Qua những quy địnhcủa Hiến pháp về các quyền cơ bản của công dân và đảm bảo của Nhà nước, cóthể thấy tính giai cấp được thể hiện rõ ràng và được bảo đảm một cách nhất quán.Nội dung các q
Trang 1MỞ ĐẦU Tính đến nay lịch sử lập hiến Việt Nam đã trải qua hơn nửa thế kỷ Tuy
đây là một khoảng thời gian không dài so với lịch sử lập hiến hơn hai trăm nămcủa các nước Pháp, Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới nhưng nước ta đã có bốnbản Hiến pháp đánh dấu các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam, từNhà nước dân chủ nhân dân đến Nhà nước xã hội chủ nghĩa Cùng với sự pháttriển của các chế định khác như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,…chế định
về Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp cũngngày càng phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân
và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên
1946, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định ngay tạichương II, sau chương quy định về Chính thể Với bản Hiến pháp đầu tiên này,người dân Việt Nam từ cảnh lầm than, nô lệ đã thực sự trở thành người làm chủđất nước, làm chủ vận mệnh của mình bằng việc Hiến pháp công nhận công dânViệt Nam có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng,
tự do đi lại…Từ đây địa vị pháp lý của người dân nước ta chính thức được xáclập và ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước Trải qua quá trình đấu tranhcách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các quyền và nghĩa vụ cơ bảncủa công dân tiếp tục được ghi nhận, mở rộng, bổ sung thêm nhiều quyền mới tạicác Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 Đặc biệt Hiến pháp 1992 đã ghi nhận mộtcách tương đối đầy đủ và hoàn thiện về chế định này
Trong số các quyền cơ bản của công dân được các bản Hiến pháp của nước
ta ghi nhận thì các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân luôn chiếm một vị tríđặc biệt quan trọng Bởi lẽ các quyền này thể hiện mối quan hệ giữa công dân vớiNhà nước, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta, mức độ giải phóng
cá nhân con người, đảm bảo cho con người được sống trong độc lập, tự do Vìvậy, việc đảm bảo thực hiện trên thực tế các quy định của Hiến pháp về quyền tự
do dân chủ và tự do cá nhân của công dân luôn được Đảng và Nhà nước ta rấtquan tâm Công dân đã nhận thức được tầm quan trọng của các quyền đó đối vớimình cũng như gắn liền quyền lợi của mình đối với các quy định đó Tuy nhiên,
từ việc quy định trong Hiến pháp và pháp luật đến việc bảo đảm thực hiện trênthực tế, công tác tổ chức thực hiện những quy định của Hiến pháp về quyền tự dodân chủ và tự do cá nhân của công dân vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Đó là thủ
Trang 22tục hành chính còn rườm rà, gây nhiều rắc rối cho nhân dân, một số quyền đãđược quy định trong Hiến pháp nhưng vẫn chưa có luật cụ thể hóa và chưa đượcđảm bảo thực hiện trên thực tế…
Trước thực tế đó, vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu nhóm quyền này của côngdân qua các bản Hiến pháp Việt Nam từ đó tìm ra những giải pháp góp phần hoànthiện nó trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay có một ý nghĩa vô cùng
quan trọng về lý luận và thực tiễn Xuất phát từ lý do đó em đã chọn đề tài: “Sự
kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự
do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
Mục đích của khóa luận là: Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, so sánh cácquyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong các bản Hiếnpháp 1946, 1959, 1980 và 1992 để thấy được tính kế thừa và phát triển của Hiếnpháp sau so với bản Hiến pháp trước đó khi quy định về vấn đề này Từ đó sẽ đề
ra phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện, bổ sung các quyền này củacông dân cho phù hợp với giai đoạn hiện nay của đất nước
Về phạm vi nghiên cứu của khóa luận: Khóa luận đi sâu vào nghiên cứu sự
kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cánhân qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 hiện hành Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận đã sử dụng các phương pháp biệnchứng duy vật, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp sosánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống vàkết hợp với khảo sát thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Về bố cục của khóa luận: ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệutham khảo, khóa luận được chia làm ba chương:
Chương I: Khái quát chung về quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ
và tự do cá nhân
Chương II: Sự kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự
do dân chủ và tự do cá nhân qua các bản Hiến pháp Việt Nam
Chương III: Việc bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của công dân về tự
do dân chủ và tự do cá nhân trong giai đoạn hiện nay
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CƠ BẢN
CỦA CÔNG DÂN VỀ TỰ DO DÂN CHỦ VÀ TỰ DO CÁ NHÂN
Trang 3Ở nước ta, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn là chế định quantrọng của Hiến pháp và là đối tượng chủ yếu của nền Hiến pháp dân chủ - Hiếnpháp xã hội chủ nghĩa Đảng và nhà nước ta đã vận dụng một cách sáng tạo chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về học thuyết quyền con người, quyềncông dân trong việc soạn thảo, xây dựng, sửa đổi và ban hành Hiến pháp phù hợpvới tình hình thực tế trong từng giai đoạn lịch sử Xuyên suốt trong quá trình lịch
sử lập hiến của Việt Nam, đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng chínhquyền Nhà nước “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, coi sự phát triển của
cá nhân con người về mọi mặt là mục tiêu cao cả nhất Vì vậy, quyền con người,quyền công dân không ngừng được mở rộng, được tôn trọng, được bảo vệ và cótính hiện thực
Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân được ghinhận trong Hiến pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công dân cũng nhưđối với Nhà nước và xã hội Nó là cơ sở nền tảng cho việc xác định các quyền cụthể khác của công dân và được quy định trong Hiến pháp – văn bản pháp luật cóhiệu lực pháp lý cao nhất Trước khi tìm hiểu về các quyền cơ bản của công dân
về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cần nghiêncứu một số vấn đề lý luận và khái niệm liên quan đến nhóm quyền này
1.1 Khái niệm Công dân
Trong xã hội, con người luôn tồn tại trong mối liên hệ với người khác vàchịu tác động, ảnh hưởng của môi trường xã hội Mỗi chế độ xã hội đều có các cánhân là những con người chịu sự chi phối của điều kiện chính trị, kinh tế, đờisống xã hội, hoàn cảnh xã hội và trình độ văn minh của chế độ xã hội ấy Cá nhânthường được quan niệm là một con người xã hội cụ thể, hay nói cách khác cánhân là sản phẩm của sự phát triển xã hội Trong xã hội có giai cấp mỗi cá nhânđều thuộc về một giai cấp, tầng lớp nhất định Bất kỳ Nhà nước nào và vào bất kỳthời đại nào, giai cấp thống trị nắm Nhà nước luôn tìm mọi cách tác động vào cánhân nhằm tạo ra một mẫu người phù hợp với mong muốn, lợi ích của giai cấpmình, của thời đại mình đang thống trị
Con người sinh ra trong thời đại có Nhà nước luôn có mối liên hệ, quan hệvới Nhà nước Quan hệ đó được thiết lập trên cơ sở pháp luật quy định về quyền
Trang 4và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan hệ Con người đó trở thành công dâncủa Nhà nước Như vậy, trong mối quan hệ giữa một cá nhân và một Nhà nướcnhất định khoa học pháp lý hình thành nên khái niệm công dân Vậy, công dân làgì?
Công dân là cá nhân trong quan hệ với Nhà nước và pháp luật, là sự xác định về mặt pháp lý một thể nhân thuộc về một Nhà nước nhất định Nhờ sự xác định này mà con người có các quyền do Nhà nước ghi nhận, được Nhà nước bảo đảm, bảo hộ các quyền, lợi ích ở trong nước cũng như khi ở nước ngoài và phải làm các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước Ngược lại Nhà nước có những quyền yêu cầu công dân của mình thực hiện các nghĩa vụ công dân và Nhà nước có những nghĩa vụ đối với công dân của mình.
