1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương

62 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương
Tác giả Nguyễn Thị Ngà
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật pháp và Chính sách pháp luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 308,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG BAN HÀNH (3)
    • 1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật (3)
    • 1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành (5)
    • 1.3 Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ (9)
    • 1.4 Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở (13)
    • 2.1 Một số thành tựu trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương (18)
      • 2.1.3 Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương đã ngày càng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn (21)
      • 2.1.4 Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nhìn chung đã phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và kí kết (25)
    • 2.2 Những hạn chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương (27)
      • 2.2.1 Số lượng văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nhiều nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội (27)
      • 2.2.2 Tình trạng luật, pháp lệnh mang tính chung chung, tính tuyên ngôn, không cụ thể; bên cạnh đó, nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành ban hành còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng (29)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG BAN HÀNH

Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội phức tạp, không thể tách rời, trong đó nhà nước được hình thành để thực hiện nhiệm vụ tác động vào các quan hệ xã hội nhằm đạt mục tiêu quản lý của giai cấp thống trị Để thực hiện mục tiêu đó, nhà nước sử dụng pháp luật như một công cụ điều chỉnh xã hội song song với sự tồn tại của nhà nước, trong đó pháp luật được hình thành, phát triển qua nhiều hình thức, chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật – hình thức tiến bộ nhất, phù hợp với đặc điểm và ưu thế của kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Dù vai trò của văn bản quy phạm pháp luật đã được nhận định từ lâu, đến năm 1996, khái niệm này mới được quy định rõ ràng trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên Theo Điều 1, Luật 1996, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục luật định, có các quy tắc xử sự chung và được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Năm 2004, cùng với sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, khái niệm này đã có những thay đổi rõ rệt, mở rộng phạm vi và quy định rõ hơn về hình thức, trình tự, thủ tục ban hành, trong đó khẳng định rằng văn bản còn bao gồm các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung và được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Theo khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể có thẩm quyền ban hành phải là các cơ quan Nhà nước Tuy nhiên, Điều 2 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 lại liệt kê cả các cá nhân như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền ban hành, dẫn đến sự không thống nhất giữa các quy định này Điều này dễ gây nhầm lẫn về chủ thể ban hành văn bản pháp luật, và luật nên quy định rõ rằng các cá nhân và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới là chủ thể hợp pháp để ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Dưới đề tài khóa luận “Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương”, bài viết đi sâu phân tích thực tiễn ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội, cũng như các thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với các lãnh đạo liên quan (theo khoản 1,2,4,6,10,11, Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008).

Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành

Các cơ quan nhà nước trung ương đóng vai trò là trung tâm quyền lực của hệ thống chính trị quốc gia Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan này ban hành giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc thiết lập, điều chỉnh và duy trì trật tự pháp lý của đất nước Chính vì vậy, những quy định này có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ xã hội và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước.

Văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là các văn bản có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất mà còn là nền tảng pháp lý để nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời Với vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, các văn bản này do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành, mang những đặc điểm nổi bật như tính bắt buộc cao và có hiệu lực pháp lý rõ ràng.

Văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật

Với vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và làm cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật, chỉ các chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Theo Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, các cơ quan có thẩm quyền này gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp, trong đó có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức chính trị - xã hội trung ương Ngoài ra, các cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước trung ương ban hành cần phải do các chủ thể hợp pháp như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao phát hành Ngoài ra, các văn bản này phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước với nhau hoặc với các tổ chức trung ương của tổ chức chính trị - xã hội để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực pháp lý.

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan Nhà nước ở trung ương có hình thức do pháp luật quy định.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức của văn bản quy phạm pháp luật gồm tên gọi và thể thức, phản ánh thẩm quyền của cơ quan ban hành và đảm bảo tính hợp pháp của nội dung Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 xác định rõ các loại tên gọi của văn bản do các cơ quan Nhà nước trung ương ban hành như Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết liên tịch, Thông tư liên tịch Việc quy định tên gọi và hình thức đúng đắn của các văn bản thể hiện rõ thẩm quyền, giúp phân biệt các loại văn bản quy phạm pháp luật và xác định thứ bậc, hiệu lực của từng loại Tuân thủ các quy định về tên gọi và hình thức của văn bản là điều kiện cần để xác nhận nội dung chứa quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao tính hợp pháp và phân biệt với các loại văn bản của các cơ quan khác hoặc cá nhân.

Pháp luật không chỉ quy định về tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật mà còn về thể thức thể hiện của nó, bao gồm kết cấu hình thức của văn bản Thể thức của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là các cơ quan trung ương, ban hành và được quy định cụ thể trong Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/05/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Ngoài ra, Quyết định số 20/2002/QĐ-BKHCN ngày 31/12/2002 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tiêu chuẩn Việt Nam số 5700/2002 cũng quy định rõ về tiêu chuẩn thể thức của các văn bản quy phạm pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định.

