Tiểu luận: Tài chính công và tăng trưởng dài hạn của châu Âu: bằng chứng từ phân tích dữ liệu panel data
Trang 1pp
Tài chính công và tăng trưởng dài hạn của châu Âu: bằng chứng từ phân tích
dữ liệu panel data
< Diego Romero-Ávila và Rolf Strauch>
GVHD: PGS TS Sử Đình Thành Nhóm nghiên cứu: Nhóm 2-TCDN
đêm 4.K22
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁNG VIÊN :
Trang 32 N guyễn Thị Hải Linh Tóm tắt phần 6, góp ý
phần tóm tắt của các phần còn lại, thuyết trình
3 Tăng Khánh Phong Tóm tắt phần 5, góp ý
phần tóm tắt của các phần còn lại
4 Lê N gọc Phú Thuận Tóm tắt phần 3 và 4,
góp ý phần tóm tắt của các phần còn lại
5 N guyễn Thị Minh Tuyên Tổng hợp bài, góp ý
phần bài làm của các thành viên, thuyết trình
6 N guyễn Thị Tường Vy Tóm tắt phần 4, góp ý
phần tóm tắt của các phần còn lại
Trang 4DANH S ÁC H NHÓM:
1 Lê Thị Kim Anh
2 N guyễn Thị Hải Linh
3 Tăng Khánh Phong
4 Lê Ngọc Phú Thuận
5 N guyễn Thị Minh Tuyên
6 N guyễn Thị Tường Vy
Trang 5MỤC LỤC
1 Giới thiệu 5
2 Lý thuyết và bằng ch ứn g thực nghiệm hiện có 6
3 D ữ liệu 8
4 C ác thuộc tính chuỗi thời gian của tăng trưởng và tài chính công 9
4.1 N hững xu hướng có tín h xác định 9
4.2 Xu h ướng ngẫu nhi ên 10
4.3 Kết hợp các khoản chi ti êu và các khoản thu .13
5 Tác động của tài chính công về tăng trưởng dài hạn - Một thử nghiệm độ trễ ph ân phối .16
5.1 Q uy trình ước lượng 16
5.2 Kết quả ước lượn g 19
5.2.1 Tài chính công và tăn g trưởng 19
5.2.2 Thuế và đầu tư tư nhân 21
6 Kết luận 23
Trang 61 Giới thiệu
Hội đồng châu Âu đặt ra quá trình Lisbon để nâng cao tốc độ tăng trưởng sản lượng trong các nước EU Mục tiêu của chính sách kinh tế này là bộ phận để thúc đẩy p hát triển kinh tế tri thức với công nghệ cao, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý phù hợp Trong một quá trình theo dõi Lisbon, các Ủ y ban và Hội đồng ECO FIN nhấn mạnh rằng "chất lượng" tài chính công đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng và việc làm
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ điều tra mô hình tăng trưởng là kết quả của những cải cách chính sách trong tương lai của quá trình Lisbon Phân tích kinh nghiệm trong quá khứ ở các nước châu  u chỉ ra rằng tài chính công có khả năng để tăng tỷ lệ tăng trưởng vĩnh viễn
Nghiên cứu hồi quy “Barro-type” đã tuyên bố tìm thấy bằng chứng cho sự tăng trưởng nội sinh nếu chính sách đa dạng và biến thể chế đã bao gồm trong các hồi quy ảnh hưởng đến hiệu suất dài hạn Nhưng phương pháp này sẽ không còn phù hợp kể từ khi mẫu châu Âu là đồng nhất hơn trong các giải thích đặc trưng
Tiếp đó, một bài nghiên cứu khác đã chủ yếu tập trung vào hàng loạt tác động thời gian của hai hướng lý thuyết Nếu biến chính sách sau một loạt mô hình thời gian cụ thể, thì tăng trưởng kinh tế nên thể hiện hành vi tương tự theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh Ngược lại, các thuộc tính chuỗi thời gian của biến chính sách lại không nhất thiết phải trùng với tăng trưởng sản lượng theo mô hình tăng trưởng ngoại sinh Biến tài chính là môi trường thử nghiệm tốt cho những giả thuyết này, kể từ khi thuế bóp méo và chi tiêu sản xuất được cho là có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, trong khi đó họ cần phải có mức độ ảnh hưởng từ một quan điểm tân cổ điển Chúng tôi sẽ sử dụng những dự đoán như một cơ sở để giải thích