Khái niệm công dân ra đời từ lâu trong lịch sử nhưng nó chỉ trở thành thuậtngữ pháp lý khi Nhà nước tư sản ra đời và được sử dụng rộng rãi trong xã hội tưsản và xã hội Xã hội chủ nghĩa Nó thể hiện mối quan hệ pháp lý đặc thù giữaNhà nước với một số người nhất định, xác định địa vị pháp lý của cá nhân trongNhà nước và xã hội Nhờ khái niệm công dân mà chúng ta có thể xác định đượcnhững quyền mà công dân được hưởng, những nghĩa vụ mà công dân phải thựchiện đối với Nhà nước của mình và ngược lại, Nhà nước cũng có trách nhiệmđảm bảo cho các quyền của công dân được thực hiện, đồng thời yêu cầu công dânthực hiện nghĩa vụ đối với mình
So với khái niệm cá nhân thì khái niệm công dân hẹp hơn, bởi cá nhân baogồm những người là công dân và những người không phải là công dân Và trongmột quốc gia thì không chỉ có công dân của quốc gia đó mà còn có thể có côngdân nước ngoài hoặc người không quốc tịch (không phải là công dân của bất kìquốc gia nào),thậm chí có người mang nhiều quốc tịch Hay nói cách khác khôngphải mọi cá nhân sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia đều được coi là côngdân của quốc gia đó Một cá nhân muốn trở thành công dân thì cần những điềukiện nhất định Những điều kiện đó có thể giống hoặc khác nhau tùy thuộc vàopháp luật của từng quốc gia quy định Điều 49 Hiến pháp 1992 của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” Như vậy, theo quy định này thì
Trang 55điều kiện để một người trở thành công dân Việt Nam là người đó phải có quốctịch Việt Nam Hay nói cách khác ai có quốc tịch Việt Nam thì người đó là côngdân Việt Nam Quốc tịch là trạng thái pháp lý xác định một cá nhân thuộc về mộtNhà nước nhất định và là tiền đề pháp lý cần thiết để một cá nhân có thể hưởngcác quyền và thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật của Nhà nước đó quy định.Qua đó có thể thấy khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch; muốnxác định người nào đó có phải là công dân Việt Nam hay không thì phải xem họ
có quốc tịch Việt Nam hay không Quốc tịch Việt Nam là căn cứ duy nhất để xácđịnh một người nào đó là công dân Việt Nam
Có thể nói việc đặt ra khái niệm công dân có một ý nghĩa rất quan trọng.Điều này thể hiện, nếu là công dân của một Nhà nước thì người đó sẽ được hưởngđầy đủ các quyền và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà Nhà nước đó quyđịnh Còn những người không phải là công dân của Nhà nước sở tại thì quyền vànghĩa vụ của họ bị hạn chế trong một số lĩnh vực như: họ không có quyền thamgia quản lý Nhà nước và xã hội; không có quyền quyền bầu cử, ứng cử; họ cũngkhông phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàndân,…Mặt khác, khái niệm công dân thể hiện mối quan hệ pháp lý có tính chấtđặc biệt, tồn tại cả trong trường hợp công dân Việt Nam đã ra nước ngoài sinhsống nhưng vẫn còn mang quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là công dân ViệtNam vẫn có đầy đủ những quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luậthiện hành dù họ ở trong nước hay nước ngoài Việc sinh sống ở trong hay ngoàinước sẽ không ảnh hưởng đến tư cách công dân khi mà họ vẫn mang quốc tịchViệt Nam [18]
Tóm lại, việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam liên quan trực tiếpđến việc xác định quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ với Nhà nước ViệtNam Tất cả những người có quốc tịch Việt Nam đều là công dân Việt Nam và dù
họ sinh sống ở trong nước hay nước ngoài thì họ đều có những quyền và nghĩa vụ
cơ bản của một công dân Việt Nam Giữa Nhà nước và công dân có mối liên hệqua lại và cùng có trách nhiệm, Nhà nước phải đảm bảo các quyền công dân vàcông dân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội
1.2 Quyền cơ bản của công dân
Trang 61.2.1 Khái niệm quyền cơ bản của công dân
Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân chủ yếu được thể hiện thông quaquy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Tổng thể các quy phạm pháp luậtquy định về quyền và nghĩa vụ của công dân tạo nên quy chế pháp lý của côngdân Quy chế pháp lý của công dân bao gồm nhiều chế định khác nhau như: vấn
đề quốc tịch; năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công dân; các nguyêntắc Hiến pháp của quy chế pháp lý của công dân; các quyền, tự do và nghĩa vụpháp lý của công dân; các biện pháp đảm bảo để quyền, nghĩa vụ công dân đượcthực hiện trong thực tế… Mỗi chế định điều chỉnh một mặt trong địa vị pháp lýcủa công dân và được hợp lại tạo thành quy chế pháp lý của công dân Địa vịpháp lý của công dân mỗi nước là khác nhau vì chúng bị chi phối bởi điều kiệnkinh tế - xã hội của Nhà nước đó Điều này liên quan đến các biện pháp bảo đảmthực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân giữa các nước có điều kiện kinh tế pháttriển với các nước có nền kinh tế chậm phát triển
Tư cách công dân đã tạo cho cá nhân một địa vị pháp lý đặc biệt, một quan
hệ đặc biệt với một Nhà nước nhất định, khác với những người không phải làcông dân Mối quan hệ đặc biệt đó được thể hiện thành quyền và nghĩa vụ cơ bảncủa công dân Đối với nước ta vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dânluôn được ghi nhận thành một chương của Hiến pháp Ngay từ Hiến pháp 1946 –bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã dành chương II
để quy định về “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” Những quyền được quy địnhtrong Hiến pháp được gọi là quyền cơ bản và những người có tư cách công dânđược Nhà nước quy định cho hưởng những quyền nhất định đó gọi là quyền cơbản của công dân
Như vậy, có thể hiểu quyền cơ bản của công dân là khả năng của mỗi công dânđược tự do lựa chọn những hành vi được quy định trong Hiến pháp và được Nhànước bảo đảm thực hiện
Từ đó có thể đưa ra định nghĩa: Các quyền cơ bản của công dân là hệ thống các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp, xuất phát từ quyền công dân và không tách rời nghĩa vụ của công dân, biểu hiện mối quan
hệ đặc biệt quan trọng giữa công dân và Nhà nước, được Nhà nước đảm bảo
Trang 7cơ bản của Nhà nước Do vậy, các quyền cơ bản của công dân là cơ sở chủ yếu,
có ý nghĩa quyết định để xác định địa vị pháp lý của công dân, xác định cácquyền cụ thể khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi ngành luật Các quyềnnày xuất phát từ quyền con người (nhân quyền), nên việc ghi nhận chúng trongvăn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất của Nhà nước là nhằm bảo vệ và khôngxâm phạm chúng trong quá trình thực hiện quyền lực Nhà nước
Trên thực tế, mỗi công dân chỉ có thể tham gia vào một lĩnh vực sinh hoạt
xã hội nhất định, đảm nhiệm một chức năng xã hội nhất định tùy thuộc vào hoàncảnh, điều kiện, khả năng riêng của mỗi người Do đó, các quyền cơ bản của côngdân được quy định trong Hiến pháp phải được cụ thể hóa, chi tiết hóa trong cácluật khác Trong từng thời kỳ nhất định, tùy theo mức độ hoàn thiện của quan hệsản xuất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội, Nhà nước quyđịnh về quyền cơ bản của công dân và các biện pháp bảo đảm thực hiện trên thực
tế Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho mỗi công dân được làm chủ xã hội, làm chủbản thân, sử dụng đúng đắn các quyền công dân của mình, tích cực tham gia cácsinh hoạt xã hội, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Đặc điểm các quyền cơ bản của công dân