Văn bản quy phạm pháp luật là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước, đòi hỏi phải đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ về mọi mặt, đặc biệt là trình tự và thủ tục ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định rõ ràng và hợp lý các thủ tục ban hành của các cơ quan Nhà nước trung ương, phù hợp với chức năng và vị trí của từng cơ quan trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau Các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, và các cơ quan liên tịch đều có quy trình ban hành riêng, được quy định cụ thể trong từng chương của luật, từ Điều 22 đến Điều 74, nhằm đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả trong hoạt động ban hành văn bản pháp luật.

Việc quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ban hành đối với mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương không chỉ nhằm thống nhất hóa các hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà còn có vai trò trợ giúp cho người soạn thảo, tạo cơ chế trong việc phối hợp, kiểm tra, giám sát của những cơ quan có thẩm quyền, từ đó hạn chế khiếm khuyết trong hoạt động của Nhà nước Một văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng cao phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện đúng, đủ, nghiêm túc quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền và sự hoàn thiện của pháp luật trong quy định đối với thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành có nội dung là các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc.

Quy phạm pháp luật là các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Những quy tắc này là những chuẩn mực bắt buộc mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ khi tham gia các quan hệ xã hội do pháp luật quy định.

Các quy tắc xử sự chung trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước trung ương ban hành mang tính bắt buộc chung, áp dụng cho mọi chủ thể trong những điều kiện nhất định đã được quy định Tính bắt buộc này đảm bảo rằng các chủ thể phải tuân thủ những quy định đã đề ra để duy trì trật tự pháp luật Để đảm bảo hiệu quả thực thi, Nhà nước sử dụng các biện pháp như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, cũng như các biện pháp hành chính, kinh tế và cưỡng chế.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước trung ương ban hành nhằm dự liệu các trường hợp và tình huống cụ thể để áp dụng cho mọi đối tượng phù hợp Những quy định này không chỉ áp dụng một lần như các văn bản pháp luật thông thường mà còn có thể được thực thi nhiều lần trong thực tế, đảm bảo tính lâu dài và rộng rãi trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành có nội dung và hiệu lực pháp luật không giống nhau Thông thường, các văn bản do cơ quan nhà nước trung ương ban hành có hiệu lực pháp lý trên toàn quốc, nhưng cũng có trường hợp chỉ có hiệu lực tại một số địa phương nhất định Những trường hợp ngoại lệ này thường áp dụng cho những địa phương có đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện địa lý hoặc dân cư.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

Pháp luật mang tính giai cấp, phản ánh ý chí của giai cấp lãnh đạo trong hoạt động quản lý xã hội Việc thực thi pháp luật đòi hỏi phải được đảm bảo bằng nhiều biện pháp cụ thể và hiệu quả trên thực tế, nhằm duy trì trật tự và kiểm soát xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Nhà nước chủ động tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật để thúc đẩy ý thức tự nguyện, tự giác của các chủ thể trong việc tuân thủ và thực hiện đúng quy định pháp luật Trong trường hợp các chủ thể có nghĩa vụ không tuân thủ hoặc thực hiện không đúng, Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế phù hợp để buộc họ chịu trách nhiệm pháp lý Ngược lại, những chủ thể thực hiện đúng pháp luật có thể được khích lệ bằng các hình thức thưởng như huân chương, huy chương, bằng khen hoặc thưởng tiền nhằm thúc đẩy việc chấp hành pháp luật tốt hơn.

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ

Hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là quá trình thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác lập các hình thức văn bản pháp lý khác nhau Các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước cũng như các giá trị khách quan của xã hội thông qua ý chí chủ quan của các chủ thể có thẩm quyền ban hành Để đảm bảo hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật đạt hiệu quả cao và chất lượng tốt, yếu tố thẩm quyền ban hành văn bản cần được chú trọng hàng đầu.

Theo quy định của pháp luật hiện nay, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc về các cơ quan nhà nước Các cơ quan này có trách nhiệm xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình để đảm bảo pháp luật được thực thi hiệu quả Việc phân định rõ thẩm quyền giúp nâng cao tính hợp pháp, minh bạch trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước.

Trung ương nói riêng được xem xét dưới hai góc độ: thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung

Thẩm quyền về hình thức là quyền của các chủ thể trong việc ban hành các loại văn bản theo quy định của pháp luật Mỗi chủ thể chỉ được phép phát hành một số loại văn bản nhất định, phù hợp với quyền hạn của mình Vai trò của từng loại văn bản quy phạm pháp luật cũng sẽ khác nhau, nhằm đảm bảo áp dụng đúng đắn trong các công việc cụ thể.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và sửa đổi bổ sung năm 2002, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước gồm hơn 20 loại với nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành, gây khó khăn trong xác định thứ bậc hiệu lực của các văn bản Điều này dẫn đến hệ thống pháp luật chồng chéo, phức tạp và khó áp dụng hiệu quả Trước thực trạng đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 đã có nhiều điều chỉnh, thu hẹp hình thức văn bản và quy định rõ quyền hạn của các cơ quan trong việc ban hành các loại văn bản khác nhau Hiện nay, hệ thống pháp luật gồm có Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nghị quyết liên tịch giữa các cơ quan trung ương và các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như các thông tư liên tịch giữa các cơ quan trực thuộc; tất cả nhằm mục đích tạo sự rõ ràng, minh bạch và hiệu quả trong việc ban hành văn bản pháp luật.

