Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, hướng đến mục tiêu đào tạo những công dân năng động, sáng tạo, tự tin, đáp ứng yêu cầu của đất
Trang 1PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH
LĨNH VỰC: NGỮ VĂN
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN HIỆU QUẢ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN THPT THEO THÔNG TƯ 26/2020/TT- BGDĐT NHẰM PHÁT TRIỂN
PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH
LĨNH VỰC: NGỮ VĂN
Người thực hiện: TRẦN THỊ BÍCH LIÊN
ĐẶNG ĐÌNH DŨNG NGUYỄN THỊ MƠ
Tổ bộ môn: Ngữ văn - Ngoại ngữ Thời gian thực hiện: Năm học 2021- 2022
Số điện thoại: 0986.606.037
Năm học 2021 - 2022
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu
6 Tổng quan và tính mới của đề tài
PHẦN HAI: NỘI DUNG
1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1 2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2 Giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả kiểm tra đánh giá định
kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.1 Xác định loại kiểm tra, đánh giá; hệ số điểm kiểm tra, đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sin
2.2 Xây dựng ma trận, đặc tả đề kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26 nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh 2.3 Xây dựng các dạng đề kiểm tra và tiêu chí kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.3 Tiêu chí kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm
3.2 Tổ chức thực nghiệm
3.3 Phương pháp thực hiện
Trang 43.6 Nhận xét kết quả thực nghiệm
PHẦN III KẾT LUẬN
1 Quá trình nghiên cứu
2 Ý nghĩa của đề tài
3 Phạm vi ứng dụng của đề tài
4 Hướng phát triển của đề tài
5 Đề xuất, kiến nghị
5.1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
5.2 Đối với nhà trường
5.3 Đối với giáo viên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5SGK : Sách giáo khoa
Trang 6SGV : Sách giáo viên THPT : Trung học phổ thông
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài Giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay đang chuyển từ dạy học theo
hướng tiếp cận tri thức sang định hướng tiếp cận năng lực, phát triển phẩm chất người học Nghị quyết 29 của Đảng đã xác định rõ “đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Trong xu thế đổi mới của giáo dục phổ thông, Ngữ văn là môn học có tính đặc thù và có ưu thế trong việc phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, hoạt động kiểm tra đánh giá có
Trang 7vị trí, vai trò rất quan trọng Thông qua kiểm tra đánh giá, giáo viên có thể nắm bắt khả năng học sinh lĩnh hội kiến thức chiếm tỷ lệ bao nhiêu so với mục tiêu mình đặt ra trong giảng dạy, từ đó tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập của học sinh Kiểm tra đánh giá còn giúp người dạy nắm bắt thông tin phản hồi từ phía người học để có thể điều chỉnh quá trình dạy kịp thời và hợp lí Qua kiểm tra đánh giá, mới có thể biết được những năng lực Ngữ văn của học sinh đã được phát triển như thế nào Để có được sự kiểm tra, đánh giá chính xác, nhất thiết phải có hệ thống câu hỏi, đề bài phù hợp, đảm bảo mục tiêu dạy học.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư
số 26/2020/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm
2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số nội dung điều chỉnh trong kiểm tra, đánh giá cấp trung học Đây là sự chỉ đạo sát sao, kịp thời giúp giáo viên thực hiện tốt các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Theo đó, quy chế xếp loại, hình thức, nội dung, loại hình kiểm tra đánh giá cũng có những điều chỉnh, thay đổi, bổ sung Tiếp thu tinh thần đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới kiểm tra đánh giá nói riêng, các giáo viên Ngữ văn hiện nay đã có ý thức cải tiến cách thức dạy học bộ môn, từ khâu chuẩn bị bài, lên lớp đến khâu kiểm tra đánh giá Tuy nhiên, ở việc ra đề, đặc biệt là đề kiểm tra, đánh giá định kì giáo viên vẫn còn lúng túng, chưa thoát khỏi tâm lí lệ thuộc vào các tài liệu tham khảo Chủ động đổi mới trong việc ra đề kiểm tra đánh giá đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản đối với môn Ngữ văn còn là yêu cầu khá cao đối với không ít giáo viên.
Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, hướng đến mục tiêu đào tạo những công dân năng động, sáng tạo, tự tin, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ hội nhập,
chúng tôi chọn vấn đề “ Một số giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả kiểm
tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh” (áp dụng cho học sinh khối 10) làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy
26/2020/TT-2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm là giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
Trang 83 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm nhằm đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, bao gồm việc làm rõ bản chất của kiểm tra đánh giá định kì, khảo sát thực tế kiểm tra đánh giá định
kì môn Ngữ văn THPT.
Đề xuất những giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài trong việc nâng cao hiệu quả kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT.
