1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) dạy học sử dụng từ hán việt (phần thực hành tiếng việt) trong sgk ngữ văn 10, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ

75 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Sử Dụng Từ Hán Việt Trong SGK Ngữ Văn 10, Bộ Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống Theo Hướng Phát Triển Năng Lực Ngôn Ngữ
Tác giả Trần Thị Thương
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Hoàng Mai
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định được tính cấp thiết, tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học từ Hán- Việt trong SGK Ngữ văn 10, 2018, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Dạy- học sử dụng từ Hán- Việt p

Trang 1

SÁNG KIẾN

DẠY- HỌC SỬ DỤNG TỪ HÁN- VIỆT (PHẦN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT) TRONG SGK NGỮ VĂN 10, BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC NGÔN NGỮ

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

Năm thực hiện: 2022 - 2023

Trang 2

NĂNG LỰC NGÔN NGỮ

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

Tác giả: Trần Thị Thương

Tổ: Ngữ văn SĐT: 0912.955.348

Năm thực hiện: 2022- 2023

Trang 3

NỘI DUNG Trang

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 2

5 Những đóng góp của đề tài 3

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 4 1.1.1 Sơ lược vấn đề nghiên cứu 4 1.1.2 Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực 4

1.2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề nghiên cứu 6 1.2.1 Đặc điểm cấu trúc chương trình, bài học và mục tiêu dạy học phần

Thực hành Tiếng việt (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)

2.2.1 Hướng dẫn HS sử dụng từ Hán- Việt đúng âm, đúng nghĩa 19 2.2.2 Hướng dẫn HS sử dụng từ Hán- Việt đúng phong cách, phù hợp đối

tượng

20

Trang 4

3.7.2 Nội dung khảo sát và phương pháp khảo sát 61

3.7.4 Kết quả khảo nghiệm về sự cấp thiết và tính khả thi của các biện

Trang 5

Trung học cơ sở THCS Giáo dục phổ thông

GD-ĐT Công nghệ thông tin CNTT Sáng kiến kinh nghiệm SKKN

Trang 6

sử dụng từ Hán- Việt Từ đó tận dụng hết cái hay, cái đẹp và giá trị của kho từ vựng phong phú này trong khi tạo lập văn bản và cả giao tiếp ngoài đời sống Trọng trách đó trước hết thuộc về những người làm giáo dục

1.2 Trong chương trình Ngữ văn cũ (chương trình 2006), từ bậc THCS cho đến bậc THPT, trong phân môn tiếng Việt (SGK Ngữ văn), chưa có nhiều bài học về

từ Hán- Việt Ở bậc THCS, chỉ đến lớp 7, học kỳ I có hai bài "Từ Hán- Việt" và

"Từ Hán- Việt" (tiếp theo); học kỳ II không có Chương trình lớp 8 cũng không

đề cập đến từ Hán- Việt Lớp 9 chỉ có một vài bài tập luyện tập có nhắc đến từ Hán- Việt Thế nhưng trong phân môn Đọc- hiểu văn bản của từ lớp 7 trở lên lại

có rất nhiều phẩm văn học trung đại phiên âm từ chữ Hán được đưa vào giảng dạy Ở bậc THPT, phần tiếng Việt của SGK Ngữ văn (ban cơ bản), không có bài học nào đề cập đến từ Hán- Việt Nhưng trong sách Ngữ văn lớp 10, 11 phần văn học trung đại đưa những tác phẩm viết bằng chữ Hán vào chương trình như: Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão, Độc Tiểu Thanh ký - Nguyễn Du, Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi, Sa hành đoản ca - Cao Bá Quát… và rất nhiều văn bản văn học khác nữa Điều này tạo ra không ít khó khăn cho HS khi chưa được trang bị đầy

đủ và chắc chắn kiến thức về từ Hán- Việt mà vẫn phải tìm hiểu, cắt nghĩa, lí giải

về các văn bản đó

1.3 Để khắc phục tình trạng này, trong SGK Ngữ văn 10, chương trình GDPT

2018, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, việc giảng dạy cho HS biết cách

sử dụng từ Hán- Việt rất được chú trọng Cụ thể ở cả hai tập sách, bài “Sử dụng từ Hán- Việt” được xây dựng thành bài riêng nằm trong phần thực hành tiếng Việt Tuy nhiên qua quá trình giảng dạy của bản thân, cùng với sự chia

sẻ của nhiều đồng nghiệp khác, tôi nhận thấy, GV vẫn chưa thực sự thay đổi nhiều trong cách dạy thực hành tiếng Việt Cụ thể, GV chủ yếu dạy hoạt động Đọc, chú ý vào dạy các văn bản mà xem nhẹ phần thực hành tiếng Việt, phần Viết, phần Nói- nghe Một bộ phận GV dạy thực hành tiếng Việt nhưng chú trọng dạy

lí thuyết, nhắc lại kiến thức về từ Hán- Việt rất nhiều mà ít dành thời gian cho HS thực hành sử dụng trong học tập và đời sống Không ít GV chưa nắm chắc kiến thức nền tảng về từ Hán- Việt, vẫn còn lúng túng về phương pháp dạy học Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên cũng tránh hoặc không đề cập nhiều đến nội dung này Và dẫn đến hệ quả tất yếu, HS vì vậy cũng không biết cách sử dụng từ

Trang 7

Hán - Việt để trong tạo lập văn bản và giao tiếp hàng ngày, mặc dù các em đã có kiến thức về bộ phận từ loại này được trang bị từ các bậc học trước đó, và sau khi

đã được học xong bài cách sử dụng từ Hán- Việt Không thể tạo lập văn bản, không thể sử dụng các kiến thức đã học vào đời sống hằng ngày, nghĩa là năng lực ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp của HS chưa được phát huy Vì vậy, việc dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học tiếng Việt nói riêng chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu lớn nhất của chương trình GDPT 2018 là dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của HS

1.4 Từ đó, tôi thiết nghĩ rằng, dạy học phần thực hành tiếng Việt nói riêng và các phần khác của SGK Ngữ văn 10 nói chung đều cần thay đổi theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS để đáp ứng yêu cầu của chương trình mới Xác định được tính cấp thiết, tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học từ Hán- Việt trong SGK Ngữ văn 10, 2018, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Dạy- học sử dụng từ Hán- Việt (phần thực hành tiếng Việt) trong SGK Ngữ văn 10, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ” để giúp

HS có thêm kiến thức vững chắc, biết cách sử dụng thành thạo từ Hán- Việt, giúp

GV có thêm phương pháp giảng dạy từ Hán- Việt đạt hiệu quả cao

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc dạy học từ Hán- Việt cho HS trong chương trình Ngữ văn THPT

- Xác định được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS lớp

10, chương trình GDPT 2018 thông qua dạy học cách sử dụng từ Hán- Việt, phần Thực hành tiếng Việt Từ đó, xây dựng các biện pháp và hình thức hướng dẫn HS biết cách sử dụng từ Hán- Việt đảm bảo đúng chuẩn mực và hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao trong tạo lập văn bản cũng như trong cuộc sống hàng ngày

-Thực nghiệm dạy học từ Hán- Việt trong phần thực hành tiếng Việt cho HS lớp

10 theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ 2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu cách thức dạy- học sử dụng từ Hán- Việt, phần Thực hành tiếng Việt trong SGK Ngữ văn lớp 10, chương trình GDPT 2018, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS

- Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu trong năm học 2022 - 2023

- Địa bàn nghiên cứu và thực nghiệm đề tài ở trường THPT Hoàng Mai

3 Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi nhằm giúp HS biết cách sử dụng từ Hán- Việt như đã được đề xuất trong SKKN thì có thể nâng cao được khả năng ngôn ngữ của các em Qua đó đáp ứng

Trang 8

đúng yêu cầu của chương trình GDPT 2018 là phát triển phẩm chất và năng lực của HS

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp thống kê, so sánh

- Phương pháp phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…

5 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài phân tích và chứng minh việc thực hiện phưng pháp giảng dạy giúp

HS học tập tốt môn Ngữ văn nói chung, nội dung tiếng Việt thực hành nói riêng

đã góp phần không nhỏ giúp HS học tập tốt hơn bộ môn này Quan trọng hơn, thông qua việc giảng dạy này, HS đã rèn luyện được năng lực và phẩm phẩm chất của mình Đặc biệt là phát triển khả năng ngôn ngữ của các em

Những giải pháp đưa ra trong đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng sáng tạo những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có sức thuyết phục, phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường và địa phương nên đã đem lại kết quả đáng kể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Hoàng Mai

Những cách làm đã được trình bày ở đề tài là kết quả của quá trình nghiên cứu có tính hệ thống, đã được áp dụng có hiệu quả trong năm học 2022-2023 và đảm bảo tính khả thi, có chất lượng hiệu quả Hướng đi của đề tài không trùng lặp với bất cứ SKKN nào trước đó

Trang 9

Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Một trong những thuận lợi khi thực hiện đề tài này là những vấn đề lí luận quanh từ Hán- Việt, được các nhà các nhà ngôn ngữ học hàng đầu của nước ta như Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Ngọc San, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Khang, Lê Xuân Thại… đã giải quyết một cách khá thấu đáo, đạt được nhiều thành tựu quan trọng không chỉ cho ngành ngôn ngữ mà còn là điểm tựa cho cả việc giảng dạy về từ Hán- Việt ở các bậc học

Về dạy học tiếng Việt nói chung, dạy- học từ Hán- Việt nói riêng cũng được rất nhiều người quan tâm và nghiên cứu chuyên sâu Nhiều thành tựu quan trọng trong số đó đã giúp ích không nhỏ cho việc dạy học bộ phận từ loại này của GV

và HS ở các cấp học Tiêu biểu có thể kể đến nghiên cứu như cuốn sách “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Văn Tu, công trình “Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán- Việt” của nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn,“Từ vựng gốc Hán trong Tiếng Việt” của Lê Đỉnh Khẩn, “Mẹo giải nghĩa từ Hán- Việt và chữa lỗi chính tả” của tác giả Phan Ngọc Bên cạnh các công trình nghiên cứu hệ thống

và chuyên sâu về từ Hán- Việt, còn có một số các tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy từ Hán- Việt trong trường phổ thông như cuốn “Dạy và học từ Hán- Việt ở trường phổ thông” của tác giả Đặng Đức Siêu, “Xử lí các yếu tố gốc Hán trong ngôn ngữ sách giáo khoa phổ thông” của tác giả Phan Văn Các, “Xung quanh vấn đề dạy và học từ Hán- Việt” của tác giả Lê Xuân Thại và các luận án, luận văn của các nghiên cứu sinh, học viên cao học nghiên cứu về phương pháp dạy học từ Hán- Việt trong nhà trường Các tài liệu được đăng tại trên mạng Internet cũng trở thành kho tư liệu khổng lồ để tôi tham khảo khi tiến hành thực hiện đề tài

Nhìn chung, các tài liệu trên có giá trị rất to lớn trong việc nghiên cứu một bộ phận từ ngữ quan trọng trong tiếng Việt Đồng thời, cũng trở thành những điểm tựa vững chắc, rất cần thiết cho việc giảng dạy từ Hán- Việt của GV Các công trình đều nỗ lực nghiên cứu hệ thống về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa, giá trị của

từ Hán- Việt Đúng hơn là các tư liệu thiên nhiều về lí thuyết hàn lâm, uyên bác, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về việc dạy cho HS cách sử dụng từ Hán- Việt theo chương trình dạy học mới nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ của người học

1.1.2 Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực

“Dạy học theo hướng phát triển năng lực” có lẽ là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất về giáo dục trong vài năm trở lại đây Hiện nay, SGK lớp 10 đang thực hiện theo chương trình GDPT 2018 theo mục tiêu dạy học này với nhiều bộ sách khác nhau

Trang 10

Dạy học theo hướng phát triển năng lực đang bám sát theo những yêu cầu của chương trình GDPT mới (được Ban hành kèm theo thông tư 32/2018/TT-BGDĐT) Sự thay đổi rõ rệt nhất của chương trình này là chuyển từ chỗ quan tâm đến việc giảng dạy kiến thức hàn lâm, nặng về lí thuyết sang việc quan tâm HS vận dụng kiến thức như thế nào để hình thành năng lực giải quyết vấn đề Để đảm bảo được điều đó, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học Người GV dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự

tổ chức, hướng dẫn của GV”

Theo đó, môn Ngữ văn trong chương trình GDPT 2018 cũng đã xác định rõ mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực cho HS phổ thông Riêng về năng lực, ngoài những năng lực chung, chương trình nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển hai năng lực đặc thù cho người học, đó là “năng lực ngôn ngữ” và “năng lực văn học” Chương trình 2018 lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe của HS

Đồng thời, việc dạy học Ngữ văn hướng vào việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp, phát triển ngôn ngữ cho HS rất phù hợp với xu thế chung của thế giới “Chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của các nước trên thế giới đều xây dựng theo phương hướng lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp học tập, lấy việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích Chương trình nào cũng dạy cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong đó ngôn ngữ viết là trọng tâm Theo xu hướng này, chương trình nào cũng coi trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết nhưng không quên nền tảng của nó là các kiến thức ngôn ngữ Chương trình nào cũng chú ý rèn luyện các kĩ năng bộ phận khi nghe, nói, đọc, viết đồng thời chú ý rèn luyện tổng hợp các kĩ năng đó trong quá trình sử dụng lời nói để giao tiếp Từ đó dần dần tạo nên sự chuyển hoá về chất, biến các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thành năng lực lời nói

cá nhân” (Nguyễn Trí) Cùng với những thành tựu của ngành Dụng học và xu thế hội nhập toàn diện của đất nước ta, việc dạy học môn Ngữ văn hướng vào hoạt động giao tiếp là một trong những nguyên tắc quan trọng qua trình biên soạn chương trình Bởi Ngữ văn là môn học vừa có tính công cụ, vừa có tính thẩm mỹ - nhân văn Thông qua môn học này HS được hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực môn học như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ để sống và làm việc hiệu quả, để học tập tốt các môn học khác, cũng như để học suốt đời