Thứ hai, Thẩm quyền về nội dung là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong quá trình giải quyết công việc theo quy định của pháp luật Về thực chất, thẩm quyền này xác định rõ quyền hạn và phạm vi trách nhiệm của từng chủ thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ pháp lý, đảm bảo quá trình giải quyết công việc diễn ra đúng quy định của nhà nước Việc xác định rõ thẩm quyền nội dung giúp nâng cao hiệu quả công tác, tránh sai sót và tranh chấp không cần thiết trong quá trình tố tụng hoặc thi hành công vụ.

Giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước, dựa trên pháp luật đã quy định rõ ràng cho từng cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm kiểm soát và đảm bảo quyền hạn trong các công việc cụ thể Điều này giúp bảo vệ quyền lợi công dân và duy trì trật tự pháp luật trong xã hội Việc xác định giới hạn quyền lực nhà nước cũng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tránh lạm quyền hoặc l Abuse quyền hạn của các cơ quan công quyền.

Thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước ở trung ương được pháp luật quy định rõ ràng trong Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy Nhà nước Các luật tiêu biểu bao gồm Luật Tổ chức Quốc hội 2001, Luật Tổ chức Chính phủ 2001 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002, đảm bảo sự rõ ràng và hợp pháp trong hoạt động của các cơ quan trung ương.

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại diện cao nhất của nhân dân, có quyền lập hiến và lập pháp theo Hiến pháp Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất, quy định những vấn đề cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng và hình thức cũng như bản chất của nhà nước Quốc hội có quyền thông qua, sửa đổi Hiến pháp và luật, trong đó luật điều chỉnh các lĩnh vực quan trọng như kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, và hoạt động của bộ máy nhà nước cùng chế độ công vụ, cán bộ, công chức và quyền, nghĩa vụ của công dân Ngoài ra, Quốc hội còn quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước, quy định chế độ làm việc của các cơ quan như Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Đoàn đại biểu Quốc hội, phê chuẩn điều ước quốc tế và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng Nghị quyết.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, giữ vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước Theo quy định pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền ban hành hai loại văn bản chính, góp phần đảm bảo hoạt động của Quốc hội diễn ra hiệu quả và phù hợp với luật pháp.

Pháp lệnh được ban hành để quy định những vấn đề do Quốc hội giao, sau thời gian thực hiện sẽ trình Quốc hội xem xét và quyết định ban hành thành luật Ủy ban Thường vụ Quốc hội còn có thẩm quyền ban hành Nghị quyết để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, cũng như quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, ban bố tình trạng khẩn cấp trong phạm vi toàn quốc hoặc địa phương Các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan này, đảm bảo hoạt động chính trị và pháp lý của quốc gia được diễn ra thống nhất, hiệu quả.

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, số lượng các loại văn bản quy phạm pháp luật đã được thu hẹp so với quy định trước đây Tuy nhiên, để đảm bảo thẩm quyền của các chủ thể ban hành, nội dung của các văn bản này đã được mở rộng hơn nhằm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

Nếu Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 (sửa đổi, bổ sung

Theo quy định tại Điều 14, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, Chính phủ chỉ còn có thẩm quyền ban hành Nghị định để quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước Nghị định của Chính phủ định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ Ngoài ra, Nghị định còn quy định những vấn đề thuộc về các Nghị quyết trước đó, như các biện pháp thực hiện chính sách về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân Chính phủ có thể ban hành Nghị định để giải quyết các vấn đề phát sinh chưa được quy định trong luật hoặc pháp lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội, với sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Trong hệ thống cơ quan tư pháp, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan duy nhất có thẩm quyền độc lập trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đây là quy định quan trọng nhằm đảm bảo tính khách quan và pháp quyền trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật So với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm, quyền của Hội đồng thẩm phán thể hiện sự đặc thù và vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp Việt Nam Việc này góp phần tăng cường hiệu quả công tác xét xử và bảo đảm quyền lập pháp của hội đồng trước các quy định pháp luật hiện hành.