các mô hình quan sát được của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính công đã không được thực hiện một cách có hệ thống ở châu Âu Đ ây là thiếu sót trong các nghiên cứu thực nghiệm mà nghiên cứu của chúng tôi muốn làm rõ Ban đầu, chúng tôi sẽ phân tích các tính chất chuỗi thời gian của tăng trưởng sản lượng và các biến về chính sách tài khóa để xác định mức độ ổn định Trong phần thứ hai, chúng tôi sẽ ước tính tác động của chính sách tài chính đối với xu hướng tăng trưởng bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận phân phối trễ
Bài viết này có kếu cấu như sau
Trang 7- Phần 4: Chúng tôi phân tích các tính chất chuỗi thời gian tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người thực tế và các các biến tài chính công Phân tích này cho thấy
có sự phát triển bền vững trong tăng trưởng GD P bình quân đầu người và các biến tài chính, điều này phù hợp với một số dự đoán lý thuyết về tăng trưởng dài hạn
- Phần 5: Chúng tôi tiến hành ước tính độ phân phối trễ như một kiểm tra hệ thống hơn về tác động lâu dài của tài chính công
- Phần 6: K ết thúc
Các bài viết về phát triển lý thuyết dựa trên tất cả những thực nghiệm yếu tố nội sinh của tốc độ tăng trưởng sản lượng trong dài hạn
Mô hình tăng trưởng của Solow (1956) và Cass (1965) cùng những nhà nghiên cứu khác đã hình thành xu hướng tăng trưởng chịu ảnh hưởng chủ yếu của các yếu tố ngoại sinh
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1986, 1990), Lucas (1988), Barro (1990)
và Rebelo (1991) và những người khác chỉ ra các biến số chính sách có thể không chỉ ảnh hưởng đến mức sản lượng mà còn ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng trưởng ổn định trong tương lai
Barro (1990) chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa tăng trưởng và chính sách tài khóa Ông phân biệt bốn loại tài chính công: chi tiêu sản xuất so với chi tiêu phi sản xuất và thuế bóp méo với thuế không bóp méo Chúng tôi trình bày một phác thảo đơn giản của
mô hình Barro để cho thấy rằng cả chi tiêu công và thuế bóp méo có thể ảnh hưởng lâu dài sự tăng trưởng sản lượng Chúng tôi cho rằng tất cả những người tiêu dùng được chuẩn hóa thành một Cả người tiêu dùng tiêu thụ và sản xuất sản phẩm cuối cùng theo chức năng sản xuất sau đây:
(1)
k là viết tắt của vốn vật chất tư nhân tích lũy và g là chi tiêu chính phủ trực tiếp vào quá trình sản xuất Người ta cho rằng sự hạn chế ngân sách nhà nước được cân đối trong từng thời kỳ và được cho bởi
(2) trong đó G đại diện cho chi tiêu chính phủ mà không trực tiếp tham gia vào chức năng sản xuất như một đầu vào, T đại diện cho tổng thuế và τ là tỷ lệ thuế tương ứng trên sản lượng làm sai lệch các quyết định đầu tư
Người tiêu dùng tối đa hóa hữu dụng liên thời gian của họ được tính bởi
phụ thuộc vào giới hạn ngân sách ρ đại diện tỷ lệ theo thời gian và σ
Trang 8là độ co giãn thay thế liên thời gian của mức tiêu thụ Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ và sản lượng trong trạng thái ổn định có dạng:
(3)
Công thức (3) cho thấy chi tiêu sản xuất của chính phủ như một phần của sản lượng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng dài hạn trong khi thuế bóp méo có tác động tiêu cực đến tăng trưởng Chi tiêu không hiệu quả cũng như tổng số thuế không ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng trong trạng thái ổn định Từ mô hình này, chúng ta xem xét các biến tài chính từ cả hai mặt của vấn đề giới hạn ngân sách cho sự phát triển và sự thất bại của cả chi tiêu chính phủ và thuế bóp méo trong hồi quy tăng trưởng sẽ dẫn đến mô hình sai quy định