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp thuộc hai nhóm nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn:
- Dùng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hoá lý thuyết để đánh giá, thẩm định những công trình nghiên cứu đã
bàn bạc các vấn đề có liên quan đến đề tài.
- Dùng các phương pháp quan sát và điều tra để thu thập những dữ liệu
cần thiết về kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT
- Dùng phương pháp thực nghiệm để nắm bắt và đánh giá tính khoa
học, tính khả thi của kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
6 Tổng quan và tính mới của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá đã được quan tâm chú ý ở các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng Vấn đề kiểm tra đánh giá định kì đã được nhiều trường THPT và các giáo viên thực hiện bằng hình thức thi chung toàn khối hoặc xây dựng đề kiểm tra cho từng lớp học dựa theo năng lực chung của lớp học Tuy nhiên, việc vận dụng các văn bản chỉ đạo mà cụ thể là thông tư 26/2020/TT- Bộ GD&ĐT đâu đó còn
mang tính chiếu lệ, riêng lẻ, hình thức và thiếu sự vận dụng linh hoạt sáng tạo Thậm chí có nơi còn lấy luôn đề minh họa Của Bộ GD&ĐT trong tài liệu tập huấn để làm đề thi chung cho an toàn Điều đó đã dẫn đến sự máy
Trang 9móc, rập khuôn, thiếu mạnh dạn của giáo viên trong định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
Từ thực tế đó, chúng tôi mạnh dạn nêu ý tưởng và triển khai đề tài, thử nghiệm triển khai một cách cụ thể, hệ thống trong các đợt kiểm tra đánh giá giữa kì, cuối kì theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Thông qua việc làm bài nghiêm túc, cầu tiến, học sinh vừa rèn luyện phẩm chất trung thực, yêu thương, chuyên cần và trách nhiệm, vừa bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy và sáng tạo, năng lực tự học, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ
Đề tài chú trọng xây dựng hệ thống đề kiểm tra đánh giá dựa trên bảng đặc tả và ma trận đề với sự hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản tương ứng với chương trình và SGK lớp 10 hiện hành Chúng tôi tập trung nghiên cứu các giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
Trang 10PHẦN HAI: NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của đề tài 2.1.1 Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn THPT theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.1.1.1 Mục đích, yêu cầu của việc đổi mới kiểm tra đánh
giá trong dạy học Ngữ văn THPT
Giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực tập trung phát huy vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức, trung tâm của hoạt động chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển kĩ năng Trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong một quy trình thống nhất nhằm xác định kết quả thực hiện mục tiêu dạy học Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học; đánh giá là xác định mức độ đạt được về thực hiện mục tiêu dạy học.
Đánh giá kết quả học tập chính là kiểm định, xem xét mức độ, khả năng đạt được trong hoạt động chiếm lĩnh của học sinh so với mục tiêu đề ra đối với từng môn học, từng lớp học, cấp học Mục tiêu của mỗi môn học được cụ thể hoá thành các chuẩn kiến thức, kĩ năng Từ các chuẩn này, khi tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học, giáo viên thiết kế thành những tiêu chí nhằm kiểm tra được đầy đủ cả về định tính và định lượng kết quả học tập của học sinh.
Theo tinh thần đổi mới, hoạt động kiểm tra đánh giá nhằm giúp người dạy nắm rõ thực chất trình độ, năng lực đọc – hiểu, cảm thụ, bày tỏ thái độ, cảm xúc của HS trước một vấn đề thuộc lĩnh vực liên quan đến bộ môn Ngữ văn; đảm bảo sự công bằng, khách quan, có tính động viên, khích lệ tinh thần học tập chủ động, sáng tạo và gây sự hứng thú để HS thích học môn Ngữ văn hơn và học tốt hơn Muốn vậy, đề bài phải căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng bài học, từng nhóm bài, từng cụm chủ đề từng giai đoạn văn học, không hình thức “ đối phó” cũng không gây áp lực nặng nề cho HS Nội
Trang 11dung kiểm tra phải rõ ràng, chính xác, khách quan, công bằng, tích hợp cả 3 phân môn: Đọc văn, Làm văn, Tiếng Việt, bám sát bảng đặc tả và ma trận đề Hơn thế, đề KTĐG đảm bảo các tiêu chí: tính toàn diện, độ tin cậy, tính khả thi, phân hóa đối tượng HS và đạt hiệu quả cao.
