1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát cách dùng từ ngữ của thanh thiếu niên hiện nay (qua báo hoa học trò 2000 2002)

143 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát cách dùng từ ngữ của thanh thiếu niên hiện nay (qua báo Học Trò 2000-2002)
Tác giả Lương Quang Vũ
Người hướng dẫn TS. Đỗ Việt Hưng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 23,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp th iết của đề t à i (6)
  • 2. Ý nghĩa c ủ a đề t à i (9)
  • 3. M ục đ ích v à n h iệm vụ n g h iên c ứ u (10)
  • 5. G iới hạn phạm vi ngh iên c ứ u (11)
  • 6. Phương pháp n g h iên c ứ u (12)
  • 7. Cẩu trúc luận v ă n (0)
    • 1.1 C huẩn n g ô n n g ữ (14)
    • 1.2 N g ô n ngữ và lời n ó i (18)
    • 1.3 Từ - c á c m ặt củ a từ (20)
    • 1.4 Sự lệ c h ch uẩn của từ ...................................................................................... 2 6 (27)
    • 1.5 T iểu k ế t (31)
    • 2.1 M ượn n g u y ên dạn g cá c từ n gữ tiến g nước n g o à i (33)
    • 2.3 Biến đổi d ạ n g thức từ trên cơ sở vay m ư ợn n g u y ê n d ạ n g (0)
    • 3.1 Sư b iến đ ổ i hình thức củ a từ n s ữ ................................................................ 6 6 (0)
    • 3.2 T h a y đổi p h ạ m vi sử d ụ n g củ a từ n g ữ (0)

Nội dung

Tính cấp th iết của đề t à i

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, đóng vai trò là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của con người Trong giao tiếp, ngôn ngữ cho phép trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thể hiện mối quan hệ, ứng xử, thái độ giữa con người với nhau Đồng thời, ngôn ngữ cũng là công cụ phát triển tư duy, truyền đạt văn hóa và lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Qua giao tiếp, con người sử dụng ngôn ngữ để thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình.

Ngôn ngữ phát triển một cách từ từ và liên tục, không có sự đột biến Sự phát triển này dựa trên việc kế thừa, cải tiến và phát huy những yếu tố căn bản của ngôn ngữ hiện có Đặc biệt, sự phát triển của ngôn ngữ thể hiện rõ nhất ở lĩnh vực từ vựng, nơi mà sự biến đổi diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ hơn so với ngữ âm và ngữ pháp, vì từ vựng phản ánh trực tiếp đời sống xã hội Hệ thống từ vựng khác biệt với hệ thống ngữ âm và ngữ pháp ở chỗ nó là một hệ thống mở, thường xuyên phát triển và tiếp thu những yếu tố mới Số lượng đơn vị trong hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ văn hóa rất lớn, chỉ có một bộ phận từ vựng cơ bản mới thực sự bền vững, tạo nên sự giàu có và tinh tế của một ngôn ngữ Dựa trên nền tảng từ gốc và từ vựng cơ bản, những từ mới liên tục được sinh ra, và sự phát triển này bắt nguồn từ sự giống nhau hoặc gần gũi của những cái được biểu hiện hoặc cái biểu hiện.

N hìn m ột cá ch tổ n g thể, tro n g sự phái triển c ủ a ngôn ngũ' có vai trò củ a nhữ ng n h â n tố k h á c h q uan và ch ủ quan Ớ n h â n tố k h á ch q u an đ ổ là điều kiện

Sự phát triển của xã hội Việt Nam trong hơn mười năm qua đã tạo ra những biến đổi rõ nét trong ngôn ngữ, đặc biệt là trong lĩnh vực từ vựng Các yếu tố kinh tế, văn hóa và chính trị tác động lẫn nhau, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều từ mới phản ánh sự thay đổi của xã hội Những từ ngữ mới này không chỉ bổ sung cho vốn từ vựng hiện có mà còn làm tăng khả năng diễn đạt trong giao tiếp Ví dụ, nhiều từ mới đã xuất hiện để phản ánh các khái niệm và sự vật mới, như "siêu thị" hay "tiếp thị" Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển tích cực, cũng có hiện tượng lạm dụng từ ngữ tiếng nước ngoài, tạo ra những từ mang sắc thái tiêu cực Do đó, việc nắm vững quy luật phát triển của ngôn ngữ là cần thiết để đưa ra các chính sách ngôn ngữ phù hợp, góp phần vào công tác phát triển ngôn ngữ Việt Nam.

“Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đề cập đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam phát động từ đầu mùa xuân năm 1960, càng cần được quan tâm hơn trong tình hình hiện nay Nhiều cuộc hội thảo đã được mở ra cùng với những bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành cho thấy những hiện trạng rất rõ về tình hình phát triển của tiếng Việt Ngoài ra, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về sự biến đổi của từ vựng tiếng Việt hiện đại như: “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu), “Từ vựng tiếng Việt hiện đại” (Nguyễn Thiện Giáp), “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại”.

Nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay chủ yếu tập trung vào việc sử dụng từ ngữ trong sáng, hạn chế từ nước ngoài và các hình thức viết tắt Tuy nhiên, phần lớn các bài viết chưa đề cập đầy đủ đến sự biến đổi ngữ nghĩa của từng từ riêng lẻ và chưa có cái nhìn tổng quát về cách sử dụng ngôn ngữ trong các dạng thức lệch chuẩn Các tác phẩm nghiên cứu hiện tại chưa xem xét mối quan hệ giữa sự biến đổi từ ngữ và hoạt động hành chức, và nếu có nghiên cứu về sự phát triển của từ ngữ trong sử dụng, thì vẫn thiếu sự khái quát chung.

Dựa trên các tài liệu thu thập và khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhu cầu và sự sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ của thanh thiếu niên, đặc biệt là học sinh - sinh viên, là rất lớn Nhóm này có khả năng tiếp thu và sáng tạo cái mới nhanh chóng, dù cái mới đó có thể chưa tốt Họ là những chủ nhân tương lai của đất nước Do đó, cần có những định hướng và biện pháp đúng đắn để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giúp học sinh - sinh viên sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả Nếu không, có thể sẽ xuất hiện một thế hệ mới lạm dụng từ ngữ nước ngoài và sử dụng những yếu tố ngôn ngữ không lành mạnh trong giao tiếp.

Trong bài viết của mình, Phạm Văn Đồng đã chỉ ra thực trạng sử dụng tiếng Việt trong nhà trường, nhấn mạnh rằng học sinh, sinh viên vẫn còn mắc nhiều lỗi về chính tả, từ ngữ và ngữ pháp Để khắc phục tình trạng này, tác giả đề xuất cần chấn chỉnh việc dạy và học tiếng Việt ở các cấp phổ thông và đại học, đồng thời khuyến khích việc sử dụng tiếng Việt trong sách báo, truyền thanh, truyền hình và thông tin điện tử.

Chúng tôi tiến hành khảo sát về cách sử dụng từ ngữ lệch chuẩn của học sinh - sinh viên hiện nay thông qua Hóa Học Trò Mục tiêu là tìm ra những mặt tích cực và tiêu cực trong cách sử dụng từ ngữ của họ Nghiên cứu này cũng nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và vai trò của phép tu từ trong việc sáng tạo từ ngữ.

Ý nghĩa c ủ a đề t à i

Chuẩn mực là những giá trị tốt đẹp và được cộng đồng chấp nhận Tuy nhiên, những gì không theo chuẩn mực cũ không nhất thiết là xấu hay không đẹp, vì theo thời gian, chúng có thể trở thành chuẩn mực mới Ngôn ngữ cũng tương tự như vậy.

