1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019

116 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2019
Tác giả Trần Thị Dịu
Người hướng dẫn TS.BS. Phùng Mạnh Thắng
Trường học University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Pharmacology - Clinical Pharmacology
Thể loại Luận văn thạc sĩ dược học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 5,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN (17)
    • 1.1 Nhiễm khuẩn huyết (17)
      • 1.1.1 Định nghĩa (17)
      • 1.1.2 Phân loại nhiễm khuẩn huyết (18)
    • 1.2 Tình hình dịch tễ nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn (19)
    • 1.3 Sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn huyết (24)
  • CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (26)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu (27)
      • 2.2.2 Quy trình thu thập dữ liệu (27)
      • 2.2.3. Một số quy ước, định nghĩa trong nghiên cứu (28)
    • 2.3 Tiêu chí đánh giá và phương pháp xử lý số liệu (31)
  • CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1 Khảo sát đặc điểm nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm (36)
    • 3.2 Khảo sát đặc điểm đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm thường gây nhiễm khuẩn huyết (41)
    • 4.1 Khảo sát đặc điểm nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm (56)
    • 4.2 Khảo sát đặc điểm đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm thường gây nhiễm khuẩn huyết (59)
    • 4.3 Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh, đánh giá mối tương quan giữa sử dụng kháng sinh ban đầu thích hợp với đặc điểm kháng thuốc và tình trạng xuất viện (64)
    • 4.4 Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (69)
      • 4.4.1 Ưu điểm của nghiên cứu (69)
      • 4.4.2 Hạn chế của nghiên cứu (70)
  • KẾT LUẬN (5)

Nội dung

TỔNG QUAN

Nhiễm khuẩn huyết

Nhiễm khuẩn huyết là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do các vi khuẩn lưu hành trong máu gây ra, với triệu chứng lâm sàng đa dạng, suy đa tạng, và sốc nhiễm khuẩn có tỷ lệ tử vong rất cao (20-50%), trong đó sốc nhiễm khuẩn thể hiện mức độ nặng của bệnh Định nghĩa quốc tế thứ ba về nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn được công bố vào năm 2016 để tiêu chuẩn hóa thuật ngữ, giúp thống nhất cách nhận diện bệnh Các định nghĩa trước đây chủ yếu tập trung vào các thay đổi viêm, có thể không liên quan đến rối loạn chức năng nội tạng, trong khi hiện tại, nhiễm khuẩn huyết được định nghĩa là rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do phản ứng mất kiểm soát của vật chủ, thể hiện qua việc gia tăng ít nhất 2 điểm trong thang điểm SOFA, dự đoán tỷ lệ tử vong tại bệnh viện trên 10% ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết.

Sốc nhiễm khuẩn là tình trạng nhiễm khuẩn huyết nặng nề, gây ra tụt huyết áp nghiêm trọng Dấu hiệu nhận biết bao gồm huyết áp tâm thu giảm xuống dưới 90mmHg, huyết áp trung bình dưới 70mmHg, hoặc huyết áp tâm thu giảm hơn 40mmHg Ngoài ra, tình trạng huyết áp giảm dưới 2 lần độ lệch chuẩn so với giá trị bình thường của lứa tuổi cũng là dấu hiệu quan trọng Sốc nhiễm khuẩn có thể không hồi phục sau khi đã bù dịch hoặc cần sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi định nghĩa nhiễm khuẩn huyết dựa trên tiêu chuẩn giám sát trong tài liệu “Quy trình thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn” do Bệnh viện Chợ Rẫy phát hành năm 2020 Định nghĩa này giúp đảm bảo sự chính xác và đồng bộ trong việc xác định các ca nhiễm khuẩn huyết theo các hướng dẫn cập nhật và thống nhất Việc sử dụng tiêu chuẩn này phù hợp với các quy định y tế và quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và điều trị nhiễm khuẩn huyết.

