành năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng thay đổi Đây là một trong những năng lực chìa khoá rất cần thiết cho con người nói chung và người GV hiện nay nói riêng Năng lực này giúp người GV có thể vận dụng một cách sáng tạo các nội dung, phương pháp dạy học vào trong bài giảng của mình, có thể thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, thường xuyên cập nhật những tri thức hiện đại và vận dụng có hiệu quả những tri thức đó vào trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
3.3.2 Chọn một số phương pháp dạy học tích cực chủ đạo
Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:
Đặc trƣng thứ nhất: Dạy học thông qua hoạt động của học sinh
Đặc trưng thứ nhất nằm trong 4 đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực đó là dạy học thông qua hoạt động của học sinh Thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập, học sinh có thể tự khám phá những kiến thức mới một cách chủ động, tích cực
Đối với đặc trưng này, giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướng dẫn, giới thiệu học sinh cách để đạt được những thông tin, kiến thức về môn học Còn học sinh sẽ tự động học tập, cố gắng để nhớ lại những kiến thức cũ và phát hiện kiến thức mới, sau đó vận dụng những kiến thức có được vào các tình huống khác, trong học tập
và thực tiễn
Đặc trƣng thứ hai: Dạy học tập trung vào việc r n luyện phương pháp tự học
Để thực hiện được điều này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
- Cách đọc tài liệu học tập
- Cách tìm kiếm kiến thức từ các nguồn khác
- Cách suy luận vấn đề từ kiến thức đã có Khi học sinh có thể tự r n luyện phương pháp tự học, từ đó r n luyện cho mình các thao tác tư duy phân tích tổng hợp, khái quát hoá, quy lạ về quen,… điều này sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển những tiềm năng của bản thân
Đặc trƣng thứ ba: Tăng cường học tập cá nhân phối hợp với học tập hợp tác
Đây là một đặc trưng quan trọng đối với phương pháp dạy học tích cực Với đặc trưng này, giáo viên nên thực hiện theo phương châm “tạo điều kiện để học sinh suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều và thảo luận nhiều hơn” Lớp học nên được xây dựng thành môi trường giao tiếp giữa thầy – trò và trò – trò
Trang 26Nếu thực hiện được điều này, học sinh sẽ cố gắng để vừa tự học, vừa tăng cường hợp tác với giáo viên và bạn học để xử lý các vấn đề trong quá trình học, vừa xử lý được các nhiệm vụ cá nhân, vừa xử lý nhiệm vụ chung của tập thế
Đặc trƣng thứ tƣ: Kết hợp đánh giá từ thầy với tự đánh giá của trò
Việc đánh giá và tự đánh giá là một trong những yêu cầu quan trọng đối với phương pháp dạy học tích cực Vì vậy, 1 trong 4 đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực đó là kết hợp 2 điều này
Giáo viên có thể đánh giá học sinh của mình thông qua kết quả đạt được trên thang điểm mục tiêu đạt được bằng hệ thống các câu h i, bài tập Kết hợp cùng việc đánh giá từ phía giáo viên, cần chú trọng vào việc giúp học sinh tự đánh giá được bản thân mình trong quá trình tiếp nhận kiến thức
Các hình thức tự đánh giá có thể là đánh giá dựa trên đáp án mẫu, đánh giá theo hướng dẫn có sẵn, hoặc dựa trên các tiêu chí chung, học sinh đánh giá được bản thân được và chưa được ở điểm nào, nguyên nhân là do đâu và cách sửa sai như thế nào
Trên đây là 4 đặc trưng phương pháp dạy học tích cực cơ bản cần tuân thủ để đạt được kết quả cao nhất Việc áp dụng linh hoạt 4 đặc trưng này trong việc day học, cần giáo viên là người có chuyên môn, kỹ năng và bản lĩnh đứng lớp
3.3.2.1 Phương pháp Think - Aloud - nói ra suy nghĩ và Chiến thuật “cuốn phim trí óc”
3.3.2.1.1 Phương pháp Think - Aloud - nói ra suy nghĩ Đối với giờ dạy Ngữ văn theo chương trình mới, lớp học là một cộng đồng học thuật mà trong đó giáo viên là một người có kinh nghiệm hơn về đọc, viết, nói và nghe, có thể hỗ trợ, dẫn dắt, hướng dẫn người học để giúp hình thành các kỹ năng
ấy Chính vì vậy, phương pháp nói to suy nghĩ là một lựa chọn tốt để giáo viên làm mẫu các kỹ năng cần dạy, giúp cho việc học được trực quan, sinh động và dễ tiếp thu hơn
Thực hiện phương pháp nói to suy nghĩ như thế nào?