1.1.1.2 Các loại hình năng lực cần hình thành - phát triển cho học sinh thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
Khái niệm “năng lực”(competency) có nguồn gốc tiếng Latinh
“competentia” Xoay quanh khái niệm này có nhiều cách hiểu khác nhau: sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc, Năng lực bao gồm sự tổng hợp, chuyển hoá các yếu tố kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một cá nhân có để hành động thành công trong các tình huống mới Do đó, cũng có thể hiểu năng lực là khả năng giải quyết, sự sẵn sàng giải quyết các tình huống John Erpenbeckcho rằng: “Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hoá qua ý chí” Còn Weinert định nghĩa:
“Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội
và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linhhoạt” Như vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động có trách nhiệm Kháiniệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực cũng có thể hiểu đó là phát triển năng lực hành động Thông thường, người ta chia các thành phần của năng lực bao gồm:
- Năng lực chuyên môn (professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với các khả năng nhận thức và tâm lí vận động.
- Năng lực phương pháp (methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.
- Năng lực xã hội (social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm
Trang 12vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
- Năng lực cá thể (induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến
tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
1 2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 1.2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn định hướng phát triển năng lực cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Bám sát hướng dẫn thực hiện Chương trình và sách giáo khoa mới sau
2018 của Bộ GD&ĐT, trong những năm gần đây, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá và bước đầu đã có những chuyển biến tích cực, đáng ghi nhận Đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, sự mới mẻ thể hiện ở việc thiết lập bảng ma trận đề kiểm tra, có sự xác định tỷ trọng các đơn vị kiến thức, kĩ năng đối với các phần trong đề bài Tuy nhiên, vẫn có hiện tượng giáo viên xem bảng ma trận đề kiểm tra chỉ là hình thức đối phó, không có sự ăn nhập với nội dung đề bài Trong thời gian qua, việc đổi mới kiểm tra đánh giá còn thể hiện ở tính chất “mở” của đề bài thể hiện ở cả nội dung (không trói chặt thí sinh vào những định đề có sẵn), cả hình thức (cách diễn đạt mềm dẻo, linh hoạt, không quy định trước thao tác lập luận) và mục đích (khắc phục khoảng cách giữa nhà trường và đời sống, taọ cơ hội cho thí sinh thể hiện suy nghĩ riêng của bản thân…) Những thay đổi bước đầu ấy chính là tín hiệu đáng mừng cho công cuộc đổi mới toàn diện của nền giáo dục mới Tuy nhiên, sự thay đổi ấy mới chỉ thể hiện ở tầm vĩ mô, trong những tài liệu tập huấn ho giáo viên hay mô hình thí điểm, còn trên thực
tế, ở các trường học, GV và học sinh vẫn đang thực hiện chỉ đạo đổi mới một cách hình thức, chung chung.
Chúng tôi đã tập hợp được 40 đề Ngữ Văn mà giáo viên sử dụng để kiểm tra định kỳ cho học sinh, và nhận ra một thực tế: phần lớn giáo viên rất
ít khi tự mình ra đề, mà thường sử dụng đề từ các nguồn tài liệu tham khảo.
Và khi sử dụng đề từ tài liệu tham khảo, giáo viên vẫn chú trọng đến mục đích kiểm tra tri thức của học sinh hơn là nhằm đánh giá một cách toàn diện các năng lực mà môn Ngữ văn có thể hình thành và phát triển cho các em.
1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi tổ chức hoạt động kiểm tra
Trang 13đánh giá môn Ngữ văn định hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Để nắm bắt thực trạng tổ chức tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn định hướng phát triển năng lực cho học sinh ở trường trung học phổ thông, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 20 giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Đô Lương 1, THPT Đô Lương 3 ( phụ lục 1) và nhận thấy:
a) Thuận lợi Trước hết, thuận lợi đối với việc ra đề Ngữ văn theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực chính là sự chuyển hướng của mục tiêu giáo dục nói chung và những chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về đổi mới kiểm tra đánh giá Đó chính là cơ sở để GV có thể mạnh dạn đổi mới cách ra đề kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn nói chung, chương trình Ngữ văn 10 nói riêng Thứ hai, thuận lợi xuất phát từ sự chuyển biến trong nhận thức của cán
bộ quản lí và GV giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường THPT về vai trò, ý nghĩa của hoạt dộng kiểm tra đánh giá trong dạy học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng.
Thứ ba, những thành tựu của khoa học về vấn đề kiểm tra, đánh giá trên thế giới và trong nước nói chung, trong bộ môn Ngữ văn nói riêng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho GV Ngữ văn trong việc tham khảo, học hỏi quy trình xây dựng và biên soạn đề kiểm tra theo định hướng mới.
b) Khó khăn Thứ nhất, nhiều GV còn mơ hồ về kĩ năng kiểm tra, đánh giá (xác định mục tiêu, nội dung kiểm tra đánh giá; kĩ năng xác định các cấp độ của kiểm tra, đánh giá…).