Nhiễm khuẩn huyết phải thỏa mãn ít nhất một trong các tiêu chuẩn:

Nhiễm khuẩn huyết do tác nhân gây bệnh đã được xác định: người bệnh có ít nhất một kết quả cấy máu dương tính với vi khuẩn gây bệnh.

Nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn hội sinh được chẩn đoán khi có ít nhất hai kết quả cấy máu dương tính với cùng một loại vi khuẩn hội sinh Bệnh nhân cũng cần có ít nhất một trong các triệu chứng gồm sốt trên 38°C hoặc hạ huyết áp Đặc biệt, đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi, các triệu chứng đi kèm có thể là sốt trên 38°C, hạ huyết áp, hạ thân nhiệt dưới 36°C, ngưng thở hoặc nhịp tim chậm.

Nhiễm khuẩn huyết được xác định sau hơn 48 giờ nhập viện và không có triệu chứng lâm sàng hay đang ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện 5,9

1.1.2 Phân loại nhiễm khuẩn huyết

Phân loại trong nghiên cứu sử dụng phân loại theo nguồn gốc nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn huyết tiên phát và nhiễm khuẩn huyết thứ phát 5,9

Nhiễm khuẩn huyết tiên phát là tình trạng nhiễm trùng trong máu mà vi sinh vật được phân lập không trùng với các vi sinh vật từ các mẫu bệnh phẩm khác trong cơ thể hoặc không có kết quả cấy từ vị trí khác Nhiễm khuẩn huyết tiên phát được phân thành hai nhóm chính: nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đặt đường truyền trung tâm (CLABSI) và nhiễm khuẩn huyết không liên quan đến đặt đường truyền trung tâm (không-CLABSI) Thời điểm phát hiện nhiễm trùng huyết thứ phát thường nằm trong khoảng ±3 ngày kể từ ngày xét nghiệm chẩn đoán dương tính đầu tiên và trong khung thời gian xảy ra biến cố bệnh lý.

Tình hình dịch tễ nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn

Nhiễm khuẩn huyết bệnh viện là một trong bốn nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện, chiếm 55,3% tổng số ca nhiễm khuẩn huyết Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền là 12,3%, với tỷ lệ tử vong tại khu ICU lên tới 35% Tại các nước châu Âu, nhiễm khuẩn huyết bệnh viện chiếm tỷ lệ 12%, đứng sau viêm phổi bệnh viện và nhiễm khuẩn đường tiểu.

Nghiên cứu chuyên sâu về Chăm sóc Quốc gia (ICON) đã cung cấp dữ liệu dịch tễ học toàn cầu trên hơn 10.000 bệnh nhân ICU, trong đó 29,5% (2.973 bệnh nhân) bị nhiễm khuẩn huyết khi nhập viện hoặc trong quá trình điều trị trong ICU, giúp nâng cao nhận thức và cải thiện các chiến lược điều trị nhiễm khuẩn huyết trong chăm sóc tích cực.

Tại Việt Nam, nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Nhiệt đới trung ương trên

477 bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết từ năm 2011 đến năm 2013 cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết bệnh viện là 16,1% so với 83,9% nhiễm khuẩn huyết không phải bệnh viện 13

Nghiên cứu năm 2019 tại 78 bệnh viện ở Mỹ cho thấy tỷ suất nhiễm khuẩn CLABSI là 0,85 trên 1000 ngày sử dụng đường truyền trung tâm và 5,63 trên 1000 bệnh nhân- ngày, highlighting tầm quan trọng của các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn trung tâm nhằm giảm thiểu nguy cơ biến chứng nghiêm trọng.

Các nhóm có nguy cơ cao mắc nhiễm khuẩn huyết bệnh viện bao gồm người từ 65 tuổi trở lên, những bệnh nhân mắc bệnh mạn tính như đái tháo đường, bệnh phổi, ung thư và bệnh thận, cùng với người suy giảm miễn dịch và trẻ em dưới 1 tuổi Những đối tượng này dễ dàng gặp phải các biến chứng nghiêm trọng do nhiễm khuẩn huyết khi điều trị tại bệnh viện Do đó, việc nâng cao nhận thức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa đặc biệt cho các nhóm nguy cơ này là cần thiết để giảm thiểu các nguy cơ nhiễm trùng huyết.

