1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Skkn sử dụng phiếu học tập để dạy học các bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn thpt nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

72 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến kinh nghiệm sử dụng phiếu học tập để dạy học các bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn THPT nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Tác giả Phan Thị Thơm
Trường học Trường Trung học phổ thông Phan Thúc Trực
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 733,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Cơ sở lí luận (8)
    • 1. Tự học và tầm quan trọng của tự học (9)
    • 2. Phiếu học tập và vai trò của phiếu học tập trong dạy - học (11)
    • 3. Sự cần thiết phát triển năng lực tự học thông qua phiếu học tập khi dạy - học các bài “Phong cách ngôn ngữ” (8)
  • II. Cơ sở thực tiễn (8)
    • 1. Thực trạng về phương pháp dạy - học các bài “Phong cách ngôn ngữ” (16)
    • 2. Thực trạng thiết kế bài giảng trong các tài liệu tham khảo (17)
    • 3. Thực trạng xây dựng và sử dụng PHT khi dạy bài “Phong cách ngôn ngữ” của GV (18)
    • 4. Thực trạng về người học (19)
  • IV. NỘI DUNG ĐỀ TÀI “SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP ĐỂ DẠY- HỌC CÁC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ” TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS” (20)
    • 1. Đặc điểm dung lượng, cấu trúc, kiến thức và kĩ năng cần đạt khi học các bài “Phong cách ngôn ngữ” trong chương trình SGK Ngữ văn (20)
    • 2. Thiết kế, sử dụng PHT khi dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ” (24)
  • III. THIẾT KẾ GIÁO ÁN MINH HỌA (52)
  • V. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI (68)
  • PHẦN III. KẾT LUẬN (70)
    • I. Những ưu điểm của việc sử dụng PHT để dạy các bài “Phong cách ngôn ngữ” - trong chương trình Ngữ văn THPT- nhằm phát triển năng lực tự học (70)
    • II. Những điều cần lưu ý khi sử dụng PHT trong dạy học nói chung và dạy các bài “Phong cách ngôn ngữ” nói riêng (70)
    • III. Kiến nghị, đề xuất (70)
    • IV. Lời kết (71)

Nội dung

Cơ sở lí luận

Tự học và tầm quan trọng của tự học

Hiện nay có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề tự học của học sinh Theo tác giả Nguyễn Kỳ trong Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998, tự học được hiểu là quá trình tự giác, chủ động của học sinh trong việc nghiên cứu và tiếp thu kiến thức mà không phụ thuộc hoàn toàn vào sự giảng dạy trực tiếp Tự học là yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình học tập của học sinh, giúp nâng cao khả năng tự lập và phát triển tư duy độc lập Việc thúc đẩy tự học đòi hỏi sự hỗ trợ và hướng dẫn phù hợp từ phía giáo viên cũng như tạo môi trường học tập tích cực, linh hoạt.

Tự học là quá trình học chủ động, tích cực mà người học tự mình tìm hiểu, rút ra kinh nghiệm qua hành động thực tế và thể hiện bản thân Quá trình tự học đòi hỏi người học phải đặt mình vào tình huống học tập, nghiên cứu, xử lý các vấn đề và thử nghiệm các giải pháp khác nhau Đây là phương pháp học cá nhân hóa, giúp người học phát triển kỹ năng tự lập và khả năng giải quyết vấn đề một cách linh hoạt.

Trong hội thảo “Nâng cao chất lượng dạy học” tổ chức tại Đại học Huế năm 2005, GS Trần Phương nhấn mạnh rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, nghĩa là biến kiến thức khoa học tích lũy của nhân loại thành kiến thức của chính mình, tự cải tạo tư duy và rèn luyện kỹ năng thực hành những tri thức ấy.”

Tự học, theo quan niệm của Nguyễn Cảnh Toàn, là hoạt động động não, suy nghĩ và sử dụng năng lực trí tuệ, đồng thời kết hợp cả cơ bắp trong việc sử dụng công cụ để khám phá kiến thức Ông nhấn mạnh rằng tự học còn bao gồm các phẩm chất chính của người học như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, cùng với động cơ, tình cảm, và nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh và biến đổi lĩnh vực hiểu biết Theo Lưu Xuân Mới (2000), tự học còn được hiểu là hoạt động nhận thức cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng, diễn ra cả trong và ngoài lớp học theo hoặc không theo chương trình, sách giáo khoa đã quy định, mang tính độc lập cao và phản ánh rõ nét đặc trưng cá nhân trong quá trình dạy và học ở đại học.

Tự học được hiểu là quá trình người học chủ động, tự giác tìm kiếm, tiếp nhận và hội nhập tri thức nhằm phục vụ nhu cầu học tập, làm việc và phát triển bản thân, bất kể độ tuổi hay giới tính Các tác giả nhấn mạnh rằng tự học không chỉ là tự đọc sách, mà còn bao gồm các hình thức đa dạng như tự nghiên cứu có hướng dẫn của giáo viên hay tự học qua thực tế và quan sát Tự học giúp từng cá nhân không ngừng phát triển kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm, đóng vai trò thiết yếu trên con đường xây dựng học vấn của mỗi người Đặc biệt, đối tượng học sinh phổ thông cần tập trung vào tự tìm tòi, mở rộng kiến thức để phục vụ các mục tiêu thi cử, nghiên cứu khoa học, trong đó hướng dẫn của thầy cô đóng vai trò quan trọng ban đầu Tự học có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi và qua nhiều phương pháp khác nhau, từ đó hình thành thói quen tự học lâu dài.

Tự học có vai trò rất quan trọng đối với bản thân học sinh, gia đình nhà trường và xã hội.

Tự học giúp các em tự khám phá kiến thức một cách hiệu quả nhất, phát huy khả năng tự giác và làm chủ suy nghĩ cũng như hành động của bản thân Kỹ năng tự học giúp các em tự tìm tòi, khám phá những điều mới lạ và tích cực vượt ra ngoài giới hạn của một giờ học trên lớp Đồng thời, tự học còn là cách phát triển sự tự lập, sáng tạo và giữ vững tinh thần ham học hỏi để trở thành những người học chủ động và có trách nhiệm.