Đối với phần tiếng Việt (một nội dung dạy học không thể thiếu trong môn Ngữ văn), quan điểm này càng phải đề cao và tuân thủ triệt để, vì mục tiêu cuối cùng của môn học này là làm cho người học sử dụng được và sử dụng hiệu quả

Trang 11

tiếng Việt như một công cụ giao tiếp quan trọng nhất trong đời sống Chương trình môn Ngữ văn được xây dựng lấy năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học, kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp thông qua nghe, nói, đọc, viết PGS.TS Đỗ Ngọc Thống khẳng định mục tiêu môn học “Về năng lực: Giúp HS phát triển năng lực giao tiếp ở tất cả các hình thức đọc, viết, nói, nghe và năng lực giao tiếp đa phương thức thông qua nội dung những tri thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, góp phần phát triển vốn tri thức căn bản của một người có văn hóa” Thông qua việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp mà giáo dục tâm hồn, nhân cách và khả năng sáng tạo văn học của HS

Cơ sở lý luận đã chứng minh ưu thế của việc dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học tiếng Việt nói riêng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ của HS rất hiệu quả

1.2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề nghiên cứu 1.2.1 Đặc điểm cấu trúc chương trình, bài học và mục tiêu dạy học phần Thực hành Tiếng việt (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)

Đề tài dạy- học sử dụng từ Hán- Việt cho HS nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS hoàn toàn phù hợp với đặc điểm, cấu trúc SGK và nội dung, mục tiêu yêu cầu của việc giảng dạy phần thực hành tiếng Việt trong chương trình mới Trước hết, xét về mặt cấu trúc, SGK Ngữ văn 10 của chương trình giáo dục GDPT 2018, gồm 2 tập Tập một có 5 bài học, tập trung vào các loại, thể loại VB

cơ bản: truyện (thần thoại, truyện ngắn), sử thi, thơ trữ tình, kịch bản văn học chèo

và tuồng, VB nghị luận Tập hai có 4 bài học, tập trung vào các loại, thể loại VB: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ trữ tình, VB nghị luận, VB thông tin

Trong đó, mỗi bài đều có cấu trúc theo mô típ rất tiện theo dõi và thực hiện, với 4 hoạt động Đọc- Viết- Nghe và nói Trong đó, hoạt động đọc chiếm thời gian nhiều hơn cả với số lượng văn bản đa dạng, phong phú trên nhiều thể loại Phần Thực hành tiếng Việt (được đặt sau VB cuối cùng của phần Đọc) bao gồm Bài tập; Khung kiến thức sơ giản (giúp nhận biết các hiện tượng, vấn đề được thực hành) Ngữ liệu để thiết kế các bài tập của phần thực hành tiếng Việt chủ yếu lấy từ các

VB đọc hiểu trong bài học Các kiến thức tiếng Việt và văn học được cài đặt dựa vào yêu cầu phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học trong mỗi bài học Những kiến thức này mang tính chất công cụ, giúp HS đọc hiểu hiệu quả các VB chính của bài học và vận dụng linh hoạt vào việc viết, nói và nghe

Về kiến thức tiếng Việt được đưa vào Ngữ văn 10 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) theo yêu cầu của Chương trình GDPT 2018 Bao gồm các nội dung có liên quan đến các đơn vị ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ Ở phần từ ngữ là cách viết, phát âm, dùng từ đúng ngữ nghĩa; lỗi dùng từ, cách sửa lỗi; Ở phần ngữ pháp, đó là kỹ năng đặt câu, tạo lập văn bản sao cho vừa phù hợp với các quy tắc cú pháp tiếng Việt, vừa thích

Trang 12

hợp với hoàn cảnh giao tiếp, biết cách sửa lỗi về mạch lạc trong đoạn và văn bản; Các biện pháp tu từ về từ, về câu; Các hoạt động giao tiếp, kỹ năng tiếp nhận và lĩnh hội được các câu, các văn bản…

Thêm vào đó, cần thấy rằng mục tiêu, nguyên tắc của việc dạy học tiếng Việt trong môn Ngữ văn là trang bị cho HS công cụ để Đọc hiểu văn bản, vận dụng kiến thức tiếng Việt để thực hành, qua đó phát triển kĩ năng giao tiếp, năng lực ngôn ngữ chứ không nhằm cung cấp kiến thức lí thuyết theo logic của khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ Các đơn vị, hiện tượng tiếng Việt không được tập hợp

để tạo thành một “phân môn” riêng mà tích hợp kiến thức Ngữ văn vào bài học lấy VB làm trung tâm Ở Ngữ văn 10, mục tiêu phát triển kĩ năng đọc, viết thông qua thực hành tiếng Việt thể hiện rất rõ

Riêng về từ Hán- Việt trong SGK Ngữ văn 10, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, được cấu tạo thành 2 bài riêng, nằm ở cả tập 1 và tập 2 với tên gọi: “Sử dụng

từ Hán- Việt” Theo yêu cầu dạy học của chương trình mới, cách dạy từ Hán- Việt (một trong những bài học của phần thực hành tiếng Việt) cũng cần đảm bảo quá trình dạy học hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng từ Hán- Việt cho người học trong môi trường học tập và đời sống hàng ngày của HS Cụ thể, với các tiết về từ vựng không chỉ dừng lại ở việc yêu cầu HS tìm từ, thuộc từ, mà chưa hướng tới việc hiểu nghĩa từ (trong nhiều trường nghĩa khác nhau), cách sử dụng từ Hán- Việt một cách linh hoạt trong nói và viết, giúp các em tăng vốn từ và khả năng dùng

từ khi giao tiếp hoặc khi viết đoạn văn, bài văn

Từ nhận thức trên, tôi nhận thấy khi giảng dạy cần định hướng về cách thức tổ chức dạy học từ Hán- Việt sao cho phát triển tốt nhất các năng lực sử dụng từ Hán- Việt đối với HS Thông qua đó giúp các em nâng cao được năng lực ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của bản thân hiệu quả nhất

1.2.2 Thực trạng dạy và học từ Hán- Việt trong môn Ngữ văn Như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài, việc dạy- học từ Hán- Việt trong chương trình biên soạn từ 2006, đã bắt đầu từ bậc Tiểu học đến THPT Tuy nhiên, các đơn vị bài học, dung lượng thời gian, hàm lượng kiến thức dành cho mỗi khối lớp, các cấp học là khác nhau Cụ thể:

- Ở bậc Tiểu học Mục tiêu của Tiếng Việt là cung cấp cho HS kiến thức sơ giản về tiếng Việt, trong đó cung cấp vốn từ Từ Hán- Việt cũng đã xuất hiện trong các bài học vần, tập đọc, luyện từ và câu Đến lớp bốn và lớp năm thì được dạy thành các bài cụ thể

- Ở bậc THCS + Từ mượn (SGK lớp 6, tập 1) + Từ Hán- Việt (2 tiết, SGK lớp 7, tập 1)

Trang 13

- Ở bậc THPT chương trình cũ (SGK Ngữ văn ban Cơ bản), không có bài dạy riêng về từ Hán- Việt

So với SGK của chương trình cũ (ở đây chỉ bàn về bậc THPT), chương trình mới rất chú trọng dạy từ Hán- Việt Bằng chứng là, sách Ngữ văn 10, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, được triển khai dạy- học từ năm học 2022-2023, có 2 bài dạy về từ Hán- Việt nằm trong phần Thực hành tiếng Việt ở cả tập 1 và tập 2 + Thực hành tiếng Việt: Sử dụng từ Hán- Việt, trang 28, tập 1

+ Thực hành tiếng Việt: Sử dụng từ Hán- Việt (tiếp theo), trang 26, tập 2 Nhìn vào thống kê ở trên ta cần suy nghĩ rằng, HS THPT (cụ thể là HS lớp 10 hiện nay) có chất lượng học từ Hán- Việt phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trước hết,

đó là kết quả của một quá trình lâu dài mà các em đã được các thầy cô giảng dạy

ở các cấp học trước (Tiểu học, THCS) Yếu tố thứ nữa chi phối đến chất lượng học tập của bộ phận từ loại này còn do phương pháp giảng dạy của các thầy cô ở THPT Bởi, GV THPT hiện nay đang phải tiếp cận với một nội dung mới mà trước

đó, các thầy cô chưa hề được giảng dạy trong chương trình cũ

Vì vậy, để có sự tổng hợp chính xác và khách quan nhất về thực trạng dạy và học từ Hán- Việt trong môn Ngữ văn Từ đó, xác định phương hướng dạy học phần từ Hán- Việt ở trường THPT có hiệu quả, chúng tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát quy mô nhỏ với nội dung xoay xung quanh phương pháp dạy-học và chất lượng giảng dạy từ Hán- Việt cho HS theo định hướng phát triển năng lực

TT Trường Số lượng GV Ngữ văn Số lượng HS

Link khảo sát HS:

https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLScAq7JxHiSoz_wM2HLCpMkY70cA3_0kHhM8wo2Ngu9Ce9Hi0A/viewform

(Câu hỏi của phiếu khảo sát tham khảo Phụ lục 1) Đồng thời, tôi đã tiến hành tổ chức kiểm tra với 2 lớp 10A1 và 10A13 trước khi thực hiện áp dụng các biện pháp của đề tài Đề kiểm tra (Phụ lục 2) Kết quả điểm số được đặt ở phần đối chiếu với kết quả sau tác động

Từ thực tế giao tiếp với HS, cũng như qua các phiếu thăm dò ý kiến từ phiếu khảo sát trên và qua kết quả của bài kiểm tra mà HS đã thực hiện, cho thấy:

Trang 14

Về phía GV, các thầy cô khẳng định rằng đã giảng dạy rất đầy đủ nội dung chương trình trong SGK, kể cả những kiến thức liên quan đến các bài tiếng Việt

và từ Hán- Việt Các thầy cô đều có tinh thần trách nhiệm, luôn mong muốn học hỏi tìm tòi các phương pháp dạy học GV luôn muốn nâng cao năng lực sử dụng

từ Hán- Việt cho HS thông qua mỗi tiết học Đa số GV đều nắm chắc kiến thức

về từ Hán- Việt và bắt đầu vận dụng những phương pháp dạy học phát huy năng lực HS Tuy nhiên, vẫn còn một số ít thầy cô khẳng định, từ Hán- Việt là bộ phận

từ loại khó, vì đây là bộ phận từ mượn, đa dạng với cả GV và HS Vì sự phong phú đa dạng của nó nên không ít thầy cô chưa nắm vững về cách cấu tạo, giải nghĩa từ Hán- Việt… Khi dạy từ Hán- Việt, GV thường bám sát và tuân thủ vào SGK, tức là GV chỉ giảng giải cho các em những từ Hán- Việt và những nghĩa của

từ Hán- Việt có trong phần chú giải mà chưa mở rộng thêm nghĩa của từ đó trong nhiều ngữ cảnh khác nhau để các em hiểu rõ hơn về nghĩa của các từ và có thể sử dụng từ Hán- Việt linh hoạt trong các bài tập Vì vậy, khả năng sử dụng từ Hán- Việt của các em còn rất nhiều hạn chế Việc dạy học từ Hán- Việt theo định hướng rèn luyện năng lực ngôn ngữ, rèn kĩ năng giao tiếp cho HS mới chỉ được thể hiện một cách chung chung và khái quát, không có định hướng cụ thể cho HS

Về những thông tin phản hồi thu nhận được từ phía HS, kết quả không mấy khả quan Đa số HS đều cho rằng từ Hán- Việt rất khó học, khó từ việc phân biệt

từ thuần, Hán- Việt đến cách cắt nghĩa, từ cấu tạo đến giá trị biểu đạt của từ Đa

số các em HS vẫn chưa thể hiểu được từ Hán- Việt nên không thấy được giá trị

và tầm quan trọng mà nó Không những thế, các em cũng chưa ý thức được vai trò của việc học tiếng Việt là rèn luyện khả năng giao tiếp mà chỉ chú ý hoàn thành bài tập được thầy cô giao cho Tập trung học thuộc các văn bản thơ, truyện trong chương trình Các em cho rằng các văn bản văn học thú vị hơn nhiều mà không biết rằng một khối lượng lớn ngôn ngữ văn chương được làm từ chất liệu là kho

từ vựng Hán- Việt

Nguyên nhân của hiện trạng này phần lớn là do bản thân GV và HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học tiếng Việt nói chung và học từ Hán- Việt nói riêng là phát triển vốn từ, vốn ngôn ngữ của bản thân nên chưa có ý thức rèn luyện khả năng nghe nói đọc viết của các em Một bộ phận không nhỏ GV và HS vẫn giữ quan điểm khi học môn Ngữ văn chỉ quan tâm đến việc đọc hiểu các văn bản văn học, còn không chú ý đến các bài tiếng Việt và Làm văn trong chương trình Tuy nhiên, cũng có em thẳng thắn nhìn nhận, nếu lớp học mà thầy cô yêu cầu khắt khe về việc học tiếng Việt thì có thể HS đã cải thiện được rất nhiều năng lực ngôn ngữ của mình, nhưng điều đó đã không xẩy ra Bởi các thầy cô cũng chỉ quan tâm “học những nội dung phục vụ kiểm tra, thi cử là chủ yếu” Bởi các bài thi, kiểm tra hầu như chỉ yêu cầu trình bày lại kiến thức đã học ở phần Đọc – hiểu văn bản văn học