Các dữ liệu vi sinh học trên thế giới và tại Việt Nam đều cho thấy, năm tác nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện và nhiễm khuẩn huyết bệnh viện thường gặp gồm Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Klebsiella pneumoniae và Acinetobacter baumannii Những tác nhân này đóng vai trò chủ yếu trong các ca nhiễm khuẩn bệnh viện, gây ra các biến chứng nặng nề cho bệnh nhân Việc xác định rõ các tác nhân vi sinh này giúp cải thiện chiến lược phòng ngừa, kiểm soát nhiễm khuẩn và nâng cao hiệu quả điều trị tại các cơ sở y tế Đồng thời, sự đa dạng của các tác nhân vi sinh trên thế giới và tại Việt Nam yêu cầu các biện pháp phòng ngừa phù hợp, cập nhật dựa trên dữ liệu vi sinh học mới nhất.

Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii, and Staphylococcus aureus are common pathogens involved in bloodstream infections, with Gram-negative bacteria accounting for 60-70% of cases Among these, Escherichia coli and Klebsiella pneumoniae are the most frequently identified bacterial species responsible for hospital-acquired bacteremia Proper understanding of these pathogens is crucial for effective diagnosis and treatment of bloodstream infections in healthcare settings.

Theo nghiên cứu SENTRY, nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm ngày càng tăng, trong đó 4 tác nhân chính chiếm đến 37,7%, bao gồm Escherichia coli với tỉ lệ 20,5%, Klebsiella pneumoniae 7,7%, Pseudomonas aeruginosa 5,3% và Enterococcus faecalis 5,2% Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và kiểm soát các vi khuẩn Gram âm trong phòng ngừa và điều trị nhiễm khuẩn huyết.

Trong báo cáo đe dọa năm 2019, các vi khuẩn Gram âm gây bệnh nằm trong nhóm có mức độ đe dọa khẩn cấp và đe dọa nghiêm trọng, đặc biệt là những vi khuẩn đa kháng thuốc hoặc tiết ESBL như Acinetobacter kháng thuốc Các vi khuẩn này đóng vai trò đáng lo ngại trong lĩnh vực y tế do khả năng kháng thuốc cao, gây khó khăn trong điều trị và kiểm soát nhiễm trùng Việc nhận diện và kiểm soát các vi khuẩn Gram âm này là yếu tố then chốt để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Carbapenem hay Pseudomonas aeruginosa đa kháng thuốc.

Bảng 1.1 Vi khuẩn Gram âm trong báo cáo đe dọa 2019 23

Mức độ đe dọa Tác nhân kháng thuốc Đe dọa khẩn cấp Acinetobacter kháng Carbapenem

Enterobacteriaceae kháng Carbapenem Neisseria gonorrhoeae kháng thuốc. gonorrhoeae) Đe dọa nghiêm trọng Campylobacter kháng thuốc

Enterobacteriaceae sản xuất ESBL Pseudomonas aeruginosa đa kháng thuốc aeruginosa)

Salmonella nontyphoidal kháng thuốc Salmonella serotype kháng thuốc

Kháng thuốc (AMR) là tình trạng vi sinh vật như vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh trùng kháng lại các thuốc kháng sinh đã từng hiệu quả, gây ra nhiễm khuẩn kéo dài, gia tăng nguy cơ tử vong và lây lan cho cộng đồng AMR phát sinh do quá trình lạm dụng thuốc kháng sinh và sử dụng không hợp lý trong điều trị, dẫn đến hiệu quả của các phương pháp điều trị giảm sút Tại Việt Nam, tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc đang gia tăng nhanh và ở mức báo động, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí điều trị, thời gian điều trị kéo dài và sức khỏe cộng đồng Nếu không có các biện pháp can thiệp phù hợp, các quốc gia sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu thuốc để điều trị các bệnh truyền nhiễm, đe dọa sự phát triển bền vững của xã hội.