Trong thực tế, thường giáo viên sẽ thực hiện phương pháp nói to suy nghĩ kết hợp với phương pháp làm mẫu Có thể thực hiện như sau:
Bước 1: thông báo kỹ năng mà GV sẽ làm mẫu để HS chuẩn bị, chủ động trong quá trình theo dõi Thuyết minh ngắn gọn cách thực hiện kĩ năng sẽ làm mẫu Bước 2: GV vừa làm mẫu kỹ năng cần dạy vừa nói to những suy nghĩ trong đầu trong quá trình thực hiện kĩ năng đó
Bước 3: GV mời HS nhận xét, khái quát những lưu ý về kĩ năng vừa được làm mẫu kết hợp với nói to suy nghĩ, từ đó rút ra kinh nghiệm khi thực hiện kĩ năng Bước 4: GV cho HS thực hành kĩ năng cần đạt dưới sự hướng dẫn của GV Bước 5: GV cho HS đánh giá, rút kinh nghiệm về kỹ năng vừa thực hành
Bước 6: GV cho HS tự thực hiện kỹ năng trong các nhiệm vụ khác để vận dụng,
mở rộng, củng cố kĩ năng cần đạt
Dùng phương pháp nói to suy nghĩ để làm mẫu kỹ năng đọc:
Trang 27Với kĩ năng đọc, GV có thể sử dụng phương pháp nói to suy nghĩ để hướng dẫn
HS thực hiện kĩ năng đọc ở giai đoạn trong khi đọc Thông qua phương pháp nói to suy nghĩ, HS hiểu được các cách thức tư duy để thực hiện từng kĩ năng cụ thể như
dự đoán, suy luận, hình dung, theo dõi,… và học để làm theo Nhờ phương pháp nói to suy nghĩ, quá trình đọc được làm chậm lại qua từng bước tư duy, nhờ đó người học có thể dễ dàng hình dung về cách thức thực hiện kĩ năng đọc cũng như học cách tự kiểm soát tiến trình đọc của bản thân
Dùng phương pháp nói to suy nghĩ để làm mẫu kĩ năng nói và nghe:
GV cũng có thể thực hiện phương pháp nói to suy nghĩ để làm mẫu kĩ năng nói
và nghe Chẳng hạn nói to suy nghĩ cách thức tư duy để lựa chọn cách mở đầu bài nói ấn tượng, lôi cuốn được người nghe Hoặc dùng nói to suy nghĩ để làm mẫu kĩ năng nghe và ghi chép
Dùng phương pháp nói to suy nghĩ để làm mẫu kỹ năng viết:
GV cũng có thể dùng phương pháp nói to suy nghĩ để hướng dẫn học sinh thực hiện quy trình viết Như vậy, phương pháp nói to suy nghĩ không chỉ sử dụng để làm mẫu quá trình viết, mà còn có thể sử dụng để làm mẫu các bước chuẩn bị viết; tìm ý và lập dàn ý; xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
Ví dụ bàn luận về một vấn đề nghị luận xã hội:
Dùng phương pháp nói to suy nghĩ để làm mẫu bước chuẩn bị viết: (lập dàn ý, tìm luận điểm, luận cứ, luận chứng …)
Dùng phương pháp nói to suy nghĩ kết hợp với làm mẫu kĩ năng viết đoạn: Cấu trúc đoạn văn gồm ba phần: mở đoạn có câu chủ đề, thân đoạn trình bày những ý chính để làm rõ hơn câu chủ đề, kết đoạn khẳng định lại nội dung chính của đoạn Cách thức này sẽ giúp cho HS dễ dàng hình dung về hoạt động viết trong thực tế và thông qua việc quan sát quá trình tư duy của GV khi viết, HS có thể học được cách suy nghĩ để viết tốt hơn
(Bước 1)Mở đoạn … thường nên dẫn dắt vấn đề bằng một câu thơ/ câu triết lý/ ngạn ngữ … có cùng chủ để nghị luận (Bước 2) giải thích vấn đề nghị luận- giải thích nghĩa theo nghĩa từ điển tiếng Việt, cắt nghĩa từng từ, vế câu … rồi khái quát vấn đề đặt ra cần bàn luận (Bước3) Phân tích để làm sáng t vấn đề, biểu hiện cụ thể về vai trò, tác dụng hay tác hại … sự tác động của vấn đề nghị luận đó đến với đời sống cá nhân con người, gia đình, cộng đồng xã hội (Bước 4) mình chứng vấn
đề bằng từ “Như …… nhân vật/ cá nhân/… cụ thể Hay là đưa dẫn chứng thứ 2 (Bước 4) Bắt đầu bằng từ Thế nhưng … bình luận mặt sau/ trái của vấn đề Cuối cùng là “Vậy nên” tôi, ban, chúng ta hãy … là rút ra bài học nhận thức và hành động Sau bài học sẽ kết đoạn bằng từ Bởi: trích dẫn 1 câu ngạn ngữ/ ý kiến… có tầm triết lý cao cho chủ đề nghị luận
Cho học sinh nói to suy nghĩ để hỗ trợ việc thực hiện các kỹ năng:
Thông qua việc cho HS nói to suy nghĩ, thầy cô sẽ quan sát được quá trình tư duy của các em khi thực hiện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết để từ đó có những phản
Trang 28hồi kịp thời (khích lệ những điểm tốt, nhận ra và hướng dẫn điều chỉnh những chỗ còn thiếu sót hay nhầm lẫn)
GV cho HS thực hành kỹ năng trước lớp đồng thời nói to suy nghĩ khi thực hành
kỹ năng ấy để các bạn và GV có thể quan sát, nhận xét, góp ý Hoặc GV hướng dẫn HS nói to suy nghĩ sau khi thực hiện sản phẩm để tái hiện lại cách thức HS tư duy
Kết quả:
Hình ảnh học sinh thực hiện kỹ năng nói to suy nghĩ
Học sinh nói to suy nghĩ của mình, viết tốt, viết nhanh hơn những tư duy về vấn
đề, nhất là nội dung bàn luận về những vấn đề liên quan đến nghị luận xã hội Học sinh suy nghĩ, nói to vấn đề trong 5 phút, tiến hành viết đoạn văn trong 10 phút 3.3.2.1.2 Chiến thuật “ cuộn phim trí óc” (THINK-ALOUD)