Còn nếu dạy tiếng Việt, dạy đến các đơn vị từ Hán- Việt, các GV chỉ yêu cầu

Trang 15

HS hoàn thành hết bài tập đã cho trong SGK, nhiều HS chỉ việc chép sách học tốt Ngữ văn, lên ghi bảng, lấy điểm một cách dễ dàng mà không cần phải trình bày

gì thêm Thậm chí nhiều GV khi đến tiết tiếng Việt cũng chỉ dạy qua loa, hướng dẫn HS làm bài tập sơ lược và để dành thời gian dạy những bài mà theo GV là cần thiết hơn (ở đây là văn bản văn học) Chính vì vậy, sau khi học xong kiến thức

về từ Hán- Việt, thậm chí hằng ngày được tiếp cận với rất nhiều văn bản có từ Hán- Việt, nhưng cả GV và HS vẫn chưa nắm được nghĩa của từ Hán- Việt, khiến

từ trở nên vô nghĩa hoặc dẫn đến sai trầm trọng Tình trạng này kéo dài khiến việc rèn luyện và phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS càng khó thực hiện Các thầy

cô quên mất rằng Tri thức về từ Hán- Việt nói riêng về các quy tắc ngôn ngữ nói chung chỉ được cũng cố, được khắc sâu khi người học thực hành vận dụng Việt thực hành từ Hán- Việt, có thể tiến hành ngay trong giờ học từ Hán- Việt, hoặc tiến hành thông qua giờ dạy học các phân môn khác (văn học, làm văn)

Trong các kì thi, kiểm tra đánh giá HS, hầu hết đều dùng hình thức viết, và chỉ chú trọng vào kiểm tra kiến thức văn bản văn học, còn thực hành, rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ rất ít được sử dụng Nếu HS có được đánh giá trong khi tham gia thảo luận, trình bày kết quả làm việc nhóm, phát biểu trả lời các câu hỏi, thì GV thường quan tâm về nội dung nói (nói những gì) mà chưa quan tâm về cách nói (nói như thế nào) Vì vậy, một hiện tượng có tính chất dây chuyền diễn ra là đa số

HS coi tiếng Việt là “bài phụ” trong môn Ngữ văn Khi GV dạy học tiếng Việt,

từ Hán- Việt mà hạn chế sử dụng những phương pháp dạy học có tính tương tác cao cũng đồng nghĩa với việc HS bị giảm đi những cơ hội được giao tiếp, trình bày, phát biểu trước tập thể Và như vậy, năng lực ngô ngữ, kĩ năng nghe nói đọc viết dù có vai trò rất quan trọng đối với HS, nhưng các em vẫn chưa được rèn luyện thường xuyên trong quá trình học tập

Từ thực tế nêu trên, chúng ta cần phải có những giải pháp khắc phục tình trạng học tiếng Việt nói chung, học từ Hán- Việt qua loa, xong chuyện để đối phó Từ

đó, tạo ra sự hứng thú trong việc học tập tiếng Việt của các em, hướng các em đến cách sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu giao tiếp thực tiễn, đảm bảo sự trong sáng, giàu có của tiếng mẹ đẻ

Như vậy, qua khảo sát, người viết nhận thấy cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học Ngữ văn, dạy học thực hành tiếng Việt hướng vào việc phát triển năng lực ngôn ngữ HS là điểm tựa, là nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy giúp người viết có căn cứ để thực hiện đề tài này

Trang 16

Chương 2: KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HS CÁCH SỬ DỤNG TỪ HÁN- VIỆT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ

2.1 Hướng dẫn HS nắm vững kiến thức nền tảng về từ Hán- Việt Chương trình Ngữ văn theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực vẫn coi trọng hệ thống kiến thức cơ bản về văn học và tiếng Việt nhưng không lấy đó làm mục tiêu cuối cùng Trong tương quan với mục tiêu cuối cùng của giáo dục nhà trường thì kiến thức là phương tiện; nhưng trong tương quan với mỗi năng lực môn học, nhất là các năng lực thành phần thì kiến thức là nòng cốt Không có kiến thức không thành năng lực được Vì vậy, khi giảng dạy cho HS cách sử dụng từ Hán- Việt, GV trước hết cần hướng dẫn HS nắm chắc các kiến thức nền tảng về

bộ phận từ loại này bằng nhiều cách

2.1.1 Hướng dẫn cách nhận diện, cấu tạo từ Hán- Việt

2.1.1.1 Cách nhận diện từ Hán- Việt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Muốn nhận diện từ Hán- Việt, trước hết GV cần yêu cầu HS nắm chắc về các lớp từ trong tiếng Việt, bao gồm Lớp từ thuần Việt và Lớp từ vay mượn (Đây là kiến thức đã được học ở lớp 6 bậc THCS, nên các em có thể dễ dàng nhắc lại được) Trong đó, từ thuần Việt là một khái niệm chưa được hiểu thống nhất trong giới nghiên cứu Đại đa số ý kiến đều cho rằng từ thuần Việt là những từ người Việt dùng quen thuộc, dễ hiểu, thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, lâu đời nhất, tồn tại từ rất lâu đời

Còn lớp từ vay mượn trong vốn từ tiếng Việt có số lượng rất lớn, thường được chia thành hai bộ phận là từ Việt gốc Hán (Từ Hán- Việt và từ Việt gốc Ấn- Âu)

Từ vay mượn nói chung, từ Hán- Việt nói riêng là một bộ phận của vốn từ tiếng Việt Tuy chúng có nguồn gốc là từ ngữ của tiếng nước ngoài nhưng khi được vay mượn vào tiếng Việt, diện mạo ngữ âm và ngữ nghĩa của từ ít nhiều thay đổi, chúng chịu sự chi phối và hoạt động theo quy luật của từ tiếng Việt, trở thành một

bộ phận hữu cơ của vốn từ tiếng Việt Từ Việt gốc Hán trong tiếng Việt có bộ phận đã được Việt hóa cao độ, cảm thức tự nhiên của người Việt xem chúng là những từ thuần Việt, có bộ phận khác mức độ Việt hóa thấp hơn nhưng chúng cũng được người Việt dùng một cách bình thường theo thói quen như những lớp

từ khác GV có thể cho HS về hệ thống từ ngữ Hán- Việt thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, xuất hiện ngay trong các văn bản của hoạt động Đọc, SGK Ngữ văn 10

Ví dụ:

Trong SGK Ngữ văn 10, khi bàn về thơ ca, nghệ thuật, có hàng loạt các thuật ngữ: Thi phẩm, nghệ thuật, Chủ đề, Cảm hứng, Nội dung, Nghệ sĩ, Chủ đề Hoặc đoạn văn về vấn đề chính trị có thể xuất hiện nhiều: Triều đình, chế độ,

áp bức, chủ quyền, bờ cõi, phong tục, văn hiến…

Trang 17

Tiếp đó, GV có thể hướng dẫn cho HS một số căn cứ có thể tin cậy được để xác định, nhận diện từ Hán- Việt bằng nhiều cách

Có thể nhận thấy từ Hán-Việt là từ có vỏ ngữ âm là âm Hán –Việt: Như ta đã biết, từ Hán-Việt là những từ gốc Hán được tiếng việt vay mượn và đọc theo âm Hán-Việt Do vậy, âm Hán-Việt trở thành một căn cứ để nhận diện từ Hán-Việt

Âm Hán-Việt được hình thành một cách đồng loạt, hệ thống cho tất cả mọi chữ Hán, theo những qui luật ngữ âm khá chặt chẽ GV có thể giúp HS hiểu vấn đề này rất nhanh bằng việc lấy dẫn chứng từ các bộ phim của Trung Quốc, đặc biệt

là phim cổ trang Khi nghe các nhân vật trong phim giao tiếp với nhau, có rất nhiều từ có vỏ âm thanh nghe kĩ rất giống với vỏ ngữ âm của người Việt

Ví dụ:

Ví dụ về chữ Hán, âm Hán- Việt và từ Hán- Việt Một dấu hiện nhận diện từ Hán-Việt khác nữa mà GV có thể hướng dẫn thêm cho HS là những từ viết ra được bằng chữ Hán Nói đến từ Hán-Việt trước hết phải nói đến âm Hán-Việt, đó là âm do người Việt Nam tạo ra trên cơ sở những

âm tiếng Hán đời Đường Về chữ viết thì chỉ có chữ Hán chứ không có chữ Việt Do vậy, đã là từ Hán-Việt thì từ đó phải viết ra được bằng chữ Hán khối vuông mà người Hán tạo ra (Cách nhận diện này tương đối khó và cũng không quá cần thiết với HS THPT bởi chúng ta đang dạy từ Hán- Việt chữ không phải

Hán-là dạy chữ Hán Vì vậy nếu có thời gian GV có thể giới thiệu thêm cho HS được biết)

Ví dụ: trong hình ảnh ở trên, các từ thủy, hỏa, điền, thổ, sơn, thạch, phụ, mẫu, nhi, nữ đều có thể được biểu thị bằng chữ Hán- văn tự của người Trung Quốc

Từ đó, GV có thể mở rộng nâng cao thêm cho HS (nếu có điều kiện), những

từ do người Việt tạo nên bằng cách ghép yếu tố Hán-Việt với yếu tố Việt không

Trang 18

viết ra được bằng chữ Hán thì không được xem là từ Hán-Việt

Một cách nhận diện từ Hán- Việt tương đối phổ biến mà tôi thường dùng để hướng dẫn HS là có thể đối chiếu nghĩa từ Hán-Việt với từ ngữ thuần Việt Đây

là cách dễ làm và phổ biến nhất được nhiều GV lựa chọn khi giúp HS xác định từ Hán- Việt

Từ Hán-Việt là lớp từ vay mượn tiếng Hán gián tiếp qua sách vở chữ Hán, nhưng lại mượn sau khi vốn từ tiếng Việt đã khá phong phú Do vậy, lớp từ này chưa được Việt hóa một cách triệt để Phần lớn các đơn vị gốc Hán loại này khi đưa vào tiếng Việt xung đột đồng nghĩa với các từ thuần Việt sẵn có nên chúng mất khả năng hoạt động tự do Do vậy, các yếu tố trong từ Hán-Việt thường đồng nghĩa với một từ thuần Việt Đó là cơ sở cho phép ta nhận diện từ Hán-Việt, bằng cách đối chiếu yếu tố trong từ Hán- Việt về nghĩa với từ thuần Việt, hoặc đối chiếu nghĩa của từ Hán-Việt với một từ ngữ thuần Việt tương ứng Nghĩa là khi gặp một

từ nào đó, nếu dẫn ra được từ ngữ thuần Việt tương đồng về nghĩa như vậy (hoặc phải giải thích nghĩa của từ đó bằng các từ thuần Việt) thì từ đó là từ Hán-Việt

Ví dụ: Các từ thuần Việt tương ứng về nghĩa với yếu tố Hán-Việt trong từ: thiên = trời, địa = đất, tử = mất, tồn = còn, tử = con, tôn = cháu, lục = sáu, tam

Ví dụ: Xét các từ thê, khám, phi ta có thể khẳng định chúng là từ Hán-Việt,

vì các yếu tố đó có thể xuất hiện từ trong các từ thê thiếp, tiện thiếp, tiểu thiếp,… thê tử, thê nhi, thê phụ,… khám nghiệm, khám phá, khám sát, khám thương… Phi

cơ, phi công, phi ngã…

Cũng có thể áp dụng biện pháp này cho cả cách xác định yếu tố Hán-Việt

Ví dụ, xét yếu tố hải”, ta có thể căn cứ vào khả năng sản sinh của nó, hải đã liên kết với hàng loạt yếu tố Hán-Việt khác để sản sinh ra các từ Hán-Việt như: hải dương, hải đảo, hải quân, hải sản, hải triều…

Đối với các từ Hán-Việt đa tiết, tuy các yếu tố trong từ đều có nghĩa thực nhưng phần lớn chúng lại không thể tách thành từ hoạt động tự do Do vậy, nếu

ta gặp một từ đa tiết thỏa mãn hai điều kiện Một là, các yếu tố đều có nghĩa thực (có thể đối chiếu nghĩa với từ thuần Việt) Hai là, tất cả các yếu tố đó đều không thể tách thành từ hoạt động tự do thì từ đó là từ Hán-Việt

Ví dụ: Từ “thảo mộc” (thảo có nghĩa là cỏ, mộc chỉ cây, nhưng không ai nói cắt thảo, chặt mộc)

Trang 19

Tương tự, từ “giang sơn”, trong đó “giang” là sông, sơn là núi nhưng không

ai có thể nói lội giang, trèo sơn

2.1.1.2 Các xác định cấu tạo từ Hán- Việt

Về cách hướng dẫn HS cách xác định cấu tạo từ Hán- Việt, GV có thể căn cứ phân loại cụ thể về cấu tạo từ Hán- Việt đơn tiết và từ Hán- Việt đa tiết để HS xác định được cấu tạo của từ Trong đó,

Cấu tạo từ đơn tiết Hán- Việt: Đây là lớp từ cấu tạo chỉ một tiếng được dùng

tự do trong tiếng Việt Các từ đơn tiết tiếng Hán vào tiếng Việt, phần lớn vẫn giữ được khả năng hoạt động tự do là do chúng gọi tên những sự vật, đặc điểm, tính chất mà tiếng Việt chưa có từ để gọi Mặt khác, đại bộ phận các từ đó lại không đồng âm với từ thuần Việt có sẵn Nói cách khác, tuyệt đại đa số các từ đơn tiết tiếng Hán vào tiếng Việt hoạt động tự do là do chúng không đồng nghĩa và không đồng âm với từ có sẵn của tiếng Việt