Vi khuẩn đa kháng thuốc (MDR) gây ra khoảng 25% các trường hợp nhiễm khuẩn huyết khó điều trị, do hạn chế lựa chọn kháng sinh phù hợp Tình trạng này làm giảm khả năng điều trị hiệu quả và làm tăng tỷ lệ tử vong lên đến 25% Chính vì vậy, kiểm soát và phòng tránh nhiễm khuẩn MDR là ưu tiên hàng đầu trong công tác y tế hiện nay.

Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Pseudomonas aeruginosa là những vi khuẩn Gram âm kháng thuốc phố biến được phân lập từ bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết 16,22

Nghiên cứu của Timsit JF và cộng sự cho thấy tỷ lệ kháng thuốc của các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết tại ICU ở Đông Nam Á rất cao Cụ thể, Acinetobacter baumannii kháng Carbapenem có tỷ lệ từ 26 đến 63%, Pseudomonas aeruginosa đa kháng từ 34 đến 43%, Escherichia coli kháng Cephalosporin mở rộng từ 20 đến 61%, trong khi Klebsiella pneumoniae kháng Carbapenem dao động từ 0 đến 52%, và kháng Cephalosporin từ 53 đến 100% Các số liệu này cho thấy sự gia tăng đáng báo động của vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường ICU, đặt ra thách thức lớn trong điều trị nhiễm khuẩn huyết bệnh viện tại khu vực Đông Nam Á.

Escherichia coli là một trong những mầm bệnh thường gặp nhất gây ra nhiễm khuẩn huyết cả ở cộng đồng và nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiều loại

Escherichia coli kháng nhiều loại kháng sinh không phải Beta-lactam như Aminoglycoside và Fluoroquinolones, do các cơ chế kháng thuốc khác nhau Tỷ lệ kháng Fluoroquinolones ở E coli đặc biệt cao và liên quan mạnh đến người trên 50 tuổi, trong khi tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn huyết ở nhóm tuổi 18-84 tuổi lên tới 27%, cho thấy mức độ nguy hiểm và kháng thuốc đáng kể của vi khuẩn này.

Nhiễm khuẩn huyết do Klebsiella pneumoniae gây ra có tỷ lệ tử vong khoảng 26%, cao hơn đáng kể khi vi khuẩn kháng kháng sinh Kháng thuốc Carbapenem đã trở thành một thách thức lớn trong dịch tễ học và điều trị nhiễm trùng này Việc kháng thuốc làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện có, đòi hỏi các nghiên cứu và chiến lược mới để kiểm soát sự lây lan của chủng kháng thuốc Tăng cường giám sát vi sinh và sử dụng kháng sinh hợp lý là các yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu tỷ lệ tử vong do nhiễm Klebsiella pneumoniae kháng thuốc.

Klebsiella pneumoniae Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết do Klepsiella pneumoniae

Kháng Cephalosporin thế hệ thứ ba ở Klebsiella pneumoniae có sự phân bố đa dạng, từ 2,7% ở Phần Lan đến 88% tại Serbia, với tỷ lệ cao nhất được ghi nhận tại Trung, Đông và Nam của Châu Âu Tỷ lệ kháng thuốc này ở các quốc gia như Uganda, miền Đông Trung Quốc và Ấn Độ lần lượt là 20%, 28-33% và 50%, trong khi tại bệnh viện đại học Nam Phi là 33,3% Các mẫu phân lập Klebsiella pneumoniae đã cho thấy đây là vi khuẩn đa kháng, chỉ còn nhạy cảm với các thuốc như Colistin, Fosfomycin và Tigecycline Một khảo sát đa trung tâm tại Ý cho thấy 43% các mẫu Klebsiella pneumoniae kháng Colistin, và nghiên cứu khác cho thấy kháng Colistin tăng hơn 3 lần trong 4-5 năm qua, đi kèm tỷ lệ tử vong lên tới 51%.