Jones (1995) là người đầu tiên khai thác thuộc tính chuỗi thời gian để kiểm tra lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh so với nội sinh Ông bắt đầu với lập luận đơn giản là theo
lý thuyết tăng trưởng nội sinh, sự thay đổi thường xuyên trong một số biến chính sách có tác dụng lâu dài đến tốc độ tăng trưởng của sản lượng D o đó, nếu tốc độ tăng trưởng tại
Mỹ và các nước OECD khác hiện không có thay đổi liên tục, các biến chính sách cơ bản cũng sẽ không có sự thay đổi lớn hoặc sự thay đổi liên tục của các biến phải được bù đắp Tuy nhiên, sử dụng phương pháp ước lượng theo mô hình phân phối trễ của Dickey và Fuller (1979, AD F), kết quả cho thấy sự thay đổi trong đầu tư và chi phí R&D không gây bất kỳ ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển, do đó bác bỏ những dự đoán của lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Karras (1999) cũng tiếp cận chủ yếu theo phương pháp của Jones (1995), tập trung vào tác động của thuế đối với tăng trưởng G DP bình quân đầu người Ô ng phân tích trên
11 quốc gia O ECD, thấy rằng tốc độ tăng trưởng G DP thực tế nói chung là cố định, trong khi chuỗi dữ liệu thuế và thuế suất trực tiếp có dấu hiệu là những chuỗi không dừng ở hầu hết các nước Ô ng kết luận rằng việc điều chỉnh mức thuế suất không liên quan đến những thay đổi thường xuyên của tăng trưởng G DP thực tế, trừ khi những thay đổi lâu dài trong các loại thuế bị hủy bỏ do những thay đổi thường xuyên trong chính sách biến khác Tuy nhiên, ông không nghiên cứu khả năng cuối cùng bằng cách đưa quy mô chi tiêu ngân sách vào trong phân tích của mình Evans (1997) đạt được kết quả tương tự bằng cách phân tích tác động của tiêu dùng của chính phủ về phát triển trên mẫu gồm 92 quốc gia
Kocherlakota và Yi (1997) kiểm tra xem thuế hay đầu tư công có bất kì ảnh hưởng lâu dài đến tăng trưởng sản lượng hay không dựa trên chuỗi thời gian lên đến 100 năm đối với M ỹ và 160 năm cho Vương quốc A nh Bởi vậy, họ kết hợp cả hai mặt của ngân sách vào phân tích của họ và thấy rằng những dự đoán của lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh thường bị từ chối khi thuế và đầu tư công được đưa vào các mô hình kinh tế Tuy nhiên, họ không chính thức kiểm tra sự đồng biến của các biến chính sách Điều này cũng
Trang 9đúng với Kneller và đồng nghiệp (1999) và Bleaney cùng đồng nghiệp (2001), họ đã ước lượng ảnh hưởng dài hạn của tài chính công đến tăng trưởng các nước OECD , việc tìm kiếm một tác động tăng trưởng đáng kể chi tiêu sản xuất và sự bóp méo thuế
Bài nghiên cứu đi vào nghiên cứu khả năng hai lực lượng đối kháng có thể truyền đạt một tác dụng ngược lại (và có thể bù đắp) đối với tăng trưởng theo logic phân tích của Jones Điều này được thực hiện bằng cách kết hợp hai giả thuyết chính Một mặt khác, chúng tôi đi theo mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990) trong đó dự đoán rằng chi tiêu sản xuất của chính phủ và thuế bóp méo gây một tác dụng tăng trưởng của các dấu hiệu ngược lại Bên cạnh đó, chúng tôi xem xét các lý thuyết về phát triển bền vững liên thời gian của chính sách tài khóa, trong đó dự đoán rằng chi tiêu chính phủ và các khoản thu được cùng kết hợp để đảm bảo rằng ràng buộc ngân sách ổn định ở mức giá trị hiện tại được duy trì Vì vậy, ngay cả khi chúng ta thấy rằng các biến tài chính riêng lẻ không ổn định trong khi tăng trưởng sản lượng xuất hiện ổn định, mô hình phân tách này