Còn từ đa tiết Hán- Việt, bao gồm từ ghép, từ láy và bằng phương thức rút gọn cũng có những cách cấu tạo khác nhau

Từ ghép bao gồm từ ghép phân nghĩa (chính- phụ) có hai loại Chiếm số lượng lớn nhất là loại có cấu tạo yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau

Ví dụ: Đảng kì, quốc ca, lễ đường, thanh niên, hải quân

Từ ghép phân nghĩa có yếu tố chính đứng trước và yếu tố phụ đứng sau (như trật từ từ thuần Việt) không nhiều

Ví dụ: Đa tài, vô danh, nhập ngũ, lưu tâm, khai bút…

Các từ ghép phân nghĩa thì HS phải chú ý đến nghĩa chính của từ tập trung vào một âm tiết trong từ đó

Một loại từ ghép khác là từ ghép hợp nghĩa (từ ghép đẳng lập) có cấu tạo như

từ ghép hợp nghĩa thuần Việt, nghĩa là các yếu tố có vai trò ngữ pháp ngang nhau, cùng chỉ một phạm trù, có quan hệ đồng nghĩa hay liên quan với nhau trong một trường nghĩa, hoặc trái nghĩa Vì vậy mà tạo cho từ ghép đẳng lập có nghĩa khái quát, tổng hợp

Ví dụ: Bại vong, độc ác, hưng thịnh, gian ác, nhân nghĩa, thương vong, đế vương, viên mãn, huynh đệ, giang sơn… là các từ được cấu tạo từ các yếu tố đồng nghĩa hoặc liên quan với nhau về nghĩa trong một trường

Các từ như chiến bại, chung thủy, tồn vong, hưng phế, sinh tử, lợi hại…là các

ví dụ quen thuộc điển hình cho các từ được cấu tạo từ các yếu tố có quan hệ trái nghĩa

(Ngoài ra, trong từ Hán- Việt còn có cấu tạo của các từ láy và cấu tạo từ bằng phương thức rút gọn GV có thể chỉ giới thiệu thêm cho HS được biết vì hai bộ phận này không chiếm số lượng nhiều trong tiếng Việt

Trang 20

Từ láy trong tiếng Việt tuyệt đại đa số là từ thuần Việt Trong lớp từ đa tiết Hán- Việt, có một số từ, giữa các âm tiết có hình thức âm thanh được láy lại, và nếu xét theo đồng đại, các yếu tố trong từ đều không có nghĩa thực nên các từ đó được xem là từ láy Ví dụ không nhiều: Phảng phất, xán lạn…

Cấu tạo từ Hán- Việt bằng phương thức rút gọn cũng chỉ là số ít, được tạo ra theo lối nói tắt)

2.1.3 Hướng dẫn HS phương pháp giải nghĩa từ Hán- Việt Muốn giúp cho HS hiểu đúng từ Hán- Việt thì quan trọng là cần dạy các nét nghĩa khác nhau của từ được sử dụng trong các văn cảnh giao tiếp khác nhau GV cần nắm chắc cách giải nghĩa từ Hán- Việt để từ đó hướng dẫn HS giải nghĩa thành thạo, vững vàng Trong quá trình dạy học, tôi thường giúp HS hiểu nghĩa của từ Hán- Việt bằng những cách sau:

2.1.2.1 Giải nghĩa từ Hán- Việt bằng cách thuyết minh nghĩa yếu tố cấu tạo và quan hệ giữa chúng

Mỗi yếu tố Hán - Việt tuy đều viết ra được bằng một chữ Hán, có ý nghĩa nhưng vai trò khả năng hoạt động của các yếu tố trong tiếng Việt lại khác nhau,

do vậy phải có cách giải nghĩa khác nhau

GV cần nắm rõ vấn đề rằng các yếu tố tiếng Hán khi vào tiếng Việt, chúng bị đặt trong hai thế đối lập chủ yếu với các từ đồng nghĩa và từ đồng âm có sẵn của tiếng Việt vì thế dẫn đến kết quả có những yếu tố gốc Hán thì hoạt động tự do với

tư cách là từ nhưng có những yếu tố gốc Hán lại hoạt động hạn chế với tư cách là yếu tố của từ Do vậy vấn để đặt ra đối với dạy và học từ Hán - Việt trong tiếng Việt về nghĩa là loại yếu tố Hán - Việt nào thì cần phải giải nghĩa, và giải nghĩa bằng nào

Đối với các từ Hán - Việt đơn tiết thì chúng được sử dụng như các từ thuần Việt, đã trở nên quen thuộc dễ hiểu với người Việt, do vậy khi dạy từ Hán- Việt với loại này, chúng ta không cần giải nghĩa

Đối với các từ Hán - Việt đa tiết: Đây là bộ phận từ vựng chiếm số lượng tuyệt đại đa số trong lớp từ Hán - Việt, phần lớn các yếu tố trong từ đều có nghĩa nhưng không có khả năng hoạt động tự do trong tiếng Việt, nên việc hiểu đúng nghĩa của

từ ít nhiều phụ thuộc vào việc hiểu nghĩa các yếu tố trong từ Các từ loại này có đặc điểm về cấu tạo là chúng được tạo nên từ các yếu tố có nghĩa độc lập Trong tiếng Hán các yếu tố đó thường được dùng với tư cách là từ Cho nên việc nắm được nghĩa của từng yếu tố trong từ là rất quan trọng Vậy nên, đối với loại từ Hán - Việt cấu tạo theo kiểu này, phải giải nghĩa thì HS mới có thể hiểu một cách đầy đủ, chính xác Có nhiều cách giải nghĩa từ Hán - Việt, cách đầu tiên mà người

ta hay áp dụng đó là giải nghĩa của từ qua nghĩa của các yếu tố trong từ Phương pháp này thường được mọi người quen gọi là “chiết tự”

Phương pháp chiết tự được dùng để giải nghĩa đối với phần lớn các từ phép

Trang 21

và thành ngữ để tìm hiểu nghĩa của chúng theo cấu tạo Muốn nắm hay giải nghĩa

từ và thành ngữ các từ Hán- Việt trước hết phải nắm được đặc điểm cấu tạo từ và thành ngữ Các từ đa tiết Hán – Việt đa số được cấu tạo theo phương thức ghép; còn thành ngữ Hán – Việt là ngữ cố định cũng có cấu tạo tương tự như thành ngữ thuần Việt

Trước hết, đối với từ ghép Hán - Việt:

- Kiểu ghép đẳng lập: các yếu tố trong từ có vai trò ngữ pháp ngang nhau, nghĩa của chúng cũng chỉ một phạm trù (hoặc cùng chỉ sự vật, hoặc cùng chỉ hoạt động, hoặc cùng chỉ tính chất), nằm trong một trường nghĩa, có quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, liên quan với nhau hoặc trái nghĩa nhau, vì thế mà nghĩa của chúng hợp lại tạo cho từ có nghĩa khái quát

Cũng cần chú ý thêm, nghĩa của từ không phải là phép cộng đơn giản từ nghĩa của các yếu tốc trong từ mà nó đã được cấu trúc hóa, khái quát hóa, có thể theo hướng biểu trưng Do vậy quan hệ nghĩa giữa các yếu tố có thể nảy sinh nét nghĩa

bổ sung nằm ngoài nghĩa các yếu tố Nét nghĩa đó ta có thể suy ra từ nghĩa các yếu tố, từ ngữ cảnh Nắm được đặc điểm ấy để từ chỗ giải thích cụ thể của từng yếu tố, ta đi đến khái quát hóa, hoặc biểu trưng hóa thành nghĩa chung

Ví dụ: Giang = sông, sơn = núi, giang sơn = sông núi, đất nước

Thảo = cỏ, mộc = cây, thảo mộc = cỏ cây nói chung

Vĩ = to lớn, đại = to, lớn, vĩ đại = rất lớn lao

Từ ghép chính phụ Hán – Việt có hai loại Loại thứ nhất có cấu tạo: yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau (trật tự ngược) Khi giải nghĩa từ, chúng

ta cũng giải nghĩa từng yếu tố như loại từ ghép đẳng lập, nhưng khi ghép thành nghĩa chung của từ thì lại phải bắt đầu từ nghĩa của yếu tố (đứng sau)

Ví dụ: Quốc = nước, kì = cờ, Quốc kì = cờ nước

Thiên = trời, tử = con, thiên tử = con trời Nhân = người, tâm = lòng, nhân tâm = lòng người Loại từ ghép chính phụ thứ hai có cấu tạo: yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau (như trật tự từ thuần việt) Trình tự giải nghĩa loại này phải bắt đầu

từ yếu tố đứng trước

Ví dụ: Đại = thay, diện = mặt, đại diện = thay mặt Lưu = ở lại, giữ lại, ban = lớp, lưu ban = ở lại lớp 2.1.2.2 Giải nghĩa từ Hán- Việt cần đặt từ vào văn cảnh, ngữ cảnh cụ thể Trong tiếng Việt, có những từ Hán - Việt, chúng ta không thể chỉ sử dụng phương pháp thuyết minh nghĩa yếu tố cấu tạo và quan hệ giữa chúng là có thể giải thích dùng nghĩa của từ Bởi vì, có những từ, nghĩa của nó gắn với điển tích, điển cố Có những từ, nghĩa gốc của các yếu tố trong từ đã mờ, hoặc đã biến đổi

Trang 22

nghĩa Lại còn có những từ mà sự kết hợp ngữ nghĩa giữa các yếu tố hoàn toàn chỉ có tính chất võ đoán, hoặc chỉ theo thói quen nào đó vv

Ví du: Phu nhân, nếu giải nghĩa theo kiểu chiết tự, phụ là “chồng”, nhân là

"người, phu nhân là “người chồng” thì sai

Gia nhân nếu giải nghĩa theo kiểu chiết tự thì sẽ có nghĩa là “người nhà” (thực ra phải hiểu là "người ở giúp việc trong nhà - đầy tớ trong nhà mới đúng) Ngoài ra cũng cần thấy một thực tế trong tiếng Việt, số lượng các các yếu tố Hán- Việt đồng âm là rất lớn, do vậy rất dễ nhầm lẫn yếu tố này với yếu tố kia, nếu chỉ áp dụng phương pháp giải nghĩa yếu tố Mặt khác còn có hiện tượng, một yếu tố Hán – Việt có thể có nhiều nghĩa nhưng trong một ngữ cảnh lại chỉ có một nghĩa cụ thể của nó được sử dụng mà thôi Vậy nên, đó cũng là một khó khăn đối với việc giải nghĩa từ Hán- Việt

Ví dụ, với một âm Phụ, ít nhất trong tiếng Việt hiện nay cũng có 6 yếu tố Hán- Việt đồng âm có nghĩa khác nhau, trong đó có nhiều yếu tố đa nghĩa Phụ = kèm thêm (phụ cấp, phụ lục) Phụ = mang gánh vác (phụ trách), Phụ = cha (phụ huynh, phụ hệ…)Phụ = giúp (phụ đạo, phụ tá)

Như vậy, ta có thể hình dung, công việc giải nghĩa từ Hán- Việt rất phức tạp, không phải với bất cứ yếu tố nào cũng có thể áp dụng phương pháp “chiết tự” Ta

có thể áp dụng phối hợp với nhiều phương pháp khác, một trong những phương pháp đó là đặt từ trong ngữ cảnh cụ thể Khi từ nằm trong ngữ cảnh, nhờ quan hệ với những yếu tố đi kèm, nghĩa của từ cần xét sẽ được xác định

2.1.2.3 Giải nghĩa từ Hán – Việt bằng cách đối chiếu với từ thuần Việt đồng nghĩa

Cùng với phương pháp chiết tự các thành tố trong từ Hán- Việt, cách đối chiếu với từ thuần Việt đồng nghĩa là cách làm phổ biến, dễ hiểu nhất mà GV thường

HS thực hiện khi muốn giải nghĩa từ Hán- Việt

Điều này rất dễ hiểu, do vay mượn từ nên trong tiếng Việt, hiện tượng đồng nghĩa giữa từ Hán – Việt với từ thuần Việt khá phong phú Nếu như từ Hán- Việt phần lớn có tần số sử dụng thấp, các yếu tố luôn nằm trong kết cấu cố định của từ

vì thế chúng thường tạo ra sắc thái nghĩa trừu tượng khó hiểu thì ngược lại các từ thuần Việt, do được dùng phổ biến, thường xuyên mà trở thành quen thuộc để hiểu với mọi người Cho nên, ngoài hai biện pháp giải nghĩa đã nói đến ở trên,

GV cũng có thể hướng dẫn HS kết hợp áp dụng phương pháp đối chiếu từ Hán- Việt với từ thuần Việt tương đồng về nghĩa để giải nghĩa từ Hán- Việt tốt hơn, dễ dàng hơn Đây là cách làm dùng từ đã quen thuộc, dễ hiểu để giải thích cho từ không quen thuộc, khó hiểu

Trước hết, vì nhiều lý do mà các từ Hán – Việt đồng nghĩa có thể cũng song hành trong tiếng Việt bên cạnh từ thuần Việt Hiện tượng đồng nghĩa như vậy không phải là sự dư thừa, lãng phí của ngôn ngữ Để có thể cùng tồn tại, các đơn