Pseudomonas aeruginosa strains exhibit high resistance rates to antibiotics such as Aminoglycosides, Ceftazidime, Quinolones, and Piperacillin-Tazobactam Additionally, the emergence of Colistin resistance in Pseudomonas aeruginosa has been globally reported, highlighting a growing challenge in managing infections caused by this pathogen.

Pseudomonas aeruginosa đa kháng có khả năng đề kháng cao, chứa nhiều gen kháng thuốc và thường liên quan đến kết quả lâm sàng không thuận lợi.

Sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn huyết

Theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y Tế năm 2015, mục tiêu chính trong điều trị nhiễm khuẩn huyết là ngăn ngừa bệnh tật và tử vong bằng cách nhận biết và can thiệp nhanh chóng Điều trị nhằm thực hiện sớm các liệu pháp cần thiết như hồi sức và kháng khuẩn để giảm thiểu rối loạn chức năng nội tạng, loại bỏ nguồn lây nhiễm, đồng thời tránh các phản ứng phụ không mong muốn của điều trị và đảm bảo sự lựa chọn phương pháp hiệu quả-kinh tế.

 Điều trị sớm ngay trong giờ đầu khi nghĩ đến nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn sau khi đã cấy máu.

Trong điều trị, cần sử dụng liệu pháp kinh nghiệm theo chiến lược xuống thang, kết hợp kháng sinh phổ rộng để bao phủ tác nhân gây bệnh, đồng thời phối hợp kháng sinh nếu cần thiết Kháng sinh cần thấm tốt vào tổ chức bị nhiễm, và sau đó điều chỉnh theo kháng sinh đồ để sử dụng kháng sinh hướng hẹp, nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh, nhằm tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu kháng thuốc.

 Ưu tiên sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch.

Việc chậm trễ hàng giờ trong việc điều trị kháng sinh cho bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết đã dẫn đến tăng nguy cơ tử vong của bệnh nhân.

Việc lựa chọn kháng sinh phù hợp phụ thuộc vào tiền sử bệnh miễn dịch, bối cảnh lâm sàng và vị trí nghi ngờ nhiễm khuẩn Ngoài ra, các yếu tố như có thiết bị xâm lấn, tình hình đề kháng tại địa phương và dữ liệu vi khuẩn có sẵn cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định điều trị Điều này giúp tối ưu hóa hiệu quả kháng sinh, giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc và cải thiện kết quả điều trị bệnh nhân.

Sử dụng kháng sinh ban đầu thích hợp là yếu tố quyết định chính trong kết quả điều trị nhiễm khuẩn nặng, giúp giảm tỷ lệ tử vong và ngăn chặn sự tiến triển của bệnh Việc bắt đầu điều trị kháng sinh càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng một giờ sau khi chẩn đoán, đặc biệt quan trọng trong nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn, vì nguy cơ chuyển biến xấu tăng 8% mỗi giờ trước khi bắt đầu điều trị Lựa chọn thuốc kháng sinh dựa trên các yếu tố về bệnh nhân, dự đoán nhiễm trùng và vi khuẩn đề kháng tại địa phương, với mục tiêu bao phủ cả vi sinh vật Gram dương và Gram âm điển hình Tuy nhiên, sự kháng thuốc của vi sinh vật và sự tiến hóa nhanh chóng của vi khuẩn khiến việc chọn lựa liệu pháp phù hợp ban đầu trở nên phức tạp hơn, đặc biệt ở các bệnh nhân nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe, khi các vi sinh vật kháng thuốc làm tăng khó khăn trong điều trị theo kinh nghiệm.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn Gram âm năm 2019.

 Được xác định nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn Gram âm tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.