có thể vẫn được hòa hợp với dự đoán tăng trưởng nội sinh nếu tồn tại một biến số chính sách có ảnh hưởng bù đắp vào sự phát triển D o đó, không giống như các nghiên cứu của Evans (1997) và Karras (1999), dựa trên lý thuyết về ổn định tài khóa, chúng ta nhìn vào nguồn gốc của giới hạn ngân sách của chính phủ bởi vì bất kỳ khoản chi bổ sung cần phải được tài trợ, dẫn đến một tác động lớn hơn của thuế bóp méo
Một số nghiên cứu trước bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào dữ liệu của chính phủ trung ương, tuy nhiên, cách tiếp cận này rõ ràng còn những hạn chế, do đó bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu trên cơ sở toàn bộ hoạt động của chính phủ Đ ầu tiên, toàn bộ hoạt động của chính phủ và không chỉ hoạt động của chính phủ trung ương nên tính từ một quan điểm kinh tế Thứ hai, toàn bộ chính phủ cung cấp một dữ liệu đồng nhất hơn so với chỉ thiết lập ở chính quyền trung ương, vì ở đó có thể có những thay đổi mạnh mẽ tùy thuộc các tổ chức của chính quyền quốc gia và địa phương
Vì vậy, chúng tôi sử dụng dữ liệu cho chi tiêu chung của Chính phủ và các khoản thu trong tất cả các nước thành viên EU 1960-2001 (Ủy ban A meco tập hợp dữ liệu, mùa thu năm 2002) Tất cả các chuỗi thời gian được tính trong các bản ghi và các biến tài chính được xác định bằng tỉ lệ so với GD P
Trang 10Dữ liệu để tính toán mức độ và tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người cũng như tỷ lệ đầu tư tư nhân trong G DP được lấy từ OECD Economic O utlook
Đánh giá tác động tiềm năng của các chính sách tài chính đối với tăng trưởng chúng
ta hãy nhìn vào các thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu Giả thuyết rằng sự thay đổi lâu dài trong các biến chính sách có ảnh hưởng đến một sự thay đổi lâu dài trong mô hình tăng trưởng, nếu lý thuyết tăng trưởng nội sinh đúng, giả thuyết này là tương thích với các mô hình chuỗi thời gian khác nhau Vì vậy, trước tiên chúng ta tìm kiếm các xu hướng thay đổi dài hạn xác định và sau đó đến các quá trình ngẫu nhiên liên tục
và hàng thứ ba là một ước tính trung bình-nhóm các hệ số xu hướng mà được tính bằng trung bình của ước lượng các cá thể Các hệ số ước tính cho một xu hướng xác định trong tăng trưởng G DP bình quân đầu người mang một dấu hiệu tiêu cực và rất có ý nghĩa thống kê
Chuyển sang các biến tài chính công, hình 2 cho thấy rằng đã có một sự gia tăng rõ ràng trong chi tiêu công ở đầu những năm 1980 ở tất cả các nước X u hướng này san phẳng về sau hoặc thậm chí đảo ngược Tại Bỉ, Ireland, Luxembourg và H à Lan, đảo ngược thiết lập trong những năm 1980, trong khi nó là tính chất gần đây ở hầu hết các quốc gia khác Tổng thu nhập cho thấy một sự gia tăng tương tự nhưng thường ít rõ ràng hơn trong các năm 1960 và 1970 X u hướng này sau đó cũng san phẳng trong hầu hết trường hợp, nhưng không được đảo ngược