Trang 23

vị đồng nghĩa “tự điều chỉnh” để tạo ra giá trị riêng cho mình về nghĩa, về sắc thái phong cách hay phạm vi sử dụng Do vậy, khi đối chiếu từ Hán- Việt với từ thuần Việt đồng nghĩa cần chú ý đến ba loại sau đây:

+ Những từ tương đồng về nghĩa: Những từ Hán- Việt nói ở đây thường có nội dung, ngữ nghĩa tương đồng với từ thuần Việt ở mức độ tương đối cao Cho nên nếu cần giải nghĩa từ Hán- Việt loại này, chỉ cần dẫn ra từ thuần Việt đồng nghĩa tương ứng là HS có thể hiểu ngay được ngữ nghĩa

Ví dụ: Rất nhiều từ Hán- Việt có mặt trong phần tiếng Việt thực hành có sự tương đồng về nghĩa rất rõ với từ thuần Việt

Từ Hán- Việt Từ thuần Việt

+ Những từ vừa tương đồng vừa phân biệt với nhau về nghĩa, sắc thái nghĩa nhất định: Có một số từ ngữ Hán- Việt đồng nghĩa với từ thuần Việt nhưng nghĩa của chúng không hoàn toàn đồng nhất Do nhiều lí do mà các cặp từ đồng nghĩa này có sự khác nhau ít nhiều về nghĩa Có thể ngay từ đầu, giữa yếu tố bản địa và yếu tố vay mượn vốn đã có sự khác nhau ít nhiều, nhưng cũng có thể do sự hành chức của chúng trong ngôn ngữ, không chấp nhận sự giống nhau hoàn toàn Do vậy khi giải thích nghĩa từ Hán – Việt bằng cách đối chiếu với từ thuần Việt, chúng ta đồng thời cần chỉ ra nghĩa hoặc nét nghĩa khác nhau giữa chúng

Ví dụ: Vĩ đại (Hán- Việt) là to lớn (thuần Việt) nhưng sắc thái nghĩa của từ Vĩ đại không chỉ là to và lớn mà còn có thêm tầm vóc, tầm cỡ đáng khâm phục (sắc thái này từ thuần Việt không thể hiện được)

+ Những từ tương đồng về nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm và phong cách: Từ Hán- Việt và từ thuần Việt ngoài sự phân biệt với nhau về nghĩa, sắc thái nghĩa, trong nhiều trường hợp cần thiết cũng cần chỉ ra sắc thái biểu cảm

và phong cách đối lập Thông thường, từ Hán- Việt mang phong cách trang trọng,

cổ kính, tao nhã và trong rất nhiều trường hợp cần đến sắc thái này, chúng ta chỉ

có thể lựa chọn từ Hán- Việt chứ không thể dùng từ thuần Việt

Ví dụ: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (không thể dùng Hội Liên hiệp đàn bà Việt Nam, dù Phụ nữ và đàn bà tương đồng về nghĩa)

Trang 24

2.2 Hướng dẫn HS cách sử dụng từ Hán- Việt phần thực hành tiếng Việt nhằm phát triển năng ngôn ngữ

2.2.1 Hướng dẫn HS sử dụng từ Hán- Việt đúng âm, đúng nghĩa

Từ Hán- Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt, là một bộ phận rất quan trọng của kho từ vựng tiếng Việt Lớp từ Hán- Việt có khối lượng lớn, được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật Tuy nhiên, theo thống

kê đáng tin cậy thì có tới 16 hình thức sử dụng sai từ Hán- Việt khá phổ biến hiện nay như: sai vì không hiểu gốc Hán- Việt, sai vì cố ý sửa gốc của từ, sai vì không hiểu văn phạm giữa Hán- Việt và Hán Nôm, sai vì dùng từ thiếu chính xác ngữ cảnh; dùng sai nghĩa từ thuần Việt lại tưởng từ Hán- Việt, dùng từ Hán- Việt vô nghĩa và lộn xộn Vì vậy, trước hết, GV cần hướng dẫn HS khi sử dụng từ Hán- Việt phải đúng âm, đúng nghĩa

2.2.1.1 Sử dụng từ Hán- Việt đúng âm, phân biệt các từ gần âm Muốn sử dụng từ Hán –Việt tốt trước hết phải nhớ đúng âm, hiểu đúng nghĩa của từ Đối với từ, âm và nghĩa là hai mặt có quan hệ khăng khít như hai mặt tờ giấy, không tách rời Do vậy, không nhớ đúng âm hay không hiểu nghĩa của từ đều dẫn tới việc dùng từ sai Hiện tượng sai phổ biến nhất là do người dùng đã không phân biệt được các từ gần âm

Ví dụ: Phê phán thái độ thờ ơ, đứng ngoài cuộc mà nhìn , đáng lẽ phải nói thái độ bàng quan lại nói thành thái độ bàng quang Từ Hán-Việt bàng quan thì bàng có nghĩa là “bên,cạnh”, quan là “nhìn”, bàng quan là đừng ngoài cuộc mà nhìn, coi là không dính đến mình”, còn bàng quan lại có nghĩa là “bọng đái” Phần lớn các trường hợp hiểu lầm hay phân biệt không rạch ròi, không chính các các từ Hán-Việt gần âm, gần nghĩa là do trong các từ đó có những yếu

tố chung về cấu tạo 2.2.1.2 Sử dụng từ Hán- Việt đúng nghĩa; phân biệt hiện tượng đồng âm Như ta đã biết, hiện tượng đồng âm giữa các yếu tố Hán -Việt và giữa yếu tố Hán-Việt với yếu tố thuần Việt là rất phổ biến, cho nên đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng dùng sai, hiểu nhầm từ Hán- Việt

Ví dụ: Trong tiếng Việt có nhiều yếu tố Hán- Việt khác nhau về nghĩa những đều phát âm là đồng do vậy có thể gây ra hiện tượng nhầm lẫn giữa đồng tử là

“trẻ em , con trai theo hầu” và đồng tử là con ngươi của mắt”

Đồng thanh là “cùng một lời”(đồng là cùng) cho nên suy ra đồng thoại có nghĩa là “cùng nói”thực ra , đồng ở đây là “trẻ con”, cho nên đồng thoại là “truyện dành cho trẻ em”

Qua một vài ví dụ như trên để thấu rằng, GV cần hướng dẫn cho HS sử dụng

từ Hán- Việt chính xác, đúng âm đúng nghĩa không những cần phải chú ý phân

Trang 25

biệt từ gần âm, gần nghĩa mà còn phải phân biệt các yếu tố, các từ đồng âm 2.2.4 Hướng dẫn HS sử dụng từ Hán- Việt đúng phong cách, phù hợp đối

tượng 2.2.4.1 Sử dụng từ Hán-Việt đúng phong cách Như ta đã thấy, nằm trong sự đối lập với từ thuần Việt đồng nghĩa, các từ Hán- Việt có thể mang sắc thái tao nhã, trang trọng, cổ kính Xét về mặt hình thức, tùy theo đặc điểm, nội dung và hình thức, đối tượng giao tiếp mà người ta chia sản phẩm ngôn ngữ thành các loại phong cách khác nhau Ngôn ngữ dùng trong phong cách khoa học, nghệ thuật, chính luận, không giống ngôn ngữ dùng trong phong cách khẩu ngữ Ngôn ngữ trong hội đàm ngoại giao, trong hội nghị khoa học có đặc điểm riêng không giống trong ngôn ngữ giao tiếp thông thường Do vậy để phát huy hiệu quả của từ Hán- Việt, chúng ta cần phải dùng từ Hán- Việt chính xác, phù hợp phong cách Nếu dùng từ đúng phong cách thì phát huy được hiệu quả của từ, sử dụng từ Hán- Việt không phù hợp phong cách thì sẽ phản tác dụng

Từ Hán- Việt cũng như từ thuần Việt đều có ưu thế riêng của nó, không phải mọi trường hợp dùng từ Hán- Việt là hay, mọi trường họp dùng từ thuần Việt đều là tốt Giá trị của từ, được đánh giá là “hay” hay “tốt” không phải là do bản thân từ

mà là do quan hệ của nó trong ngữ cảnh, hoàn cảnh giao tiếp, hợp hay không hợp

Ví dụ: Trong hội nghị, hội thảo, trên các phương tiện thông tin, trong ngoại giao, người ta thường dùng từ Hán – Việt thay thế từ thuần Việt Chẳng hạn phụ

nữ thay đàn bà, thiếu nhi thay trẻ con, nông dân thay dân cày, công nhân thay thợ thuyền, hôn lễ thay lễ cưới v.v…

Trong một hội nghị, ta có thể thấy hàng loạt các từ Hán – Việt được dùng như: chủ tọa, thư kí, chủ tịch đoàn, thư kí đoàn, khai mạc, chử trì, điều hành, báo cáo, báo cáo viên, trình bày, phát biểu, ý kiến, thuyết trình, thảo luận, tranh luận, phản bác, phản biện, đề tài, chủ đề, vấn đề, luận điểm, hệ thống, phân tích, tổng hợp, khái quát, tổng kết, tuyên bố, bế mạc,

Sự có mặt của lớp từ Hán – Việt như vậy là phù hợp, góp phần làm cho không khí hội nghị trang trọng, nghiêm túc

2.2.4.2 Sử dụng từ Hán – Việt phù hợp đối tượng Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công của giao tiếp là các phương tiện được sử dụng phải phù hợp đối tượng Từ Hán – Việt là loại đơn vị có đặc điểm ngữ nghĩa như ta đã thấy, với đối tượng nhỏ tuổi hoặc với những người không có điều kiện học hành nhiều, nếu chúng ta dùng nhiều từ ngữ Hán – Việt không có sự chọn lọc thì sẽ không đạt hiệu quả giao tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh

là người mẫu mực trong việc dùng từ ngữ phù hợp đối tượng Trong các bài nói, viết của Chủ Tịch Hồ Chí Minh ta thấy bao giờ Người cũng dùng từ ngữ khác nhau cho những đối tượng khác nhau

Từ Hán- Việt có những sắc thái tu từ mà từ thuần Việt không thể có được

Trang 26

Như trên đã nói: từ Hán- Việt là từ Hán được đọc theo cách đọc của người Việt Loại từ này có khả năng biểu đạt những khái niệm trừu tượng trong mọi lĩnh vực cuộc sống Từ Hán- Việt có một khả năng tiềm ẩn đặc biệt Nó mang những sắc thái tu từ với những ý nghĩa chỉ những cái trang trọng, im lìm, bất động, cổ kính

Ví dụ: Trong khi hành văn, chúng ta có thể sử dụng từ Hán- Việt rất đa dạng, đặc biệt khi bàn về một vấn đề nào đó có tính khoa học, hàn lâm, hoặc một chuyên ngành cụ thể, HS có thể dùng hệ thống thuật ngữ tạo sự trang trọng, hàm súc Nhưng trong giao tiếp hàng ngày, trong nói chuyện riêng tư, cá nhân, có thể dùng từ thuần Việt, không cần phải quá lựa chọn, áp dụng từ Hán- Việt khi không cần thiết Nếu không sẽ tạo sự “kệch cỡm” cho cuộc nói chuyện

Chúng ta thường nói trẻ em thay cho nhi đồng, mẹ thay cho thân mẫu, vợ thay cho phu nhân trong những ngữ cảnh nhất định nhằm tạo sự gần gũi, thân tình Nêu đôi ba ví dụ nhỏ thường gặp đó để nhấn mạnh giá trị biểu cảm không thể thay thế được trong giao tiếp cũng như trong văn chương cổ của từ Hán- Việt Trên thực tế, nếu chúng ta không được trang bị một vốn từ Hán- Việt cần thiết thì

sẽ không thấu hiểu được nội dung của tác phẩm (đôi khi vấn đề còn bị hiểu lệch)

và khi giao tiếp nhiều khi sử dụng từ Hán- Việt sai nghĩa và sai cả phong cách

HS biết cách sử dụng từ Hán- Việt trong việc tạo sắc thái biểu cảm và không nên lạm dụng từ Hán- Việt nếu có từ thuần Việt thay thế

2.2.5 Hướng dẫn HS sử dụng từ Hán- Việt theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo

Trong khi giao tiếp, người sử dụng tiếng Việt phải tuân theo quy luật phát triển tự nhiên của ngôn ngữ Tùy theo nội dung của vấn đề giao tiếp mà người sử dụng nó có thể dùng từ Hán- Việt hay từ thuần Việt Trong một số văn cảnh hay ngữ cảnh nhất định từ thuần Việt và từ Hán- Việt có thể thay thế được cho nhau nhưng có rất nhiều trường hợp từ thuần Việt và từ Hán- Việt có những khả năng diễn đạt và biểu cảm khác nhau mà người sử dụng nó khó có thể đổi chỗ được

Ví dụ: từ thuần Việt phổ biến, giản dị, trong sáng, dễ hiểu đối với tất cả mọi người Loại từ này nói lên ai cũng hiểu được Đối với từ thuần Việt ngoài việc giản dị, dễ hiểu nó còn có sắc thái dựng hình, gợi cảnh, tạo cảm giác sinh động nhưng ít có khả năng diễn đạt các khái niệm trừu tượng, khó tạo nên sắc thái trang trọng khi cần

Vì vậy, GV cần luôn hướng dẫn và khuyến cáo HS dùng từ Hán- Việt theo hướng tích cực, tránh làm dụng khi không cần thiết Cần luôn ghi nhớ rằng từ ngữ chỉ là phương tiện, con người mới là chủ thể sử dụng và điều khiển nó

Ngoài ra, một trong những yêu cầu mà GV cần lưu ý HS khi sử dụng từ Hán- Việt là thường xuyên lựa chọn từ ngữ một cách chủ động hướng tới mục đích biểu hiện tốt nhất, chính xác nhất, hay nhất nội dung cần thể hiện