Các quyền cơ bản của công dân được bắt nguồn từ bản chất của chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, xã hội của Nhà nước Do đó, chúng đều được xác lập,thực hiện và phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế về kinh tế, chínhtrị, văn hóa, xã hội của đất nước Các quyền cơ bản của công dân luôn phản ánhbản chất của chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển của xã hội Đồng thờimỗi nhóm quyền lại phản ánh đặc điểm chung ấy bằng những biểu hiện riêng củamình xuất phát từ tính chất, nội dung của quan hệ xã hội được Hiến pháp điều
Trang 88chỉnh Khi tìm hiểu về các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp, ta thấychúng có các đặc điểm sau:
- Các quyền cơ bản của công dân thường được xuất phát từ các quyền tựnhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người như quyền sống, quyền tự
do, quyền mưu cầu hạnh phúc … và là các quyền được hầu hết các quốc gia trênthế giới thừa nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (1948) và hai Côngước về Quyền con người (Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trịnăm 1966, Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966của Liên Hợp Quốc)
- Các quyền cơ bản của công dân là những quyền thuộc các lĩnh vực quantrọng và cơ bản nhất trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Chúng là cơ
sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân Các quyền cơ bản của côngdân được quy định trong Hiến pháp là cơ sở đầu tiên cho việc ghi nhận các quyềnkhác của công dân trong các ngành luật Ví dụ: các quyền về lao động của côngdân do Luật lao động quy định như quyền được hưởng lương, quyền được nghỉphép, quyền được nghỉ hưu đều dựa trên cơ sở quyền lao động của công dân đượcghi nhận trong Hiến pháp
- Các quyền cơ bản của công dân gắn liền với các quyền dân tộc cơ bản làđộc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, tự do, dân chủ, bình đẳng,hạnh phúc Đặc điểm này phản ánh tư tưởng cách mạng triệt để của Chủ tịch HồChí Minh và của Đảng ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc, tưtưởng đó là: Công dân chỉ thực sự được hưởng các quyền cơ bản của mình khi họđược sống trong một nước độc lập, tự do, có chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnhthổ Việc các bản Hiến pháp của nước ta quy định các quyền cơ bản của công dângắn liền với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam vừa phản ánh thực
tế lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, vừa phù hợp với các văn bản chínhtrị - pháp lý quốc tế mà nước ta tham gia ký kết hoặc phê chuẩn
- Các quyền cơ bản của công dân có nguồn gốc phát sinh khác với cácquyền cụ thể khác của công dân Cơ sở duy nhất làm phát sinh các quyền cơ bảncủa công dân chính là quyền công dân – nghĩa là người đó phải có quốc tịch Việt
Trang 99Nam, còn cơ sở phát sinh các quyền cụ thể khác của công dân là sự tham gia của
họ vào các quan hệ pháp luật, là các sự kiện pháp lí,…
- Các quyền cơ bản của công dân gắn liền với quyền làm chủ Nhà nước củacông dân mà thực chất của nó là: khi công dân làm chủ Nhà nước thì Nhà nướctrở thành công cụ chủ yếu để công dân thực hiện quyền lực của mình; các cơquan nhà nước, viên chức nhà nước đều xuất phát từ nhân dân, phục vụ lợi íchcủa nhân dân; công dân phải được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp gắn liềnvới tư cách công dân của mình, đồng thời cũng phải làm tròn nghĩa vụ đối vớiNhà nước và xã hội
- Các quyền cơ bản của công dân mang tính chất nhân đạo sâu sắc, thấmđượm đạo đức và văn hóa truyền thống của dân tộc, được thể hiện qua một sốquyền như: quyền của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người và gia đình
có công với cách mạng được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước…
- Các quyền cơ bản của công dân mang tính giai cấp rõ rệt Qua những quy địnhcủa Hiến pháp về các quyền cơ bản của công dân và đảm bảo của Nhà nước, cóthể thấy tính giai cấp được thể hiện rõ ràng và được bảo đảm một cách nhất quán.Nội dung các quyền cơ bản của công dân phản ánh bản chất, mục tiêu của chế độchính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa – một chế độ vì con người, giải phóng conngười khỏi áp bức, bóc lột, đem lại cho con người quyền được sống tự do, dânchủ, bình đẳng, hạnh phúc
- Các quyền cơ bản của công dân được sửa đổi, bổ sung và mở rộng qua bốnbản Hiến pháp Mỗi bản Hiến pháp của nước ta luôn dành hẳn một chương quyđịnh về Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân với số lượng quyền ngày càngtăng Việc mở rộng các quyền cơ bản của công dân thể hiện sự quan tâm thườngxuyên của Đảng và Nhà nước ta tới con người, luôn coi con người là mục tiêu caonhất của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đồng thời cũng thể hiện sự biếnđổi và phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử
1.2.3 Phân loại các quyền cơ bản của công dân
Có nhiều cách để phân loại các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháptùy theo cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu Để hiểu một cách đầy đủ và toàndiện hơn về các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp và dựa vào các lĩnh
Trang 101 0
vực mà công dân có quyền, có thể phân chia các quyền cơ bản của công dânthành các quyền về chính trị; các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền
và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chứctrưng cầu ý dân; quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan Nhà nước; quyền khiếunại, tố cáo [16, Tr 57]
+ Các quyền cơ bản của công dân về kinh tế, văn hóa, xã hội có một ý nghĩarất lớn Các quyền về kinh tế thể hiện quyền làm chủ về kinh tế của công dân, vừaphục vụ nhu cầu, lợi ích vật chất của con người, vừa sáng tạo ra những giá trị vănminh vật chất cho bản thân và cho xã hội (ví dụ: quyền lao động, quyền sở hữu,quyền tự do kinh doanh, quyền xây dựng nhà ở) Còn các quyền cơ bản của côngdân về văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu nâng cao dân trí nói chung để hiểu biết,khám phá, sáng tạo ra những giá trị văn minh tinh thần cho bản thân và cho xãhội (ví dụ: quyền học tập, quyền nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, ) Các quyền cơbản của công dân về xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết yếu cho cuộcsống khỏe mạnh, an toàn và hạnh phúc của con người, góp phần to lớn vào việctạo ra môi trường xã hội lành mạnh để cho mọi người được sống bình yên, hạnhphúc (quyền bình đẳng nam nữ, quyền được hưởng chính sách ưu đãi của các đốitượng thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, quyền được bảo hộ hôn nhân giađình, quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe )
+ Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân đápứng nhu cầu, lợi ích hợp pháp của công dân về mặt dân sự, tạo điều kiện cho mỗi
cá nhân công dân được sống và hoạt động một cách tự do, dân chủ, bình đẳng vớingười khác theo quy định của pháp luật; được giải phóng khỏi mọi sự ràng buộc,cấm đoán để tự làm chủ cuộc sống của mình, cống hiến trí tuệ và sức lực củamình cho sự nghiệp phát triển xã hội Ví dụ: quyền tự do đi lại và cư trú; quyền tự
Trang 111 1
do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền hội họp, lập hội, biểutình; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể;quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín… Các quyền cơ bản của công dân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác độngqua lại lẫn nhau Hiệu quả của việc thực hiện nhóm quyền này là tiền đề, là điềukiện để bảo đảm hiệu quả thực hiện các nhóm quyền khác, ví dụ: việc thực hiệncác quyền về chính trị sẽ tạo điều kiện để công dân làm chủ Nhà nước của mình,được tự do, bình đẳng, qua đó họ sẽ làm chủ được các mặt khác về kinh tế, vănhóa, xã hội và làm chủ được chính bản thân mình Đồng thời khi công dân đãđược hưởng các quyền trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, tự do dân chủ và tự