Tự học giúp học sinh thể hiện khả năng bản thân một cách thoải mái nhất, phát huy điểm mạnh và năng khiếu cá nhân Bên cạnh đó, tự học còn nâng cao ý thức tự lập, giúp các em nhận diện rõ ràng đam mê và sở thích của chính mình Nhờ đó, học sinh có thể tự định hướng, xây dựng kế hoạch và mục tiêu rõ ràng cho tương lai, phát triển toàn diện cả về kiến thức lẫn kỹ năng.

Tự học là phương pháp giúp học sinh giải quyết mọi vấn đề trong học tập và lao động một cách linh hoạt, chủ động Nó góp phần nâng cao khả năng tự lập, thích nghi với mọi hoàn cảnh và thúc đẩy quá trình phát triển cá nhân Trong xã hội hiện đại ngày nay, tự học luôn là yếu tố cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về kiến thức và kỹ năng Việc tự học không chỉ giúp học sinh vượt qua các thử thách học tập mà còn hình thành thói quen tự giác, sáng tạo để thích nghi với sự thay đổi liên tục của thế giới.

Khi con em có ý thức tự học, phụ huynh cảm thấy vui mừng và tin tưởng hơn vào khả năng của con Việc thấy con tự giác ngồi vào bàn học và chăm chỉ ôn tập để chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới khiến phụ huynh càng thêm xúc động và thương yêu con hơn Chính vì vậy, phụ huynh thường đầu tư mọi điều kiện cần thiết để hỗ trợ con học tập hiệu quả, góp phần tạo động lực cho con phát triển và đạt thành tích cao trong học tập.

Khi con có kỹ năng tự học, phụ huynh tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc trong việc rèn luyện ý thức học tập cho con Việc con em ý thức và chủ động ôn luyện giúp cha mẹ cảm thấy tự hào, hãnh diện và giảm bớt nỗi lo lắng về những va chạm của con với cuộc sống ngoài xã hội Đối với nhà trường, việc hướng dẫn và phát triển kỹ năng tự học của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc cho học sinh.

Tự học tại trường thể hiện qua việc các em tự giác tập trung lắng nghe thầy cô giảng dạy và tự ghi chép kiến thức đầy đủ Các em tự nghiên cứu bài tập trước mỗi buổi học và khám phá cách học phù hợp nhất với bản thân để nâng cao hiệu quả học tập Khi học tập có ý thức, thầy cô không còn cảm thấy mệt mỏi hay căng thẳng vì phải dạy đi dạy lại kiến thức cho các em không có ý thức Tự học không chỉ giúp củng cố kiến thức vững chắc mà còn giúp quá trình dạy học của thầy cô trở nên dễ dàng hơn, hạn chế lặp đi lặp lại các kiến thức Những con đường tự học đa dạng, bao gồm tự nghiên cứu tài liệu, học qua các nguồn trực tuyến, và các phương pháp tự học sáng tạo phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Tự học có nhiều con đường, nhiều hình thức khác nhau Có thể kể đến như:

- Tự học bằng con đường tự đọc sách, tự tìm tòi

- Tự học bằng con đường học hỏi bạn bè, học những người xung quanh;

- Tự học dưới sự hướng dẫn của GV…

- Tự học trên lớp, tự học ở nhà…

Song, học sinh Trung học phổ thông thường tự học chủ yếu dưới sự hướng dẫn của giáo viên, và một trong những phương tiện hỗ trợ hiệu quả để thúc đẩy quá trình tự học là phương pháp học tập phù hợp (PHT).

Tự học đóng vai trò vô cùng quan trọng và toàn diện trong quá trình phát triển của học sinh Nhiều con đường tự học khác nhau giúp học sinh không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn rèn luyện phương pháp học tập hiệu quả, đồng thời phát triển các năng lực cần thiết của thế kỷ mới Đây là chìa khóa giúp học sinh hội nhập tự tin và vững vàng vào xã hội hiện đại, mở rộng cơ hội thành công trong cuộc sống.

Cơ sở thực tiễn

Thực trạng về phương pháp dạy - học các bài “Phong cách ngôn ngữ”

Trong sách Giáo viên Ngữ văn 10 tập 1 của NXB Giáo dục hướng dẫn giảng dạy bài “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” (tiết 1), tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng thao tác khái quát hóa các hiện tượng cụ thể để đi đến khái niệm chung về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nêu rõ hiện tượng, đọc ví dụ đúng và diễn cảm, sau đó trả lời câu hỏi, nhận xét và rút ra định nghĩa hoặc đặc điểm sơ bộ của hiện tượng đó Thêm vào đó, sách còn đề cập đến việc sử dụng các câu hỏi đàm thoại để giúp học sinh hiểu rõ đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, góp phần nâng cao kỹ năng phân tích và nhận biết phong cách ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày.

Để đạt kết quả cao trong giảng dạy bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài kỹ lưỡng tại nhà, đặc biệt chú trọng các câu hỏi trọng tâm Giáo viên có thể điều chỉnh hoặc bổ sung câu hỏi phù hợp khi cần thiết, nhằm giúp học sinh nắm vững nội dung Trong giờ học, giáo viên nên tổ chức chia nhóm để học sinh phát biểu và thảo luận, từ đó tạo điều kiện cho học sinh trao đổi ý kiến Cuối cùng, giáo viên tổng kết, giải đáp các thắc mắc, giúp học sinh ghi nhớ và hiểu sâu các vấn đề quan trọng của bài học.

Sách GV Ngữ văn 11 (tập 1, NXB Giáo dục tr 144), hướng dẫn phương pháp dạy học “Phong cách ngôn ngữ báo chí” viết:

Học sinh cần đọc các bài báo hoặc đoạn trích trong SGK để nhận thức trực quan về ngôn ngữ báo chí Giáo viên không nên bỏ qua các ngữ liệu quan trọng mà cần kết hợp dạy cách đọc mạch lạc, tự nhiên và diễn cảm để nâng cao khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ báo chí của học sinh.