Thứ hai, do còn hiểu đơn giản về nhận thức và yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực Ngữ văn cho HS nên việc ra đề kiểm tra còn chung chung, dẫn đến đề bài thiếu chất lượng.
Thứ ba, những thành tựu về kiểm tra, đánh giá chưa thể đến được một cách đồng bộ ở tất cả các trường trung học; khi về tập huấn lại cho GV thì các cốt cán chuyên môn nặng về phần lí thuyết mà thiếu tính thực hành nên GV khó áp dụng để ra đề.
Thứ tư, cán bộ quản lí của các trường thường đánh giá thi đua của GV
Trang 14qua điểm bài thi của HS, do đó tạo một áp lực nặng nề, khiến GV phải áp dụng lối ra đề theo những kiểu đề định sẵn trong ”bài văn mẫu”mà ít chú ý đến việc khai thác các văn bản đọc hiểu ngoài SGK, xây dựng đề bài làm văn chú ý khơi dậy tiềm năng của HS.
Qua việc điều tra, khảo sát và phân tích thực tế như trên, có thể thấy việc phát triển phẩm chất, năng lực học sinh thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá đã được giáo viên quan tâm, trăn trở, tìm tòi và thực hiện Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện kiểm tra đánh giá, hiệu quả phát triển phẩm chất năng lực còn chưa tương xứng với mục tiêu đã đề ra Đâu đó vẫn còn tâm lí dựa dẫm, rập khuôn, hình thức trong cách ra đề kiểm tra, đánh giá, vô tình ép HS vào những lối mòn của suy nghĩ, nông cạn cảm xúc Cách thức tổ chức các phương pháp, kĩ thuật, hoạt động dạy học tích cực còn tồn tại nhiều hạn chế Chính vì vậy mà trong thời gian gần đây, hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh ở trường trung học phổ thông đã trở nên cần thiết, có sự quan tâm, chú ý đáng kể.
2 GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN HIỆU QUẢ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN THPT THEO THÔNG
TƯ 26 /2020/TT- BGDĐT NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH
2.1 Xác định loại kiểm tra, đánh giá; hệ số điểm kiểm tra, đánh giá định
kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.1.1 Các hình thức, thời lượng kiểm tra, đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT
2.1.1.1 Về hình thức đánh giá Theo thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, có một
số nội dung điều chỉnh trong kiểm tra, đánh giá cấp trung học đã quy định cụ thể về sự kết hợp giữa đánh giá bằng nhận xét và đánh giá bằng điểm số đối với các môn học Cụ thể như sau:
Trang 15- Đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập của học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn, quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành.
- Đánh giá bằng điểm số kết quả thực hiện các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng đối với môn Ngữ văn quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kết quả đánh giá theo thang điểm 10, nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm 10.
2.1.1.2 Các loại kiểm tra, đánh giá; hệ số điểm kiểm tra, đánh giá
a) Các loại kiểm tra, đánh giá
- Kiểm tra, đánh giá thường xuyên:
+ Kiểm tra, đánh giá thường xuyên môn Ngữ văn được thực hiện trong quá trình dạy học nhằm kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành;
+ Kiểm tra, đánh giá thường xuyên môn Ngữ văn được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua: hỏi - đáp, viết, thuyết trình, sản phẩm học tập bộ môn;
+ Số lần kiểm tra, đánh giá thường xuyên quy định cho bộ môn Ngữ văn THPT là 04 con điểm.
- Kiểm tra, đánh giá định kì:
+ Kiểm tra, đánh giá định kì bộ môn Ngữ văn THPT được thực hiện sau mỗi giai đoạn giáo dục nhằm đánh giá kết quả học tập, rèn luyện và mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT ban hành;
+ Kiểm tra, đánh giá định kì bộ môn Ngữ văn THPT gồm kiểm tra, đánh giá giữa kì và kiểm tra, đánh giá cuối kì, được thực hiện thông qua: bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính), dự án học tập Thời gian làm bài kiểm tra,
Trang 16đánh giá định kì bằng bài kiểm tra trên giấy thời gian là 90 phút Đề kiểm tra được xây dựng dựa trên ma trận, đặc tả của đề, đáp ứng theo mức độ cần đạt của môn học, hoạt động giáo dục quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành.
b) Hệ số điểm kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì bộ môn Ngữ văn THPT
- Điểm kiểm tra, đánh giá thường xuyên (viết tắt là ĐĐGtx): tính hệ số 1;
- Điểm kiểm tra, đánh giá giữa kì (viết tắt là ĐĐGgk): tính hệ số 2;
- Điểm kiểm tra, đánh giá cuối kì (viết tắt là ĐĐGck): tính hệ số 3.