“Chiến thuật đọc hiểu được xác định như là quá trình nhận thức được dẫn dắt thận trọng bởi mục đích cụ thể, hoặc một cách xử lý để điều khiển, chuyển sự cố gắng của người đọc tới việc giải mã văn bản và kiến tạo ý nghĩa của văn bản” (Garner, 1987)
Như vậy có thể xem chiến thuật đọc hiểu là những biện pháp, những thủ thuật giúp học sinh chiếm lĩnh văn bản một cách tích cực, chủ động như một độc giả thuần thục, có kỹ năng và sáng tạo Có rất nhiều chiến thuật đã được đề xuất và ứng dụng như : hoạt hoá tri thức có trước, mối quan hệ h i – đáp, vòng tròn văn
học, Cung cấp cuốn phim trí óc là một trong số đó
Như chính tên gọi của chiến thuật, “cuốn phim trí óc” là một dạng kỹ thuật rất tốt
để “đọc chậm” Nói một cách hình ảnh, nếu xem quá trình đọc diễn ra bên trong nhận thức của mỗi cá nhân là một “tiêu bản” thì chiến thuật “cuốn phim trí óc” là
“kính hiển vi” để độc giả trực quan nhận diện từng yếu tố hiện hữu Đó cũng là thể cách quay chậm của nhà điện ảnh để người đọc quan sát kỹ lưỡng và biết cách thực hành Hiệu quả của chiến thuật này là ở chỗ nó trực quan hoá những quá trình bên trong thầm kín, riêng tư của người đọc để hiện diện và bộc lộ ra bên ngoài giúp cho việc quan sát của chính học sinh, giúp giáo viên đánh giá, thu nhận phản ứng ngược trong quá trình đọc hiểu, từ đó mà điều khiển, điều chỉnh, định hướng việc dạy học Đồng thời, với tư cách là một hình thức hoạt động được giáo viên lập kế hoạch nhằm đạt mục tiêu bài dạy, “cuốn phim trí óc” sẽ “tạo công ăn việc làm” khá
Trang 29thú vị cho học sinh, tránh tình trạng “ăn không ngồi rồi”, lĩnh hội sẵn sự phân tích, thẩm bình, đánh giá từ sách vở hoặc ý kiến của thầy cô giáo
Nếu sáng tác văn học là công việc do cá nhân nghệ sĩ làm, không ai thay được con người anh ta trong quá trình viết đầy nhọc nhằn, đam mê, vui, buồn, sướng, khổ, thì tiếp nhận văn bản văn chương cũng là công việc rất cá nhân, là sự tương
tác trực tiếp giữa một độc giả với một văn bản trong một ngữ cảnh đọc xác định
Chiến thuật “think -aloud” tạo cơ hội cho bạn đọc học sinh nói to lên bất cứ cái gì
họ đang tư duy hoặc cảm nhận về văn bản khi đọc Nhờ vào đó học sinh nhận ra
“hình mẫu” một độc giả đích thực Cũng nhờ đó, giáo viên xác định học sinh có làm việc hay không Chiến thuật “cuốn phim trí óc” sẽ quay chậm trước mắt độc giả hình ảnh bạn đọc đang trực tiếp nhận diện từng câu chữ, nắm bắt thông tin bề mặt; hình dung, tưởng tượng; hoạt hoá các tri thức có trước; tạo liên hệ kết nối liên văn bản, giữa văn bản đang đọc với hiện thực đời sống, giữa văn bản và trải nghiệm cá nhân của bản thân mình; đặt ra những giả thiết, tiên đoán bước phát triển tiếp tới của hành động nhân vật; đặt ra và tự trả lời những câu h i xem thực
sự tác giả định nói gì, nhân vật muốn làm gì, vì sao lại như vậy, ; suy luận, cắt nghĩa thông điệp nghệ thuật; sự cố gắng để giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc hiểu văn bản; sự nếm trải cảm xúc thẩm mĩ; những sai lầm, lạc hướng trong quá trình “đánh đường” đi vào tác phẩm, Và vì vậy “cuốn phim trí óc” là một dạng chiến thuật đặc biệt – “chiến thuật của chiến thuật” Giáo viên sử dụng chiến thuật này trước hết là để giúp học sinh đọc hiểu văn bản hiện thời “Cuốn phim trí óc” còn được sử dụng khi giáo viên làm mẫu các chiến thuật khác cho học
sinh, chẳng hạn đọc suy luận, những cuộc giao tiếp văn học, chiến thuật mối quan
hệ hỏi đáp,
Sau đây là một số bước để tiến hành chiến thuật:
Bước 1: Lựa chọn phần văn bản để áp dụng chiến thuật Đoạn văn bản được
chọn cần đảm bảo một số tiêu chí như : dung lượng tối đa là 2 trang (thông thường, tốt nhất là trong phạm vi 1 trang); phải là phần văn bản hay, gắn bó chặt chẽ với nội dung kiến thức cần đạt trong bài học
Bước 2: Giáo viên làm mẫu chiến thuật (Khi học sinh đã được giới thiệu và thực
hành nhiều lần trong một số bài đọc hiểu văn bản thì bước này có thể được b qua) Giáo viên sẽ đọc to, diễn cảm phần văn bản lựa chọn, trong khi đó, học sinh được yêu cầu đọc thầm Trong và sau khi đọc, giáo viên sẽ dừng lại và tiến hành cung cấp cuốn phim trí óc đang diễn ra bên trong nhận thức của cá nhân mình để học sinh quan sát, nhận diện và hiểu về chiến thuật Giáo viên cần chủ động phân biệt giữa giọng đọc nội dung văn bản và giọng nói cung cấp “cuốn phim trí óc” của mình về văn bản để học sinh dễ nhận ra
Bước 3 : Giáo viên cho học sinh thực hành chiến thuật vào hoạt động đọc văn
bản Sau khi đọc xong toàn bộ đoạn trích, người đọc sẽ nhìn lại và tiến hành tổng hợp, tổ chức để đưa ra nhận định khái quát Đây là một thao tác rất quan trọng, nếu không chú ý sẽ làm cho hoạt động đọc hiểu trở nên tản mạn, vụn vặt, mất định