Trang 11Bởi vì toàn bộ chi tiêu và tổng thu là thước đo không phản ảnh chính xác các khoản chi tiêu sản xuất và bóp méo thuế, Bảng 1 trình bày ước tính các ước lượng xu hướng khác nhau cho một số loại chi tiêu và thu nhập mà có thể có ảnh hưởng đến tăng trưởng theo mô hình của Barro Cột thứ hai khẳng định xu hướng tăng trong dài hạn của chi tiêu chính phủ, xuất hiện chủ yếu là do chi chuyển giao và mở rộng chi tiêu dùng của chính phủ Đ iều thú vị là đầu tư công cho thấy sự phát triển ngược lại Song song, bóp méo thuế
- được tính là tổng của toàn bộ số thuế trực thu và đóng góp an sinh xã hội - tăng đều trong thập kỷ qua Sự suy giảm dài hạn của đầu tư công và gia tăng bóp méo về thuế đều tương thích với sự p hát triển xu hướng thấp hơn rõ ràng trong ước tính của chúng tôi
4.2 Xu hướng ngẫu nhiên
Đưa ra các mô hình quan sát trong biểu đồ 2 và 3, biến chính sách của chúng tôi có thể không chỉ thể hiện xu hướng ngẫu nhiên xác định mà còn có những xu hướng ngẫu nhiên qua nhiều năm Để kiểm tra giả thuyết này, chúng tôi thực hiện các bài kiểm tra đơn vị gốc vượt qua năng lượng thấp kết hợp với kiểm tra đơn vị cá nhân Chúng tôi sử dụng các phương pháp kiểm định của Im et al (2003) (henceforth, IPS) và Breitung (2000) Đặc điểm kỹ thuật bảng điều khiển của chúng tôi sẽ có dạng:
Trong đó pi là mức độ một quốc gia cụ thể cần tăng thêm độ trễ
Trang 12N và T là số lượng các đơn vị mặt cắt ngang và thời gian quan sát tương ứng
αi và δit đại diện cho hiệu ứng cố định và xu hướng xác định tương ứng của một quốc gia cụ thể
θt là viết tắt của biến giả thời gian sử dụng để đo lường cho tương quan mặt cắt ngang có thể là kết quả của những cú sốc chung tác động đến thành viên ban hội thẩm trong một thời gian nhất định
Giả thuyết H0 của kiểm định IPS nghĩa là γi = 0, với mọi i, nghĩa là tất cả các dòng có một gốc đơn vị, được kiểm định với H1 thay thế γi < 0 với i = 1,2,…, N1 và γi = 0, với i = N1 + 1, N1 + 2,…, N
Giả định rằng các đơn vị mặt cắt ngang N được p hân phối độc lập, thống kê t có thể được tính như một trung bình của thống kê cá nhân AD F-t như sau:
Trong đó tiT(pi,ρi) là t hống kê t để t hử nghiệm γi = 0 trong mỗi đặc điểm kỹ thuật
cá nhân A DF
Trang 13Giả định rằng những thời điểm thứ 2 của tiT(pi,ρi) t ồn tại, t hống kê ¯tNT ð p; qÞ được hiệu chỉnh cho cỡ mẫu nhỏ như sau:
Trong đó E[tiT( pi,0) / γi = 0] và Var[tiT( pi,0) / γi = 0] là nhữ ng yếu t ố điều chỉnh thu được t hông qua mô p hỏng ngẫu nhiên Số liệu thống kê tiêu chuẩn hóa hội tụ yếu đến một tiêu chuẩn một mặt phân phối bình thường dưới sự vô giá trị và phân
kỳ theo phương án thay thế D o đó, chúng ta cần phải so sánh giá trị của Zt với các giá trị quan trọng từ một phân phối chuẩn tiêu chuẩn
Kiểm định IPS bị giảm đáng kể sức mạnh khi xu hướng không đồng nhất có bao gồm trong đặc điểm kỹ thuật là kết quả của sự điều chỉnh sai lệch mẫu nhỏ áp dụng cho các thống kê t (Baltagi and Kao, 2000a,b; Breitung, 2000) Để giải quyết vấn đề này, Breitung (2000) đề xuất một đơn vị kiểm tra gốc sử dụng bảng thống kê t Bằng cách cho phép các
xu hướng xác định không đồng nhất và động lực ngắn hạn giữa các quốc gia mà không cần điều chỉnh sai lệch Kiểm định của Breitung có nhiều quyền lực hơn để từ chối một giả thuyết sai và không nhạy cảm với mức độ tăng thêm của các chi tiết kỹ thuật AD F