Trang 27

Trong thế đối lập lựa chọn từ ngữ giữa từ Hán- Việt với từ thuần Việt, chúng

ta sẽ dùng từ Hán- Việt nếu từ Hán- Việt đó có khả năng biểu đạt nội dung ngữ nghĩa chính xác cao hơn, sáng rõ hơn Ngoài sắc thái phong cách như đã nói, một trong những ưu thế của từ Hán- Việt là nghĩa của từ thường có tính khái quát hóa cao Do vậy, nhiều từ thuần Việt tuy cũng đồng nghĩa với từ Hán- Việt nhưng trong rất nhiều ngữ cảnh, nó lại không thể bao quát được ý nghĩa và chức năng của từ Hán- Việt

Cần đúng ngữ cảnh, mục đích và phù hợp với đối tượng chính là góp phần giúp HS vận dụng từ Hán- Việt vào quá trình giao tiếp, phát triển năng lực ngôn ngữ của bản thân một cách hiệu quả

2.3 Tổ chức hoạt động dạy- học từ Hán- Việt cho HS hướng vào hoạt động giao tiếp

2.3.1 Xác định cốt lõi của vấn đề dạy học từ Hán- Việt trong SGK Ngữ văn 10,

2018 để đề xuất cách dạy phù hợp Mục đích của việc dạy từ ngữ Hán- Việt trong chương trình Ngữ văn 2018 ở trường phổ thông chủ yếu là cũng cấp vốn yếu tố và vốn từ ngữ Hán- Việt Qua

đó, cũng bước đầu cung cấp cho HS một ít kiến thức nhất định về từ Hán- Việt, giúp các em hiểu đúng về nghĩa của các từ Hán- Việt được dùng trong các văn bản đọc hiểu, chứ không nhằm cung cấp kiến thức lí thuyết theo logic của khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ Đồng thời, qua việc có những kiến thức nhất định

về từ Hán- Việt, các em biết cách sử dụng đúng và hay trong giao tiếp, phát triển năng lực ngôn ngữ của mình một cách hiệu quả hơn Vì vậy, khi giảng dạy từ Hán- Việt ở các khối lớp, cấp học khác nhau, GV cần bám sát vào yêu cầu cần đạt của bài học Từ đó lựa chọn những phạm vi kiến thức phù hợp với các đối tượng

HS khác nhau theo độ tuổi, không ôm đồm, không tham vọng dạy hết tất cả những

gì GV biết và có Vì vậy, khi dạy từ Hán- Việt cho HS THPT, có 2 cách dạy từ Hán- Việt tôi thường sử dụng Một là dạy theo hướng cung cấp vốn từ và yếu tố Hán - Việt hoặc là dạy yếu tố và từ Hán- Việt theo chủ đề - cùng trường nghĩa Với phương án dạy học từ Hán- Việt theo hướng cung cấp vốn từ và yếu tố Hán - Việt, có thể dạy theo phương châm “học ít, biết nhiều” khi dạy các yếu tố Hán- Việt Ta biết rằng trong tiếng Việt có khoảng hơn ba ngàn yếu tố Hán - Việt không hoạt động tự do nhưng mỗi yếu tố có thể kết hợp với nhiều yếu tố khác nhau nên đã tạo ra một số lượng rất lớn các từ ngữ Hán - Việt Do vậy, về mặt lí thuyết, chỉ cần nắm được một số lượng yếu tố nhất định và quan hệ cấu tạo giữa các yếu tố đó là có thể nắm được một số lượng từ ngữ Hán - Việt gấp bội Chính

vì vậy có người gọi đây là phương pháp tiết kiệm, “học ít, biết nhiều”

Ví dụ: Từ yếu tố hải có nghĩa là “biển”, ít nhất chúng ta cũng tìm thấy có hai mươi từ ngữ được cấu tạo có yếu tổ hải đứng trước: hải âu, hải cảng, hải chiến, hải dương, hải đảo và các từ cấu tạo có yếu tố hải đứng sau, như lãnh hải, hàng hải, duyên hải v.v

Trang 28

Phương pháp này được áp dụng nhiều khi dạy nghĩa yếu tố của từ Hán- Việt

Từ yếu tố đang dạy, ta có thể dẫn ra các từ Hán- Việt cùng chứa yếu tố đó để HS

có thể nằm chắc nghĩa yếu tố một cách hệ thống và có điều kiện biết thêm từ Mặt khác, cũng cần chú ý thêm, do hiện tượng đồng âm giữa các yếu tố Hán - Việt trong tiếng Việt là rất nhiều, cho nên, khi dạy yếu tố này cần kết hợp phân biệt với các yếu tố đóng âm khác để HS đỡ nhấm lẫn

Ví dụ: Xếp các từ có tiếng chí sau đây vào hai nhóm trong bằng: chí phải, ý chí, chí lí, chí, chí khí, chí tình, chí hướng, quyết chí

Chí có nghĩa là rất, hết sức (biểu thị mức độ cao nhất:

Ngoài cách dạy như thế, ta có thể dạy yếu tố Hán - Việt theo hai cách sau:

- Trước hết, nêu nghĩa yếu tố, sau đó đưa ra một số từ ngữ có chứa yếu tố được dùng với nghĩa như vậy Cách làm như trường hợp với yếu tố hai nêu trên

- Đưa ra một loạt từ ngữ có chứa yếu tố cần dạy sau đó gợi ý cho HS, từ nghĩa các từ ngữ đócăn cứ vào điểm chung mà luận ra nghĩa của yếu tố

Ví dụ, dạy yếu tố gia từ các từ gia bảo, gia cảnh, gia cầm, gia đình, gia giáo… HS có thể tự rút ra được nghĩa của gia là “nhà”

Ngoài ra, khi dạy học từ Hán- Việt theo hướng cung cấp vốn từ và yếu tố Hán - Việt, có thể dạy theo kiểu“học ít, hiểu kỹ” khi dạy nghĩa từng từ và cách sử dụng

Cơ sở của phương pháp dạy từ ngữ Hán- Việt là dạy nghĩa từng từ và cách

sử dụng là ở chỗ, khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cũng như khi lĩnh hội nghĩa của câu nói, mọi người đều lấy từ làm đơn vị cơ sở Mặt khác, về cấu tạo, tuy từ có thể được cấu tạo từ các yếu tố liên kết với nhau nhưng nghĩa của các từ lại không phải là một phép cộng đơn giản nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên nó Do vậy, không phải với bất cứ từ nào, HS nắm được nghĩa của yếu tố đó là có thể hiểu nghĩa của từ

Ví dụ: Hiểu nghĩa từ du là chơi, kích là đánh, nhưng lại không thể suy ra du kích là đánh chơi

Biết yếu tố phu là chồng, nhân là người, nhưng không ai hiểu phu nhân là chồng người cả

Trang 29

Vì vậy, từ các lí do trên, đòi hỏi người dạy, bên cạnh dạy yếu tố thì phải coi dạy từ là chính Dạy cho HS nắm nghĩa từng từ và biết cách sử dụng chính xác từ

đó Muốn HS nắm chắc được nghĩa của từ thì cần phải so sánh với từ đồng âm, từ gần âm, gần nghĩa và các từ đồng nghĩa với nó

Ngoài ra, cách dạy yếu tố và từ Hán- Việt theo chủ đề - cùng trường nghĩa cũng rất hiệu quả Đây là phương pháp dạy từ Hán- Việt giúp cho HS có thể liên tưởng tới các từ có điểm đồng nhất nào đó về nghĩa, làm cho HS nắm được từ có

hệ thống, biết lựa chọn từ ngữ, biết huy động vốn từ để nói- viết có tính liên kết

về nội dung, cùng thể hiện chủ đề Có hai hình thức dạy học từ Hán- Việt theo trường:

- Đưa ra một tập hợp từ có một điểm chung về nghĩa để dạy từ (các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, hoặc các từ gọi tên các sự vật, hoạt động, tính chất

có liên quan với nhau…thuộc về một trường nghĩa)

- Đưa ra văn bản có các từ nằm trong một chủ điểm- một trường để dạy từ Bài tập này vừa cung cấp vốn từ vừa kiểm tra khả năng nhận biết âm và nghĩa của từ Hán- Việt

2.3.2 Xác định quy trình dạy học cách sử dụng từ Hán- Việt

Vì mục tiêu, nguyên tắc của việc dạy học tiếng Việt trong môn Ngữ văn ở cả hai cấp học (THCS và THPT) là trang bị cho HS công cụ để đọc hiểu, chứ không nhằm cung cấp kiến thức lí thuyết theo logic của khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ Các đơn vị, hiện tượng tiếng Việt không được tập hợp để tạo thành một “phân môn” riêng mà tích hợp kiến thức Ngữ văn vào bài học lấy VB làm trung tâm Ở Ngữ văn 10, mục tiêu phát triển kĩ năng đọc, viết thông qua thực hành tiếng Việt thể hiện rất rõ Do mục tiêu là vận dụng kiến thức tiếng Việt để thực hành, qua đó phát triển kĩ năng giao tiếp, nên ngoài kiến thức mới đưa vào bài học, Ngữ văn 10 còn thiết kế một số bài tập đòi hỏi HS vận dụng kiến thức đã học trước đó để tìm hiểu, khám phá các đặc điểm ngôn ngữ, thực hiện đúng phương châm: Học tiếng Việt để vận dụng chứ không phải chỉ để ghi nhớ các khái niệm

GV có thể hình thành kiến thức mới cho HS bằng cách sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ: đi từ ngữ liệu thực tế để HS tìm hiểu và rút ra khái niệm (phương pháp quy nạp); hoặc sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: đưa khái niệm, định nghĩa về đơn vị, hiện tượng ngôn ngữ và lấy ví dụ để minh hoạ (phương pháp diễn dịch)

Ngoài ngữ liệu đã cho trong phần Thực hành tiếng Việt, GV có thể tìm thêm các ngữ liệu khác để HS thực hành

Hoạt động thực hành nhận biết với sự hỗ trợ của GV này là bước chuyển tiếp cần thiết giúp HS nắm vững kiến thức để hoàn thành các bài tập ở bước luyện tập, vận dụng Tránh tình trạng chỉ cho HS nắm khái niệm rồi yêu cầu các em thực hành luôn (Năm học qua, nhiều GV có băn khoăn về vấn đề này)

Trang 30

GV căn cứ vào thời gian của tiết học để hướng dẫn HS làm bài, không nhất thiết phải làm tất cả và tuần tự các bài tập tiếng Việt như trong SGK

Ví dụ: Với bài tập chỉ cần nắm kiến thức đã học ở lớp trước để hoàn thành,

HS có thể làm ở nhà Ngoài ra, GV có thể tự thiết kế thêm các bài tập khác để HS luyện tập, miễn là đáp ứng điều kiện thời gian và mục tiêu dạy học Tuỳ vào khả năng hoàn thành của HS và số bài tập bổ sung mà GV có thể dành thời gian nhiều hơn hoặc ít hơn so với dự kiến Nếu triển khai máy móc thì sẽ dẫn đến tình trạng quá tải

Về quy trình dạy cho HS cách sử dụng từ Hán-Việt, thông thường, bốn bước lên lớp (Mở đầu, hình thành kiến thức mới, luyện tập, vận dụng) của quy trình khép kín một tiết dạy, đều có một ý nghĩa khoa học và tác dụng nhất định Nhưng không nhất thiết tiết học nào cũng đủ 4 bước như nhau, ngay cả thời gian dành cho từng bước cũng vậy

Khi bắt đầu vào bài, tôi mở đầu tiết học bằng một trò chơi nhỏ, hoặc bằng một câu chuyện, cũng có thể là một tình huống giao tiếp để dẫn dắt HS vào bài học Sau đó, giai đoạn quan trọng nhất của một giờ học tiếng Việt là giai đoạn HS sẽ thực hiện nhiệm vụ cá nhân hoặc theo cặp/ nhóm bằng cách vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề mà bài học đặt ra, sử dụng bất cứ cấu trúc hay từ ngữ nào các

em muốn để diễn đạt ý kiến của mình GV khuyến khích HS diễn đạt ý kiến của mình (chưa sửa lỗi) Mục đích của giai đoạn này là xây dựng sự tự tin cho người học, giúp họ luyện tập ngôn ngữ một cách tự phát Sau đó, cá nhân HS sẽ mô tả lại cách thực hiện nhiệm vụ, giải quyết tình huống HS có thể cho ví dụ để minh họa thêm cho điều mình muốn diễn đạt Đây cũng là phần HS có điều kiện nhiều nhất rèn luyện năng lực tư duy và nâng cao khả năng nói, viết, trình bày vấn đề Cuối cùng là giai đoạn GV điều chỉnh, sửa chữa những lời nói chưa phù hợp, rút ra những kết luận cần thiết để HS ghi nhớ, luyện tập Ở phần này, tôi thường chuẩn bị hệ thống cách bài tập và chuẩn bị các trò chơi để HS luyện tập, củng cố

và giúp các em vừa khắc sâu, nắm vững nội dung bài học vừa rèn được khả năng nói, viết, qua đó phát triển năng lực ngôn ngữ của mình thông qua việc tạo lập văn bản, trình bày vấn đề trên giấy và trình bày trước lớp

Trong quá trình thực hiện dạy học theo hướng giao tiếp, HS buộc phải sử dụng ngôn ngữ để trình bày ý kiến của mình nên GV sẽ đánh giá được khả năng sử dụng ngôn ngữ, vận dụng từ Hán- Việt của HS qua các sự việc tình huống cụ thể Và vì nhận thức được các kiến thức được học là để phục vụ nhu cầu giao tiếp

cụ thể nên HS sẽ càng hứng thú và nhận thấy ý nghĩa của việc thực hành tiếng Việt