 Nhiễm khuẩn huyết do tác nhân gây bệnh đã được xác định: người bệnh có ít nhất một kết quả cấy máu dương tính với vi khuẩn Gram âm.

Nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn hội sinh là tình trạng có ít nhất hai kết quả cấy máu dương tính với cùng một vi khuẩn hội sinh Gram âm Bệnh nhân cần có ít nhất một triệu chứng như sốt trên 38 độ hoặc hạ huyết áp để được chẩn đoán chính xác Đặc biệt, đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi, các triệu chứng có thể bao gồm sốt trên 38 độ, hạ huyết áp, hạ thân nhiệt dưới 36 độ, ngừng thở hoặc nhịp tim chậm Việc chẩn đoán sớm và chính xác giúp nâng cao hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn hội sinh.

 Thời gian xác định trong giai đoạn từ 1/1/2019 đến 31/12/2019.

 Có đầy đủ hồ sơ bệnh án.

 Có triệu chứng lâm sàng hay đang ở giai đoạn ủ bệnh ở thời điểm nhập viện

 Nghi ngờ ngoại nhiễm và mẫu máu cấy lại âm tính.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp cắt ngang hồi cứu, thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án nội trú cũng như dữ liệu tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Các thông tin đều được lấy từ những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và phù hợp tiêu chuẩn loại trừ Phương pháp này giúp đảm bảo độ chính xác và toàn diện trong việc phân tích dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện.

Thông tin được thu thập theo mẫu phiếu thu thập thông tin bệnh nhân để khảo sát các tiêu chí định trước.

2.2.2 Quy trình thu thập dữ liệu

Dựa trên dữ liệu từ khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, chúng tôi đã trích xuất danh sách bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn Gram âm trong thời gian nghiên cứu Danh sách này được gửi đến phòng Kế hoạch tổng hợp để nhân viên tại khoa tiến hành tìm kiếm hồ sơ bệnh án phù hợp Các bệnh án được chọn lọc dựa trên tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đã đề ra để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu.

Sơ đồ 2.1 Quy trình thu thập hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm năm 2019

Dữ liệu khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.

Danh sách nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn Gram âm.

Gửi danh sách lên phòng Kế Hoạch Tổng Hợp để tìm kiếm bệnh án.

Bệnh án thu thập được lựa chọn theo tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.

Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Bệnh án đưa vào nghiên cứu.

Danh sách nhiễm khuẩn huyết bệnh viện.

2.2.3 Một số quy ước, định nghĩa trong nghiên cứu

Nhiễm khuẩn huyết tiên phát là tình trạng vi khuẩn được phát hiện trong máu nhưng không trùng với vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm khác của cơ thể Nhiễm khuẩn huyết thứ phát bao gồm giai đoạn cửa số (khoảng ±3 ngày từ ngày sự kiện hoặc ngày chỉ định cấy máu) và khung thời gian biến cố là 14 ngày, tính từ ngày biến cố bằng ngày 1 Việc phân biệt rõ các giai đoạn này giúp chẩn đoán chính xác và định hướng điều trị hiệu quả.

Nhiễm khuẩn huyết thứ phát là tình trạng vi khuẩn trong máu trùng hợp với vi khuẩn trong các mẫu bệnh phẩm khác, xuất phát từ một nhiễm khuẩn ban đầu Đây là dạng nhiễm khuẩn máu xảy ra sau một bệnh lý nhiễm trùng chính, chứng tỏ sự lan truyền của vi khuẩn từ ổ nhiễm ban đầu vào hệ tuần hoàn Việc xác định chính xác vi khuẩn trong máu và các mẫu bệnh phẩm liên quan giúp chẩn đoán và điều trị hiệu quả nhiễm khuẩn huyết thứ phát.

Tiêu chuẩn xác định sử dụng kháng sinh ban đầu phù hợp với kháng sinh đồ:

 Kháng sinh được kê đơn vào ngày lấy mẫu máu có hoạt tính chống lại các mầm bệnh được xác định dựa trên kết quả kháng sinh đồ.