+ Nêu câu hỏi, hướng dẫn HS hình thành khái niệm; khái quát đặc trưng của ngôn ngữ báo chí.

+Cho HS đàm thoại, tổng kết”

Sách GV Ngữ văn 11 (tập 2, NXB Giáo dục tr 126), hướng dẫn phương pháp dạy học “Phong cách ngôn ngữ chính luận” cũng viết:

“Gv kết hợp trình bày vừa đàm thoại vừa diễn giảng và hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi đã được chuẩn bị trước.”

Trong sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục trang 64, hướng dẫn phương pháp dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học”, tác giả nhấn mạnh rằng “để đi tới các khái niệm trên”, học sinh cần hiểu rõ đặc điểm của phong cách ngôn ngữ khoa học dựa trên việc phân tích rõ các yếu tố cấu thành và tính chất riêng biệt của nó Phương pháp giảng dạy hiệu quả bao gồm việc làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ khoa học như chính xác, rõ ràng và logic để giúp học sinh nhận biết và vận dụng kiến thức chính xác trong thực tiễn Hiểu đúng về phong cách ngôn ngữ khoa học là bước quan trọng giúp nâng cao khả năng viết và sử dụng ngôn ngữ một cách chuyên nghiệp, chính xác trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.

GV phải cho HS tìm nhiều ví dụ trong thực tế về hai phương diện: a, Các dạng và các loại văn bản của ngôn ngữ khoa học

Các dạng truyền đạt kiến thức khoa học gồm có hai loại chính: dạng viết như báo cáo khoa học, luận văn, luận án, sách giáo khoa giúp đảm bảo tính chính xác và hệ thống, và dạng nói như bài giảng, nói chuyện khoa học, thảo luận, tranh luận khoa học, góp phần truyền tải kiến thức một cách sinh động và tương tác.

+ Các loại văn bản khoa học: loại văn bản khoa học chuyên sâu, loại văn bản khoa học giáo khoa, loại văn bản khoa học phổ cập.

Phong cách ngôn ngữ khoa học được định nghĩa là dạng ngôn ngữ đặc thù, thể hiện qua các loại văn bản khoa học với đặc điểm chính là rõ ràng, chính xác và khách quan, nhằm truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả Các dạng và loại văn bản khoa học đa dạng như báo cáo nghiên cứu, bài viết khoa học, và luận văn đều phản ánh đặc điểm này, giúp người đọc dễ dàng hiểu và tiếp thu thông tin Phong cách ngôn ngữ khoa học nổi bật với các đặc điểm như sử dụng thuật ngữ chuyên ngành chính xác, câu văn rõ ràng, không biểu cảm, và hướng tới mục đích truyền đạt kiến thức một cách khách quan, logic Chính những đặc điểm này tạo nên tính đặc thù của phong cách ngôn ngữ khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc truyền đạt và chia sẻ tri thức khoa học.

Phong cách ngôn ngữ khoa học, dù đa dạng về loại hình, vẫn có những yêu cầu cơ bản như tính khái quát và trừu tượng, giúp trình bày kiến thức một cách tổng thể và mang tính lý thuyết Ngoài ra, phong cách này còn đòi hỏi tính lí trí, lôgic trong cách trình bày thông tin, và tính khách quan, phi cá thể để đảm bảo độ chính xác và uy tín của nội dung nghiên cứu Các đặc trưng này là những dấu hiệu quan trọng phản ánh đặc điểm chính của ngôn ngữ khoa học, giúp nâng cao tính rõ ràng, logic và khách quan trong giao tiếp khoa học.

Sách GV Ngữ văn 12 (tập 2, NXB Giáo dục tr 152) mục hướng dẫn phương pháp dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ hành chính” viết rằng:

“+ GV gợi ý cho HS tự hình thành kiến thức bằng cách nhận xét văn bản hành chính, những yêu cầu sử dụng ngôn ngữ hành chính.

+ HS đọc, hiểu, làm một số bài tập dễ (ví dụ điền vào chỗ trống trong văn bản in sẵn) để tạo ý thức về văn bản hành chính.”

Từ những hướng dẫn phương pháp dạy học của sách GV Ngữ văn 10,11,12, chúng ta có thể nhận thấy:

Sách giáo viên đã hướng dẫn các phương pháp dạy học hiệu quả như phân tích ví dụ mẫu, đàm thoại và diễn giảng, giúp giáo viên rút ra những kiến thức cần thiết của bài học một cách rõ ràng và sinh động.

Sách giáo viên hiện tập trung chủ yếu vào việc trình bày nội dung kiến thức bài học, chưa tích hợp các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tự học và phẩm chất của học sinh Ngoài ra, hình thức dạy - học và các phương tiện giảng dạy còn hạn chế về độ đa dạng, sinh động, chưa đủ khả năng tạo sự hứng thú và thúc đẩy khả năng tự chủ trong học tập của học sinh.

Thực trạng thiết kế bài giảng trong các tài liệu tham khảo

- Sách “Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12, tập 1, Nguyễn Hải Châu (chủ biên)

Trong bài "Phong cách ngôn ngữ khoa học" của NXB Hà Nội trên trang 62-65, tác giả nhấn mạnh phương pháp thiết kế dựa trên đối thoại để nâng cao hiệu quả truyền đạt kiến thức Sách tập trung vào việc đặt ra các câu hỏi hệ thống, đồng thời hướng dẫn cách trả lời phù hợp nhằm phát triển kỹ năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của người học Phương pháp này giúp thúc đẩy hoạt động chủ yếu của giảng viên và người học trong quá trình giảng dạy và học tập khoa học một cách rõ ràng, logic và dễ tiếp thu.