Dưới đây là các câu quan trọng phản ánh nội dung của bài viết, giúp đảm bảo tính nhất quán và tối ưu hóa cho SEO:Trong năm 1996, Nghị quyết do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2002 để hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử Nghị quyết không còn nội dung tổng kết kinh nghiệm xét xử, mà tập trung vào việc hướng dẫn các Tòa án áp dụng pháp luật một cách thống nhất Để đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước hiệu quả và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của xã hội, đặc biệt trong việc phối hợp nhiều bộ ngành, các cơ quan cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, các hình thức văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước trung ương gồm Nghị quyết liên tịch và Thông tư liên tịch Nghị quyết liên tịch được ban hành bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước khi các tổ chức này tham gia hoạt động liên quan Thông tư liên tịch là các văn bản được ban hành giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hoặc giữa các cơ quan tương ứng để tăng cường phối hợp trong công tác thực thi pháp luật.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cùng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này Việc này nhằm đảm bảo tính thống nhất trong thực thi pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác tố tụng, góp phần củng cố nền tư pháp vững mạnh.

Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện khả năng tác động của văn bản vào các quan hệ xã hội dựa trên pháp luật hiện hành Việc quy định rõ hiệu lực của văn bản là điều cần thiết để đảm bảo nó phát huy đúng vai trò và điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách hiệu quả Thời gian, không gian và đối tượng thực hiện là ba yếu tố chính xác định hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành Mỗi văn bản có hiệu lực khác nhau tùy theo vị trí, tính chất, mục đích điều chỉnh và thẩm quyền của cơ quan ban hành.

Hiệu lực theo không gian

Hiệu lực theo không gian của văn bản quy phạm pháp luật xác định phạm vi tác động của văn bản về mặt địa lý, có thể là toàn bộ lãnh thổ quốc gia, một địa phương hoặc vùng nhất định Hiệu lực này phụ thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban hành, cũng như phạm vi và mức độ điều chỉnh của văn bản Các cơ quan nhà nước trung ương có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động của các cơ quan địa phương, do đó, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương thường có hiệu lực toàn quốc, trừ khi có quy định khác hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định khác (Điều 82, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008).

Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành có thể không được quy định rõ ràng trong chính các văn bản Trong trường hợp này, xác định hiệu lực không gian dựa trên tính chất và phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật là cần thiết Việc này giúp đảm bảo tính thống nhất và phù hợp trong việc áp dụng pháp luật trên các lĩnh vực và khu vực khác nhau.

Hiệu lực theo thời gian

Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện qua thời điểm bắt đầu và kết thúc hiệu lực, phản ánh tác động của văn bản lên các quan hệ xã hội trong một khoảng thời gian nhất định Việc quy định rõ thời gian hiệu lực của các văn bản là cần thiết để đảm bảo tính phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội tại từng thời điểm ban hành, tránh gây rối loạn pháp luật Điều kiện ban hành và thời hạn hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể từ Điều 78 đến Điều 81 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, thể hiện rõ vai trò của hiệu lực thời gian trong hoạt động lập pháp của các cơ quan nhà nước trung ương.

Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong chính văn bản, nhưng không sớm hơn bốn mươi ngày kể từ ngày ký hoặc ban hành Điều này đảm bảo rõ ràng và minh bạch về thời điểm pháp luật có thể bắt đầu áp dụng Theo khoản 1, Điều 78, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định này giúp các tổ chức, cá nhân nắm rõ thời điểm bắt đầu thực thi các quy định pháp luật mới.

Các văn bản quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhằm đáp ứng nhanh chóng yêu cầu phòng chống thiên tai, dịch bệnh có thể có hiệu lực ngay từ ngày công bố hoặc ký ban hành, nhưng phải được đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng Ngoài ra, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đăng tải các văn bản này chậm nhất sau hai ngày làm việc kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, đảm bảo tính minh bạch và kịp thời trong việc phổ biến pháp luật Hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành cũng theo quy định chung này để đảm bảo thống nhất trong công tác ban hành và công bố văn bản luật.

So với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 (sửa đổi, bổ sung

Trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, quy định về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật đã được điều chỉnh rõ ràng và thống nhất hơn so với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996, sửa đổi, bổ sung 2002 Trước đây, các loại văn bản như luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch khác có thời điểm hiệu lực khác nhau Tuy nhiên, hiện nay, thời điểm có hiệu lực của các văn bản này đã được quy định chung, tạo sự rõ ràng và thống nhất trong thi hành pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật có tính dự báo cao và được áp dụng nhiều lần trong thực tế nhằm đảm bảo ổn định của hệ thống pháp luật, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của đối tượng tác động Vì vậy, thời điểm kết thúc hiệu lực của văn bản này thường không được quy định rõ ràng, nhưng về lý luận và thực tiễn, có thể xác định thời điểm kết thúc hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định rằng văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực khi hết thời hạn ghi trong văn bản, bị sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của cơ quan ban hành, hoặc bị hủy bỏ, bãi bỏ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trung ương cũng không nằm ngoài các trường hợp chấm dứt hiệu lực này, đảm bảo tính hợp pháp và cập nhật của hệ thống pháp luật quốc gia.