2.1.2 Xây dựng ma trận, đặc tả đề kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26 nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.1.2.1 Ma trận đề kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo
thông tư 26/2020/TT- BGDĐT
Một trong những mục đích của kiểm tra đánh giá là sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để ra những quyết định liên quan đến quá trình học tập của người học Vì vậy, bài kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn cần được thiết
kế khoa học, phù hợp với mục tiêu đánh giá, có độ tin cậy và độ giá trị nằm trong khoảng cho phép Để thiết kế được một đề kiểm tra đạt chất lượng như thế, cần thiết phải xây dựng một bản ma trận đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a Khái niệm ma trận đề kiểm tra
- Ma trận đề kiểm tra là bản thiết kế đề kiểm tra chứa đựng những thông tin về cấu trúc cơ bản của đề kiểm tra như: thời lượng, số câu hỏi, dạng thức câu hỏi; lĩnh vực kiến thức, cấp độ năng lực của từng câu hỏi, thuộc tính các câu hỏi ở từng vị trí…
- Ma trận đề kiểm tra cho phép tạo ra nhiều đề kiểm tra có chất lượng tương đương
- Có nhiều phiên bản Ma trận đề kiểm tra Mức độ chi tiết của các ma trận này phụ thuộc vào mục đích và đối tượng sử dụng.
b Cấu trúc một bảng ma trận đề kiểm tra
Cấu trúc 1 bảng ma trận đề kiểm tra gồm các thông tin như sau:
- Tên Bảng ma trận
Trang 17- Cấu trúc từng phần + Cấu trúc và tỷ trọng từng phần + Các câu hỏi trong đề kiểm tra với sự chi tiết về dạng thức câu hỏi, lĩnh vực kiến thức, Cấp độ năng lực đánh giá, thời gian dự kiến giải quyết nội dung của từng câu hỏi, vị trí câu hỏi trong đề kiểm tra và các thông tin hỗ trợ khác
c Thông tin cơ bản của ma trận đề kiểm tra:
đề kiểm tra hoàn chỉnh Bản đặc tả đề kiểm tra cung cấp thông tin về cấu trúc
đề kiểm tra, hình thức câu hỏi, số lượng câu hỏi ở mỗi loại, và phân bố câu hỏi trên mỗi mục tiêu đánh giá.
Bản đặc tả đề kiểm tra giúp nâng cao độ giá trị của hoạt động đánh giá, giúp xây dựng đề kiểm tra đánh giá đúng những mục tiêu dạy học dự định được đánh giá Nó cũng giúp đảm bảo sự đồng nhất giữa các đề kiểm tra dùng
Trang 18để phục vụ cùng một mục đích đánh giá Bên cạnh lợi ích đối với hoạt động kiểm tra đánh giá, bản đặc tả đề kiểm tra có tác dụng giúp cho hoạt động học tập trở nên rõ ràng, có mục đích, có tổ chức và có thể kiểm soát được Người học có thể sử dụng để chủ động đánh giá việc học và tự chấm điểm sản phẩm học tập của mình Còn người dạy có thể áp dụng để triển khai hướng dẫn các nhiệm vụ, kiểm tra và đánh giá Bên cạnh đó, nó cũng giúp các nhà quản lý giáo dục kiểm soát chất lượng giáo dục của đơn vị mình.
b Cấu trúc bản đặc tả đề kiểm tra môn Ngữ văn THPT
Bản đặc tả đề kiểm tra môn Ngữ văn THPT xác định rõ mục đích của bài kiểm tra, những mục tiêu dạy học mà bài kiểm tra sẽ đánh giá, ma trận phân bố câu hỏi theo nội dung dạy học và mục tiêu dạy học, cụ thể như sau: (i) Mục đích của đề kiểm tra
Phần này cần trình bày rõ đề kiểm tra sẽ được sử dụng phục vụ mục đích
gì liên quan đến kiến thức, kĩ năng cà thái độ học tập của học sinh thông qua
môn Ngữ văn Các mục đích sử dụng của đề kiểm tra có thể bao gồm (1 hoặc
Đánh giá việc thực hiện mục tiêu giáo dục, dạy học.
Đánh giá kết quả học tập (hay việc làm chủ kiến thức, kỹ năng) của người học so với mục tiêu giáo dục, dạy học đã đề ra.
Chẩn đoán điểm mạnh, điểm tồn tại của người học để có hoạt động giáo dục, dạy học phù hợp.
Đánh giá trình độ, năng lực của người học tại thời điểm bắt đầu và kết thúc một khóa học để đo lường sự tiến bộ của người học hay hiệu quả của khóa học.