Các giai đoạn trên không phải cố định mà sẽ linh hoạt tùy theo bài học, chất lượng HS Dù vậy, ở bất cứ bước nào, nếu muốn rèn luyện GV cần lưu ý đảm bảo hình thành dần kiến thức ngôn ngữ tiềm ẩn (năng lực tiếng mẹ đẻ sẵn có trong mỗi em) và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS thông qua hoạt động giao tiếp để

Trang 31

tự rút ra bài học lý thuyết Nói một cách khác, khi dạy tiếng Việt theo hướng quy nạp thì mục đích rèn luyện kỹ năng giao tiếp của HS sẽ cao hơn

2.3.3 Vận dụng một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học có ưu thế trong việc phát huy tối đa năng lực ngôn ngữ của HS khi dạy học cách

sử dụng từ Hán- Việt 2.3.3.1 Sử dụng hình thức thảo luận nhóm (dạy học hợp tác) với nhiều kĩ thuật khác nhau khi dạy học từ Hán- Việt

Biện pháp này rất thích hợp với những kiểu bài thực hành làm bài tập, các bài tiếng Việt cần trình bày quan điểm Không một nhà giáo dục nào phủ nhận vai trò, tác dụng của phương pháp này trong dạy học Đây là một trong những phương pháp có sự tham gia tích cực của HS Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi

có tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp

HS rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề khó khăn

Kinh nghiệm bản thân cho thấy nên chia nhóm trong đó có cả HS giỏi, khá, trung bình, yếu là tốt nhất Số lượng HS giỏi, khá, trung bình, yếu giữa các nhóm phải bằng nhau để đảm bảo công bằng Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo vấn đề thảo luận Tuy nhiên, nhóm từ 4 - 6 HS là tốt nhất Quy trình giảng dạy với thời gian một tiết (45 phút), GV tiến hành tuần tự các bước lên lớp theo quy định chung GV nêu chủ đề cần thảo luận, chia nhóm vào thời điểm thích hợp của tiết học, giao câu hỏi cho các nhóm Yêu cầu các nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm Các nhóm tiến hành thảo luận Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận Các nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi bổ sung ý kiến GV bổ sung nội dung mà HS trình bày còn thiếu cho hoàn thiện GV đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ sau khi thảo luận HS ghi nhớ hoặc ghi chép nội dung chính của bài học vào

vở

Qua việc dự giờ đồng nghiệp và giảng dạy, bản thân tôi thấy rằng: Thông thường, sau khi thảo luận xong, các nhóm thường cử một người thay mặt nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình và hầu hết đó đều là những HS khá, giỏi, có kĩ năng trình bày vấn đề khá tốt Kết quả thảo luận được trình bày chủ yếu bằng hình thức viết lên giấy khổ lớn dán lên bảng Đến đây, HS coi như

“xong nhiệm vụ” Đến phần GV chữa bài của HS, vì tâm lý sợ HS trình bày rườm

rà sẽ “cháy” giáo án, nên GV thường chữa bài của các em thật nhanh GV chỉ chú

ý xem các em viết được bao nhiêu phần trăm kiến thức và xem nhẹ cách các em thức trình bày vấn đề trên giấy, bỏ qua cả lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu và sự thiếu hợp lý của bố cục trình bày Thậm chí, HS sẽ không có cơ hội được trình bày quan điểm cá nhân và như vậy sẽ không rèn được khả năng nói của mình

Để khắc phục tình trạng này, theo tôi, trong phần trình bày của HS, GV cũng cần phải quy định điểm số cho cả phần viết trình bày sơ đồ, bảng phụ (nếu có), và

Trang 32

cho điểm cả cách thuyết trình của HS GV cần tạo điều kiện cho tất cả thành viên trong nhóm được trình bày quan điểm, kể cả những người rụt rè e thẹn hay ngại trước đám đông, GV có thể yêu cầu HS đó đại diện trình bày ý kiến của nhóm mình Thậm chí, qua sự quan sát của mình, nếu thấy HS nào chưa thực sự tập trung, GV có thể yêu cầu chính em đó đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm

Về phần trình bày kết quả thảo luận, GV cần khuyến khích các em trình bày dưới nhiều hình thức như trình bày bằng lời; đóng vai; viết hoặc vẽ lên giấy khổ lớn; một người thay mặt nhóm trình bày, hoặc một người trình bày một ý tưởng… Trong quá trình HS trình bày, GV cần tập trung để điều chỉnh và sửa chữa cho các em để các em hoàn thiện được khả năng nói - viết của mình

Một kinh nghiệm nữa để sử dụng phương pháp này hiệu quả nhằm rèn kỹ năng giao tiếp cho HS là trong 45 phút của một tiết học, nếu thảo luận với thời gian quá ngắn, sử dụng phương pháp này sẽ không có hy vọng gì trong việc rèn được kĩ năng nói - viết cho HS Vì vậy, GV có thể chuyển tải nhiều nội dung khác nhau của bài học bằng nhiều hình thức học tập: Học ở lớp, ở nhà tự học, tự nghiên cứu Nên dành một thời giờ thích đáng cho việc thảo luận nhóm và để HS có cơ hội trình bày quan điểm cá nhân Để giúp HS mài sắc năng lực tư duy và sử dụng ngôn ngữ, trong khi sử dụng phương pháp này, GV cũng có thể sử dụng thêm phương pháp phản ứng nhanh và xử lý tình huống Đừng để phương pháp thảo luận chỉ còn là hình thức vì không đủ thời gian cần thiết để hoàn thành như vậy

sự thay đổi về mặt phương pháp chỉ là “cái bình mới cho rượu cũ” là việc thuyết giảng của GV

Các nhóm sẽ tiến hành thảo luận (GV có thể gợi ý các khía cạnh của vấn đề học HS suy nghĩ), trả lời câu hỏi, để giải quyết vấn đề mà GV đưa ra Thời gian thảo luận nhóm là bảy phút, thời gian báo cáo trước lớp cho mỗi nhóm là bốn phút Ở nhiều khía cạnh mà các nhóm trình bày sẽ có phản biện giữa các nhóm khi có ý kiến trái ngược nhau GV phải vừa bao quát lớp vừa góp ý để các nhóm hoàn thành nhiệm vụ theo quan điểm của mình

Sau khi các nhóm báo cáo và phản biện (nếu có) GV phải là người đánh giá lại, định hướng chọn phương án giải quyết tối ưu nhất cho vấn đề đặt ra Đáp án này là trọng tâm của câu hỏi cùng là tâm điểm kiến thức mà HS cần lĩnh hội ở bài học, đó là trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với HS những chủ nhân tương lai của đất nước

2.3.3.2 Hình thức thuyết trình tại lớp khi dạy các bài học có liên quan đến từ Hán- Việt

Thuyết trình là một trong những phương thức hiệu quả giúp HS rèn luyện kỹ năng nói một cách bài bản Tuy nhiên, phương pháp này không giống cách truyền thụ “một chiều” trong phương pháp dạy học truyền thống mà GV đã sử dụng để dẫn đến thói quen học thuộc lòng - nhớ - đọc trong đại bộ phận HS Việc tổ chức

Trang 33

cho HS thuyết trình nhằm rèn luyện cho HS có tinh thần tự học một cách tích cực, biết ăn nói lưu loát, phát biểu ý kiến một cách tự nhiên, rành mạch Trong đó, HS chủ động chuẩn bị bài, trình bày và thảo luận GV chỉ là người đóng vai trò hướng dẫn cách thức chuẩn bị, phân công trình bày chứ không trực tiếp tham gia chuẩn

bị và trả lời thay học trò Chỉ đến lúc các em kết thúc thảo luận, GV mới tổng kết

và đưa ra nhận xét, đánh giá, cho điểm Như vậy, rõ ràng phương pháp dạy học này đã thực sự biến các em HS trở thành trung tâm của giờ học

Để có một buổi thuyết trình thành công, theo tôi, GV cần hướng dẫn HS thực hiện một số việc cần thiết sau: Phân nhóm (Cách phân nhóm như trong phương pháp thảo luận nhóm đã trình bày) Sau đó, GV hướng dẫn HS thực hiện thảo luận nhóm, thực hành giải quyết các bài tập cụ thể Đảm bảo tất cả các thành viên đều nắm được vấn đề và có thể thuyết trình vấn đề khi được sự giới thiệu của nhóm hoặc sự chỉ định của GV Trong quá trình hướng dẫn HS thực hiện những bước này, GV đã phần nào rèn luyện được cho các em cách tư duy, ý thức trách nhiệm

và cách thức trình bày nói, viết như thế nào

Để phương án này đảm bảo hiệu quả trong việc rèn năng lực ngôn ngữ cho

HS, tôi thường chú ý: Sau các bước chuẩn bị, tùy theo nội dung và yêu cầu của bài học mà GV đưa ra bài tập cho các nhóm, phần bài tập nên giao theo hình thức bốc thăm để đảm bảo sự công bằng

GV phải có thang điểm cụ thể cho bài thuyết trình của HS dựa trên ba tiêu chí: phong cách thuyết trình (sử dụng phi ngôn từ khi thuyết trình có đạt hiệu quả không?), nội dung thuyết trình, phần giao lưu trả lời câu hỏi của các bạn trong lớp…GV nên có điểm thưởng cho các bạn trong lớp có câu hỏi hay và cho các bạn có câu trả lời hấp dẫn GV phải hình thành ở HS tinh thần phê và tự phê bằng cách yêu cầu cả lớp trước khi đặt câu hỏi cho bạn thuyết trình, đưa ra nhận xét về những mặt tích cực và hạn chế của bài thuyết trình của các bạn

Tuy vậy, hình thức dạy học này đòi hỏi GV một bản lĩnh đứng lớp để can thiệp kịp thời khi những tranh luận đi lệch mục tiêu dạy học

Để các bài thuyết trình đạt chất lượng tốt, GV cần chỉ cho các em các cách luyện nói như: tập nói chậm và rõ ràng, tập nói trong thời gian quy định, lưu ý các

em là nói, trình bày cho các bạn hiểu, chứ không phải đọc văn bản, đồng thời với lời nói là các hành động, cử chỉ phi ngôn ngữ, giúp bài thuyết trình trở nên sinh động, lôi cuốn hơn

2.3.3.3 Sử dụng phương pháp ứng dụng khi dạy học từ Hán- Việt Dạy học tiếng Việt theo phương pháp ứng dụng chính là dạy cho HS cách tổ chức giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong những tình huống điển hình và những tình huống cụ thể Đây là phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho HS Tôi thường sử dụng phương pháp này bằng cách: GV nêu câu hỏi, đưa ra tình huống thực hành cụ thể HS suy nghĩ, dựa vào hoàn cảnh giao tiếp để giải quyết vấn đề GV khuyến khích HS suy nghĩ, trình bày tích cực Cả lớp lắng

Trang 34

nghe, lựa chọn cách giải quyết tình huống tốt nhất GV định hướng HS bình xét

GV nhận xét, đánh giá chung Phương pháp này có thể sử dụng ở bước thực hành giải quyết các bài tập trong SGK hoặc bước luyện tập của bài

Trong cuộc sống sinh hoạt, học tập hàng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với những tình huống giao tiếp bất ngờ, không được chuẩn bị sẵn Trong hoàn cảnh

đó, chúng ta phải tự mình dùng những kinh nghiệm và kiến thức về ngôn ngữ để giải quyết vấn đề Chính vì vậy, việc dạy học tiếng Việt, dạy học cách sử dụng từ Hán- Việt hướng vào hoạt động giao tiếp như thế này chính là cách hữu hiệu để rèn năng lực ngôn ngữ cho HS

Một hoạt động ứng dụng khác có khả năng phát triển ngôn ngữ của HS là làm báo tường Báo tường là hình thức báo thường kì của một tổ hoặc một lớp được trình bày trên một trang giấy khổ lớn treo trên tường, gồm những bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau Thông qua tờ báo tường, HS không chỉ có được những hiểu biết nhiều mặt, mà còn tập dượt, học hỏi và rèn luyện được những kĩ năng, trong đó có các kĩ năng sử dụng tiếng Việt; phát triển và nâng cao trình độ viết văn Việc HS làm báo tường tương đối dễ tổ chức vì có thể kết hợp với tổ chức Đoàn phát động vào các dịp lễ kỉ niệm lớn trong năm như 20.11, 26.03…

2.3.3.4 Hình thức vừa chơi vừa học ở lớp khi dạy học từ Hán- Việt

Đã từ lâu, các nhà giáo dục đều khẳng định vai trò to lớn của hình thức dạy học này với quá trình tiếp nhận và vận dụng kiến thức của HS Bởi “biết mà học không bằng vui mà học” (Khổng Tử) Ở đó, việc chơi chỉ là hình thức còn học mới là mục đích cuối cùng Đây là hình thức dạy học có khả năng hấp dẫn, cuốn hút sự tham gia, sự tập trung của HS, đem lại hiệu ứng tương đối tốt quả nhất định

Hình thức dạy học này có thể được áp dụng ở hoạt động mở đầu tiết học để tập trung sự chú ý của HS, từ đó tạo không khí sinh động cho lớp học, tạo hứng thú học tập cho các em, dẫn dắt HS đến với nội dung bài học

GV cũng có thể tổ chức cho HS chơi thông qua các bài tập ngắn xen kẽ giữa tiết học để HS thư giãn, vừa chơi vừa học, thu hút sự tập trung chú ý của các em Các trò chơi với nhiều câu hỏi sẽ rất phù hợp với các dạng bài Luyện tập, thực hành như dạng bài về Sử dụng từ Hán Việt Trò chơi đa dạng vừa giúp HS hào hứng với tiết học, tránh gây nhàm chán khi đưa kiến thức cho HS Đồng thời, qua các câu hỏi được sắp xếp lồng trong trò chơi, yêu cầu HS phải tích hợp kiến thức nhanh chóng, rèn luyện tư duy và sự nhạy bén để có thể thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh nhất

Trò chơi có nhiều hình thức, nhưng GV cần chú ý thời gian, mức độ vừa phải về độ khó của các câu hỏi để không gây mất thời gian

Trang 35

2.3.3.5 Đa dạng hóa các loại bài tập và lồng ghép nội dung kiến thức về từ Hán- Việt vào kiểm tra, đánh giá

Tri thức về từ Hán- Việt nói riêng về các quy tắc ngôn ngữ nói chung chỉ được cũng cố, được khắc sâu khi người học thực hành vận dụng Việt thực hành từ Hán- Việt, có thể tiến hành ngay trong giờ học từ Hán- Việt, hoặc tiến hành thông qua giờ dạy học các hoạt động khác của một bài học (hoạt động Đọc, Viết, Nói và nghe) Thông thường, trong tiết học về từ Hán- Việt, HS thường tập vận dụng thực hiện các bài tập để rồi từ đó biết cách vận dụng từ Hán- Việt vào lời nói của mình Vì vậy, GV cần đa dạng hóa các loại hình bài tập để HS thực hành

Bên cạnh kiểu bài giải nghĩa yếu tố Hán- Việt, tìm từ Hán- Việt có yếu tố đã được học, GV có thể bổ sung thêm các dạng bài điền từ, bài tập giải nghĩa từ, bài tập chọn nghĩa thích hợp, bài tập chọn từ thích hợp với nghĩa đã cho trước, tìm từ Hán- Việt có yếu tố đồng âm, bài tập phát hiện và sửa chữa lỗi dùng từ Hán- Việt,… Có thể nói, nếu HS hiểu được nghĩa của từ Hán- Việt thì các em sẽ nắm được từ Hán- Việt và nắm được cách dùng nó trong ngôn ngữ Do đó, ở nhà trường phổ thông, việc dạy học từ Hán- Việt nói riêng, dạy học tiếng Việt nói chung, không phải ở sự giải thích mà là ở việc luyện tập, việc sử dụng

Song song với việc đa dạng hóa các loại hình bài tập, GV cũng nên đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học thực hành Chẳng hạn, có thể kết hợp giữa hình thức kiểm tra miệng và kiểm tra viết, cho cả lớp cùng thực hiện một đề hoặc chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm giải quyết một bài tập khác nhau thi đua giữa các nhóm, làm sổ tay dùng từ, học thuộc bảng từ Hán- Việt v.v…

Kiểm tra đánh giá là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Thông qua kết quả thu nhận được GV sẽ biết được mức độ hiểu, vận dụng kiến thức của

HS, kiểm tra, đánh giá giúp các em nhận biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương trình học, từ đó thấy được mặt đạt, mặt chưa đạt trong nhận thức để điều chỉnh phương pháp học tập Ở bậc THPT, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Việt của HS dựa trên khả năng giao tiếp nghe nói đọc viết

có mục đích trọng tâm là đánh giá năng lực sử dụng tiếng Việt của HS trên cơ sở nghe, nói, đọc, viết Tùy theo từng mục đích, ta sẽ lựa chọn nội dung và hình thức kiểm tra, đánh giá tương ứng

Để đánh giá được chính xác khả năng của HS, khi thiết kế đề kiểm tra tôi thường kết hợp cả hình thức trắc nghiệm và tự luận khách quan Trong đó, phần

tự luận được tôi dành thời gian và số câu nhiều hơn Vì với môn Ngữ văn nói chung, phần tiếng Việ thực hành nói riêng, kiểm tra tự luận là cách chính xác và cần thiết nhất để rèn năng lực ngôn ngữ cho HS Đề ra cần giúp HS có được định hướng đúng cho bài viết và hứng thú làm bài, đề bài cần rõ ràng, cần chú ý đến ý nghĩa thiết thực, gần gũi của các nhân tố giao tiếp đối với người học Hình thức kiểm tra cũng không nên chỉ bó hẹp thể hiện trên giấy mà có thể tiến hành chơi trò chơi bằng cách bốc thăm trả lời câu hỏi trên lớp (Tham khảo đề bài kiểm tra sau thực nghiệm)

Trang 36

Việc đánh giá kết quả bài kiểm tra có thể được thực hiện theo hai cách: GV đánh giá HS và HS đánh giá HS Cách thứ nhất là cách làm truyền thống, giúp

GV có được kết quả chính xác về bài kiểm tra nhưng không phát huy được vai trò của người học trong quá trình đánh giá Cách thứ hai khắc phục được nhược điểm của cách thứ nhất bởi nó yêu cầu người học phải tham gia vào việc nhận xét sản phẩm của bạn học Cách làm này sẽ tạo điều kiện cho HS học hỏi điểm hay, phát hiện những sai sót trong bài của bạn để rút kinh nghiệm cho những bài làm kế tiếp của mình Đồng thời để HS đánh giá lẫn nhau cũng là cách giúp các em dần rèn luyện kĩ năng nhận xét đánh giá, đây là kĩ năng cần thiết cho các em trong cuộc sống

Bên cạnh đánh giá cá nhân, GV cần sử dụng hình thức đánh giá nhóm trong hoạt động kiểm tra đánh giá Đánh giá nhóm sẽ thúc đẩy các thành viên hỗ trợ tích cực với nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung Bởi vì muốn hoạt động nhóm thành công, đạt kết quả cao từng thành viên ngoài tinh thần làm việc tích cực còn phải kết hợp hiệu quả với các thành viên khác (Kết quả của nhóm có thể được ghi nhận bằng điểm 15 phút)

Dù thực hiện đánh giá theo cách nào thì để có được kết quả khách quan, chính xác, GV cần ra đáp án, tiêu chí đánh giá với thang điểm tương ứng Đáp án cho phần tự luận cần có độ mở nhất định vì không thể có đáp án chung cứng nhắc cho hoạt động sáng tạo bằng ngôn ngữ của người học Ngoài ra, cần lưu ý rằng việc cho điểm HS khi đánh giá là cần thiết nhưng điểm số không phải là mục đích cuối cùng của hoạt động này Đánh giá nên là việc làm thường xuyên thu thập, phân tích những dữ liệu thể hiện năng lực của HS để qua đó HS rút ra được những nhược điểm để cải thiện, những ưu điểm để phát huy Muốn việc đánh giá thực hiện được ý nghĩa tích cực của nó thì GV cần phải đánh giá chính xác, đúng năng lực của người học bởi vì “đánh giá cao hơn thực tế sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu vươn lên; ngược lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc có thái độ thiếu thân thiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí tuệ, giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS”

Song song với việc đa dạng hóa các loại hình bài tập, GV cũng nên đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học thực hành Chẳng hạn, có thể kết hợp giữa hình thức kiểm tra miệng và kiểm tra viết, cho cả lớp cùng thực hiện một đề hoặc chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm giải quyết một bài tập khác nhau thi đua giữa các nhóm, làm sổ tay dùng từ, học thuộc bảng từ Hán- Việt v.v…

2.3.4 Dạy học kết nối, tích hợp giữa các phần trong SGK Ngữ văn 10 Dạy từ Hán- Việt cho HS THPT cần phải chú ý đến tính hệ thống và tính nối tiếp của tri thức cần dạy Dạy từ Hán- Việt cho HS THPT cần tuân thủ quan điểm dạy học tích hợp dọc (dạy theo hướng nâng cao dần từ tiểu học, THCS đến THPT)

và tích hợp ngang (dạy kết hợp với tất cả các phần khác nhau trong cùng một bài

và giữa các bài trong cùng một cuốn sách) GV muốn đảm bảo dạy học từ Hán- Việt đi theo đúng định hướng tích hợp thì cần có tính hệ thống, khái quát hóa vấn

Trang 37

đề và nắm vững kiến thức về từ Hán- Việt

Trước hết, chương trình tiếng Việt Tiểu học được dạy theo nhiều chủ điểm, từ chủ điểm gia đình đến chủ điểm xã hội, từ chủ điểm nông thôn, miền núi tới chủ điểm thành phố, các chủ điểm về những hoạt động học tập, lao động sản xuất, đạo đức nhân cách con người tới những chủ điểm về ước mơ khám phá sáng tạo tương lai Cho nên, các lớp từ ngữ được đưa vào sách Tiếng Việt với một số lượng phong phú, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lớp từ ngữ Hán - Việt

Từ ngữ Hán - Việt trong sách Tiếng Việt các lớp tiểu học nhìn chung là những từ ngữ thông dụng, phần lớn có nội dung ngữ nghĩa gắn với nội dung chủ điểm của sách Ngoài phần bài tập luyện từ và câu, các từ ngữ Hán - Việt xuất hiện trong các văn bản tập đọc, chính tả, kể chuyện, tập làm văn đều được các soạn giả sách giải thích nghĩa hoặc tạo ngữ cảnh để HS tự hiểu

Chương trình phổ thông 2006 đã có các bài học về “từ Hán- Việt”: Đó là bài lý thuyết “Từ Hán- Việt” ở chương trình lớp 7 THCS và bài “Luyện tập từ Hán- Việt” ở chương trình lớp 10 THPT (SGK Ngữ văn, nâng cao, tập 2) Các nhà soạn sách giáo khoa đã bố trí ở hai cấp học hai bài về từ Hán- Việt như trên theo phương hướng tích hợp dọc (tích hợp đồng tâm) là rất phù hợp Ngoài ra, cuối mỗi cuốn sách giáo khoa ngữ văn (tập II), trong chương trình THCS và THPT hiện hành đều có Bảng tra yếu tố Hán- Việt (lớp 6, 7, 8, 9) và Bảng tra cứu từ Hán- Việt (lớp 10, 11, 12); trong bảng là những yếu tố/từ Hán- Việt thường dùng hoặc/và thông dụng trong các văn bản cổ, mà HS đã tiếp xúc trong năm học đó Sau khi học xong phần tiếng Việt ở bậc THCS, HS phải hiểu nghĩa của những từ Hán- Việt cơ bản, thường dùng trong đời sống và những từ có trong sách giáo khoa Cụ thể, HS cần hiểu được từ Hán- Việt là gì, đơn vị cấu tạo từ Hán- Việt (yếu tố Hán- Việt), từ ghép Hán- Việt (từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ, cần lưu ý những hiện tượng liên quan đến trật tự từ vì cấu tạo từ của từ Hán- Việt ngược với từ thuần Việt), thuật ngữ Hán- Việt được sử dụng trong các môn học HS biết cách sử dụng từ Hán- Việt trong việc tạo sắc thái biểu cảm và không nên lạm dụng từ Hán- Việt nếu có từ thuần Việt thay thế Bên cạnh đó, HS phải hiểu rõ hiện tượng đồng âm giữa yếu tố Hán- Việt và yếu tố thuần Việt…

Theo quan điểm tích hợp ngang, từ Hán- Việt cũng được đưa vào trong các phân môn khác Từ Hán- Việt trong các phân môn này là các từ thuộc lĩnh vực Công nghệ, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Toán…Khi GV dạy các phân môn này cũng cần giải nghĩa các từ Hán- Việt khó và dễ gây nhầm lẫn cho HS hiểu như môn Tiếng Việt để giúp cho HS có vốn ngôn từ phong phú và đa dạng

Như vậy, dạy học từ Hán- Việt theo hướng tích hợp sẽ giúp HS có lượng từ

và kiến thức về từ Hán- Việt phong phú và vững chắc, được củng cố từ năm lớp

1 và nâng cao cho đến lớp 10 Ngoài ra từ Hán- Việt còn được đưa vào các phân môn khác giúp HS có cảm giác gần gũi và dễ áp dụng khi dùng từ Hán- Việt và thu nạp được vào vốn ngôn từ của cá nhân những từ chuyên ngành mà trong Tiếng Việt không có Điều này cho thấy kiến thức, kĩ năng của các lớp học, cấp học có sự

Ngày đăng: 04/08/2023, 09:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kiểm đánh giá chéo nhóm: - (Skkn 2023) dạy học sử dụng từ hán việt (phần thực hành tiếng việt) trong sgk ngữ văn 10, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ
Bảng ki ểm đánh giá chéo nhóm: (Trang 46)
Bảng kiểm đánh giá chéo nhóm: - (Skkn 2023) dạy học sử dụng từ hán việt (phần thực hành tiếng việt) trong sgk ngữ văn 10, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ
Bảng ki ểm đánh giá chéo nhóm: (Trang 49)
Bảng kiểm đoạn văn: Phân tích một nhân vật truyện trung đại mà em yêu  thích có sử dụng từ Hán- Việt - (Skkn 2023) dạy học sử dụng từ hán việt (phần thực hành tiếng việt) trong sgk ngữ văn 10, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ
Bảng ki ểm đoạn văn: Phân tích một nhân vật truyện trung đại mà em yêu thích có sử dụng từ Hán- Việt (Trang 51)
Bảng kiểm đoạn văn: - (Skkn 2023) dạy học sử dụng từ hán việt (phần thực hành tiếng việt) trong sgk ngữ văn 10, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống theo hướng phát triển năng lực ngôn ngữ
Bảng ki ểm đoạn văn: (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w