Hiệu lực về đối tượng thực hiện

Hiệu lực về đối tượng thực hiện đề cập đến việc các cơ quan Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật và giao trách nhiệm cho các chủ thể cụ thể triển khai, tổ chức thi hành Vai trò của đối tượng thi hành rất quan trọng để các văn bản do cơ quan trung ương ban hành được thực hiện nghiêm chỉnh và đi vào cuộc sống Thông thường, đối tượng thực hiện là các cơ quan cấp dưới của cơ quan ban hành văn bản, tiến hành quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành từng hoặc toàn bộ nội dung của văn bản Ngoài ra, các chủ thể này còn thực hiện hướng dẫn phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, như chính phủ ban hành nghị định để quy định chi tiết thi hành luật của Quốc hội, hoặc bộ trưởng ban hành thông tư hướng dẫn thi hành nghị định của chính phủ.

Các văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành thường được nhân dân biết đến nhiều hơn, đặt ra trách nhiệm rõ ràng cho các chủ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình Trách nhiệm của các chủ thể là đối tượng thi hành được quy định cụ thể và chi tiết trong từng văn bản quy phạm pháp luật, nhằm đảm bảo sự tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

THỰC TRẠNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở

Một số thành tựu trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương

2.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành đã thể chế hóa được nhiều đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

Hiến pháp Việt Nam xác nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, xã hội, thể hiện vai trò trung tâm của Đảng trong hệ thống chính trị Đảng đã đề ra nhiều đường lối, chủ trương phù hợp, đúng đắn nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Để những chính sách này đi vào thực tiễn, việc thể chế hóa thông qua xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là yếu tố then chốt Trong những năm qua, các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành đã phản ánh sát nhiệm vụ cách mạng theo từng giai đoạn, góp phần thể chế hóa nhiều chính sách lớn của Đảng trong các lĩnh vực khác nhau.

Trong giai đoạn đổi mới, Đảng xác định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, giữ vững an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc Các văn bản pháp luật đã được xây dựng để tạo khung pháp lý cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện thu hút đầu tư và thúc đẩy hoạt động doanh nghiệp Pháp luật về hành chính nhà nước đã có những cải cách toàn diện như phân định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, đơn giản thủ tục hành chính, tăng cường dịch vụ công, hướng tới sự công khai, dễ tiếp cận và kiểm tra giám sát; các lĩnh vực xã hội như lao động, việc làm, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm xây dựng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với hạn chế tiêu cực Pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội đã ngày càng củng cố, góp phần duy trì ổn định chính trị và phòng chống tội phạm Các luật quan trọng như Luật Lao động 1994, Luật Đất đai 2003, Luật Thương mại 2005, Luật Giáo dục 2005, Luật Quốc phòng 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Bảo hiểm y tế 2008 và Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục 2009 đã góp phần tích cực xây dựng khung pháp lý vững chắc cho đất nước Việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng thông qua pháp luật đã tạo ra bước tiến lớn trong phát triển kinh tế – xã hội Để xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”, Đảng tập trung đổi mới hệ thống chính trị, thể hiện rõ qua các luật như Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức Quốc hội 2001, Luật Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 2003, Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Luật Tổ chức Tòa án 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát 2002, Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 Những quy định này thể hiện sự phát triển tư duy lý luận và tiến bộ về nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh hơn so với trước.

2.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành ngày càng thể hiện sâu sắc ý chí, nguyện vọng của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là những chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội mà các văn bản đó điều chỉnh. Văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nói riêng không chỉ phản ánh ý chí và nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà còn bảo vệ quyền lợi cho mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Việc đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp thể hiện trong Luật Doanh nghiệp 2005; việc dành nhiều ưu tiên cho lao dộng nữ thể hiện trong Bộ luật Lao động; việc tăng cường và tạo cơ chế cho đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước thể hiện trong Luật Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội;… là những ví dụ cho thấy nhiều quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đã ngày càng bám sát cuộc sống và phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân, góp phần phát huy sức sản xuất và làm chủ của nhân dân, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng đất nước Qua đó, tăng cường lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước ta Ngày càng nhiều các văn bản quy phạm pháp luật phản ánh và đáp ứng mong muốn của nhân dân được các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành như: Luật Phòng chống tham nhũng 2005; Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí 2005; Luật Đấu thầu 2005;…với những quy định về minh bạch tài sản, thu nhập trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, thực hành tiết kiệm trong tổ chức hội họp, thực hiện đấu thầu trong mua bán tài sản công,…

2.1.3 Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương đã ngày càng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Trong xu thế hội nhập quốc tế và mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các cơ quan Nhà nước ở trung ương đã tập trung xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Các luật và nghị định quan trọng như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, và Luật Thương mại 2005 đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam Nước ta cũng đã gia nhập nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương về sở hữu trí tuệ, tín dụng, hàng hải, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc tế và nâng cao năng lực hội nhập Những văn bản quy phạm pháp luật này giúp cải thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện thể chế kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.

Trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ và môi trường, các cơ quan Nhà nước ở trung ương cũng ban hành nhiều văn bản để đáp ứng các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống xã hội

Trong lĩnh vực xã hội, nhiều văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh người cao tuổi 2000, Pháp lệnh cựu chiến binh 2005, Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006), Nghị định 118/2005/NĐ-CP về điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, cùng Nghị định số 62/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế đã được ban hành nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực xã hội Hiện nay, dự thảo Luật Thủ đô đang trong quá trình thảo luận để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển Hà Nội phù hợp với thực tiễn, góp phần giải quyết các yêu cầu về quy hoạch, đầu tư, xây dựng và đô thị hóa Chính phủ cũng đã xây dựng dự thảo Nghị định bảo đảm nhà ở cho sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, thể hiện sự quan tâm đến đời sống cán bộ chiến sĩ và tạo điều kiện ổn định tinh thần làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Từ ngày 1/1/2010, nhiều quy định về chính sách xã hội như bảo hiểm thất nghiệp, xử phạt hút thuốc nơi công cộng, tăng lương tối thiểu trong doanh nghiệp đã đi vào thực tiễn, thể hiện sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước trong việc ban hành các quy định pháp luật hợp lý, kịp thời đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ và môi trường, nhiều văn bản quy phạm pháp luật thiết thực đã được ban hành như Luật Khoa học công nghệ 2000, Luật Xuất bản 2004, và các Luật sửa đổi bổ sung liên quan đến lĩnh vực này Các nghị định hướng dẫn thi hành như Nghị định 111/2005/NĐ-CP, Nghị định 56/2006/NĐ-CP, Nghị định 75/2006/NĐ-CP, và Nghị định 62/2009/NĐ-CP đã góp phần cụ thể hóa và thực thi các luật này Trong lĩnh vực y tế, hệ thống văn bản pháp luật gồm các nghị định và thông tư hướng dẫn về đấu thầu thuốc, bảo hiểm y tế giúp nâng cao hiệu quả hoạt động y tế công cộng Về an ninh quốc phòng, các luật như Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật An ninh quốc gia 2004, và Luật Quốc phòng 2005 đã đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố an ninh quốc gia Nghị định số 86/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, còn Bộ luật Hình sự 1999 quy định rõ các tội phạm liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia và nghĩa vụ quân nhân, góp phần giữ vững kỷ luật và sức mạnh quốc phòng của đất nước.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại, nhờ vào chính sách pháp luật của Nhà nước được ban hành bởi các cơ quan trung ương, tạo môi trường chính trị ổn định và thúc đẩy hoạt động đối ngoại thuận lợi Các nguyên tắc chung của chế định thương mại quốc tế như cạnh tranh công bằng, minh bạch chính sách pháp luật, chống bán phá giá, và giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã được nội luật hóa qua các văn bản pháp luật của Việt Nam, như Luật Thương mại 2005, Luật Cạnh tranh, và các nghị định hay thông tư hướng dẫn thi hành Những văn bản pháp luật như Pháp lệnh số 24/2000/PL-UBTVQH10 về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài, cùng các nghị định và thông tư liên quan đã giúp xây dựng nền tảng pháp lý vững chắc để phát triển mối quan hệ quốc tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường khu vực và toàn cầu.

Trong lĩnh vực tố tụng, các quy định pháp luật ra đời đã đáp ứng kịp thời yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội hiện nay và tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân Quốc hội đã hai lần sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án để thành lập các Tòa chuyên trách, đồng thời Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nhiều Pháp lệnh nhằm giải quyết các vụ án kinh tế, hành chính, dân sự, thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tư pháp Để thống nhất việc áp dụng pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành những Nghị quyết hướng dẫn cụ thể, như Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP về giải quyết án kinh tế, Nghị quyết số 03/2003/NQ-HĐTP về thi hành án hành chính, và Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP về các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.

2.1.4 Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành nhìn chung đã phù hợp với Điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và kí kết.

Hiện nay, Việt Nam đã tích cực hội nhập quốc tế bằng cách gia nhập nhiều tổ chức quan trọng như ASEAN, Liên Hợp Quốc (UN), WTO và tham gia các diễn đàn kinh tế liên khu vực như APEC, ASEM Việt Nam đã ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do như ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, cũng như các thỏa thuận song phương như Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong quá trình hội nhập của Việt Nam là việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007, mở ra cơ hội thúc đẩy thương mại và hội nhập kinh tế toàn cầu Đồng thời, nhiệm vụ của Việt Nam là phải nội luật hóa các điều ước quốc tế đã cam kết để đảm bảo thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế trong lĩnh vực thương mại và kinh tế.

Nguyên tắc của Tổ chức Thương mại quốc tế quy định rằng mỗi thành viên phải đảm bảo luật pháp, quy định và thủ tục hành chính phù hợp với các cam kết trong WTO Trong giai đoạn gia nhập WTO, Việt Nam đã đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, với năm 2005 thông qua 29 văn bản luật và năm 2006 thêm 25 văn bản, trở thành một trong số ít quốc gia hoàn thành các cam kết về pháp luật ngay khi trở thành thành viên WTO Việt Nam đã ký kết các hiệp định quan trọng như GATT 1994, GATS, TRIPS và các hiệp định liên quan, và Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật để thực hiện đầy đủ các cam kết trong các Hiệp định này, góp phần nâng cao hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế.