Bảng 2 trình bày kết quả cho sự phát triển bình quân đầu người thực tế, thu nhập hiện tại và tổng chi với các thành phần tương ứng (ví dụ thuế trực thu, các khoản đóng góp an sinh xã hội, thuế gián tiếp, tiêu thụ của chính phủ, chuyển giao và đầu tư công) Kết quả kiểm tra cho thấy GD P bình quân đầu người theo mô hình I(1), trong khi tốc độ tăng trưởng bình quân GDP thực là ổn định cho các mẫu của EU-15 Kết quả cho các biến tài khóa cũng rõ ràng Liên quan đến mặt thu nhập của ngân sách, kiểm định IPS và Breitung
Trang 14xác định một gốc đơn vị trong tất cả các chi tiết kỹ thuật cho tổng các khoản thu và thuế bóp méo Kết quả này có vẻ chủ yếu là do các thành phần thuế trực tiếp mà rõ ràng có chứa một gốc đơn vị, bởi vì kết quả cho những đóng góp an sinh xã hội là hỗn hợp Trong khi kiểm định IPS từ chối giả thuyết vô giá trị của một đơn vị gốc trong các khoản đóng góp an sinh xã hội ở mức 1% khi xu hướng được bao gồm và ở mức 10% trong các chi tiết kỹ thuật không có xu hướng, thì kiểm định Breitung không từ chối Liên quan đến vấn đề chi tiêu ngân sách, tổng chi và các tiểu mục của nó được thúc đẩy bởi một xu hướng ngẫu nhiên Số liệu thống kê gốc đơn vị cho các biến trong lần đầu tiên cho thấy
sự khác biệt biến phi tài chính được thể hiện ở lệnh thứ 2
Một cách tổng quan, tăng trưởng sản lượng là ổn định trong khi các biến chính sách tài khóa là biến động N ếu đầu tư công được coi là chi tiêu sản xuất và thuế trực thu như thuế bóp méo, kết quả này có thể được coi như một thách thức đối với lý thuyết tăng trưởng nội sinh Vì những thay đổi liên tục trong các chính sách tài khóa không xuất hiện đồng thời với những thay đổi liên tục trong tốc độ tăng trưởng bình quân G DP, không có
hỗ trợ cho các dự đoán tăng trưởng nội sinh theo hướng lập luận bởi Jones (1995) và Karras (1999)
4.3 Kết hợp các khoản chi tiêu và các khoản thu
Mô hình chuỗi thời gian phân kỳ tăng trưởng GD P bình quân đầu người và các biến chính sách tài khóa vẫn có thể được xem là phù hợp nếu bổ sung thêm một biến số chính sách có ảnh hưởng bù đắp dài hạn đối với sự phát triển N ói cách khác, hai điều kiện phải được đáp ứng: thứ nhất, các biến phải cùng di chuyển với các công cụ chính sách được xem xét, và thứ hai, nó phải được thể hiện một hiệu ứng tăng trưởng liên tục theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh Các ứng viên quan sát ở đây đang nhìn vào mặt trái của ngân sách, vì bất kỳ sự gia tăng chi tiêu có được tài trợ, điều này có thể dẫn đến một hậu quả lớn hơn của thuế bóp méo
Có thể được chỉ ra rằng giới hạn ngân sách ổn định không thực sự bao hàm một mối quan hệ kết hợp giữa doanh thu và chi phí Tuy nhiên, liệu mối quan hệ này có tồn tại cho mẫu của chúng tôi và liệu điều đó có thể giải thích mô hình quan sát được của tăng trưởng kinh tế vẫn còn là một câu hỏi thực nghiệm Đ ầu tiên, lý thuyết tăng trưởng tập trung vào chi tiêu sản xuất và thuế bóp méo Do đó, chưa có bằng chứng thực nghiệm cho mối quan hệ kết hợp giữa chi tiêu với các khoản thu Thứ hai, giới hạn ngân sách ổn định phải được duy trì trong một phạm vi và mối liên kết với giả định rằng giải định rằng nền kinh tế hoạt động hiệu quả N hững tác động dài trong thời gian hữu hạn không rõ ràng, đặc biệt là khi nền kinh tế hoạt động không hiệu quả và tốc độ tăng trưởng vượt quá lãi suất Trong hoàn cảnh này, các nước có thể tham gia vào một "canh bạc thâm hụt" ngay
cả trong một khoảng thời gian dài (Ball và cộng sự, 1998; O'Connell và Zeldes, 1988)