do cá nhân thì sẽ tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền về chính trị một cáchvững chắc và tự tin hơn
1.3 Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân
1.3.1 Khái niệm quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ
và tự do cá nhân
Trong hệ thống các quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp quy định thìcác quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân chiếm số lượng lớn vìchúng liên quan trực tiếp tới cuộc sống và tự do của mỗi người Đồng thời nóphản ánh bản chất của Nhà nước, trình độ dân chủ của xã hội, mức độ giải phóng
cá nhân con người Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng trong bất kì xã hội nào,các quyền về tự do của con người và công dân luôn là vấn đề được toàn xã hộiquan tâm và bảo vệ Ngày nay, bất kì quốc gia tiến bộ nào trên thế giới có Hiếnpháp thành văn cũng đều quy định trong Hiến pháp các quyền tự do, dân chủ củacông dân Đây là một bước tiến bộ lớn của mối quan hệ Nhà nước – công dântrong lịch sử nhân loại và cũng là tư tưởng, nội dung cơ bản của chủ nghĩa lậphiến
Như phần trên đã phân tích, các quyền cơ bản của công dân là những quyềnđược Nhà nước quy định trong Hiến pháp Những quyền này thường được xuấtphát từ quyền con người, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc,không ai có thể xâm phạm Quyền cơ bản của công dân là cơ sở chủ yếu để xác
Trang 121 2
định địa vị pháp lý của công dân, là cơ sở cho việc quy định các quyền cụ thểkhác của công dân Mỗi quyền cơ bản của công dân là một khả năng mà luật cơbản của Nhà nước trao cho công dân được hưởng gì, được làm gì, được yêu cầu
gì từ phía Nhà nước và xã hội phù hợp với pháp luật và khả năng, điều kiện thực
tế của đất nước để thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích chính đáng của mình
Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân thể hiệnđậm nét bản chất dân chủ của Nhà nước Bởi lẽ những quyền này có mối liên hệmật thiết với cá nhân từng công dân, cho phép họ được sống trong tự do, dân chủ,không bị ngăn cấm hoặc lệ thuộc vào người khác Dưới góc độ pháp lý, quyền tự
do dân chủ của công dân được hiểu là những quyền mà công dân có được do chế
độ dân chủ mang lại, ví dụ: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền đượcthông tin; quyền tự do hội họp, tự do lập hội,…còn quyền tự do cá nhân đượchiểu là những quyền của bản thân mỗi người, không thể chuyển giao cho ngườikhác, được tự quyết định cuộc sống của mình, ví dụ: quyền bất khả xâm phạm vềthân thể, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú…Tuynhiên sự phân biệt này không phải là tuyệt đối Các quyền này đều ghi nhận cácvấn đề liên quan đến tự do của mỗi công dân, có quan hệ gắn bó với nhau, do đóviệc phân biệt một cách rạch ròi đâu là quyền về tự do dân chủ, đâu là quyền về
tự do cá nhân không phải là vấn đề đơn giản và còn nhiều quan điểm trái ngượcnhau Do vậy, khi phân loại các quyền cơ bản của công dân người ta gộp chungquyền “tự do dân chủ” và “tự do cá nhân” thành một nhóm quyền trong Hiếnpháp Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân có liên
hệ mật thiết với các quyền khác về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thể hiện địa
vị của công dân được tự do trong những lĩnh vực thiết yếu của cuộc sống để pháttriển về mọi mặt
Từ những phân tích trên, có thể hiểu các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân là các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp, cho phép công dân được tự do đi lại và cư trú; tự do ngôn luận, tự do báo chí; được thông tin; được hội họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật; được tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; được bất khả xâm phạm về thân thể và được suy đoán vô tội khi chưa có bản án
Trang 131 3
kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật; quyền được bất khả xâm phạm về chỗ ở; được Nhà nước đảm bảo an toàn, bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín Những quyền này được Hiến pháp quy định cho tất cả mọi công dân hoặc cho cả một nhóm người, một tầng lớp, một giai cấp trong xã hội.
cá nhân trong Hiến pháp Việt Nam
Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân ngày càngđược quy định mở rộng và hoàn thiện hơn trong các bản Hiến pháp nước ta Kếthừa các bản Hiến pháp 1946, 1959 và 1980, các quyền này trong Hiến pháp 1992
đã quy định cụ thể hơn, mang tính khả thi cao, thể hiện quá trình phát triển liêntục về phương diện chính trị - pháp lý cũng như trình độ, kĩ thuật lập hiến củanước ta Là một bộ phận hợp thành quan trọng của các quyền cơ bản của côngdân, các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân được thể hiện trên nhiều bìnhdiện khác nhau của đời sống xã hội Các quyền cơ bản của công dân về tự do dânchủ và tự do cá nhân là một trong những nhóm quyền hiến định của công dân, do
đó chúng mang những đặc điểm chung của các quyền cơ bản của công dân Hiện nay, theo Hiến pháp 1992, các quyền cơ bản của công dân về tự dodân chủ và tự do cá nhân bao gồm: quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước;quyền đi ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật;quyền tự do ngôn luận; quyền tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền hộihọp; quyền lập hội; quyền biểu tình theo quy định của pháp luật; quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được suy đoán vô tộikhi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyền bất khả xâmphạm về chỗ ở; quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân Việc ghinhận các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân có ý nghĩa
to lớn về mặt lý luận và thực tiễn Trước hết, về mặt lý luận, Hiến pháp là đạoluật cơ bản của Nhà nước làm cơ sở pháp lý cho việc xác định các quyền cụ thểkhác của công dân Do đó, trên cơ sở các quyền mà Hiến pháp ghi nhận, cơ quanlập pháp sẽ cụ thể hóa thành các luật tương ứng, tạo điều kiện để công dân có thểthực hiện được quyền của mình, ví dụ: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004 ra đời
là để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân được thực hiện trên
Trang 141 4
thực tế; Luật cư trú năm 2006 ra đời là nhằm bảo đảm cho công dân thực hiệnquyền tự do cư trú đã được Hiến pháp 1992 quy định
Thứ hai, về mặt thực tiễn, trước đây nhân dân ta phải sống dưới ách thốngtrị của Đế quốc, thực dân nên nhân dân ta không được tự do, không có quyền màchỉ được coi là nô lệ Do vậy, độc lập, tự do, làm chủ vận mệnh của đất nước vàbản thân luôn là khát vọng, là mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta Khi Hiến phápghi nhận các quyền cơ bản của công dân trong đó có quyền về tự do dân chủ và tự
do cá nhân, điều đó thể hiện rằng bản chất của Nhà nước ta thực sự dân chủ,người dân được giải phóng về mọi mặt, được Nhà nước tôn trọng và đảm bảo cácquyền cơ bản và thiết yếu nhất mà một con người cần phải có
Bảo đảm các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân là tạo điềukiện cho sự phát triển của từng cá nhân Qua đó thúc đẩy cho xã hội phát triển,bởi sự phát triển toàn diện của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của toàn