Trang 30hướng Về phía người nghe, giáo viên có thể giao thêm cho họ nhiệm vụ nhận diện, phân loại nội dung của cuốn phim trí óc theo mẫu phiếu học tập nhất định
Hình ảnh học sinh trình bày cuộn phim trí óc trong tiết học
- Đây thực sự là một phương pháp dạy học phát huy tối ưu nhất năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh, học sinh vừa hiểu nghĩa của từ vừa phát triển trí tưởng tượng phong phú, trương liên tưởng đối sánh tốt
- Học sinh phát triển thuyết trình, phát triển ngôn ngữ và kỹ năng viết tốt
- Đặc biệt với phương pháp này học sinh có khả năng đọc hiểu các văn bản ngoài sách giáo khoa theo đặc trưng thể loại một cách dễ dàng
- Tuy nhiên cần lưu ý một vài điểm sau đây:
+ Việc làm mẫu và cho học sinh thực hành cách sử dụng chiến thuật cuốn phim trí
óc nên được tiến hành vào giờ dạy học các bài hướng dẫn đọc hiểu của chương trình và sách giáo khoa
+ Giáo viên cần ý thức được điểm hạn chế của chiến thuật cuốn phim trí óc để định hướng cho học sinh, tránh tình trạng tản mạn, vụn vặt, phá vỡ kiến thức tổng thể bài học
+ Khi học sinh cung cấp cuốn phim trí óc là lúc họ tập trung vào việc thể hiện ra những yếu tố đang diễn ra bên trong tư duy, cảm nhận của mình Vì vậy, giáo viên lưu ý học sinh có thể không cần chú ý đến chính tả, ngữ pháp, giọng điệu, miễn làm sao có thể trực quan rõ nhất quá trình tư duy đang xảy ra Tất nhiên, sau đó, họ
sẽ nhìn lại và tự sửa chữa để tổng hợp, phát biểu ý kiến cá nhân
+ Để giúp học sinh nhận diện rõ quá trình đọc hiểu xảy ra bên trong mỗi cá nhân như thế nào, giáo viên nên cung cấp cuốn phim trí óc của mình khi đọc văn bản ở lần đầu tiên (tức là một bản ghi chưa thực sự hoàn hảo, luôn luôn được điều chỉnh, cuối cùng mới đi đến đích)
3.3.2.2 Phương pháp Think - Pair - Share - suy nghĩ - ghép cặp - chia sẻ:
Phương pháp giảng dạy Think – Pair – Share là phương pháp được sử dụng nhiều
và triển khai hiệu quả trong công tác đào tạo Thông qua các hoạt động trong
Trang 31phương pháp mà học sinh trở nên linh hoạt và biết cách xử lý vấn đề Với ưu điểm
dễ dàng thực hiện và các học sinh đều có thể tham gia để chia sẻ ý kiến của bản
thân
Think – Pair – Share là phương pháp thúc đẩy người học tích cực hơn
Think – Pair – Share hay còn gọi là phương pháp đào tạo dựa trên các hoạt động Suy nghĩ – Ghép cặp – Chia sẻ Đây là một phương pháp giảng dạy mang tính hợp tác Trong đó, các học sinh làm việc cùng nhau để giải quyết một vấn đề hoặc trả lời một câu h i mà giáo viên đưa ra Phương pháp này yêu cầu học viên tự mình suy nghĩ về một chủ đề hoặc câu trả lời cho một câu h i và chia sẻ ý tưởng với cả lớp
Khi thực hiện phương pháp này, các học sinh được luyện tập kỹ năng suy nghĩ độc lập, làm việc theo cặp và tự tin trình bày Phương pháp giảng dạy Think – Pair – Share giúp người học tham gia tích cực vào nội dung và có thể áp dụng với tất cả chương trình đào tạo Hoạt động này dễ dàng tạo nên cuộc thảo luận nhanh, thay đổi không khí lớp học và lôi cuốn vào nội dung chương trình Các câu trả lời sẽ được mở rộng, khai thác tối đa nên học sinh có thể học h i, chia sẻ lẫn nhau
Cách triển khai phương pháp giảng dạy Think – Pair – Share
Bước 1: Suy nghĩ
Luyện tập kỹ năng suy nghĩ độc lập Trước tiên, giáo viên cần giới thiệu chung về các chủ đề sẽ thảo luận trong buổi học hôm nay Tiếp đến, hãy đưa ra một câu h i cụ thể và yêu cầu các học sinh tự mình suy nghĩ Sau đó ghi lại câu trả lời trong thời gian quy định Tùy vào độ phức tạp của câu h i, thời gian dành cho bước này có thể từ 1-3 phút
Bước 2: Ghép cặp
Ghép cặp để cùng thảo luận
Ở bước này, học sinh được sắp xếp thành từng cặp Bạn có thể lựa chọn chỉ định các cặp hoặc để tự chọn đối tác của mình Một điều lưu ý khi ghép đôi là nghĩ đến điểm mạnh và tính cách của học sinh Sau khi ghép thành từng cặp, yêu cầu học sinh chia sẻ những gì đã nghĩ ra trước đó với các đối tác của họ và thảo luận GV đưa ra các câu h i để học sinh trao đổi, thảo luận với nhau Phần này của hoạt động
Chia sẻ lại nội dung, ý kiến
Để triển khai phương pháp giảng dạy Think – Pair – Share một cách hiệu quả và thành công, cần lưu ý những điều sau:
- Chuẩn bị kỹ và đầy đủ các câu h i, vấn đề hoặc bài tập cho học sinh
Trang 32- Hướng dẫn học sinh cách suy nghĩ về câu h i, vấn đề để tìm ra đáp án
- Yêu cầu học sinh tìm một đối tác “ăn ý” để ghép cặp, thảo luận và đưa ra câu trả lời
- Khuyến khích các cặp chia sẻ càng nhiều những ý kiến hay phát hiện mới với cả lớp càng tốt
Ví dụ: 1 Hãy chia sẻ suy nghĩ của em về việc Phùng, Đẩu khuyên người đàn bà b chồng?