(ii) Hệ mục tiêu dạy học/ tiêu chí đánh giá Phần này trình bày chi tiết mục tiêu dạy học: những kiến thức và năng lực mà người học cần chiếm lĩnh và sẽ được yêu cầu thể hiện thông qua bài
Trang 19kiểm tra Những tiêu chí để xác định các cấp độ đạt được của người học đối với từng mục tiêu dạy học.
Có thể sử dụng các thang năng lực để xác định mục tiêu dạy học/ tiêu chí đánh giá, chẳng hạn thang năng lực nhận thức của Bloom
(iii) Bảng đặc tả đề kiểm tra Đây là một bảng có cấu trúc hai chiều, với một chiều là các chủ đề kiến thức và một chiều là các cấp độ năng lực mà người học sẽ được đánh giá thông qua đề kiểm tra Với mỗi chủ đề kiến thức, tại một cấp độ năng lực, căn
cứ mục tiêu dạy học, người dạy đưa ra một tỷ trọng cho phù hợp
(iv) Cấu trúc đề kiểm tra Phần này mô tả chi tiết các hình thức câu hỏi sẽ sử dụng trong đề kiểm
tra; phân bố thời gian và điểm số cho từng câu hỏi
Trang 202.3 Xây dựng các dạng đề kiểm tra và tiêu chí kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.3.1 Yêu cầu cơ bản đối với đề kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.3.1.1 Đề kiểm tra tự luận có giới hạn thời gian, phương thức, địa điểm làm bài
Tự luận là dạng kiểm tra quen thuộc, được sử dụng phổ biến trong nhà trường Nó cho phép học sinh trả lời bằng cách tự lựa chọn, tổng hợp và trình bày những tri thức phù hợp nhất, với một giới hạn tương đối rộng về nội dung Do vậy, tự luận có thể đánh giá được khả năng phân tích, tổng hợp và
sự sáng tạo trong trình bày-một bài luận của học sinh Câu hỏi tự luận có các dạng cụ thể: Câu hỏi tự luận hạn chế tức là dạng câu hỏi học sinh có xác suất
dự đoán câu trả lời cao Dạng tự luận hạn chế cung cấp thông tin giới hạn câu trả lời trong phạm vi nhỏ hơn, người trả lời có thể ước lượng được độ dài của câu trả lời Loại bài kiểm tra này phù hợp với phần đọc hiểu văn bản, có ưu thế trong việc đánh giá năng lực HS dễ dàng hơn và độ tin cậy cao hơn Ngoài ra có dạng câu hỏi tự luận mở rộng, tức là dạng câu hỏi mà số lượng đáp án nhiều hơn số lượng câu dẫn Dạng tự luận này bao gồm các loại câu hỏi có phạm vi trả lời mở rộng, khái quát Học sinh tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức Loại câu này có thể phát huy khả năng phân tích, tổng hợp, óc sáng tạo, thể hiện sâu sắc nhận thức suy nghĩ của người học, phù hợp với việc kiểm tra đánh giá thông qua bài làm văn
Trang 21Đề kiểm tra đánh giá định kì theo hình thức tự luận nhằm phát triển phẩm chất, năng lực HS có giới hạn thời gian cụ thể là 90 phút, phương thức làm bài trên giấy thi, địa điểm làm bài tại phòng học của nhà trường Trong hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, câu hỏi tự luận chiếm ưu thế trong việc giúp giáo viên xem xét, nắm bắt khả năng tiếp thu, chuyển hoá suy nghĩ, nhận thức liên quan đến kiến thức, kĩ năng học tập bộ môn, đặc biệt là khả năng tự nhận thức, tự trưởng thành của học sinh thông qua quá trình học tập
bộ môn Việc đánh giá năng lực Ngữ văn thông qua tự luận có chú trọng phát triển kĩ năng tư duy sẽ tránh được tình trạng học vẹt, chọn đáp án xác suất ngẫu nhiên và giúp người học rèn luyện tổng hợp các năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo…, đồng thời bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất cần thiết như trung thực, trách nhiệm, yêu thương, tự tin, bản lĩnh…
2.3.1.2 Đề kiểm tra tự luận có giới hạn cấu trúc, phạm vi ngữ liệu, mức độ kiến thức cần kiểm tra, đánh giá bao gồm:
Phần 1: Đọc hiểu
Giới hạn ngữ liệu: Đọc hiểu các văn bản/đoạn trích thuộc các thể loại tương ứng với chương trình Đọc văn theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 (Chương trình Chuẩn), nội dung đọc hiểu trong đề bài kiểm tra định kì tập trung khai thác ngữ liệu ngoài SGK, có
sự phù hợp với phạm vi chương trình, sắp xếp và chọn lựa theo cụm thể loại, thành phần văn học Bao gồm: đọc hiểu các văn bản/ đoạn trích văn học dân gian (sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao…) các thể loại văn học Trung đại (phú, cáo, thơ Đường luật, nghị luận, truyền kì, truyện thơ Nôm, ngâm khúc…) các thể loại văn học nước ngoài (thơ Đường, thơ Hai Cư, tiểu thuyết chương hồi…)