xã hội Trên cơ sở bảo đảm các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của côngdân thì mới có thể nói đến sự tham gia của mỗi cá nhân vào các hoạt động chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội
CHƯƠNG II: SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN VỀ TỰ DO DÂN CHỦ VÀ TỰ DO CÁ NHÂN
QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP NƯỚC TA Lịch sử lập hiến nước ta cho thấy, mỗi bản Hiến pháp là một dấu son đánh
dấu bước ngoặt của cách mạng, của xã hội, của nhân dân ta: Hiến pháp 1946 của chặng đường vừa kháng chiến vừa kiến quốc; Hiến pháp 1959 với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà; Hiến pháp 1980 của thời kỳ đất nước thống nhất và đi lên chủ nghĩa xãhội và Hiến pháp 1992 thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên 1946, các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân đã được ghi nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng,…Đến các bản Hiến pháp sau, các quyền này tiếp tục đượckhẳng định, đồng thời có sự bổ sung, mở rộng thêm
Trang 151 5
2.1 Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến Pháp 1946
Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khaisinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sau khi chính quyền cách mạng non trẻđược thành lập một thời gian ngắn, ngày 9/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên củanước ta đã được Quốc hội thông qua Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử có nhiều khókhăn, phức tạp, Hiến pháp 1946 thực sự là một công cụ đặc biệt quan trọng và cóhiệu quả nhất để bảo vệ nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở pháp lý cho việc xác địnhđịa vị pháp lý của công dân Với Hiến pháp 1946, lần đầu tiên trong lịch sử ViệtNam, những người dân nô lệ trước đây thực sự trở thành người chủ của đất nước,được bảo đảm các quyền tự do, dân chủ trên nhiều phương diện Điều này đượcthể hiện rõ nét qua các quy định về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân củacông dân Các quyền này đã được Hiến pháp 1946 ghi nhận khá cụ thể, có ýnghĩa và tác động lớn đến đời sống của công dân
● Quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp
Các quyền này được Hiến pháp 1946 lần đầu tiên ghi nhận tại Điều 10:
“Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp”
Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định công dân Việt Nam có các quyền cơ bản
và thiết yếu nhất đối với mỗi công dân Đây là những quyền rất quan trọng nhằmđảm bảo cho công dân có những điều kiện cần thiết để tham gia chủ động, tíchcực vào vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội
* Quyền tự do ngôn luận
Lần đầu tiên trong lịch sử người công dân Việt Nam được Hiến pháp 1946ghi nhận quyền tự do ngôn luận Quyền này được hiểu là công dân được tự dophát biểu ý kiến, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình về các vấn đề chungcủa xã hội, của đất nước Mọi người đều có quyền đưa ra ý kiến và giữ quan điểmcủa mình mà không bị ngăn cấm Pháp luật không quy định trách nhiệm pháp líđối với việc công dân đưa ra chính kiến của mình, mọi biểu hiện trù úm, trả thù vì
Trang 161 6
tư tưởng, chính kiến cá nhân đều bị xử lí theo pháp luật Việc Hiến pháp 1946 ghinhận quyền tự do ngôn luận của công dân có ý nghĩa rất lớn Nó khẳng định mộttrong những quyền cơ bản của người dân được Nhà nước ta tôn trọng; Nhà nướccho phép công dân được tự do phát biểu ý kiến, nêu lên quan điểm của mìnhthông qua báo chí, hội họp
* Quyền tự do xuất bản của công dân cũng đã được Hiến pháp 1946 ghi
nhận và đảm bảo trên thực tế Việc ghi nhận quyền này thể hiện bản chất thực sựdân chủ của Nhà nước ta bởi quyền tự do xuất bản là một quyền rất dân chủ, rất
cơ bản của công dân đã được bản Hiến pháp đầu tiên ghi nhận Đáng tiếc là trongcác bản Hiến pháp sau này của nước ta đã không tiếp tục ghi nhận quyền tự doxuất bản với tư cách là một quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp như Hiếnpháp 1946 đã ghi nhận Việc Hiến pháp 1946 đã ghi nhận quyền tự do xuất bảncủa công dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh lịch sử củanước ta lúc bấy giờ, khi Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, rất nhiềucác tác phẩm văn học, sách, báo,…với mục đích cổ vũ, khích lệ tinh thần yêunước, đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã ra đời, ví dụ: tờ báo ĐấtViệt ở Quảng Ngãi, báo Cứu quốc, báo Sự thật… Có thể nói việc Hiến pháp 1946ghi nhận quyền tự do xuất bản của công dân đã thể hiện quy định khá rộng rãi vàdân chủ của Nhà nước ta về vấn đề này
* Quyền tự do tổ chức và hội họp
Các tổ chức đoàn thể có vai trò rất lớn trong đời sống của nhân dân Do đóviệc thành lập và tham gia vào các tổ chức, các đoàn thể vừa là một nguyện vọngchính đáng của nhân dân vừa là quyền mà công dân yêu cầu Nhà nước phải đảmbảo Hiến pháp 1946 khẳng định công dân có quyền tự do tổ chức và hội họp,được hiểu là công dân được tự do thành lập các tổ chức và có quyền hội họp màkhông bị ngăn cấm Đây là các quyền cực kì quan trọng của công dân đã đượcHiến pháp 1946 ghi nhận Quyền tự do tổ chức được Hiến pháp 1946 ghi nhậnvới nghĩa là tự do thành lập các tổ chức – tự do lập hội nhưng việc sử dụng cụm
từ “tự do tổ chức” để chỉ quyền tự do lập hội là chưa thật sự chính xác nên đếncác bản Hiến pháp sau, nó đã được quy định rõ là quyền tự do lập hội Ghi nhận
Trang 171 7
các quyền này của công dân đã thể hiện rằng, bản chất của nhà nước ta thực sựdân chủ
● Quyền tự do tín ngưỡng
Hiến pháp 1946 quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng (Điều 10).Điều đó có nghĩa là Nhà nước cho phép công dân được tự lựa chọn tín ngưỡngcho mình, có thể theo hoặc không theo một tín ngưỡng nào Không một ai kể cảNhà nước có quyền bắt ép công dân phải theo hoặc không theo một tín ngưỡngnhất định Tuy nhiên, có thể thấy việc Hiến pháp 1946 quy định quyền tự do tínngưỡng của công dân chung với các quyền khác trong một điều luật là không hợp
lý và chưa thể hiện được tầm quan trọng của quyền này bởi vấn đề tín ngưỡngthuộc đời sống tâm linh của con người là một vấn đề rất phức tạp, nên quy địnhriêng thành một điều luật Các bản Hiến pháp của nước ta sau này đã khắc phụcđược hạn chế này của Hiến pháp 1946
● Quyền tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài của công dân
Điều 10 Hiến pháp 1946 khẳng định công dân có quyền “tự do cư trú, đi lại trongnước và ra nước ngoài” Như vậy, Nhà nước cho phép công dân Việt Nam được
tự do lựa chọn chỗ ở cho mình ở bất kì đâu trên lãnh thổ Việt Nam, được tự do đilại trong nước và tự do đi ra nước ngoài mà không bị ai can thiệp hoặc ngăn cấm.Trong đó việc Hiến pháp ghi nhận quyền tự do đi ra nước ngoài của công dân làmột sự tiến bộ lớn, một quy định khá rộng rãi của Nhà nước dành cho công dânkhi mà ở vào thời điểm Nhà nước non trẻ mới được thành lập, tình hình chính trịcòn nhiều phức tạp Quy định này của Hiến pháp 1946 cho thấy công dân ViệtNam có quyền tự do rất rộng trong lĩnh vực này Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 quyđịnh như vậy mới chỉ thấy được quyền của công dân mà chưa thấy được sự quản
lý của Nhà nước đối với quyền tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoàicủa công dân Mặt khác cũng giống như quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do cưtrú, đi lại trong nước và ra nước ngoài của công dân được quy định chung trongmột điều luật cùng với các quyền khác là không hợp lý
● Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Trong tất cả các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp đầu tiên quy định,không thể không kể đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân Đây