Việt Nam đang ngày càng chú trọng đến việc nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là cơ chế vận hành của nó Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về chức năng của ngôn ngữ, nhưng các nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên vẫn còn hạn chế Việc tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ lệch chuẩn trong nhóm xã hội này là một lĩnh vực chưa được khai thác nhiều Do đó, thông qua khảo sát, chúng tôi mong muốn xác định cơ cấu, tìm hiểu các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và chức năng của từ ngữ, từ đó góp phần làm rõ hơn những liên đề lý luận đã có và bổ sung những điểm còn thiếu trong nghiên cứu.

Luận văn này nhằm làm rõ các vấn đề lý luận về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, đặc biệt là hành vi ngôn ngữ của thanh thiếu niên hiện nay, với trọng tâm là giới học sinh - sinh viên Nó cũng phân tích đặc trưng tâm lý của giới trẻ được thể hiện qua ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ học sinh - sinh viên trong việc phát triển ngôn ngữ nói chung, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.

Các kết q u ả nghiên cứu sẽ được ứng dụ n g tro n g m ộ t số lĩnh vực sau:

- T ro ng biên soạn từ điển tiếng Việt ở d ạ n g ph on g cách cĩinc như từ m ớ i.

- T rong n g h iên cứu và sán g tạo n g h ệ thuật.

- T rong ngh iên cứu từ khẩu ngữ

M ục đ ích v à n h iệm vụ n g h iên c ứ u

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và chức năng của các từ ngữ lệch chuẩn trong ngôn ngữ của học sinh - sinh viên Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể.

- Hệ th ố n g h o á các phương thức cấu tạo từ, các phương thức tu từ từ vựng.

Cung cấp cái nhìn tổng quan về hệ thống từ vựng lệch chuẩn trong ngôn ngữ của học sinh - sinh viên, bài viết xác định các đặc điểm cấu tạo và chức năng Qua đó, nêu rõ những mặt tích cực cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục trong việc sử dụng ngôn ngữ của nhóm này.

Đối tượng và ngữ liệu nghiên cứu của luận văn bao gồm các đơn vị từ vựng lệch chuẩn được trích xuất từ 156 số báo Hoa Học Trò trong các năm 2000, 2001 và 2002 Chúng tôi chọn các số báo của ba năm này vì lý do

Đây là những năm đầu tiên của thế kỷ mới, đất nước đã trải qua hơn mười năm đổi mới và hội nhập quốc tế Những yếu tố ngoại lai đã vào tiến trình phát triển, không còn là điều mới mẻ mà đã góp phần tạo ra sự ổn định trong giai đoạn đầu.

Trước năm 2000, nghiên cứu từ vựng đã được thực hiện một cách quy mô và hệ thống, với nhiều loại từ điển và đại từ điển về các từ toàn dân, từ địa phương, và từ láy Đặc biệt, có một quyển "Từ điển từ mới tiếng Việt" của Viện cũng đã được xuất bản.

N g ô n ngũ' h ọ c tậ p h ợ p n h ữ n g từ mới của tiến g V iệt tro ng k h o ả n g thời gian từ n ăm 1985 đến 2000.

Phạm vi thu thập ngữ liệu nghiên cứu:

N g ữ liệu củ a luận văn được thu th ập từ tất cả các m ụ c, c h u y ê n m ụ c trên

Trong giai đoạn 2000 - 2002, báo Hoa Học Trò đã xuất bản 156 số, trong đó có nhiều từ ngữ vay mượn được sử dụng trong ngôn ngữ của học sinh - sinh viên Chúng tôi không khảo sát chuyên mục “Vườn Anh”, nơi rèn luyện kỹ năng tiếng Anh cho người đọc Một số chuyên mục có bài viết không hoàn toàn của học sinh - sinh viên mà là của những người trong ban biên tập Tuy nhiên, do hầu hết những người này đều trong độ tuổi thanh thiếu niên và viết, biên tập dựa trên tiêu chí phù hợp với ngôn ngữ của học sinh - sinh viên, chúng tôi vẫn khảo sát cả những từ ngữ lệch chuẩn trong các bài viết này.