Trong năm 2005, nhiều bộ luật quan trọng như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại, Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện các Điều ước quốc tế, Luật Cạnh tranh và Pháp lệnh Chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam đã được ban hành để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển kinh tế Song song đó, hàng loạt nghị định và thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các luật này đã góp phần cụ thể hóa các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và văn bản dưới luật nhằm thực hiện các cam kết đa phương và hoàn thiện khung pháp lý Việc xây dựng một khung pháp lý vững chắc giúp các doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp cận luật chơi chung của WTO, đồng thời củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút họ tham gia thị trường trong nước Điều này còn giúp Việt Nam tiếp cận nhiều nguồn vốn vay, tín dụng và tài trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế Thực tế, việc nhanh chóng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam trước khi gia nhập WTO đã được cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư công nhận là tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch hơn giữa các thành phần kinh tế Chính những yếu tố này đã trở thành lợi thế quan trọng giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút đầu tư hiệu quả.

Những hạn chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương

2.2.1 Số lượng văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành nhiều nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Trong hoạt động lập pháp, việc xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh là ưu tiên của Nhà nước ta nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển Tuy nhiên, mô hình lập pháp của Việt Nam mang đặc điểm hình chóp nón, khác biệt so với mô hình tam giác đều của các quốc gia khác, dẫn đến hiện tượng văn bản pháp luật quá đa dạng và chồng chéo Theo thống kê của Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học – Văn phòng Quốc hội, có hơn 10.000 văn bản dưới luật, trong đó nhiều nghị định, quyết định bộ ngành, và thông tư, gây ra mâu thuẫn và chồng chéo trong hệ thống pháp luật Sự gia tăng đột biến văn bản quy phạm pháp luật không những tạo ra tình trạng khó khăn trong việc thực thi, mà còn dẫn đến việc người dân và cơ quan quản lý không biết nên tuân thủ văn bản nào, trong khi nhiều lĩnh vực lại thiếu các văn bản điều chỉnh cần thiết.

Hiện nay, để thực thi các quy định pháp luật một cách hiệu quả, các văn bản pháp lý phải được xây dựng rất nhiều, ví dụ như Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 cần đến 40 văn bản hướng dẫn, Luật Giao thông đường bộ yêu cầu trên 100 văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để hướng dẫn thi hành, còn Luật Đất đai muốn được thực hiện thì cần dựa trên nhiều văn bản pháp luật liên quan.

Trong lĩnh vực môi trường, có khoảng 300 văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực, cùng với các văn bản do các cấp chính quyền địa phương ban hành tạo thành một "rừng" văn bản pháp luật Mỗi năm, cả nước ban hành tới 600.000 văn bản quy phạm pháp luật, gây ra một lượng lớn tài liệu khiến người dân khó có thể hiểu rõ hệ thống pháp luật một cách rõ ràng Thực tế, tình trạng ban hành văn bản pháp luật tràn lan đã tạo ra một hệ thống pháp luật phức tạp, khó kiểm soát, mà người ta thường gọi là "mê hồn trận" văn bản quy phạm pháp luật.

Trong thực tế xã hội, nhiều vấn đề bức xúc cần được điều chỉnh bằng pháp luật nhưng chưa được quy định rõ ràng, điển hình là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dù đã ban hành 337 văn bản liên quan đến quản lý chất lượng an toàn thực phẩm trong giai đoạn 2004-2008, nhưng việc triển khai thực tế vẫn còn nhiều hạn chế Hiện nay, hàng chục ngàn loại thực phẩm lưu thông trên thị trường chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp, trong khi chỉ mới ban hành hơn 400 tiêu chuẩn Thêm vào đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc quyền quản lý của năm Bộ khác nhau, dẫn đến tình trạng trách nhiệm không rõ ràng khi có sự cố xảy ra, khiến dư luận đặt ra câu hỏi về sự phối hợp và trách nhiệm trong quản lý an toàn thực phẩm tại Việt Nam.

“nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”.

Hoạt động đăng ký bất động sản đóng vai trò quan trọng trong việc công khai và minh bạch tình trạng pháp lý của bất động sản, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản Tuy nhiên, hiện tại chưa có một đạo luật riêng quy định rõ ràng về đăng ký bất động sản, mà các quy định này được phân tán trong nhiều luật khác như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, và Luật Kinh doanh bất động sản Việc này gây ra những khó khăn và vướng mắc cho người dân trong quá trình thực hiện các quyền liên quan đến bất động sản của mình.