Trang 181 8
là quyền cơ bản nhất trong tất cả các quyền con người đã được Nhà nước non trẻđầu tiên tuyên bố và bảo đảm trong đạo luật cơ bản Điều 11 Hiến pháp 1946 quyđịnh: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người côngdân Việt Nam…” Quy định này có nghĩa là không phải cơ quan nào cũng đượcphép bắt, giam cầm công dân một cách tuỳ tiện mà chỉ được phép bắt, giam cầmngười công dân khi có quyết định của cơ quan tư pháp Hay nói cách khác, chỉ có
cơ quan tư pháp mới có quyền quyết định việc bắt, giam người công dân Quyđịnh này của Hiến pháp 1946 đã tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền bất khả xâmphạm về thân thể của công dân, ngăn ngừa sự vi phạm từ phía cơ quan Nhà nước.Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 quy định như vậy chỉ thấy được sự ngăn ngừa việcxâm phạm thân thể của công dân từ phía Nhà nước mà chưa thấy được, ngoài sựxâm phạm từ phía Nhà nước công dân còn có thể bị xâm phạm thân thể từ cácchủ thể khác Và việc xâm phạm thân thể của công dân không chỉ là bắt bớ, giamcầm mà còn có thể có nhiều hành động khác xâm phạm đến thân thể của côngdân Do đó, Hiến pháp 1946 quy định như vậy là chưa đủ Trong hoàn cảnh nước
ta khi các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng còn tồn tại, xâm phạm tới tính mạng,sức khỏe của công dân thì cần thiết phải có quy định hợp lý hơn của Hiến pháp đểđảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
● Quyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín của công dân
Trong số các quy định về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân thì nhà ở, thư tíncần được bảo đảm an toàn là nhu cầu rất quan trọng mà công dân đòi hỏi từ phíaNhà nước Hiến pháp 1946 ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tíncủa công dân tại Điều 11: “…Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam, không aiđược xâm phạm một cách trái pháp luật” Theo quy định này thì công dân cóquyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín Không ai được tự ý xâm phạm nhà
ở và thư tín của người khác, trừ trường hợp pháp luật cho phép Quy định nàynhằm ngăn ngừa sự vi phạm từ phía Nhà nước và các chủ thể khác
Việc Hiến pháp 1946 ghi nhận các quyền trên của công dân có một ý nghĩarất quan trọng Điều đó khẳng định rằng công dân Việt Nam có địa vị pháp lý rõràng, lần đầu tiên trong lịch sử, từ thân phận nô lệ công dân Việt Nam đã đượcHiến pháp khẳng định là họ có quyền - quyền tự do trong các lĩnh vực cơ bản
Trang 191 9
nhất Qua đó thể hiện Hiến pháp 1946 thực sự là một bản Hiến pháp dân chủ.Khẳng định công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức
và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài củacông dân, điều đó có nghĩa là Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo cho cácquyền của công dân được thực hiện Và trên thực tế các quyền này của công dân
đã được Nhà nước ta bảo đảm thực hiện
Tóm lại, Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta nhưng đãrất chú trọng đến các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cánhân Hiến pháp đã dành 2 điều luật (Điều 10, Điều 11) để quy định về 11 quyền,
đó là: quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự dotín ngưỡng, tự do cư trú, tự do đi lại trong nước, tự do ra nước ngoài, quyền bấtkhả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền bất khả xâmphạm về thư tín Việc công nhận tương đối rộng rãi các quyền cơ bản của côngdân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến pháp 1946 thể hiện sự tiến bộvượt bậc của Nhà nước dân chủ nhân dân, thông qua những quyền được ghi nhậntrong Hiến pháp thể hiện mối quan hệ thực sự dân chủ giữa Nhà nước với côngdân Tuy nhiên, do ra đời trong hoàn cảnh lịch sử còn nhiều khó khăn, phức tạp,phải khẩn trương ban hành ngay Hiến pháp nên Hiến pháp 1946 của nước takhông tránh khỏi những hạn chế nhất định Đó là Hiến pháp 1946 mới chỉ tuyên
bố những quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân mà chưa có quyđịnh về việc bảo đảm và trách nhiệm của Nhà nước cho các quyền ấy của côngdân được thực hiện Mặt khác việc quy định một số quyền của công dân trongcùng một điều luật xem ra là chưa hợp lí bởi mỗi quyền liên quan đến một lĩnhvực khác nhau Xét về mặt lịch sử, hạn chế là không tránh khỏi bởi Hiến pháp
1946 ra đời trong bối cảnh cách mạng vừa thành công, chính quyền còn non trẻlại phải đối phó với thù trong giặc ngoài Vì vậy, Nhà nước ta chưa thể quy địnhmột cách cụ thể các bảo đảm cho việc thực hiện các quyền đó Nhưng trên thực tếNhà nước đã tạo điều kiện và cũng rất quan tâm đến các quyền của công dânđược Hiến pháp 1946 quy định trở thành hiện thực Các quyền về tự do dân chủ
và tự do cá nhân của công dân đã được bảo đảm thực hiện trên thực tế
Trang 202 0
2.2 Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến Pháp 1959
Hiến pháp 1959 là bản Hiến pháp thứ hai và là Hiến pháp xã hội chủ nghĩađầu tiên của nước ta, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lịch sử lập hiếnViệt Nam Hiến pháp 1959 ra đời trong hoàn cảnh có nhiều sự kiện quan trọnglàm thay đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Sau chiến thắngĐiện Biên phủ năm 1954 nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền, miền Bắchoàn toàn giải phóng và đi lên Chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam vẫn nằm dướiách thống trị của Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn Cách mạng Việt Nam đãchuyển sang giai đoạn mới với những nhiệm vụ mới Trước tình hình đó, nhiềuquy định của Hiến pháp 1946 đã không còn phù hợp nữa và nó cần được sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với điều kiện mới Chính vì vậy, ngày 31/12/1959, Quốc hội
đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1959 và ngày 1/1/1960 chủ tịch Hồ Chí Minh kísắc lệnh công bố Hiến pháp
Kế thừa những quy định của Hiến pháp 1946 về quyền tự do dân chủ và tự
do cá nhân của công dân, Hiến pháp 1959 đã có bước phát triển mới trong việcquy định cụ thể hơn các quyền này đồng thời bổ sung thêm một số quyền mới.Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân được Hiếnpháp 1959 ghi nhận bao gồm: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hộihọp, tự do lập hội, tự do biểu tình, quyền tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâmphạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền bất khả xâm phạm vềthư tín, quyền tự do cư trú, quyền tự do đi lại Các quyền này có những quyền là
sự ghi nhận lại của Hiến pháp 1946, có quyền là quyền mới được Hiến pháp 1959lần đầu tiên ghi nhận
● Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự
do biểu tình
Đây là những quyền thuộc nhóm quyền dân chủ - chính trị nên được quyđịnh trong cùng một điều luật Các quyền này được ghi nhận tại Điều 25 của Hiếnpháp: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận,báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình Nhà nước bảo đảm những điều kiện vậtchất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó” So với Hiến pháp 1946,
Trang 212 1
Hiến pháp 1959 có sự kế thừa và phát triển khi quy định các quyền này của côngdân
Hiến pháp 1959 tiếp tục ghi nhận lại quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp,
tự do lập hội của công dân đã được Hiến pháp 1946 ghi nhận Quyền “tự do lậphội” trước đây được Hiến pháp 1946 ghi nhận với tên gọi “tự do tổ chức” đã đượcthay thế bằng “tự do lập hội” để bảo đảm tính chính xác và cụ thể hơn Đồng thờiĐiều 25 quy định thêm hai quyền mới là quyền tự do báo chí và tự do biểu tình