Trang 22Phần hai: Làm văn, bao gồm các dạng thức cơ bản:
- Làm văn tự sự gồm hai tiểu loại: Kể chuyện theo cốt truyện tự mình xây dựng xoay quanh các đề tài gần gũi với lứa tuổi và kể chuyện dựa trên câu chuyện đã có Yêu cầu chủ yếu là phát triển cốt truyện, xây dựng kết thúc câu chuyện theo hướng khác với bản kể ở SGK, liên quan đến các tác phẩm
(đoạn trích) tự sự dân gian: Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săn - sử thi
Tây Nguyên), Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy, Uy-lít-xơ
trở về (trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp), Tấm Cám, Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
- Làm văn nghị luận về văn bản/đoạn trích tự sự, trữ tình dân gian Bao
gồm cảm nhận nhân vật trong đoạn trích trong các văn bản Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên), Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy, Tấm Cám, Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày, Uy-lít-xơ trở về (trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp); hay nghị luận về ca dao về chủ đề than thân yêu thương tình nghĩa (bài số 1, 4, 6) ca dao hài hước (bài
thơ hai-cư của Ba-sô (bài 1, 2, 3, 6)
- Nghị luận về văn bản/đoạn trích tự sự thuộc thể loại truyền kì: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ); nghị luận về đoạn trích Hồi trống
Cổ thành (Trích Tam quốc diễn nghĩa) của La Quán Trung
- Nghị luận về văn bản/đoạn trích thuộc thể văn biền ngẫu: Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi)
- Nghị luận về đoạn trích thể ngâm khúc và truyện thơ: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm – nguyên tác Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm), về đọan trích Truyện Kiều ( Nguyễn Du): Trao duyên, Chí khí anh hùng thuộc thể loại truyện thơ Nôm
- Làm văn thuyết minh về tác phẩm, tác giả, một thể loại văn học đã học trong Ngữ văn 10:
Trang 232.3.2 Tiêu chí kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông
tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
2.3.2.1 Tiêu chí kiểm tra đánh giá định kì phần Đọc hiểu trong môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
Theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh, với phần Đọc hiểu, mức độ kiến thức cần kiểm tra, đánh giá được cụ thể qua 6 dạng thức câu hỏi như sau:
Nhận biết:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt, thể loại, thể thơ của văn bản/đoạn trích/ Xác định được cốt truyện, các sự việc chi tiết tiêu biểu, nhân vật trong văn bản/đoạn trích/ Xác định thao tác lập luận, đối tượng nghị luận Câu 2: Chỉ ra thông tin trong văn bản/đoạn trích/ Chỉ ra biện pháp tu từ
và nêu hiệu quả nghệ thuật Câu 3: Nhận diện đặc điểm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp, các nhân tố tham gia giao tiếp thể hiện trong văn bản/đoạn trích
Thông hiểu:
Câu 4: Hiểu được đặc sắc về nội dung của văn bản/đoạn trích: chủ đề,
tư tưởng, ý nghĩa của hình tượng nhân vật, ý nghĩa của sự việc chi tiết tiêu biểu…
Câu 5: Hiểu được một số đặc trưng của thể loại thể hiện trong văn bản/đoạn trích; Hiểu được đặc sắc về nghệ thuật của văn bản/ đoạn trích: nghệ thuật trần thuật, xây dựng nhân vật, chi tiết hoang đường kì ảo…
Vận dụng:
Câu 6: Nhận xét giá trị của các yếu tố nội dung, hình thức trong văn bản/Rút ra bài học tâm đắc, thông điệp ý nghĩa cho bản thân từ nội dung văn bản
2.3.2.2 Tiêu chí kiểm tra đánh giá định kì phần Làm văn trong môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh
Trang 24a Với đề bài làm văn nghị luận, nội dung kiểm tra đánh giá tập trung vào các mức độ :
Nhận biết:
- Xác định được kiểu bài nghị luận, vấn đề cần nghị luận.
- Giới thiệu thông tin về thời đại, tác giả, tác phẩm, đoạn trích theo giới hạn
- Nhận xét, đánh giá giá trị của tác phẩm, đóng góp và vai trò của tác giả trong đời sống văn học.
Vận dụng cao:
- Liên hệ, so sánh với các tác phẩm khác để đánh giá, làm nổi bật vấn đề nghị luận; vận dụng kiến thức lí luận văn học để có những phát hiện sâu sắc, mới
mẻ vấn đề nghị luận;
- Diễn đạt sáng tạo, giàu hình ảnh, có giọng điệu riêng.