 Được thực hiện trong vòng 24 giờ sau khi lấy mẫu.

 Kháng sinh phải được kê đơn trong ít nhất 24 giờ.

Còn lại được phân loại là sử dụng kháng sinh ban đầu không phù hợp với kháng sinh đồ.

Phân loại đa kháng kháng sinh theo Magiorakos và cộng sự xác định MDR là vi khuẩn không nhạy cảm với ít nhất một kháng sinh trong ít nhất ba nhóm kháng sinh Điểm PBS được sử dụng để đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, dựa trên bảng điểm đánh giá trong phụ lục 2 Điểm NEWS giúp đánh giá mức độ nặng của các bệnh cấp tính và theo dõi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân thông qua bảng điểm tại phụ lục 2 Ngoài ra, điểm q SOFA là phương pháp đánh giá nhanh tình trạng suy đa tạng của bệnh nhân.

 Bệnh nhân thay đổi nhận thức: 1 điểm

 Nhịp thở nhanh >22 lần/ phút: 1 điểm

 Huyết áp tâm thu 14 ngày

Kết quả điều trị: Ổn, xuất viện, đỡ, chuyển tuyến, nặng, xin về.

Các kháng sinh được lựa chọn ban đầu.

Phân tích mô tả cho thấy tổng số bệnh nhân sau điều trị bằng kháng sinh ban đầu, đánh giá giá trị phần trăm các đặc điểm quan trọng Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa nhóm sử dụng kháng sinh ban đầu phù hợp và không phù hợp, dựa trên điểm số NEWS sau 3 ngày điều trị và điểm PBS sau 3 ngày Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn cũng được ghi nhận, làm nổi bật tầm quan trọng của việc lựa chọn kháng sinh chính xác để nâng cao hiệu quả điều trị.

Phân tích Chi bình phương: tổng số, phần trăm, giá trị p

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng ra viện của bệnh nhân bao gồm tuổi tác, điểm Charlson trên 2, mức điểm PBS/NEWS không giảm sau 3 ngày điều trị, cần thở máy, nhiễm khuẩn đa kháng, thời gian nằm viện trên 14 ngày trước khi xảy ra nhiễm khuẩn huyết, có tiền sử phẫu thuật hoặc chạy thận nhân tạo, kéo dài thời gian điều trị nhiễm khuẩn dưới 7 ngày, xuất hiện sốc nhiễm khuẩn, và sử dụng kháng sinh ban đầu không phù hợp theo kháng sinh đồ.

Phân tích logistic đơn giản: tổng số,phần trăm,giá trị p

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá (tiếp).

Mục tiêu Tiêu chí đánh giá Phương pháp đánh giá

3 Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh, đánh giá mối tương quan giữa sử dụng kháng sinh ban đầu thích hợp với đặc điểm kháng thuốc và tình trạng xuất viện

Các yếu tố nguy cơ bệnh nặng, xin về: điểm Charlson >2, thời gian điều trị nhiễm khuẩn (dưới 7 ngày), có sốc nhiễm khuẩn

Phân tích hồi qui logistic đa biến: B, p, OR, khoảng tin cậy 95%

Phân tích sống còn các biến có sốc nhiễm khuẩn, điểm Chalson lớn hơn 2 và thời gian điều trị nhỏ hơn

Mô hình hồi quy Cox: B, p,

Số liệu được quản lý và xử lý trên phần mềm Exel 2017 và SPSS 20.0.

Kết quả được xem có ý nghĩa thống kê khi p0.05), cho thấy việc chọn kháng sinh đúng hay sai không ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ số lâm sàng sau 3 ngày điều trị.