2 Hãy chia sẻ suy nghĩ của em về lí do người đan bà lạy xin quý tòa đừng bắt b người đàn ông vũ phu đó
( Xem Phụ lục 2b minh họa một phần kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học)
Kết quả đạt được:
Hình ảnh học trong tiết học nghiên c u bài học của nhóm
- Học sinh thực sự hào hứng khi được chọn cặp đôi và chia sẻ suy nghĩ bản thân
- Trình bãy suy nghĩ và bổ sung nhau từ cạch đội, học sinh đã hiểu rõ vấn đ và tìm được tiếng nói thống nhất từ cặp đôi, từ đó tự tin trình bày quan điểm trước tập thể
- Qua hoạt động học tập học sinh đã phát triển năng lực tư duy phản biện tốt 3.3.2.3 Phương pháp dạy học dự án:
“Dạy học dự án” là phương pháp có thể áp dụng cho tất cả các môn học, nhưng trong hệ thống các môn học trong trường phổ thông, bộ môn Ngữ Văn là môn học
có nhiều lợi thế áp dụng phương pháp dạy học dự án Bởi lẽ, nội dung của tiếp nhận văn học là quá trình giải mã tác phẩm và tái tạo lại bằng tư tưởng, tình cảm
và kinh nghiệm sống của người đọc Do đó nó đòi h i cao sự kích thích khám phá
và sáng tạo mà điều này lại chính là ưu điểm lớn nhất của dạy học dự án Đưa phương pháp dạy học dự án vào giảng dạy Ngữ Văn là một biện pháp vừa góp phần cải thiện tình trạng học sinh không có hứng thú học vừa có thể tích hợp trang
bị những kỹ năng cần thiết giúp gắn Văn học với thực tiễn đời sống, thực hiện đúng quan điểm “học đi đôi với hành” Do đó nghiên cứu cách vận dụng phương pháp dạy học dự án vào dạy học nói chung, bộ môn Ngữ Văn nói riêng để đạt hiệu quả cao là một vấn đề hết sức cần thiết
Trang 33Dạy học dựa trên dự án là cách thức tổ chức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu, trình bày
Dạy học dựa trên dự án có một số đặc điểm sau:
- Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực
tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ của dự
án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
- Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp
- Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như r n luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Tính tự lực của người học: trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi h i và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
- Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong
đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi h i và r n luyện tính sẵn sàng và kỹ năng công tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng
xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính
xã hội
- Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo
ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
Cách tiến hành
Trang 34
Chuẩn bị(Xây dựng ý tưởng, lựa chọnchủ đề, xây dựng kế hoạch thực hiện dự án)
- Xây dựng bộcâu h i định hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạt được
- Thiết kế dự án: xác địnhlĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, ai cần,
ý tưởng và tên dự án
- Thiết kế các nhiệm vụ choHS: làm thế nào để HS thực hiện xong thì bộ câu
h i được giải quyết và cácmục tiêu đồng thời cũng đạt được
- Chuẩn bị các tài liệu hỗtrợ GV và HS cũng như các điều kiện thực hiện dự
án trong thực tế
- Làm việc nhómđể lựa chọn chủ đề dự án
- Xây dựng kế hoạch dự án:xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí,phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm
- Chuẩn bị các nguồn thôngtin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án
- Cùng GV thống nhất các tiêuchí đánh giá dự án
Thựchiện dự án - Theo dõi,hướng dẫn, đánh
giá HS trong quá trình thực hiện dự án
- Liên hệ các cơ sở, kháchmời cần thiết cho HS
- Chuẩn bị cơ sở vật chất,tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án
- Bước đầu thông qua sản phẩmcuối của các nhóm HS
- Phân côngnhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự
án theo đúng kế hoạch
- Tiến hành thu thập, xử lýthông tin thu được
- Xây dựng sản phẩm hoặc bảnbáo cáo
- Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡkhi cần
- Thường xuyên phản hồi,thông báo thông tin cho GV và các nhóm khác
Kếtthúc dự án - Chuẩn bị cơsở vật chất - Chuẩn bị tiếnhành giới thiệu
Trang 35cho buổi báo cáo dự án.