tự do trong lĩnh vực báo chí, cho phép họ có quyền rất rộng trong lĩnh vực này
* Quyền tự do biểu tình:
Tự do biểu tình là quyền rất cơ bản của công dân được hầu hết các nướctrên thế giới thừa nhận Ở nước ta quyền này lần đầu tiên được ghi nhận trongHiến pháp 1959 Đây là bước phát triển mới so với Hiến pháp 1946 Nhà nướccho phép công dân được tự do biểu tình để bày tỏ ý kiến ủng hộ hay phản đối củamình về các vấn đề quốc tế và trong nước Việc Hiến pháp 1959 ghi nhận quyềnnày đã thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta Các bản Hiến pháp của nước
ta sau này tiếp tục ghi nhận quyền này với tư cách là một quyền cơ bản của côngdân
Như vậy, Điều 25 Hiến pháp 1959 đã ghi nhận 5 quyền: tự do ngôn luận, tự
do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do biểu tình của công dân trong đó
Trang 222 2
quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do lập hội là sự ghi nhận lại quy địnhcủa Hiến pháp 1946 nhưng có sự cụ thể, rõ ràng hơn vì quyền tự do “tổ chức vàhội họp” trong bản Hiến pháp trước đã được thay thế bằng quyền tự do hội họp và
tự do lập hội Còn quyền tự do báo chí và tự do biểu tình là các quyền mới lầnđầu tiên được Hiến pháp 1959 ghi nhận
Một điểm mới của Hiến pháp 1959 có ý nghĩa cực kì quan trọng đối vớiviệc thực hiện các quyền nêu trên mà Hiến pháp 1946 chưa có, đó là những quyđịnh việc bảo đảm về vật chất: “…Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chấtcần thiết để công dân được hưởng các quyền đó” (Điều 25) Quy định này xácđịnh trách nhiệm của Nhà nước là phải đảm bảo cho công dân thực hiện được cácquyền trên Điều này đã thể hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nướcđối với công dân Đồng thời khắc phục được hạn chế của Hiến pháp 1946 là chưa
có quy định đảm bảo cho các quyền của công dân về tự do dân chủ và tự do cánhân được thực hiện Đây không đơn thuần chỉ là sự tiến bộ trong vấn đề kĩ thuậtlập hiến mà quan trọng hơn đó là sự nhận thức đúng đắn và thái độ quan tâm củaĐảng và Nhà nước về các quyền tự do dân chủ của công dân So với Hiến pháp
1946, Hiến pháp 1959 còn có sự bổ sung quan trọng tại Điều 38: “Không ai đượclợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và củanhân dân” Sự bổ sung này là hợp lí, đảm bảo sự chặt chẽ của pháp luật, tránhviệc lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân vào mục đích xấu, ảnh hưởngtới lợi ích chung của Nhà nước và xã hội
● Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:
Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo luôn là một vấn đề nhạy cảm được Đảng vàNhà nước ta hết sức quan tâm Quyền tự do tín ngưỡng cũng là một quyền rấtquan trọng của công dân được các bản Hiến pháp của nước ta ghi nhận Kế thừaHiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 tiếp tục ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng nhưng
có sự phát triển thêm Nếu như ở Hiến pháp 1946 quyền này được quy địnhchung cùng với các quyền khác thì đến Hiến pháp 1959 quyền tự do tín ngưỡngcủa công dân đã được quy định thành một điều luật riêng tại Điều 26: “Công dânnước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc khôngtheo một tôn giáo nào” Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với
Trang 232 3
vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như tầm quan trọng của vấn đềnày Như vậy, so với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã quy định cụ thể hơnquyền tự do tín ngưỡng, đó là công dân có quyền “theo hoặc không theo một tôngiáo nào” Quy định này nhằm khẳng định thêm quyền tự quyết định của côngdân đối với vấn đề tín ngưỡng, công dân có quyền tự quyết định trong việc lựachọn tín ngưỡng cho mình, Nhà nước cho phép họ theo hoặc không theo bất kìmột tôn giáo nào Qua đó cũng có thể thấy nhận thức mới của Nhà nước ta về tínngưỡng và tôn giáo Công dân không những được tự do về tín ngưỡng mà cònđược tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào
● Quyền tự do cư trú và đi lại của công dân
Quyền này được Hiến pháp 1959 ghi nhận tại Điều 28: “…Công dân nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do cư trú và đi lại” Như vậy, có thể thấy
so với Hiến pháp 1946 thì quyền tự do cư trú và đi lại của công dân trong Hiếnpháp 1959 có phần bị thu hẹp hơn Hiến pháp 1959 chỉ ghi nhận công dân cóquyền tự do cư trú và đi lại với nghĩa là tự do cư trú và đi lại ở trong nước Cònquyền tự do đi ra nước ngoài của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1946nay không được đề cập nữa cho phù hợp với tình hình thực tế là đất nước đang cóchiến tranh và vấn đề bảo đảm tình hình an ninh, chính trị của đất nước trong bốicảnh đất nước còn bị chia cắt làm hai miền Tuy nhiên việc Hiến pháp 1959 ghinhận chung chung “công dân có quyền tự do cư trú và đi lại” như vậy đã khiếncho việc thực hiện quy định này trở nên khó khăn, lúng túng, gây không ít phiềnnhiễu cho công dân
● Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Hiến pháp 1959 đã dành riêng Điều 27 để quy định về quyền bất khả xâm
phạm về thân thể của công dân chứ không quy định chung quyền bất khả xâmphạm về thân thể cùng với quyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín của côngdân như trong Hiến pháp 1946 Điều đó cho thấy tầm quan trọng của quyền nàyđối với mỗi công dân cũng như sự tiến bộ trong kĩ thuật lập hiến của nước ta.Điều 27 Hiến pháp 1959 quy định: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể củacông dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được bảo đảm Không ai có thể bị bắtnếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện
Trang 242 4
kiểm sát nhân dân” Nếu như trước đây quy định của Hiến pháp 1946 chỉ thấyđược việc ngăn ngừa sự xâm phạm thân thể của công dân từ phía Nhà nước màchưa đề cập đến sự xâm phạm thân thể của công dân từ phía các cá nhân vi phạmkhác, thì đến Hiến pháp 1959 đã có bổ sung quan trọng, đó là “Quyền bất khảxâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được bảođảm” tức là Hiến pháp ghi nhận công dân có quyền bất khả xâm phạm về thânthể, không ai được xâm phạm thân thể của người khác Sự bổ sung này là hợp lí,nhằm đảm bảo sự chặt chẽ trong quy định của pháp luật Cũng theo quy định củaĐiều 27 thì công dân chỉ có thể bị bắt nếu có quyết định của Tòa án nhân dânhoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân Cách ghi nhận này là hợp lí, cụ thể
so với Hiến pháp 1946 Cụm từ “Tư pháp” (Điều 11 của Hiến pháp 1946) cũng đãđược thay bằng “Tòa án nhân dân” và “Viện kiểm sát nhân dân” là hợp lí, cụ thể,tránh việc hiểu không đúng hoặc chung chung về cơ quan tư pháp, đồng thời xácđịnh trách nhiệm của các cơ quan này
● Quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, thư tín
Kế thừa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 tiếp tục ghi nhận quyền bất khảxâm phạm về nhà ở và thư tín của công dân Các quyền này trở thành quyền hiếnđịnh có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công dân Điều 28 Hiến pháp 1959quy định: “Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộnghòa không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật” So với Hiến pháp 1946, Hiếnpháp 1959 đã quy định cụ thể hơn, có sự tách biệt giữa quyền bất khả xâm phạm
về nhà ở và quyền được bảo đảm bí mật về thư tín Việc quy định này nhằm đảmbảo quyền không bị xâm phạm về nhà ở, thư tín từ bất cứ người nào nhưng chưathể hiện được nội dung đảm bảo quyền này của công dân không bị xâm phạm mộtcách tùy tiện từ phía cơ quan nhà nước Quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, thưtín của công dân đã được Hiến pháp 1959 tách riêng thành một điều luật mới(Điều 28) chứ không quy định chung trong một điều luật cùng với quyền bất khảxâm phạm về thân thể như ở Hiến pháp 1946 Điều này thể hiện sự quan tâm hơncủa Nhà nước ta đối với loại quyền tự do này của công dân
Tóm lại,những điều trình bày ở trên cho thấy, với Hiến pháp 1959 các quyền
cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân đã được bổ sung và hoàn
Trang 252 5
thiện thêm một bước đáng kể so với Hiến pháp 1946 Sự kế thừa không bao giờđồng nghĩa với sự sao chép nguyên xi cái đã qua, cái đi trước Theo đúng nghĩacủa nó, sự kế thừa đúng đắn phải trong sự phát triển Điều này thể hiện rõ khi ởHiến pháp 1959 đã có sự mở rộng và tăng lên về số lượng các quyền tự do dânchủ và tự do cá nhân của công dân Hiến pháp 1959 đã dành 4 điều (Điều 25,Điều 26, Điều 27, Điều 28) để quy định về 11 quyền tự do dân chủ và tự do cánhân của công dân Đối với những quyền đã được Hiến pháp 1946 ghi nhận, Hiếnpháp 1959 vẫn tiếp tục ghi nhận nếu những quyền đó có những điểm còn phù hợpvới điều kiện thực tế nhưng thông thường có sự sửa đổi, mở rộng hoặc bổ sungthêm về hình thức hoặc nội dung Hiến pháp 1959 đã phản ánh giai đoạn và trình
độ phát triển mới và cả trình độ tư duy, nhận thức mới, đã bổ sung nhiều quy định
và quyền mới mà ở Hiến pháp 1946 chưa cho phép hoặc chưa có nhu cầu ghinhận trong đạo luật cơ bản Đó là quyền tự do báo chí, tự do biểu tình, đồng thờighi nhận thêm những đảm bảo vật chất để cho các quyền đó được thực hiện Hiếnpháp 1959 không tiếp tục ghi nhận quyền ra nước ngoài và quyền tự do xuất bảncủa công dân cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước Qua đó thể hiệntính kế thừa và phát triển của Hiến pháp sau so với Hiến pháp trước
2.3 Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến Pháp 1980
Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch mùa xuân năm 1975 đã mở ra một giai đoạnmới trong lịch sử dân tộc ta Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nướcthống nhất và cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Tìnhhình nước ta sau năm 1975 đã có nhiều thay đổi căn bản về kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội Vì vậy, Hiến pháp 1959 không còn phù hợp nữa và nước ta cần cóbản Hiến pháp mới để thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam tronggiai đoạn mới Trước yêu cầu đó, ngày 18/12/1980 Quốc hội khóa VI, kì họp thứbảy đã thông qua Hiến pháp 1980, gồm Lời nói đầu, 147 Điều và chia làm 12chương
Với sự ra đời của Hiến pháp 1980 – bản Hiến pháp thứ ba và là Hiến pháp
xã hội chủ nghĩa thứ hai của nước ta, các quy định về các quyền cơ bản của côngdân về tự do dân chủ và tự do cá nhân cùng với các bảo đảm pháp lí thực hiện
Trang 262 6
chúng đã có những bước phát triển đáng kể Trên cơ sở kế thừa, mở rộng và bổsung những quy định đã được ghi nhận ở Hiến pháp 1946 và 1959 về quyền cơbản của công dân trong lĩnh vực tự do dân chủ và tự do cá nhân, Hiến pháp 1980
đã ghi nhận lại tất cả các quyền đã được Hiến pháp 1959 ghi nhận, đồng thời quyđịnh thêm một số quyền mới Cùng với sự tăng lên của các quyền này về sốlượng là sự bổ sung, hoàn thiện hơn về nội dung của từng quyền
● Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự
do biểu tình
Kế thừa Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 tiếp tục ghi nhận các quyền tự dongôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do biểu tình của côngdân Đây là những quyền hiến định của công dân đã được khẳng định trong bảnHiến pháp trước đó Các quyền này được Hiến pháp 1980 quy định trong Điều67: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lậphội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân…”
So với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 khi ghi nhận các quyền này đã bổ sungthêm cụm từ “tự do” vào trước mỗi quyền Điều này thể hiện sự chặt chẽ của quyđịnh này và là sự ghi nhận lại kĩ thuật lập hiến của Hiến pháp 1946 Đồng thời khiquy định các quyền này, Hiến pháp 1980 đã bổ sung thêm cụm từ “phù hợp vớilợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân” Nhà nước cho phép công dân cóquyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tìnhnhưng việc công dân sử dụng các quyền này phải phù hợp với lợi ích của chủnghĩa xã hội và của nhân dân Sự bổ sung này xuất phát từ hoàn cảnh ra đời củaHiến pháp 1980 khi mà cả nước đang hân hoan trong niềm vui chiến thắng và tiếnhành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, tất cả mọi hoạtđộng cũng như mọi quy định đều phải đặt lợi ích của Nhà nước và nhân dân lêntrên hết Tuy nhiên cách diễn đạt như vậy sẽ gây cảm giác nặng về hình thức,công dân có các quyền tự do nhưng lại phải phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xãhội và của nhân dân trong khi không phải tất cả mọi người đều hiểu phù hợp vớilợi ích của chủ nghĩa xã hội là như thế nào Do đó cần có quy định cụ thể và dễhiểu hơn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền hợp pháp củamình
Trang 272 7
Đặc biệt, Điều 38 và Điều 25 của Hiến pháp 1959 được quy định chungthành một điều của Hiến pháp 1980 (Điều 67): “… Nhà nước tạo điều kiện vậtchất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó Không ai được lợi dụng cácquyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và nhân dân” Quy địnhgộp như vậy sẽ hợp lí hơn vì các các quy định này cùng điều chỉnh các mối quan
hệ trong lĩnh vực tự do dân chủ của công dân, thể hiện sự chặt chẽ của kĩ thuậtlập hiến nước ta
● Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Kế thừa Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 tiếp tục ghi nhận quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo của công dân: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặckhông theo một tôn giáo nào” nhưng có sự bổ sung thêm “Không ai được lợidụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 68) Điều
đó có nghĩa là công dân được tự do trong vấn đề tín ngưỡng, Nhà nước cho phépmỗi công dân có quyền theo hoặc không theo bất kì một tôn giáo nào nhưngkhông một ai được phép lợi dụng vấn đề tôn giáo để làm trái pháp luật và chínhsách của Nhà nước Những hành động ép buộc công dân theo bất cứ tôn giáo nàohoặc lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín, dị đoan đều bị nghiêm cấm và bịpháp luật trừng trị Sự bổ sung này của Hiến pháp 1980 là cần thiết và hợp línhằm ngăn ngừa việc lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để gây ảnh hưởng đếnđời sống nhân dân, ảnh hưởng đến vấn đề chính trị của đất nước, nhất là trong bốicảnh nước nhà vừa được thống nhất
● Quyền tự do đi lại và cư trú
Quyền tự do cư trú và đi lại đã được ghi nhận trong hai bản Hiến pháptrước Hiến pháp 1980 đã tiếp tục ghi nhận các quyền này tại Điều 71: “Quyền tự
do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật” So với các bảnHiến pháp trước, quy định này đã có sự thay đổi trong trật tự sắp xếp của quyền
tự do đi lại và cư trú, quyền tự do đi lại được đặt lên trước quyền tự do cư trú làhợp lí Quyền tự do đi lại và cư trú mà Hiến pháp 1980 ghi nhận được hiểu vớinghĩa là tự do đi lại và cư trú ở trong nước Công dân có quyền tự do đi lại và lựachọn chỗ ở cho bản thân và gia đình ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam Nhà nướcbảo đảm và pháp luật quy định mỗi công dân có một chỗ ở thường xuyên, không