Phân tích so sánh điểm NEWS và điểm PBS tại ngày lấy mẫu và sau 3 ngày điều trị cho thấy sự giảm rõ ràng ở cả hai nhóm bệnh nhân, phản ánh sự cải thiện lâm sàng sau điều trị Kết quả có ý nghĩa thống kê với p=0,00 và p=0,01, cho thấy sự phù hợp hoặc không phù hợp của thuốc kháng sinh ban đầu đều có tác động đáng kể đến diễn biến bệnh Những bệnh nhân có điểm NEWS và PBS giảm sau 3 ngày điều trị thường đã ổn định, ít khi trở nặng hoặc phải chuyển tuyến điều trị dưới, trong khi các bệnh nhân không có tiến triển tích cực có thể cần xem xét lại phương pháp điều trị.

Bảng 3.14 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng ra viện của bệnh nhân. Đặc điểm Nặng, về (% ) Ổn, đỡ (% ) P

Tuổi – trung bình 55,7 49,3 0,16 Điểm Chalson>2 40 (46 %) 23 (19,3 %) 0,005

Bệnh nhân có điểm PBS sau 3 ngày điều trị không giảm

Bệnh nhân có điểm NEWS sau 3 ngày điều trị không giảm

Nhiễm vi khuẩn đa kháng 46 (39,7 %) 70 (60,3 %) 0,435 Thời gian nằm viện trên 14 ngày trước khi nhiễm khuẩn huyết

Thời gian điều trị nhiễm khuẩn

Sử dụng kháng sinh ban đầu không phù hợp với kháng sinh đồ.

Điểm Charlson trên 2, thời gian nằm viện hơn 14 ngày trước khi mắc nhiễm khuẩn huyết, thời gian điều trị dưới 7 ngày và xuất hiện sốc nhiễm khuẩn là các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng ra viện của bệnh nhân Những yếu tố này đều có ý nghĩa thống kê với mức p

Ngày đăng: 03/08/2023, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 2.2. Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá (Trang 31)
Bảng 2.2. Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá (tiếp). - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 2.2. Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá (tiếp) (Trang 32)
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá (tiếp). - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá (tiếp) (Trang 34)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ lựa chọn mẫu nghiên cứu. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ lựa chọn mẫu nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.5. Đặc điểm đề kháng của vi khuẩn. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.5. Đặc điểm đề kháng của vi khuẩn (Trang 42)
Bảng 3.6. Nguồn gốc nhiễm vi khuẩn Gram âm. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.6. Nguồn gốc nhiễm vi khuẩn Gram âm (Trang 43)
Bảng 3.7. Yếu tố nguy cơ nhiễm vi khuẩn đa kháng. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.7. Yếu tố nguy cơ nhiễm vi khuẩn đa kháng (Trang 44)
Bảng 3.8. Tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn thường gặp. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.8. Tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn thường gặp (Trang 45)
Bảng 3.8. Tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn thường gặp. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.8. Tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn thường gặp (Trang 46)
Bảng  3.12.  Tình  hình  các  kháng  sinh  phối  hợp  được  lựa  chọn  điều  trị ban đầu. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
ng 3.12. Tình hình các kháng sinh phối hợp được lựa chọn điều trị ban đầu (Trang 51)
Bảng 3.13. Đặc điểm của bệnh nhân sau khi điều trị bằng kháng sinh ban đầu phù hợp kháng sinh đồ. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.13. Đặc điểm của bệnh nhân sau khi điều trị bằng kháng sinh ban đầu phù hợp kháng sinh đồ (Trang 52)
Bảng 3.14. Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng ra viện của bệnh nhân. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.14. Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng ra viện của bệnh nhân (Trang 53)
Bảng 3.15. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới kết quả điều trị nặng, xin về. - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
Bảng 3.15. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới kết quả điều trị nặng, xin về (Trang 54)
PHỤ LỤC 2: BẢNG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BỆNH NHÂN - Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh và tình hình kháng kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết bệnh viện do vi khuẩn gram âm tại bệnh viện chợ rẫy năm 2019
2 BẢNG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BỆNH NHÂN (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm