THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
XAYAVONG HONY
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG KHÁM NGHIỆM
TỬ THI CÁC VỤ ÁN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM
Kon Tum, tháng 5 năm 2023
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NĂNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG KHÁM NGHIỆM
TỬ THI CÁC VỤ ÁN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM
GVHD : ThS Nguyễn Thị Trúc Phương CBHD : Nguyễn Hồng Dũng
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 3
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 3
1.1.1 Khái quát về thành phố Kon Tum 3
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum 5
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, CƠ CẤU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 6
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum 6
1.2.2 Cơ cấu và tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum 8
KẾT CHƯƠNG 1 10
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 11
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 11
2.1.1 Một số vấn đề chung về hiện trường, tử thi, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đối với các vụ án tai nạn giao thông đường bộ 11
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ án tai nạn giao thông đường bộ 13
2.1.3 Ý nghĩa của công tác kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ án tai nạn giao thông đường bộ 15
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 15
KẾT CHƯƠNG 2 22 CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI
Trang 4VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 23
3.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 23
3.1.1 Tình hình diễn ra các vụ án tai nạn giao thông đường bộ dẫn đến chết người trên địa bàn thành phố Kon Tum 23
3.1.2 Thực trạng công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của VKSND thành phố Kon Tum đối với các vụ án tai nạn giao thông đường bộ dẫn đến chết người 24
3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động kiểm sát hiện trường, kiểm sát tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ của VKSND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 28
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC NGHIỆM CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA VKSND THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 30
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 30
3.2.2 Giải pháp khác 31
KẾT CHƯƠNG 3 34
KẾT LUẬN 35
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 BÁO CÁO CÔNG VIỆC HÀNG THÁNG TẠI ĐƠN VỊ THỰC TẬP
BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN
GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THÀNH BÁO CÁO THỰC TẬP
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Không viết tắt BLHS Bộ Luật hình sự VKSND Viện kiểm sát nhân dân BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự KNHT Khám nghiệm hiện trường KNTT Khám nghiệm tử thi
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ được hiểu là nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ Thông qua công tác khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra kịp thời phát hiện, thu thập các dấu vết phanh, vết lốp, vết cày xước mặt đường, dấu vết va quẹt để lại trên các phương tiện giao thông, các dấu vết mảnh vỡ của phương tiện để lại trên mặt đường do các phương tiện giao thông khi gây tai nạn tạo nên và các tình tiết khác của vụ việc mang tính hình sự Kết quả của khám nghiệm hiện trường là một trong những căn cứ quan trọng giúp Cơ quan điều tra nhận định có hay không dấu hiệu tội phạm để xem xét quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can Để đảm bảo công tác khám nghiệm hiện trường được tuân thủ đúng quy định của pháp luật, việc phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản các dấu vết, vật chứng của vụ phạm tội được đầy đủ, toàn diện, khách quan, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm
vụ, quyền hạn kiểm sát khám nghiệm hiện trường Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về tai nạn giao thông đường bộ đạt hiệu quả, chất lượng cao
Những năm qua, các vụ xâm phạm trật tự giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kon Tum cơ bản được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân, góp phần ổn định trật tự, an toàn giao thông trong tỉnh Tuy nhiên, qua Hội nghị sơ kết 5 năm công tác khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kon Tum, nhận thấy vẫn còn một số vụ án bị tồn đọng, kéo dài, sau đó phải đình chỉ
vì không chứng minh được tội phạm Trong đó có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là thiếu sót, sai phạm của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ tại hiện trường Điều đáng nói, trong hầu hết các vụ
án này Kiểm sát viên khi kiểm sát khám nghiệm hiện trường cũng không phát hiện được những thiếu sót sai phạm của Điều tra viên để yêu cầu bổ sung, khắc phục kịp thời
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác khám nghiệm hiện trường đối với các vụ án tai nạn giao thông, trên cơ sở tổng hợp các biện pháp thực hiện, kinh nghiệm thực tiễn và những khó khăn vướng mắc trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông của hai cấp kiểm sát tỉnh Kon Tum; đề xuất các biện pháp khắc phục và những giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng trong lĩnh vực này nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đồng thời tăng cường trách nhiệm công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát giải quyết kịp thời đúng pháp luật các vụ án tai nạn giao đường bộ Chính vì thế em chọn đề
tài “Công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ của Viện kiểm sát thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam tại tỉnh Kon tum Đề tài đề xuất các giải pháp kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đúng quy định của pháp luật gópnhằm phát hiện, thu thập, nghiên cứu
Trang 7đánh giá các dấu vết cũng như những thông tin vật chất khác có trên hiện trường, phục vụ cho công tác điều tra, khám phá vụ án và phát hiện xử lý người phạm tội theo pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định BLTTHS năm 2015 và thực tiễn kiểm sát hiện trường, khám nghiệm tử thi trên địa bàn thành phố Kon Tum tỉnh Kon Tum Trong đó nội dung cơ bản là kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với Cơ quan cảnh sát điều tra trong quá trình tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu giữ, tạm giữ, phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ việc ở hiện trường để phục vụ cho việc đánh giá có tội phạm xảy ra không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu trên góc độ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình
sự Trong đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi do tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố Kon Tum nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung
Các số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu thập từ thực tiễn kiểm sát hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy định của BLTTHS năm 2015 trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong các năm gần đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên các cơ sở quan điểm duy vật về biện chứng của triết học Mác – Lê Nin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về tội phạm, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
Chương 3: Thực tiễn công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM
1.1.1 Khái quát về thành phố Kon Tum
a Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Kon Tum là thành phố miền núi vùng cao Nam Trung Bộ, phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, với chiều dài biên giới khoảng
260 km, phía Bắc giáp thành phố Quảng Nam; phía Đông giáp thành phố Quảng Ngãi; phía Nam giáp thành phố Gia Lai; có đường 14 nối với các thành phố Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào) Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc tể về phía Tây Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước
Địa hình Kon Tum chủ yếu là đồi núi, chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn thành phố, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc - Tây Bắc chạy sang phía Đông thành phố Kon Tum, đa dạng với gò đồi, núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau khá phức tạp, tạo ra những cảnh quan phong phú, đa dạng
Khí hậu Kon Tum có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía Nam Việt Nam, lại mang tính chất của khí hậu cao nguyên Khí hậu Kon Tum chia thành 2 mùa
rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng
11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình ưong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C
Rừng Kon Tum phần lớn là rừng nguyên sinh có nhiều gỗ quý như cẩm lai, dáng hương, pơ mu, thông thành phố Kon Tum có khoảng hơn 300 loài thực vật, thuộc hon
180 chi và 75 họ thực vật có hoa Động vật nơi đây cũng rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim Thú có
88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn
b Tổ chức hành chính
Kon Tum hiện có 09 đơn vị hành chính gồm: thành phố Kon Tum (trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của thành phố) và 08 huyện: Đăk Hà, Đăk Tô, Đăk Glei, Sa Thầy, Ngọc Hồi, Kon Plong, Kon Rầy và Tu Mơ Rông
Trang 940 đi Atuepư (Lào)
Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, cơ cấu kinh tế chuyển đổi cơ bản tiến bộ, công nghiệp xây dựng đạt 32%, nông, lâm nghiệp 25%, dịch vụ 43%, GDP bình quân đầu người đạt 507 USD, nhu cầu vốn đầu tư cả thời kỳ 476,6 triệu USD Tình hình xuất nhập khẩu đến năm 2010 đạt 70 triệu USD Đồng thời năm 2010 có 50.000 lượt khách du lịch, trong
Ước tính đến cuối năm 2012, toàn thành phố có 13.794 hợp tác xã, tăng 504 so với năm 2011 Danh thu bình quân của Hợp tác xã năm 2012 ước đạt 1,74 tỷ đồng/HTX/Năm, Lợi nhuận bình quân của hợp tác xã đạt 370,87 triệu đồng/HTX/Năm Thu nhập bình quân của các xã viên hợp tác xã ước đạt 18,26 triệu đồng/xã viên/năm Thu nhập của lao động thường xuyên trong các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã ước đạt 17,83 triệu đồng/lao động/năm
Thành phố Kon Tum đã thực hiện đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
và sản phẩm chủ lực của thành phố như Sâm Ngọc Linh, rau hoa xứ lạnh, nuôi cá tầm, cá hồi gắn với tìm kiếm thị trường tiêu thụ Thành phố phấn đấu trong năm 2013, thu ngân sách nhà nước tại địa bàn đạt trên 1.830 tỷ đồng và kim ngạch xuất khẩu đạt trên 100 triệu USD
e Chính trị, văn hóa - xã hội
Năm 2000, thành phố được công nhận phổ cập giáo dục Tiểu học và xoá mù chữ, năm 2010 thành phố được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Hệ thống cơ sở đào tạo nguồn nhân lực tiếp tục được mở rộng; tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng
từ 21% (năm 2005) lên 33,5% (năm 2010)
Đến nay 100% số xã đã có trường THCS, có 80 trường đạt chuẩn quốc gia Đến năm
2010 đã xây dựng được 5 980 phòng học Năm 1991 mới chỉ có 60% số người trong độ tuổi được cắp sách đến trường, tỉ lệ mù chữ trong độ tuổi 15 - 25 là 46,6%, thì đến năm
2004 giảm xuống còn 6,3% số học sinh có mặt đầu năm học năm 2005 là 122 841 học sinh thì đến năm 2010 là 134 037 học sinh
Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ Khi mới thành lập lại thành phố, cơ sở vật chất của ngành y tế thiếu thốn nghiêm trọng; đội ngũ cán bộ y tế vừa thiếu, vừa yếu; trang thiết bị chuyên môn thiếu thốn, lạc hậu, nhiều xã “trắng” về y tế (không có trạm và cán bộ y tế) Đến nay, mạng lưới y tế được xây dựng, củng cố và kiện toàn từ thành phố đến cơ sở Đã có 6,3 bác sĩ/vạn dân; 83,5% số trạm y tế xã có bác sĩ;
Trang 1098% trẻ em dưới 01 tuối được tiêm chủng đầy đủ
Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Hồi đã hoàn thành, đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả Tỉ lệ trạm y tế xã có bác sĩ tăng từ 40% lên 55,7% Bệnh viện đa khoa THÀNH PHỐ, các trung tâm y tế được đầu tư nâng cấp và đưa vào sử dụng các thiết bị kỹ thuật y học tiên tiến, hiện đại Y tế dự phòng triển khai tích cực, khống chế và đẩy lùi các dịch bệnh nguy hiểm Một số công trình văn hóa, phúc lợi cộng cộng được đầu tư xây dựng Lễ hội văn hóa tiêu biểu của 6 dân tộc bản địa được phục dựng Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển cả về số lượng và chất lượng, cùng với các hoạt động văn hóa, thể thao được quan tâm phát triển đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân
f Kết cấu hạ tầng
THÀNH PHỐ hiện có 2.919,15 km đường giao thông: Quốc lộ có 388 km gồm: Đường
Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14), 14C, 40 và 24 THÀNH PHỐ lộ có 391,8 km gồm: THÀNH PHỐ lộ 671, 672, 673, 674, 675, 676, 677, 678, đường tái định cư Hà Mòn Đường giao thông nông thôn có 2.139,35 km
tổng công suất 80 MW (ĐăkRơSa, ĐăkPôNe, ĐăkPôNe2, Đăk Ne, ĐăkPsy 4); thủy điện thượng Kon Tum và nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ đang được triển khai thi công Điện thương phẩm bình quân đầu người khoảng 309 kwh/người/năm Đến nay, đã có 100%
xã, phường, thị trấn được sử dụng điện lưới; 100% số thôn, làng được đầu tư đóng điện và trên 98% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia và các dạng năng lượng khác
công suất 12.000m3 ngày/đêm Các công trình cấp nước tại thị trấn các huyện đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng Đã triển khai khoan khai thác nước dưới đất, xây dựng trạm bơm và hệ thống chứa nước phục vụ ăn uống, sinh hoạt cho nhân dân 5 xã (Ngọc Bay, Đăk cấm, Kroong,Kon Đào và Đăk Dục)
đa dạng hóa các loại hình dịch vụ với chất lượng ngày một nâng cao; Đến nay có 90% xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố có điểm phục vụ Bưu chính; Tống thuê bao điện thoại toàn thành phố là 201.210, thuê bao đạt mật độ 48,44 thuê bao/100 dân; 100% xã, phường thị trấn có điện thoại Các doanh nghiệp đã cung cấp dịch vụ internet băng rộng đến tất cả các trung tâm huyện, thành phố Mật độ thuê bao internet đạt 2,16 thuê bao/100 dân
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum
Năm 1991, tỉnh Kon Tum được tái thành lập từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum theo Nghị quyết Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ IX, thị xã Kon Tum trở thành tỉnh lỵ tỉnh Kon Tum Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Hội đồng Nhân dân Tỉnh đã thông qua đề án thành lập thành phố Kon Tum trên cơ sở diện tích và dân số hiện tại của thị xã Kon Tum Ngày 13 tháng 9
Trang 11năm 2009, thị xã Kon Tum chính thức trở thành thành phố Kon Tum
Thành pho Kon Tum nằm ở phía nam tỉnh Kon Tum, được uốn quanh bởi thung lũng sông Đăk Bla - vùng đất thấp nhất của tỉnh Kon Tum Phía tây thành phố giáp huyện Sa Thầy, phía bắc giáp huyện Đắk Hà, phía đông giáp huyện Kon Rầy và phía nam giáp tỉnh Gia Lai Thành phố hiện có diện tích tự nhiên 43.298,15ha; dân số trung bình tính đến cuối năm 2015 ước khoảng 162.795 người (DTTS 48.773 người, chiếm 29,26 % dân số toàn thành phố) Toàn thành phố hiện có 21 đơn vị hành chính (10 phường và 11 xã), có 183 thôn, tổ dân phố, trong đó có 94 thôn (62 thôn đồng bào DTTS) và 85 tổ dân phố
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum lúc mới được thành lập trụ sở được đặt tại sổ 96 Trần Phú, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum Được sự đầu tư của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 2013 trụ sở mới của VKS nhân dân thành phố Kon Tum đặt tại Tổ 3,phường Duy Tân, thành phố Kon Tum được hoàn thành và đi vào sử dụng Trụ
sở hiện có 15 phòng làm việc, 01 phòng họp, kết cấu 01 trệt, 02 lầu; nhà công vụ có 05 phòng, gồm: 01 bếp ăn tập thể, 04 phòng ở của cán bộ, Ngoài ra, trụ sở còn có 01 sân tennis phục vụ nhu cầu rèn luyện của cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum được thành lập ngày 21 tháng 8 năm
1991 Bước đầu với lực lượng, cán bộ, kiểm sát viên, cơ sở vật chất, trụ sở làm việc mới chỉ là nhà tạm Với những khó khăn về cơ sở vật chất, phát huy truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thành phố Kon Tum, đội ngũ cán bộ và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã từng bước nêu cao tinh thần, khắc phục khó khăn ra sức thi đua phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và nghành kiểm sát giao Trải qua hơn
30 năm xây dựng và trưởng thành đến nay lực lượng cán bộ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã từng bước chuyển mình, một lòng tin tưởng đi theo Đảng, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ chính trị, đảm bảo an toàn trật tự địa phương
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, CƠ CẤU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum
Viện Kiểm Sát Nhân dân thành phố Kon Tum nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp Việt Nam, do đó có chức năng nhiệm vụ chung của Viện Kiểm Sát Nhân dân Theo đó Viện Kiểm Sát Nhân dân là cơ quan Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
- Chức năng
Theo Điều 107 Hiển pháp năm 2013 Viện Kiểm Sát Nhân dân thực hành quyền công
tồ kiểm sát hoạt động tư pháp Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định cụ thể chức năng Viện Kiểm Sát Nhân dân như sau:
Viện Kiểm Sát Nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 12Viện Kiểm Sát Nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Viện Kiểm Sát Nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện Kiểm Sát Nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ
Theo Khoản 3 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tổ, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Yêu cầu khởi tố, hủy bở quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tổ bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;
- Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
- Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều fra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
- Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;
- Yêu cầu cơ quan, tố chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;
- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;
- Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;
- Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;
- Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;
- Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện Kiểm Sát Nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đoi với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiếm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Trang 13- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện Kiểm Sát Nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện Kiểm Sát Nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;
- Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;
- Xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hừu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;
- Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp; Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật
1.2.2 Cơ cấu và tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 20-LCT công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và ngày này cũng chính là ngày thành lập ngành Kiểm sát nhân dân Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước
Việc phát triển kinh tế xã hội làm cho trình độ dân trí được nâng cao, tăng thu nhập cho người dân, đảm bảo cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục, an ninh quốc phòng được giữ vững Tuy nhiên bên cạnh việc phát triển kinh
tế xã hội còn có nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm, diễn biến tương đối phức tạp, hành vi phạm tội và tính chất hậu quả nghiêm trọng của tội phạm, các băng nhóm, bảo kê và rửa tiền, đặc biệt là loại tội phạm mới như tội phạm công nghệ cao, tội liên quan đến tín dụng đen làm cho tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Kon Tum không ổn định
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Kon Tum đối với các cơ quan, ban ngành của thành phố Kon Tum, trong đó có Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Kon Tum đã triển khai phòng, chống tội phạm và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân tiến hành kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự kịp thời
và đúng pháp luật, hạn chế các tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố Kon Tum
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum là cơ quan có dự toán kinh phí độc lập,
có quyết định thành lập, có con dấu và tài khoản riêng, có biên chế riêng Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát có Ban lãnh đạo và bộ máy giúp việc
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum là một đơn vị cấp cơ sở thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Tổ chức bộ máy của Viện KSND thành phố gồm có 03 bộ phận: Bộ phận THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố;
Trang 14kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án Hình sự- Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, THAHS;
Bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, HNGD, KDTM, Hành chính, Lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật - Kiểm sát thi hành án Dân sự; Bộ phận Kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân, Văn phòng tổng hợp Biên chế của đơn vị: 21 đồng chí, trong đó: 03 Kiểm sát viên trung cấp, 05 Kiểm sát viên,
05 Kiểm tra viên, 03 chuyên viên, 01 cán sự; 04 cán bộ hợp đồng (làm những công việc như lái xe, tạp vụ, bảo vệ) Về trình độ chuyên môn: Cử nhân luật 17 đồng chí, Đại học chuyên ngành khác 01 đồng chí Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp lý luận chính trị 02 đồng chí, Trung cấp lý luận chính trị 05 đồng chí
Kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Phòng thực hành quyền công tố và Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự thực hiện đúng
và đầy đủ chức năng và nhiệm vụ được quy định tại Điều 107 Hiến pháp Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 và Điều 2; 3; 4; 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
KIỂM SÁT THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ
PHÓ VIỆN TRƯỞNG BỘ PHẬN HÌNH SỰ
KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
KIỂM SÁT THI HÀNH
ÁN HÌNH SỰ
VĂN PHÒNG VÀ KẾ TOÁN
VĂN THƯ TỔNG HỢP
KẾ TOÁN
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức VKS nhân dân thành phố
Kon Tum
Trang 15KẾT CHƯƠNG 1
Nhận thấy được điều này, mặc dù thời gian đầu, tôi có đôi chút khó khăn trong việc Tuy nhiên, qua thời gian làm quen với một môi trường mới, cùng với sự giúp đỡ thật chân tình của Lãnh đạo, các anh, chị cán bộ, Kiểm sát viên nên tôi nhanh chóng hòa nhập được với môi trường làm việc tại Viện kiểm sát thành phố Kon Tum
Sự thành lập của Ngành Kiểm sát đã đánh dấu bước phát triển của việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tại địa phương VKSND có nhiệm vụ bảo
vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
2.1.1 Một số vấn đề chung về hiện trường, tử thi, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đối với các vụ án tai nạn giao thông đường bộ
a Một số khái niệm liên quan
Khái niệm hiện trường:
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiện trường như:
Trong từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản khoa học xã hội viết “Hiện trường là nơi xảy
ra sự việc” 1 Đây là một khái niệm có tính khái quát chung nhất cho tất cả các loại hiện trường
Trong giáo trình “Khoa học điều tra hình sự”, Nhà xuất bản Công an nhân dân (2004)
có viết: Hiện trường là nơi có dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc nghi có liên quan đến tội phạm, mà Cơ quan điều tra cần tiến hành khám nghiệm.2
Tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định: "Điều tra viên tiến
hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm, nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án" 3 Như vậy, theo
quy định của Khoản 1 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì hiện trường phải là "nơi xảy ra" hoặc "nơi phát hiện tội phạm"
Dù đề cấp khái niệm này ở những góc độ khác nhau thì hiện trường cũng phải thoả mãn những dấu hiệu cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Hiện trường phải tồn tại ở một địa điểm cụ thể trong khoảng không gian
và thời gian xác định Đây là thuộc tính tất yếu của hiện trường
Thứ hai: Phải có sự việc mang tính hình sự xảy ra, những vụ việc mang tính hình sự
này có thể bao gồm: Những hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự; cũng có thể là những vụ việc mang tính hình sự xảy ra, khi xảy ra nó đã xâm hại đến những khách thể được luật hình sự bảo vệ, như: Tính mạng, sức khoẻ, tài sản song chưa thể xác định được các yếu tố của cấu thành tội phạm
Chính vì vậy, khái niệm về hiện trường trong tố tụng hình sự phải được hiểu là: "Hiện trường là nơi xảy ra vụ việc mang tính hình sự" Đây là khái niệm mang tính khái quát cao
và đầy đủ Với khái niệm này đã thoả mãn được những dấu hiệu đặc trưng, cơ bản của hiện trường:
1 Viện ngôn ngữ học, từ điển tiếng việt xuất bản 1988
2 Khoa học điều tra hình sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân (2004)
3
Trang 17Thứ nhất: Sự tồn tại của một địa điểm trong không gian và thời gian xác định
Thứ hai: Xảy ra vụ việc mang tính hình sự, điều này để phân biệt hiện trường các sự
việc khác trên thực tiễn, tránh hiểu khái niệm về hiện trường một cách tràn lan Tác giả hoàn toàn nhất trí với quan điểm này
Khái niệm tử thi
Theo từ điển tiếng Việt thì tử thi “là thi thể của người chết” 3
Một con người còn sống thì không thể gọi là tử thi được, ở đây tử thi là chỉ người đã chết, mà chết ở đây không chỉ chết do bệnh lý mà chết do những nguyên nhân khác như chết do bị đâm, chém, do tai nạn giao thông Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì
“Chết” thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống (không thể phục hồi) của một cơ thể Tuy nhiên, một định nghĩa cho sự chết còn tùy thuộc vào các quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng cũng như các lĩnh vực liên hệ Trong y học, chết là giai đoạn cuối cùng của sự sống Môn khoa học nghiên cứu về cái chết đã trở thành ngành riêng gọi là "tử vong học" Người ta chia chết ra làm hai loại: chết lâm sàng mà các phương pháp khám lâm sàng cho phép xác định là chết (tim ngừng đập, ngừng thở, mất tri giác, vv.); Chết thật, khi các mô không còn hoạt động được nữa và bắt đầu phân hủy
b Khái niệm, đặc điểm hiện trường, tử thi ở hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết
Như đã phân tích ở trên thì hiện trường tai nạn giao thông đường bộ có người chết
được hiểu như sau: Hiện trường tai nạn giao thông đường bộ có người chết “Là nơi xảy ra
vụ tai nạn giao thông trên đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng cho một người hoặc nhiều người” Cơ quan điều tra cần khám nghiệm để phát hiện, thu thập đánh giá các dấu vết, vật
chứng, các tin tức, tài liệu có liên quan tại hiện trường để phục vụ điều tra, xử lý vụ việc đúng pháp luật
Đặc điểm của hiện trường, tử thi ở các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết thể hiện như sau:
Thứ nhất: Tai nạn giao thông mang tính bất ngờ, không định trước về thời gian và
không gian Do đó, hiện trường vụ án tai nạn giao thông đường bộ là không định trước và thường xuyên bị thay đổi do tác động của người và phương tiện tham gia giao thông
Thứ hai: Nơi xảy ra vụ việc là trên trục đường giao thông đường bộ, bao gồm đường
quốc lộ, đường tỉnh lộ, đường liên huyện hoặc liên xã Vì vậy, lưu lượng xe cộ, phương tiện, người xuất hiện nhiều, thậm chí có cả động vật Đặc trưng này làm cho hiện trường ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ hiện trường và khám nghiệm hiện trường
Thứ ba: Hiện trường tai nạn giao thông bao giờ cũng để lại dấu vết của các đối tượng
tham gia giao thông để lại dấu vết của nạn nhân, dấu vết của phương tiện, đồ vật (như: Vết máu, giày, dép, vết phanh, vết cày ), dễ bị xáo trộn, dấu vết, đồ vật dễ bị mất mát, biến đổi do sự tác động của hoạt động cấp cứu nạn nhân, cứu chữa tài sản và các hoạt động tham gia giao thông của người và các phương tiện khác
3
Trang 18Thứ tư: Vụ tai nạn giao thông xảy ra trong khoảng thời gian ngắn (tức thì), trong “môi
trường động” gây khó khăn cho việc phát hiện nhân chứng
Thứ năm: Về mức độ thiệt hại: làm chết một người hoặc nhiều người của người tham
gia giao thông
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ án tai nạn giao thông đường bộ
a Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường
Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động điều tra được quy định tại Khoản 1 Điều
201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và theo như quy định này thì ta có thể hiểu được một cách
khái quát như sau: “Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra tố tụng hình sự, nhằm
nghiên cứu, tìm kiếm, bảo quản và đánh giá dấu vết vật chứng, cũng như những tin tức, tài
liệu tại hiện trường, phục vụ điều tra và xử lý tội phạm” 5
Mục đích của hoạt động khám nghiệm hiện trường không chỉ là việc phát hiện, tìm kiếm, thu lượm dấu vết vật chứng và các tin tức tài liệu làm cơ sở, căn cứ cho hoạt động chứng minh tội phạm, điều tra, khám phá vụ án, việc thu thập, đánh giá dấu vết vật chứng
sẽ cho Cơ quan điều tra có những nhận định ban đầu để xây dựng các giả thuyết điều tra, lập các chuyên án phá án, hoặc có kết luận về hiện trường không có liên quan đến sự kiện phạm tội để chấm dứt các hoạt động tiếp theo
Cơ sở pháp lý của công tác khám nghiệm hiện trường: tại điều 163, điều 164 và điều
201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự
Tại Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: "Thẩm quyền điều tra",
có ba loại thẩm quyền điều tra như sau: Thẩm quyền điều tra theo đối tượng; thẩm quyền điều tra theo vụ việc phạm tội; thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ 5
Tại Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: "Quyền hạn điều tra của
Bộ đội Biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân; Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra" 5
Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 5 có quy định về khám nghiệm hiện trường:
1 Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án
2 Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm
5 Khoản 1 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
5 Điều 163, điều 164, điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trang 193 Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường,
đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu, đồ vật
có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này
Trường hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra
b Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động khám nghiệm tử thi
Theo từ điển tiếng việt thì khám nghiệm tử thi “là sử dụng phương pháp khoa học để
xem xét, phát hiện những dự kiện cần thiết đối với tử thi, hay các thương tích của tử thi”
3
Theo bài giảng giám định pháp y của Tiến sỹ Nguyễn Đăng Chiêu thì pháp y tử thi
là “khám nghiệm tử thi chưa chôn cất hoặc khai quật tử thi trong các vụ án mạng rõ ràng,
Tại Điều 202 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:
“Việc khám nghiệm tử thi do Điều tra viên tiến hành có bác sĩ pháp y tham gia và phải có người chứng kiến
Trong trường hợp cần phải khai quật tử thi thì phải có quyết định của Cơ quan điều tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành Việc khai quật tử thi phải có bác sỹ pháp y tham gia
Khi cần thiết có thể triệu tập người giám định và phải có người chứng kiến
Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được thông báo trước cho Viện kiểm sát cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm
tử thi.” 5
Khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra nhằm phát hiện dấu vết trên thân thể người chết Việc khám nghiệm tử thi do Điều tra Viên tiến hành và có thể khám nghiệm tử thi mới được phát hiện hoặc khai quật, có thể được mổ để khám xét
Khi Điều tra viên khám nghiệm tử thi hoặc khai quật tử thi phải có bác sĩ pháp y tham gia và phải có người chứng kiến Bác sĩ pháp y giúp đỡ Điều tra viên phát hiện các vết tích đáng nghi trên tử thi, tình trạng tử thi Khi cần thiết phải giám định, Điều tra viên phải trưng cầu bác sĩ pháp y làm người giám định hoặc trưng cầu Hội đồng giám định
Việc khai quật tử thi phải có quyết định của Cơ quan điều tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành Nếu họ không đồng ý thì vẫn có quyền khai quật tử thi để khám nghiệm
Viện kiểm sát phải được thông báo trước về việc khám nghiệm tử thi trong mọi trường hợp Điều luật bắt buộc Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm
tử thi
3 Viện ngôn ngữ học, từ điển tiếng việt xuất bản 1988
6Nguyễn Đăng Chiêu (2008), Bài giảng giám định pháp y, Đại học Luật tp Hồ Chí Minh
5 Điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trang 202.1.3 Ý nghĩa của công tác kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ án tai nạn giao thông đường bộ
Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là để thu giữ đầy đủ những dấu vết, vật chứng, những thông tin có được từ hiện trường, tử thi; xác định nội dung, tính chất của vụ việc xảy ra, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm, thời gian xảy ra, số lượng người thực hiện tội phạm, nguyên nhân, điều kiện phạm tội ; giúp Kiểm sát viên nắm được diễn biến, tính chất của vụ việc; xác định có hay không có hành vi phạm tội xảy
ra, ai là người thực hiện tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan, sai, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; kết quả của hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là một trong những căn cứ quan trọng để xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm, từ đó Kiểm sát viên báo cáo đề xuất với lãnh đạo Viện xem xét phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra
Khám nghiệm hiện trường và tử thi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát hiện tội phạm nhất là công tác khám nghiệm hiện trường Bởi vì nếu không tiến hành khám nghiệm hoặc khám nghiệm không đúng trình tự thủ tục sẽ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc dẫn đến có nhận định sai lầm có thể làm oan người vô tội Do đó, để đạt được mục đích của khám nghiệm hiện trường và tử thi thì công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi giữ vai trò đặc biệt quan trọng
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định “Trước
khi tiến hành khám nghiệm hiện trường Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên viện kiểm
Như vậy, theo quy định của BLTTHS việc khám nghiệm hiện trường bắt buộc phải có kiểm sát viên tham gia Do đó, vai trò, trách nhiệm của kiểm sát viên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường nói chung và công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường đối với các vụ, việc tai nạn giao thông nói riêng Để đảm bảo các vụ án, vụ việc tai nạn giao thông đều được xử lý kịp thời theo đúng quy định của pháp luật
Đối tượng của kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là việc tuân theo pháp luật của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan đến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi bao gồm: hoạt động khám nghiệm của Điều tra viên, Giám định viên, Kỹ thuật viên, Bác sĩ pháp y và những người
có liên quan đến việc khám nghiệm hiện trường như người làm chứng, người chứng kiến, người bị hại, bị can, lực lượng bảo vệ hiện trường, lực lượng sơ vấn về các thông tin liên quan đến hiện trường
5
Trang 21Phạm vi kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi bắt đầu từ khi nhận được tin báo về vụ việc xảy ra cần khám nghiệm đến khi kết thúc việc khám nghiệm, hoàn thiện các công việc về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thông qua và ký biên bản khám nghiệm của những người tiến hành và tham gia khám nghiệm
“Quyết định số 111/QĐ-VKSTC 2020 Quy chế công tác thực hành quyền công tố” quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định:
* Về thẩm quyền
Điều 7 Quyết định số 170/QĐ-VKSTC 2018 có quy định thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định:
1 Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo thẩm quyền giải quyết các vụ án hình sự và theo lãnh thổ Các vụ
án giết người, nghi giết người; các vụ tai nạn lao động, tai nạn giao thông; các vụ cháy, nổ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp hoặc các vụ việc xảy ra có liên quan đến yếu tố nước ngoài; các vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp khác do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu tiến hành khám nghiệm thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu
2 Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, khi có yêu cầu thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có dấu vết tội phạm có trách nhiệm phân công Kiểm sát viên phối hợp, tham gia thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
*Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
Điều 26 Quyết định số: 111/QĐ-VKSTC 2020 có quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định:
1 Yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hoặc những người biết về vụ việc cung cấp các thông tin liên quan đến vụ việc cần khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
2 Kiểm sát viên phải kiểm sát thành phần tiến hành, tham gia việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra bảo đảm đúng thẩm quyền, thành phần theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan
3 Yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra thu giữ, niêm phong, bảo quản vật chứng, tài liệu, đồ vật hoặc dữ liệu điện tử có liên quan đến vụ việc khám nghiệm; lập biên bản, chụp ảnh, vẽ sơ đồ và các hoạt động khác theo đúng quy định của pháp luật
4 Kiểm sát chặt chẽ việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm
điều tra và giám định, kịp thời đề ra các yêu cầu cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra, người
có chuyên môn, Giám định viên kỹ thuật hình sự, Giám định viên pháp y thu thập, làm rõ