- Theo dõi, đánh giá sản phẩmdự án của các nhóm
sản phẩm
- Tiến hành giới thiệu sảnphẩm
- Tự đánh giá sản phẩm dự áncủa nhóm
- Đánh giá sản phẩm dự án củacác nhóm khác theo tiêu chí
đã đưa ra
* Ví dụ minh họa: Dạy học dự án qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu
Nhóm 1,3: Qua câu chuyện của người đàn bà tại tòa án, các em hãy tạo ra sản
phẩm dự án bằng một phiên tòa giả định
Nhóm 2,4: Cuộc sống bấp bênh, số phận khổ đau của người dân vùng biển qua tác
phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, các em hãy đề ra một dự án phát triển kinh tế vùng biển để cải thiện, nâng cao đời sống cho người dân vùng biển
Phụ lục 2c: ế hoạch bài dạy
Kết quả đạt được:
Hình ảnh học sinh thực hiện sân khấu hóa phiên toa dả định
- Mạnh dạn tổ chức hoạt động dạy học dự án chúng ta mới thực sự nhận thấy sự sáng tạo mới mẻ của trò và phải công nhận là “ hậu sinh khả úy” Học sinh thực hiện dự án rất tốt
- Học sinh phát triển năng lực tuy duy sáng tạo và năng lực diễn xuất, sân khấu hóa tốt, đặc biệt là phát hiện được năng lực phát triển ngôn ngữ, năng lực tư duy phát triển kịch bản, trình bày một phương án phát triển kinh tế kinh doanh có tính khả thi và nhân văn
3.4 Đổi mới cách đánh giá học sinh trong môn Ngữ văn
Công văn số 3175/BGDDT-GDTrH, ngày 21/7/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra môn Ngữ văn ở trường phổ thông thể hiện một bước thay đổi toàn diện cho cách dạy và học môn Ngữ văn Cách thức mới này khắc phục tình trạng quá quen “học gì thi nấy” học sinh chỉ học thuộc, học theo các bài phân tích bình giảng mẫu, đọc chép một chiều thụ động
Trang 36Giáo viên buộc phải nhìn nhận lại chính thực trạng bản thân: Giáo viên nói thao thao bản Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm như thật nhưng thực chất chưa một lần tiếp cận trọn vẹn văn bản, cũng ca ngợi Truyện Kiều hết lời nhưng chưa đọc hết tác phẩm bao giờ, cũng giới thiệu nhân vật Điền – bóng hình của nhà văn Nam Cao nhưng chưa biết đến tác phẩm đó dài ngắn ra sao… thì giờ đây giáo viên phải thay đổi, phải đọc hiểu nhiều và rộng hơn không thể bó hẹp trong phạm vi sách giáo khoa Cách thức đổi mới đánh giá phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trên nền tảng chủ động, sáng tạo của người dạy Dạy đúng tinh thần của từng phân môn(Biện pháp 3), nắm vững đặc trưng thể loại, dạy học theo từng chuyên đề, xâu chuỗi kiến thức tổng quát, dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để r n luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tạo cơ hội phát triển năng lực cảm thụ văn học Người dạy, người học nhận thức sâu sắc với tinh thần đón nhận, bắt tay vào hành động thì mới thực sự đạt yêu cầu đặt ra của đổi mới đánh giá năng lực
Việc đánh giá học sinh trong môn Ngữ văn cần đảm bảo nguyên tắc phát huy những mặt tích cực của cá tính, trí tưởng tượng, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, năng lực tư duy hình tượng và tư duy logic của học sinh
Tập trung thiết kế và sử dụng các câu h i, bài tập yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học và kỹ năng đọc, viết, nói, nghe vào bối cảnh và ngữ liệu mới; tạo
cơ hội để học sinh khám phá những tri thức mới, đề xuất ý tưởng và tạo ra sản phẩm mới; gợi mở những liên tưởng, tưởng tượng, huy động được vốn sống vào quá trình đọc, viết, nói, nghe
Khuyến khích việc xây dựng và sử dụng các đề mở trong kiểm tra, đánh giá để phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh Xây dựng bộ công cụ đánh giá
để hạn chế tính chủ quan, cảm tính của người chấm Khi nhận xét, đánh giá các sản phẩm của học sinh, cần tôn trọng và khuyến khích cách nghĩ, cách cảm riêng của học sinh trên nguyên tắc không vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật
Trước khi đi vào các bước cụ thể của giải pháp, đề tài xin điểm lại các kiểu ra
đề, cấu trúc đề đổi mới qua các năm của Bộ giáo dục Việt Nam, từ đó xin được đối sánh với các nước khác trên thế giới và đề thi năng lực của các trường đại học tốp đầu trên cả nước
Xem hệ thống đề thi các năm từ 2010 - 2022
https://www.facebook.com/100080088275094/posts/pfbid02afPKucP1SjNT7pQL2sWbL4tv2unDQM1nzSdhCqz9gd4nKZxWuPNxJapezo8EKFtql/?sfnsn=mo&mibextid=VhDh1V
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=pfbid0FNdyvhmtf8jMxdi9XW2Anc2hddBHTF8UCDAkMLr7YJWQrmYTEX5S6Vt61SAfnhEDl&id=100014692358672&sfnsn=mo&mibextid=RUbZ1f
Nhận xét chung:
Trang 37- Thời kỳ kỳ thi tốt nghiệp và đại học tách riêng thì hai bộ đề thi với hai mức độ khác nhau lớn
- Bắt đầu từ khi sát nhập một kỳ thi lấy hai kết quả đề thi
- Độ khó và hay của đề càng ngày càng giảm và tính tường minh của đề văn rõ, nhất là phần làm văn nghị luận
- Nhận thấy những tồn tại đó bắt đầu một số trường đại học đã tiến hành tự chủ trong xét tuyển thông qua kỳ thi đánh giá năng lực, với hình thức trắc nghiệm khách quan và vừa trắc nghiệm khách quan vừa tự luận
Từ những ưu nhược trên bản thân trong quá trình thực hiện sẽ phát huy những ưu điểm, thế mạnh của mỗi dạng đề đồng thời khắc phục một số hạn chế từ cấu trúc chung của khung chương trình trong đề thi