Trong bài viết này, chúng ta nhận thấy số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở Việt Nam ngày càng nhiều, gây khó khăn và sai phạm trong quá trình thực thi Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thực tế của xã hội, đồng thời tính nhất quán của các văn bản còn rất hạn chế Các văn bản luật và văn bản dưới luật thiếu sự liên kết chặt chẽ, chưa tạo thành một hệ thống rõ ràng với nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành.

2.2.2 Tình trạng luật, pháp lệnh mang tính chung chung, tính tuyên ngôn, không cụ thể; bên cạnh đó, nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành ban hành còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.

Trong những năm gần đây, thuật ngữ “luật khung” và “pháp lệnh khung” đã phản ánh thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, khi nhiều luật và pháp lệnh chỉ mang tính nguyên tắc hoặc chung chung, chưa đủ mức độ điều chỉnh cụ thể, rõ ràng và đầy đủ để thi hành mà phải chờ các văn bản hướng dẫn chi tiết Nội dung các đạo luật chưa đầy đủ để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, dẫn đến việc các văn bản quy định bổ sung thường vượt ra ngoài phạm vi cụ thể mà còn bổ sung những quy định mới, gây ra hệ quả pháp lý không tốt, phức tạp và gây khó khăn cho quá trình thực thi luật, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và tiến bộ xã hội Tình trạng này tạo ra một hệ thống pháp luật có nhiều tầng nấc, cấp độ khác nhau, đồng thời làm giảm tính minh bạch và mất niềm tin của người dân vào pháp luật, bởi các văn bản chưa đủ mức độ rõ ràng, minh bạch cần thiết Bên cạnh đó, “luật khung”, “pháp lệnh khung” còn là nguyên nhân dẫn đến các mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật với các văn bản dưới luật và giữa các văn bản dưới luật với nhau, làm suy yếu hiệu quả của hệ thống pháp luật.

Các văn bản luật và pháp lệnh thường chỉ đặt ra các nguyên tắc chung, khó có thể áp dụng vào thực tiễn nếu thiếu các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, dẫn đến tình trạng luật lệ bị lệ thuộc vào các hướng dẫn này Chính phủ có trách nhiệm ban hành nhiều nghị định để hướng dẫn thi hành các luật và pháp lệnh, ví dụ như Luật Thương mại 1997 gồm 264 điều nhưng có tới 16 nghị định hướng dẫn chi tiết, hoặc Luật Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng 1997 với 194 điều nhưng có tới 24 nghị định liên quan Đặc biệt, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính yêu cầu trên 30 nghị định hướng dẫn thi hành, cho thấy vai trò quan trọng của các nghị định trong việc cụ thể hóa quy định pháp luật.

Việc này đã tạo ra gánh nặng lớn cho Chính phủ, khiến các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành gặp khó khăn, nếu không nợ đọng nhiều thì chất lượng cũng khó được đảm bảo.

Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 có quy định:

Trong Điều 8, quy định rõ rằng văn bản quy định chi tiết cần phải cụ thể, không lặp lại nội dung của các văn bản khác và phải được ban hành cùng thời điểm với văn bản, điều, khoản, điểm quy định chi tiết đó Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn các quy định này đều vi phạm nguyên tắc này Tính đến cuối năm 2004 và đầu năm 2005, có 82 dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành các Luật, Pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua, trong đó các Bộ trình 59 dự thảo Nghị định, Chính phủ đã ban hành 43 Nghị định, còn 16 dự thảo đang chờ xem xét, và còn tồn đọng 24 dự thảo Dù việc ban hành văn bản của Chính phủ đã có nhiều tiến bộ so với các năm trước, tuy nhiên, vào các năm 2006 và 2007, tình trạng "nợ đọng" vẫn kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách pháp luật.

Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự được thông qua ngày 28/10/1995, có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 nhưng trong vòng 10 năm chỉ có 54 văn bản được ban hành, còn

Vào tháng 6/2005, Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội sửa đổi cơ bản để phù hợp với tình hình mới, sau khi nhiều điều khoản chưa được quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai ban hành ngày 15/10/1993 chỉ có hiệu lực sau nhiều năm chờ đợi, khi đến năm 2002, Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT ngày 3/1/2002 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục địa chính mới hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất Tuy nhiên, trong khi Thông tư này chưa được điều chỉnh phù hợp thì Luật Đất đai mới lại tiếp tục ra đời, thể hiện quá trình cập nhật, sửa đổi pháp luật phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định rõ thời điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, Nghị định 101/1997/NĐ-CP ngày 23/09/1997 hướng dẫn thi hành luật này chỉ có hiệu lực sau chín tháng kể từ ngày luật có hiệu lực Năm 2002, Luật này đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn với thực tiễn và yêu cầu phát triển của pháp luật Việt Nam.

1996 thì cũng phải tới năm 2005, Nghị định 161/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 hướng dẫn thi hành luật mới ra đời Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 được ban hành sớm hơn so với các luật trước nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật Cụ thể, Nghị định 24/2009/NĐ-CP ngày 05/03/2009 quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật này để đảm bảo tính khả thi và thống nhất trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ngày đăng: 03/08/2023, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w