HS là hỏi - đáp, Ví dụ: “Hoạt động của GV và HS” chỉ nêu các câu hỏi: Thế nào là văn bản khoa học? Thế nào là ngôn ngữ khoa học? Phong cách ngôn ngữ khoa học có mấy đặc trưng? Đặc trưng thứ ba của phong cách ngôn ngữ khoa học là gì?; phần “Yêu cầu cần đạt” là nội dung kiến thức của bài học Tương tự các bài soạn về “Phong cách ngôn ngữ” khác trong chương trình Ngữ văn THPT cũng như vậy Nhìn vào giáo án này, rõ ràng chúng ta thấy: phương pháp dạy học được thiết kế rất đơn điệu, chưa đa dạng về phương pháp, chưa sử dụng phương tiện nào kích thích và phát triển năng lực tự học cho HS, chưa hướng đến hình thành phẩm chất năng lực theo yêu cầu của dạy - học hiện nay.

Các giáo án giảng dạy bài “Phong cách ngôn ngữ” trên các trang http://giaoan.violet.vn và http://Vanhay.edu.vn trước đây chủ yếu tập trung vào phương pháp đàm thoại Trong những năm gần đây, hình thức dạy học bài này đã được cải thiện rõ rệt, đa dạng hơn về phương pháp và hình thức Mặc dù vậy, các giáo án này vẫn chưa tận dụng tối đa các phương pháp dạy học tích cực như phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp dự án, hay các hoạt động phát triển năng lực tự học cho học sinh một cách hệ thống.

Thực trạng xây dựng và sử dụng PHT khi dạy bài “Phong cách ngôn ngữ” của GV

* Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học của GV:

Qua khảo sát 22 giáo viên tại huyện Yên Thành, chúng tôi nhận thấy giáo viên đã thực hiện tốt mục tiêu giảng dạy với nội dung chính xác, khoa học, đồng thời nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học Giáo viên không chỉ sử dụng phương pháp đàm thoại mà còn tích cực áp dụng thảo luận nhóm và nêu vấn đề để giải quyết các tình huống, giúp giờ học trở nên sinh động và phát huy năng lực học sinh.

Các hoạt động dạy học hiện nay chưa chú trọng đúng mức đến việc phát triển năng lực tự học của học sinh Đặc biệt, đa số giáo viên chưa sử dụng phương pháp hồ sơ học tập (PHT) như một công cụ thúc đẩy khả năng tự học của học sinh, làm giảm hiệu quả trong việc nâng cao năng lực tự lập và tự chủ trong học tập của người học.

Cụ thể bảng khảo sát điều tra như sau:

Thường xuyên sử dụng Ít sử dụng Không sử dụng

Nêu -Giải quyết vấn đề 8 36,4% 13 59,1% 1 4,5%

* Thực trạng xây dựng và sử dụng PHT khi dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ” trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành của GV.

Cũng qua phiếu khảo sát 22 GV trên chúng tôi thu được:

+ Thầy/ cô có sử dụng PHT để dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ”?

- Sử dụng thường xuyên: 0 GV (0%) - Sử dụng thỉnh thoảng: 12GV (54,5%)

- Không sử dụng: 10 GV (45,5%) + Thầy/ cô có cho rằng sử dụng PHT là thực sự cần thiết?

- Cần thiết: 18GV (81,8%) - Rất cần thiết: 3 GV (13,7%) - Không cần thiết:

+ Thầy/ cô có cho rằng sử dụng PHT kết hợp với các phương pháp dạy học khác sẽ đem lại hiệu quả học tập?

- Hiệu quả cao: 18 GV (81,8%) - Hiệu quả thấp: 1 GV (4,5%) - Bình thường: 3GV (13,7%)

+ Thầy/cô sử dụng PHT chủ yếu trong hoạt động nào của bài học?

- Khởi động: 4GV (18,2%) - Hình thành kiến thức mới: 15GV (68,2%) - Luyện tập: 3GV (13,6%) Học ở nhà: 0%

+ Thầy/cô đã sử dụng PHT để dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ” thành một hệ thống chưa?

- Đã sử dụng hàng ngày có hệ thống: 0% - Sử dụng thỉnh thoảng: 5GV (22,7%) - Chỉ sử dụng khi dự giờ, thao giảng: 17GV (77, 3%)

Từ các câu trả lời khảo sát trên ta thấy:

Giáo viên nhận thức rõ tầm quan trọng của phương pháp học tập tích cực (PHT) trong hoạt động dạy học, đồng thời ý thức rõ việc sử dụng PHT như một phương tiện hỗ trợ hiệu quả trong quá trình giảng dạy các bài học.

“Phong cách ngôn ngữ” nói riêng và trong dạy học Văn nói chung, đặc biệt thầy cô đã sử dụng PHT trong các giờ dạy thao giảng quan trọng.

Nhược điểm chính của công tác dạy học hiện nay là giáo viên chưa chú trọng xây dựng và sử dụng phẩm chất, năng lực của học sinh một cách thường xuyên và có hệ thống Thực tế, việc sử dụng phương pháp, hình thức phát triển năng lực tự học cho học sinh chưa được tích cực, dẫn đến hiệu quả chưa cao trong quá trình dạy học hàng ngày Do đó, cần tăng cường xây dựng và khai thác phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh một cách bền vững và hiệu quả hơn.

Thực trạng về người học

Trong quá trình dạy học và dự giờ các bài "Phong cách ngôn ngữ" ở các lớp 10, 11, 12, chúng tôi nhận thấy phần lớn học sinh chưa quen thuộc với các phương pháp tự học, đặc biệt là việc sử dụng phần mềm hỗ trợ để nâng cao kỹ năng tự học Điều này dẫn đến chất lượng học tập qua PHT chưa đạt tiêu chuẩn, học sinh vẫn còn ỷ lại, thiếu tính chủ động trong việc tìm tòi, lĩnh hội kiến thức bài học.

Hầu hết học sinh quen thuộc với phương pháp đàm thoại và học thuộc lòng, nhưng thiếu kỹ năng trong việc học tập có hệ thống và phân tích sâu sắc Các em chưa biết cách xác định nội dung chính, phát hiện các minh chứng phù hợp hoặc chứng minh quan điểm để làm rõ bài học Điều này ảnh hưởng đến khả năng hiểu bài và phát triển tư duy phản biện của học sinh Việc hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng phân tích, chứng minh sẽ giúp các em tiếp cận kiến thức một cách bài bản và hiệu quả hơn.

Hầu hết học sinh xem các bài học về "Phong cách ngôn ngữ" là những bài học phụ, khô khan và ít liên quan đến kỳ thi, dẫn đến tâm lý thụ động trong quá trình học tập.

- Đa số HS còn lười suy nghĩ, chưa có ý thức tự học.

NỘI DUNG ĐỀ TÀI “SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP ĐỂ DẠY- HỌC CÁC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ” TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS”

Đặc điểm dung lượng, cấu trúc, kiến thức và kĩ năng cần đạt khi học các bài “Phong cách ngôn ngữ” trong chương trình SGK Ngữ văn

“Phong cách ngôn ngữ” trong chương trình SGK Ngữ văn THPT hiện hành

1.1 Phân bố và dung lượng : Chủ đề “Phong cách ngôn ngữ” trong chương trình Ngữ văn THPT có 6 bài, gồm 12 tiết và được bố trí giảng dạy ở các lớp như sau: + Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Ngữ văn lớp 10 cơ bản, tập 1) - 2 tiết

Khóa học Ngữ văn lớp 10 giúp học sinh hiểu rõ phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, chú trọng vào sự sáng tạo và biểu cảm trong ngôn ngữ văn học Trong khi đó, Ngữ văn lớp 11 tập trung vào phong cách ngôn ngữ báo chí, hướng đến việc truyền tải thông tin nhanh chóng, chính xác và sinh động Ngoài ra, phong cách ngôn ngữ chính luận trong chương trình lớp 11 giúp phát triển kỹ năng tranh luận logic, rõ ràng, thuyết phục Đối với lớp 12, nội dung học về phong cách ngôn ngữ khoa học nhấn mạnh vào sự chính xác, minh bạch, dễ hiểu để phục vụ mục đích nghiên cứu và trình bày khoa học Cuối cùng, phong cách ngôn ngữ hành chính trong chương trình lớp 12 giúp xây dựng kỹ năng viết văn bản, thư từ và hồ sơ chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu công việc và giao tiếp chính thức.

1.2 Cấu trúc: Tất cả các bài thuộc chủ đề “ Phong cách ngôn ngữ” trong

SGK Ngữ văn THPT hiện nay đều có cấu trúc đề mục mỗi bài gồm 3 phần như sau:

+ Phần I Tìm hiểu chung về văn bản, ngôn ngữ (sinh hoạt, nghệ thuật, báo chí )

+ Phần II Tìm hiểu các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ (sinh hoạt, nghệ thuật, báo chí )

1.3 Nội dung kiến thức cần đạt

Học xong các bài “Phong cách ngôn ngữ” HS cần đạt được các kiến thức sau đây:

+ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Ngôn ngữ sinh hoạt là ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hàng ngày, thuộc hoàn cảnh không mang tính nghi thức Giao tiếp này thường diễn ra ở phạm vi cá nhân nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa mọi người Ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại dưới hai dạng chính là nói và viết, như các hình thức nhật ký, thư từ, tin nhắn điện thoại, phản ánh đời sống thường nhật của con người.

* Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

- Tính cụ thể: Cụ thể về không gian, thời gian, hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp, nội dung và cách thức giao tiếp…

- Tính cảm xúc: Cảm xúc của người nói thể hiện qua giọng điệu, các trợ từ, thán từ, sử dụng kiểu câu linh hoạt,

Tính cá thể thể hiện qua nét riêng về giọng nói và cách nói năng của mỗi người, giúp xác định các đặc điểm cá nhân như giới tính, tuổi tác, tính cách, sở thích và nghề nghiệp Những đặc điểm này phản ánh rõ nét cá nhân, góp phần nhận diện độc đáo của từng người trong giao tiếp hàng ngày.

+ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ chủ yếu sử dụng trong các tác phẩm văn chương, có vai trò không chỉ truyền đạt thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người Đây là loại ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, gọt giũa và tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường, mang lại giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cao trong các tác phẩm văn học.

Ngôn ngữ nghệ thuật được ứng dụng rộng rãi trong các loại hình văn bản như ngôn ngữ tự sự trong truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký; ngôn ngữ trữ tình qua ca dao, vè, thơ; và ngôn ngữ sân khấu trong kịch, chèo, tuồng Ngoài ra, ngôn ngữ nghệ thuật còn xuất hiện trong các loại văn bản chính luận, báo chí và lời nói hàng ngày, góp phần làm phong phú, thể hiện sâu sắc cảm xúc và ý nghĩa của nội dung.

* Đặc trưng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

- Tính hình tượng: Tác giả xây dựng hình tượng chủ yếu bằng các biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, hoán dụ, điệp…

- Tính truyền cảm: Ngôn ngữ nghệ thuật có khả năng gây cảm xúc, ấn tượng mạnh với người nghe, người đọc.

Tính cá thể chính là dấu ấn riêng biệt của mỗi người, thể hiện qua những nét đặc trưng được lặp đi lặp lại trong các bài viết hay tác phẩm nghệ thuật Chính nhờ sự nhất quán này mà phong cách cá nhân của từng tác giả được khẳng định rõ nét, tạo nên sự độc đáo và khác biệt trong lĩnh vực sáng tạo Tính cá thể góp phần làm nổi bật phong cách riêng, giúp người đọc dễ nhận biết và dễ kết nối với tác giả, đồng thời nâng cao giá trị nội dung trong mắt khách hàng và độc giả.

+ Phong cách ngôn ngữ chính luận

Ngôn ngữ chính luận là loại ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản và lời nói mang tính chính luận, như hội nghị, hội thảo, hoặc các buổi nói chuyện thời sự Mục đích của ngôn ngữ này là trình bày, bình luận và đánh giá các sự kiện cũng như các vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng dựa trên một quan điểm chính trị nhất định.

* Đặc trưng phong cách ngôn ngữ chính luận:

Trong văn bản chính luận, tính công khai về quan điểm chính trị là yếu tố quan trọng, yêu cầu người viết thể hiện rõ ràng sở thích và suy nghĩ về các vấn đề trong cuộc sống mà không che giấu hay úp mở Do đó, từ ngữ sử dụng cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh gây hiểu nhầm hoặc mơ hồ, đồng thời hạn chế viết câu phức tạp, nhiều ý để đảm bảo thông điệp được truyền đạt chính xác và rõ ràng.

Trong bài viết chính luận, tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận được thể hiện rõ qua việc xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ và luận chứng một cách rõ ràng, mạch lạc Để đảm bảo tính thuyết phục và logic, tác giả thường sử dụng các từ liên kết như "vì thế", "bởi vậy", "do đó", "tuy nhưng ", "để", "mà ", giúp kết nối các ý tưởng một cách linh hoạt, chặt chẽ và xuyên suốt.

- Tính truyền cảm, thuyết phục: Thể hiện ở lí lẽ đưa ra, giọng văn hùng hồn, tha thiết, bộc lộ nhiệt tình của người viết.

+ Phong cách ngôn ngữ khoa học

Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, đặc biệt trong các văn bản khoa học như sách, tạp chí và giáo án Ngôn ngữ này gồm hai dạng chính là nói (ví dụ: bài giảng, thuyết trình khoa học) và viết (như bản báo cáo, tài liệu nghiên cứu) Đây là công cụ quan trọng để truyền đạt các kiến thức chính xác và rõ ràng trong cộng đồng khoa học.

* Đặc trưng phong cách ngôn ngữ khoa học:

- Tính khái quát, trừu tượng:

+ Ngôn ngữ khoa học dùng nhiều thuật ngữ khoa học, đó là những từ chuyên môn dùng trong từng ngành khoa học.

+ Kết cấu văn bản thường mang tính khái quát (các luận điểm khoa học trình bày từ lớn đến nhỏ, từ khái quát đến cụ thể).

+ Từ ngữ: chỉ dùng với một nghĩa, không dùng các biện pháp tu từ.

+ Câu văn chặt chẽ, mạch lạc, là một đơn vị thông tin, cú pháp chuẩn.

+ Kết cấu văn bản: câu văn liên kết chặt chẽ và mạch lạc, cả văn bản thể hiện một lập luận logic.

- Tính khách quan, phi cá thể:

+ Câu văn trong văn bản khoa học có sắc thái trung hoà, ít cảm xúc.

+ Khoa học có tính khái quát cao nên ít có những biểu đạt có tính chất cá nhân.

+ Phong cách ngôn ngữ báo chí

Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để truyền tải tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo cũng như dư luận quần chúng Loại ngôn ngữ này nhằm mục đích thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, phản ánh các sự kiện chính xác và khách quan Ngôn ngữ báo chí tồn tại dưới hai dạng chính là nói (như thuyết minh, phỏng vấn trực tiếp) và viết (báo viết), giúp tiếp cận đa dạng đối tượng độc giả và phù hợp với nhiều phương tiện truyền thông khác nhau.

* Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí:

- Tính thông tin thời sự: Thông tin cập nhật nóng hổi, chính xác về địa điểm, thời gian, nhân vật, sự kiện,…

- Tính ngắn gọn: Lời văn ngắn gọn nhưng lượng thông tin cao (bản tin, tin vắn, quảng cáo…).

- Tính sinh động, hấp dẫn: Cách dùng từ, đặt câu và tiêu đề phải kích thích sự tò mò của người đọc phong cách ngôn báo chí.

+ Phong cách ngôn hành chính

Văn bản hành chính là loại tài liệu được sử dụng trong hoạt động giao tiếp thuộc lĩnh vực hành chính, nhằm đảm bảo sự trao đổi thông tin chính xác và đúng quy trình Các loại văn bản này thường bao gồm các thủ tục pháp lý như thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng và các tài liệu liên quan khác giúp duy trì mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước, nhân dân và các tổ chức Giao tiếp trong văn bản hành chính diễn ra giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, cũng như giữa các cơ quan với nhau hoặc giữa các quốc gia dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc.

* Đặc trưng phong cách ngôn ngữ hành chính:

Văn bản hành chính phải tuân thủ theo một khuôn mẫu rõ ràng, bao gồm ba phần chính: phần đầu với quốc hiệu, tiêu ngữ, tên cơ quan, số hiệu, địa điểm và thời gian ban hành; phần chính là nội dung văn bản; phần cuối gồm chức vụ, chữ ký, dấu cơ quan và nơi nhận Văn bản hành chính thường được tổ chức thành nhiều chương, mục để thuận tiện trong việc theo dõi và tra cứu.

Tính minh xác đòi hỏi sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, trực tiếp, không dùng phép tu từ hay các lối biểu đạt hàm ý hay mơ hồ về nghĩa Người viết cần đảm bảo không tùy tiện xóa bỏ, thay đổi hoặc sửa chữa nội dung, đồng thời giữ nguyên chính xác từng dấu câu, chữ ký và các thông tin về thời gian để đảm bảo tính chính xác của tài liệu.

Thiết kế, sử dụng PHT khi dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ”

2.1 Thiết kế, sử dụng PHT trong hoạt động khởi động

Khởi động là hoạt động đầu tiên của tiết học giúp học sinh huy động kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cá nhân liên quan đến bài mới, từ đó kích thích sự tò mò và hứng thú học tập Hoạt động này tạo tâm thế tích cực cho học sinh bắt đầu tiết học, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy Việc thiết kế các hoạt động khởi động phù hợp và sáng tạo đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh.

2.1.1 Các dạng PHT sử dụng cho hoạt động khởi động a Dạng 1: Chia sẻ trải nghiệm của bản thân

PHT chia sẻ rằng phiếu khảo sát chứa các câu hỏi về những việc học, suy nghĩ và cảm xúc mà học sinh đã trải qua hoặc tự mình thực hiện, nhằm tác động đến tình cảm và nhận thức của học sinh Các nội dung yêu cầu chia sẻ phải liên quan đến bài học, giúp kết nối những điều đã biết với những điều chưa biết Đây là phương pháp hiệu quả để thúc đẩy sự tự nhận thức và phát triển tư duy của học sinh.

Mục đích của hoạt động PHT này là giúp học sinh tự chiêm nghiệm, chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc của chính bản thân, qua đó giáo viên và các bạn học sinh có thể lắng nghe, thấu hiểu nhau hơn Hoạt động nhằm tạo ra một không gian mở, giúp học sinh nhập tâm vào bài học một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và hứng thú hơn Ngoài ra, dạng hoạt động này còn khuyến khích học sinh trả lời các câu hỏi ngắn liên quan đến nội dung bài học, nhằm củng cố kiến thức một cách sinh động và hiệu quả hơn.

PHT là phương pháp thiết kế các bài tập nhỏ, câu hỏi ngắn nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức và hiểu biết đã học, đã đọc Những câu hỏi này yêu cầu học sinh trả lời nhanh chóng, phản ánh khả năng nắm bắt và ứng dụng kiến thức một cách linh hoạt PHT giúp giáo viên đánh giá nhanh chóng mức độ hiểu bài của học sinh qua các phản hồi ngắn gọn, chính xác Phương pháp này thúc đẩy học sinh tư duy, phát triển kỹ năng trả lời ngắn gọn, rõ ràng, đồng thời cải thiện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn học tập.

Mục đích của PHT này là kiểm tra kiến thức nền tảng của học sinh, giúp kết nối các kiến thức liên quan đến bài học Qua đó, học sinh có cơ hội xác nhận lại kiến thức của bản thân, xây dựng sự tự tin và hứng khởi khi tham gia vào quá trình học tập.

2.1.2 Cách thiết kế PHT sử dụng cho phần khởi động

- Xác định mục tiêu cần đạt của hoạt động học

+ Về kiến thức: chia sẻ những hiểu biết kiến thức nền và trải nghiệm của bản thân về những vấn đề liên quan đến bài học.

+ Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng nói, lắng nghe, chia sẻ, huy động kiến thức nền sẵn có để giải quyết vấn đề

Trường…… Lớp… Bài: Phong cách ngôn ngữ ……

Thời gian thực hiện: … phút + Phần yêu cầu của GV:

Là những câu hỏi GV yêu cầu HS thực hiện hoặc những gợi ý để HS làm việc

+ Phần thực hiện nhiệm vụ của HS:

Là phần HS chia sẻ những cảm xúc, trải nghiệm đã qua và những kiến thức có được để hoàn thành bài tập do PHT yêu cầu.

2.1.3 Quy trình sử dụng PHT phần khởi động:

Bước 1: GV phát PHTcho từng cá nhân.

Bước 2: HS nhận nhiệm vụ, ghi vào phiếu những ý kiến của bản thân hoặc trả lời câu hỏi bài tập ngắn trong phiếu.

Bước 3: GV yêu cầu HS chia sẻ, trả lời câu hỏi.

Bước 4: HS chia sẻ, nói lên những trải nghiệm hay kết quả bài của mình. Bước 5: Từ những câu trả lời của HS, GV dẫn vào bài mới.

2.1.4 Một số ví dụ PHT sử dụng cho phần khởi động

Ví dụ dạng 1: Chia sẻ trải nghiệm của bản thân

Ví dụ 1: PHT dạy bài “Phong cách ngôn ngữ hành chính” - Ngữ văn 12 Trường…… Lớp12D1 Bài: Phong cách ngôn ngữ hành chính

PHT số: 01 Người thực hiện: ………….

Thời gian thực hiện: 3 phút

Bạn đã từng được yêu cầu hoặc đề nghị viết biên bản cuộc họp chưa? Việc soạn thảo biên bản giúp lưu giữ các nội dung quan trọng của cuộc họp một cách chính xác và rõ ràng Tuy nhiên, quá trình viết biên bản cũng gặp nhiều khó khăn như xác định các điểm chính cần ghi nhận và đảm bảo tính khách quan, trung thực trong mỗi nội dung ghi chép Một số thuận lợi khi viết biên bản là giúp các thành viên nắm bắt rõ thông tin và triển khai công việc hiệu quả hơn Đồng thời, việc thực hành viết biên bản còn nâng cao kỹ năng ghi chép, tổ chức thông tin và tăng cường khả năng làm việc nhóm.

Nội dung HS chia sẻ ……… ………

Ví dụ 2: PHT dạy bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí” - Ngữ văn 11 Trường…… Lớp 11C1 Bài: Phong cách ngôn ngữ báo chí

PHT số: 01 Người thực hiện: ………….

Thời gian thực hiện: 3 phút

Câu hỏi chia sẻ: - Em có thường xuyên đọc báo không? Em hay đọc báo gì?

Em thích đọc mục nào nhất? Báo chí đem đến cho em lợi ích gì? Hãy chia sẻ cùng các bạn?

Nội dung HS chia sẻ ……… ………

Từ những chia sẻ của HS, GV dẫn vào bài mới.

Ví dụ dạng 2: Trả lời câu hỏi ngắn có nội dung liên quan đến bài học

Ví dụ 1: Dạy bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” - Ngữ văn 12 GV có thể thiết kế PHT sau:

Trường…… Lớp 12D1 Bài: Phong cách ngôn ngữ khoa học PHT số: 01

Thời gian thực hiện: 3 phút Câu hỏi: Em hãy xác định phong cách ngôn ngữ của mỗi ví dụ sau đây: a Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Vào trưa ngày 13-10, Tuổi Trẻ Online xác nhận từ Sở Chỉ huy tiền phương tại xã Phong Xuân, Thừa Thiên Huế, về việc đoàn cứu nạn hơn 20 người, bao gồm thiếu tướng Nguyễn Văn Man, phó tư lệnh Quân khu IV, đã gặp khó khăn khi tiếp cận thủy điện Rào Trăng 3 do thời tiết xấu và sạt lở địa hình Đoàn đã liên lạc lần cuối vào tối ngày 12-10 khi cách thủy điện khoảng 3 km, nhưng do trời tối, mưa lớn và địa hình hiểm trở, việc tiếp tục tiếp cận gặp nhiều trở ngại Vì đêm khuya và thời tiết không thuận lợi, đoàn quyết định nghỉ tại Trạm kiểm lâm số 7, thuộc tiểu khu 67, để sáng hôm sau tiếp tục hành trình tìm kiếm cứu nạn.

Vào đêm xảy ra vụ sạt lở đất lớn, chôn vùi hai phòng của lực lượng cứu hộ đang nghỉ ngơi tại hiện trường Hiện tại, có 13 người trong đoàn cứu hộ bị mất liên lạc do vụ sạt lở đất gây ra Sự cố này gây ra tình trạng sơ tán khẩn cấp và đặt ra nhiều thách thức trong công tác cứu hộ, cứu nạn.

(Trích báo Tuổi trẻ online ngày 13/10/3020) c Hỡi đồng bào cả nước,

Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, được hưởng những quyền không ai có thể xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Những quyền này là nền tảng của nhân quyền và bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân trong xã hội Việc đảm bảo quyền sinh, quyền tự do và khả năng tìm kiếm hạnh phúc là trách nhiệm của nhà nước và cộng đồng Chính những quyền này góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và phát triển bền vững.

Câu nói bất hủ trong Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ mang ý nghĩa sâu sắc về quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới Theo đó, mọi dân tộc đều sinh ra với quyền tự nhiên bình đẳng, có quyền sống, quyền hạnh phúc và quyền tự do Đây là nguyên tắc nền tảng thúc đẩy quyền con người và bình đẳng quốc tế.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 khẳng định rằng "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi", và họ phải luôn luôn được hưởng tự do và bình đẳng về quyền lợi Những nguyên lý này là chân lý không ai có thể chối cãi, thể hiện giá trị cơ bản của quyền con người và sự công bằng trong xã hội.

Sen là loài cây mọc ở nước có đặc điểm nổi bật với lá to tròn, hoa màu hồng hoặc trắng, nhị vàng, phát ra mùi thơm nhẹ nhàng, hạt của sen còn được sử dụng để ăn.

……… Đáp án cho bài tập trên:

TT Ví dụ Phong cách ngôn ngữ

1 a Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

2 b Phong cách ngôn ngữ báo chí

3 c Phong cách ngôn ngữ chính luận

4 d Phong cách ngôn ngữ khoa học

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí” - Ngữ văn 11 (tập 1),

GV có thể sử dụng bài tập sau:

Trường…… Lớp 11C1 Bài: Phong cách ngôn ngữ báo chí

PHT số: 01 Người thực hiện: ………….

Thời gian thực hiện: 3 phút

Video “Chấn động người giúp việc bạo hành trẻ em” sử dụng phong cách ngôn ngữ mang tính cảm xúc mạnh mẽ, gây chú ý và tác động sâu sắc đến tư tưởng của người xem Nội dung tập trung phản ánh câu chuyện xúc động về hành vi bạo hành trẻ em, thông qua kênh hình ảnh chân thực, sinh động, giúp truyền tải thông điệp một cách rõ ràng và chân thực nhất Video này có tác động lớn đến nhận thức xã hội, nâng cao ý thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ trẻ em và thúc đẩy cộng đồng hành động phòng tránh bạo hành, góp phần hình thành ý thức đạo đức và trách nhiệm xã hội trong cộng đồng.

Một video clip ghi lại cảnh người giúp việc bạo hành trẻ em đang gây phẫn nộ rất lớn cho cộng đồng mạng Theo báo Dân trí, camera của 1 gia đình tạiQuảng Nam đã ghi lại cảnh người vú nuôi giúp việc cho gia đình này hành hạ và đánh đập con gái 2 tuổi của họ Theo đó, ngày 24/9, bé N.K.L (29 tháng tuổi) được gia đình đưa vào Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng li bì, lơ mơ, sưng nề và xây xước ở vùng mặt và lưng, xung huyết vùng mắt Hiện người vú nuôi độc ác này đang bị giam giữ trong tù và chờ ngày ra tòa vào giữa tháng 12 tới đây Clip này vừa được một thành viên đăng tải trên trang mạng xã hội và đã nhận được nhiều chia sẻ, bình luận của cộng đồng mạng Mọi người đều rất bức xúc trước hành động của người giúp việc này khi hành hạ một đứa trẻ 2 tuổi dã man như vậy.

(Theo Hoàng Hải, Báo Dantri.com.vn ngày 1 - 10 - 2014.) b Trao hơn 52 triệu đầu năm mới cho bé bị suy tủy 3 dòng hiếm gặp

PV Dân trí đã đến Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Huế để trao quà nhân ái tuần 4 tháng 1/2015 tới mẹ con chị Nguyễn Thị Tỉnh và bé Võ Thị Kiều Oanh, nhân vật trong bài viết Đoàn đã tận tay chia sẻ những món quà ý nghĩa và gửi lời động viên đến gia đình bé Kiều Oanh, giúp họ vững tin vượt qua khó khăn Chương trình từ thiện nhằm góp phần chăm sóc sức khỏe và mang lại niềm vui cho các bệnh nhi đang điều trị tại bệnh viện.

Ngày đăng: 04/08/2023, 09:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kiến thức được sắp xếp lộn xộn - Skkn sử dụng phiếu học tập để dạy học các bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn thpt nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Bảng 1 Kiến thức được sắp xếp lộn xộn (Trang 31)
Bảng 2: Kiến thức sắp xếp đúng sau khi HS lựa chọn, trình bày. - Skkn sử dụng phiếu học tập để dạy học các bài phong cách ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn thpt nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Bảng 2 Kiến thức sắp xếp đúng sau khi HS lựa chọn, trình bày (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w