- Đánh giá được vai trò, ý nghĩa của thông điệp rút ra từ tác phẩm, đoạn trích
đối với cuộc sống, xã hội hiện tại.
b Với đề bài làm văn tự sự, nội dung kiểm tra đánh giá tập trung vào
các mức độ : + Kể chuyện theo cốt truyện tự mình xây dựng
Nhận biết:
- Xác định được kiểu bài tự sự, câu chuyện cần kể.
- Xác định bố cục bài văn, sự kiện chính, nhân vật chính.
Thông hiểu:
- Trình bày được các sự việc chính theo trình tự thời gian/không gian/tâm lý nhân vật…
Trang 25- Hiểu vai trò của ngôi kể; đối thoại và độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn
- Xác định được kiểu bài tự sự, câu chuyện cần kể
- Nhớ được cốt truyện, nhân vật, các sự việc chi tiết tiêu biểu của văn bản/đoạn trích tự sự dân gian đã học.
Trang 26Nhận biết:
- Xác định kiểu bài, đối tượng cần thuyết minh: tác giả, tác phẩm cụ thể
- Nắm rõ thông tin về tác giả, tác phẩm, thể loại văn học đã học.
Nhóm giáo viên thực hiện đề tài sáng kiến bằng cách tham gia công tác
ra đề chung cho toàn khối 10 trong các đợt kiểm tra giữa kì, cuối kì của nhà trường theo bảng đặc tả và khung ma trận Sau khi tiến hành áp dụng xây dựng đề thực nghiệm và ra đề đối chứng, nhóm GV tiến hành đánh giá những kết quả đạt được về năng lực của HS qua quan sát của GV và qua phiếu khảo sát HS (Phụ lục 2) Từ đó, đề tài so sánh kết quả đánh giá ở lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng để rút ra những kết luận cần thiết.
Trang 273.4 Thiết kế giáo án kiểm tra đánh giá định kì môn Ngữ văn THPT theo thông tư 26/2020/TT- BGDĐT nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh: Đề kiểm tra giữa kì II
I MỤC TIÊU KIỂM TRA
- Rèn luyện phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
- Rèn luyện năng lực:
+ Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp + Năng lực cảm thụ thẩm mĩ + Năng lực tự học và tư duy sáng tạo
- Kiểm tra, đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức của học sinh qua ba mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng, trong đó chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực đọc – hiểu và tạo lập văn bản của học sinh.
- Rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
1 Kiến thức
- Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng trong
chương trình Ngữ Văn của học sinh qua các bài đã học về Văn học Trung đại Việt Nam.
+ Các văn bản tự sự, trữ tình Trung đại + Văn bản thuộc thể ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam
- Vận dụng được những kiến thức cơ bản vềngâm khúc, tự sự trung đại Việt Nam để viết bài văn nghị luận văn học.
2 Kĩ năng
- Kĩ năng đọc- hiểu văn bản
- Kĩ năng thu thập, lựa chọn và xử lí thông tin liên quan đến văn bản
- Kĩ năng lựa chọn các từ ngữ và hình ảnh tiêu biểu trong văn bản
- Biết vận dụng kĩ năng tạo lập văn bản để viết văn nghị luận.
- Vận dụng được kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết bài văn nghị luận văn học.
3 Thái độ, tình cảm
- Chủ động, tích cực trong việc lựa chọn hướng giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất.
- Yêu mến, tự hào về văn học dân tộc.
- Có ý thức giữ gìn và phát huy giá trị văn học dân tộc
- Có vận dụng sáng tạo các kiến thức và kĩ năng đã học vào cuộc sống.
II HÌNH THỨC KIỂM TRA
- Hình thức kiểm tra: Tự luận
- Thời gian: 90 phút III CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
Trang 28Tỉ lệ (%)
Thời gian (phút)
Tỉ lệ ( %)
Thời gian (phút)
Tỉ lệ (%)
Thời gian (phút)
Tỉ lệ (%)
Thời gian (phút)
Số câu hỏi
Thời gian (phút)
- Tất cả các câu hỏi trong đề kiểm tra là câu hỏi tự luận.
- Cách tính điểm của mỗi câu hỏi được quy định chi tiết trong Đáp án và hướng dẫn
Nội dung kiến thức/k
ĩ năng
Đơn vị kiến thức/
n biết
Thôn
g hiểu
Vận dụn
g
Vận dụn g cao
HIỂU
- Đọc hiểu văn bản/đoạ
n trích thuộc
Nhận biết:
- Xác định được phương thức biểu đạt, thể thơ của văn bản/đoạn trích.
- Xác định các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong văn bản/đoạn