3.4.1 Đa dạng hình thức đổi mới kiểm tra đánh giá Mục tiêu:
Chúng ta không thể đóng khung trong cách đánh giá cũ là kiểm tra miệng, kiểm tra viết, mà cần đa dạng hình thức kiểm tra đánh giá để thực sự phát hiện tối
đa những phẩm chất năng lực của học sinh
Cách thức tiến hành:
- Tổ chức kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan
- Tổ chức kiểm tra đánh giá vừa trắc nghiệm khách quan vừa tự luận
- Tổ chức kiểm tra đánh giá tự luận
- Tổ chức kiểm tra đánh giá theo hình thức hái hoa chất lượng
- Tổ chức kiểm tra đánh giá theo quá trình, đánh giá thái độ ý thức …
- Giáo viên đánh giá học sinh
- Học sinh đánh giá học sinh
Kết quả:
- Học sinh được đánh giá đúng theo phẩm chất năng lực
- Giáo viên phát hiện và điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp dạy học kịp thời hiệu quả
3.4.2 Nội dung kiểm tra đánh giá – không giới hạn phạm vi của nguồn tư liệu nhưng có phân chia mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao)
Mục tiêu:
- Khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc, học theo các bài phân tích, bình giảng mẫu, đọc chép một chiều thụ động; phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn; dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để r n kỹ năng nghe, đọc, viết, nói, tạo
cơ hội bày t năng lực cảm thụ văn học riêng của mỗi cá nhân
- Giúp học sinh hiểu được nội dung và hình thức của văn bản, tránh đọc chép và ghi nhớ kiến thức máy móc Khi dạy viết, giáo viên hướng dẫn các em hình thành ý tưởng, trình bày mạch lạc, sáng tạo, có sức thuyết phục, biết cách tạo lập nhiều thể loại văn bản; chủ động nghiên cứu, xây dựng ngân hàng đề thi phong phú, nội dung ý nghĩa, gần gũi với đời sống
Trang 38Yêu cầu:
- Đổi mới cách ra đề bắt buộc giáo viên phải thay đổi phương pháp truyền đạt giúp học trò không chỉ hiểu sâu kỹ về tác phẩm trong sách mà còn giảng dạy theo từng chuyên đề, xâu chuỗi kiến thức tổng quát và dành nhiều thời gian cho học sinh luyện tập đặt câu, viết đoạn văn, bình giảng một tác phẩm văn học ngoài chương trình để làm phong phú thêm vốn từ khi thực hiện bài tập làm văn Để làm được điều này yêu cầu giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, soạn giáo án theo hướng khái quát tác phẩm để dạy cho học sinh biết cách tiếp cận văn bản từ một yếu tố thuộc nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm tới bàn luận về một vấn
đề lớn trong xã hội và triển khai thành thạo kỹ năng làm bài ở từng thể loại văn học” Giáo viên chú trọng dạy khái quát từng giai đoạn lịch sử văn học, phong cách tác giả, nét nổi bật của tác phẩm Bài tập về nhà theo hướng mở để làm quen, rèn cho học sinh phải đọc hiểu kỹ tác phẩm, tìm hiểu thêm các tác phẩm không có trong SGK của các tác giả đã được học Trong giờ học, giáo viên gợi ý, chỉ dẫn học sinh tự nói, tự viết theo cảm nhận của mình về một văn bản bất kỳ, không lấy việc phân tích, bình giảng của thầy, cô giáo thay cho suy nghĩ của học trò
- Đề kiểm tra môn Ngữ văn theo hướng mở vẫn có cấu trúc hai phần là đọc hiểu và làm văn Đối với phần đọc hiểu, giáo viên có thể yêu cầu các em trả lời câu
h i theo bài đọc Phần làm văn, học sinh phải thể hiện kỹ năng viết bài văn thông qua phân tích, đánh giá, bình luận tác phẩm có nét tương đồng về đặc trưng thể loại với các văn bản đã được học trong SGK
- Giáo viên phải giúp học sinh biết cách tự đọc hiểu văn bản, coi ngữ liệu là phương tiện và việc tìm hiểu ngữ liệu là cách thức để hình thành, phát triển năng lực đọc hiểu tác phẩm
Cách thức tiến hành : Bước 1 : Căn cứ từ nguồn ngữ liệu sách giáo khóa để mở rộng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa theo thể loại, đề tài hoặc tác giả, giai đoạn :
Bước 2 : Chọn ngữ liệu, hướng dẫn học sinh đọc hiểu qua hệ thống câu h i đọc hiểu
Bước 3 : Học sinh đọc hiểu bằng cach hoạt động : nói to suy nghĩ, ghép cặp, chia
sẻ, tạo lập văn bản … Phụ lục 4 : Bộ đề kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực
Kết quả: Học sinh có thêm nguồn tư liệu phong phú, không còn bó hẹp ở sách giáo khoa, học sinh phát triển kỹ năng đọc hiểu các loại văn bản
3.4.3 Kỹ năng và thái độ đánh giá của giáo viên
Kiểm tra, đánh giá là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình dạy học Kiểm tra, đánh giá chính xác sẽ có tác dụng giúp giáo viên nắm được cụ thể năng lực học tập của từng em, từ đó có biện pháp cụ thể, thích hợp bồi dưỡng từng nhóm đối tượng học sinh, nâng cao chất lượng học tập của môn học Đề kiểm tra chính là phương tiện giúp giáo viên thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá học sinh đánh giá học sinh trong môn Ngữ văn cần đảm bảo nguyên tắc phát huy được những mặt
Trang 39tích cực của cá tính, trí tưởng tượng, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, năng lực tư duy hình tượng và tư duy logic của học sinh
3.4.3.1 Kỹ năng ra đề kiểm tra:
Mục tiêu:
Giáo viên cần tập trung thiết kế và sử dụng các câu h i, bài tập yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học và kĩ năng đọc, viết, nói, nghe vào bối cảnh và ngữ liệu mới Tạo cơ hội để học sinh khám phá những tri thức mới, đề xuất ý tưởng và tạo
ra sản phẩm mới Gợi mở những liên tưởng, tưởng tượng, huy động được vốn sống vào quá trình đọc, viết, nói, nghe Trong các nội dung đổi mới, Bộ GD&ĐT nhấn mạnh khuyến khích giáo viên xây dựng và sử dụng các đề mở trong kiểm tra, đánh
giá để phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh
Yêu cầu:
Thứ nhất, đề phải đảm bảo tính bảo mật, chuẩn xác, khoa học Kiến thức trong
đề vừa có thể kiểm tra được các kỹ năng cần thiết của đặc trưng bộ môn, vừa có thể phân loại được năng lực của học sinh
Về ngữ liệu, cần chọn ngữ liệu hay, đậm chất văn chương, đáp ứng được những yêu cầu đặc trưng về thể loại cần kiểm tra Có nội dung, ý nghĩa mang tính giáo dục, tính thực tiễn cao, có thể vận dụng tốt vào đời sống và phát huy được khả năng nhận thức, liên tưởng, tưởng tượng, sáng tạo của học sinh Giáo viên giới thiệu hoặc cung cấp thêm các ngữ liệu cùng thể loại với bài dạy trên lớp cho học sinh tham khảo, nghiên cứu thêm
Về hệ thống câu h i, cần đảm bảo tính ngắn gọn, chính xác, khoa học, đi vào trọng tâm vấn đề cần kiểm tra và có hệ thống từ thấp đến cao, từ cơ bản đến nâng cao, có mở rộng, có liên hệ thực tiễn
Đặc biệt, không nên rập khuôn khi đi theo một số mẫu đề có sẵn Giáo viên cần linh động, mạnh dạn thay đổi câu h i tùy theo năng lực của những nhóm đối tượng học sinh, đặc thù của từng địa phương
Sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa trong đề kiểm tra Ngữ văn phải tương đương văn bản học sinh đã được học về: kiểu loại văn bản, thể loại, độ dài, độ khó, nội dung, đề tài Cùng với đó, ngữ liệu có nguồn chính thống, bảo đảm tính khoa học, giáo dục, thẩm mĩ, chính trị, văn hóa Giáo viên không đặt ra yêu cầu quá cao mà cần bám sát yêu cầu đầu ra của chương trình Đặc biệt, cần dần xóa b tâm
lý cũ, cho rằng học sinh không thể đọc, viết với các ngữ liệu mới; yêu cầu quá cao
vì quen cho học sinh phát thanh lại cảm nhận, suy nghĩ của thầy cô
Đề bài kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng, từng bước định hướng phát triển năng lực và đảm bảo phù hợp với đối tượng học sinh của đơn vị
Vì thế, tùy theo yêu cầu của từng Chuẩn để đặt câu h i ở các mức độ thích hợp Cách thức thực hiện:
1 Xác định mục tiêu đánh giá (VD: nhằm đánh giá Chuẩn nào? Yêu cầu cần đạt mỗi chuẩn đó là gì?)
Trang 402 Xác định mức độ cần đánh giá (Mức 1: nhận biết; Mức 2: hiểu; Mức 3: vận dụng
ở mức độ đơn giản; Mức 4: vận dụng ở mức cao)
3 Lựa chọn tình huống, bối cảnh (trường hợp mức độ vận dụng)
4 Lựa chọn hình thức câu h i(như các dạng: Đúng – Sai; nhiều lựa chọn; ghép nối; điền khuyết; trả lời ngắn; tự luận; …)
5 Biên soạn câu h i; hướng dẫn đánh giá và đáp án
6 Điều chỉnh câu h i cho phù hợp nếu thấy cần thiết (nghĩa là: tăng hoặc giảm độ khó trong câu h i bằng cách tăng hoặc giảm thông tin, độ nhiễu, yêu cầu,….)
- Bốn mức độ Nội dung Sử dụng các từ/ cụm từ / động từ để h i Mức 1: Nhớ, nhận ra được, nhắc lại được những kiến thức, kỹ năng đã học - Ai, cái gì, ở đâu, khi nào, thế nào; nêu, mô tả, kể tên, liệt kê; bài tập điền từ (đã cho sẵn từ trước),…
Mức 2: Hiểu biết kiến thức, kỹ năng đã học để trình bày, giải thích, so sánh, … được kiến thức đó - Trình bày, nêu, phân biệt, điền từ vào chỗ chấm (không cho từ trước), bài tập đúng-sai, nêu những việc nên hoặc không nên làm, tìm ví dụ minh họa, so sánh, giải thích (đơn giản)
Mức 3: Vận dụng KTKN đã học để giải quyết những tình huống đơn giản, quen thuộc, tương tự trong học tập, cuộc sống (ở mức khó hơn theo cách hiểu riêng của
cá nhân: vì sao nói, vì sao, ) Mức 4: Vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết tình huống mới, phức tạp hoặc đưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt - Bình luận, đánh giá hoặc giải quyết tình huống bằng cách liên hệ với thực tiễn,…
Sau khi biên soạn xong cần kiểm tra lại việc biên soạn đề kiểm tra: tính chính xác, tính khoa học, phù hợp với chuẩn đánh giá, cấp độ nhận thức cần đánh giá
và thời gian dự kiến làm bài Nếu thấy chưa phù hợp, giáo viên có thể tăng (giảm) độ khó trong câu h i bằng cách tăng (giảm) thông tin, yêu cầu, độ nhiễu,… cho phù hợp với đối tượng học sinh của các khối lớp Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm
Ví dụ: Minh họa ma trận đề và đề kiểm tra cuối học kì (Xem phần phụ lục 4).
3.4.3.2 Kỹ năng chấm, trả bài:
Mục tiêu:
- Tôn trọng tư duy cảm thụ văn chương và đời sống của trò (có những cách hiểu chân thật đôi chút “ngông” … giáo viên không được máy móc, ép buộc theo khuôn mẫu định sẵn)
- Đặc biệt chú trọng khâu chấm bài và trả bài, không nặng về con điểm mà phải phát hiện và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
Cách thức tiến hành:
3.4.3.2.1 Chấm bài:
Chấm bài cũng như công cuộc “đãi cát tìm vàng” khi phát hiện ra những sáng tạo thú vị, những cách cảm mới lạ đầy tính nhân văn thì dù bé tôi cũng có những