Chúng tôi đã thu thập các đơn vị từ vựng được sử dụng đặc biệt trong các bài viết, bất kể tác giả đến từ vùng địa lý nào trên đất nước Việt Nam và sử dụng bất kỳ phương ngữ nào.

G iới hạn phạm vi ngh iên c ứ u

Luận văn tập trung nghiên cứu lớp từ vựng lệch chuẩn trong cách sử dụng ngôn ngữ của học sinh - sinh viên Đây là lớp từ vựng thể hiện rõ nét những dấu hiệu đặc trưng cho phong cách của họ Chỉ cần nhắc đến những từ ngữ này, người khác đã có thể nhận biết được chủ thể giao tiếp thuộc nhóm xã hội nào.

Phương pháp n g h iên c ứ u

Trước khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi xác định quá trình tâm lý của nhận thức ngôn ngữ không phái ở nhóm xã hội nào cũng như nhóm xã hội nào Các nhân tố tâm lý, sinh lý phát triển khác nhau ở những lứa tuổi và nhóm xã hội khác nhau Việc phân tích và tổng hợp để đưa ra nhận xét về hiện tượng sử dụng từ ngữ lệch chuẩn ở học sinh - sinh viên cần đặc biệt dựa trên các đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này Nghiên cứu dựa trên sự vận dụng tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ học, giáo dục học và tâm lý học.

Dựa trên kiến thức đã học và tài liệu chuyên ngành ngôn ngữ học hiện có, chúng tôi tiến hành đọc, đối chiếu và phân tích để tìm ra các cách sử dụng từ ngữ lệch chuẩn.

Q ua c á c bước ch ín h đ ó , ch ú n g tôi đi vào các bước cụ thể.

- Phương ph áp cụ thể:

Phương pháp thống kê trong luận văn này tập trung vào việc phân tích các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn đặc trưng cho phong cách của học sinh, sinh viên qua 156 số báo Nghiên cứu nhằm tìm hiểu dung lượng và tần số sử dụng của các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn, từ đó làm nổi bật vai trò và chức năng của những từ ngữ này trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Phương pháp miêu tả trong luận văn sử dụng để thể hiện hệ thống từ ngữ lệch chuẩn, phản ánh sự phong phú, đa dạng và phức tạp của ngôn ngữ Các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn được nhóm thành các tiểu hệ thống, mỗi tiểu hệ thống có những đặc điểm chung và riêng biệt.

Phương pháp phân tích ngôn ngữ cho thấy mọi đơn vị ngôn ngữ đều có cấu trúc tầng bậc, với mỗi bậc được hình thành từ các thành tố trực tiếp Việc phân tích các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn dưới góc độ ngữ nghĩa là rất cần thiết Luận án này sẽ chia các đơn vị lệch chuẩn thành hai dạng chính: từ và tổ hợp từ.

Chúng tôi phân tích sự lệch chuẩn của từ ngữ cá về mặt hình thức, bao gồm âm và cách viết Để diễn đạt một cách tối ưu ngôn ngữ của học sinh - sinh viên, báo Hoa Học Trò đã có những cách thể hiện độc đáo, cuốn hút Cả hai sự phân tích về ngữ nghĩa và hình thức của đơn vị từ ngữ đều nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt của từ ngữ lệch chuẩn do cách sử dụng lệch chuẩn của học sinh - sinh viên mang lại, so với các đơn vị từ vựng khác trong tiếng Việt, đặc biệt là ở phương diện biểu cảm.

Phương pháp đối chiếu là cách tiếp cận dựa trên việc xác định nguồn gốc của từ ngữ Chúng tôi thực hiện so sánh và đối chiếu để khám phá những nghĩa gốc của từ thông qua các loại từ điển như từ điển toàn dân, từ điển địa phương, từ điển từ láy, và các từ đồng nghĩa - trái nghĩa phổ biến.

Chúng tôi đã tổng hợp và phân tích các yếu tố tích cực và tiêu cực trong việc sử dụng và sáng tạo từ ngữ của học sinh - sinh viên Qua việc thống kê, mô tả, so sánh và đối chiếu, chúng tôi chỉ ra những khía cạnh quan trọng trong cách mà giới trẻ thể hiện ngôn ngữ của mình.

Chúng tôi tuân thủ nguyên tắc khi trích dẫn ví dụ: chỉ lấy đủ thông tin để người đọc có thể hiểu, không căn cứ vào hình thức câu hay đoạn văn Đồng thời, việc sao chép phải đúng nguyên bản, bao gồm cả lỗi chính tả hay viết tắt.

N g o à i phần M ở đầu, K ết luận và Tài liệu tham kh ảo, luận văn g ồ m 3 chương:

C hư ơ ng 1: C ơ sở lí luận.

C h ư ơ ng 2: Đ ạc đ iể m sử d ụ n g từ n g ữ tiến g nước ngoài tro ng lời nói của thanh thiếu niên (học sinh - sinh viên).

C hư ơng 3: Đ ặ c đ iểm sử dụng từ n gữ tiến g V iệt trong lời nói của thanh thiếu niên (h ọ c sin h - sinh viên ).

Cẩu trúc luận v ă n

C huẩn n g ô n n g ữ

Ngôn ngữ không tồn tại một cách tự phát và vô tận; việc khai thác ngôn ngữ cần phải tuân thủ sự tôn trọng và hướng tới tính chuẩn mực Vậy khái niệm chuẩn trong ngôn ngữ là gì? Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đề cập đến vấn đề này.

Theo YU X X tê p a n o v, sự xuất hiện của khái niệm chuẩn mực bao gồm ba khái niệm cơ bản: khả năng biến đổi, lý tưởng và truyền thống Khả năng biến đổi xuất phát từ tính đa dạng và sự thay đổi không ngừng của ngôn ngữ, khiến con người luôn phải đối mặt với những lựa chọn: “Cái gì tốt hơn? Cái gì cần phải để lại và cái gì cần phủi vút bỏ.” Quan niệm về lý tưởng là cơ sở cho sự lựa chọn và loại bỏ, trong khi truyền thống cũng củng cố quan niệm về lý tưởng.

Chuẩn mực đòi hỏi không chỉ là lựa chọn và giữ lại cái đã được chọn mà còn là hủy bỏ cái đã vút đi Khi lựa chọn dạng thức ngôn ngữ, mỗi người dựa vào những quy tắc nhất định mà họ đã học Những quy tắc này được truyền đạt qua quá trình học tập, tạo thành truyền thống, vì vậy chuẩn mực luôn có tính truyền thống Quy tắc cơ bản trong lựa chọn là phải phân biệt.

’ đ ú n g 1' và “ k h ô n e đ ú n g ” N h ữ n s khái n iệm này bao g iờ c ũ n g có tính truyền th ố n g n h ư n g c h ú n g chỉ có thể xuấl hiện trên c ơ sở c ủ a sự đa d ạ n ẹ được phát triển, sự p h o n g ph ú c ủ a bản thân ngôn ngữ.

Trong bài viết "Những bài giảng ngôn ngữ học đại cương", IU.V.Rozdex đã đưa ra quan niệm của mình về việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong xây dựng chuẩn Các lý do cơ bản cho sự lựa chọn này được nêu rõ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các yếu tố ngôn ngữ phù hợp trong quá trình giảng dạy và học tập.

- Đ ơn vị ngôn n g ữ được chọn phải được mọi người ch ấ p nhận, có giá trị văn hoá, được m ọi người sử điinu.

Đơn vị ngôn ngữ có triển vọng được đánh giá dựa trên tính sử dụng trong tương lai, xác định bởi tính thuận tiện của các đơn vị trong phương tiện giao tiếp.

Đơn vị ngôn ngữ cần có tính chất hệ thống, nghĩa là nó phải "dề dàn" nhập vào hệ thống ngôn ngữ Tiêu chí cuối cùng, rất quan trọng, xác định sức sống của đơn vị đó trong tương lai Một hệ thống ngôn ngữ tốt cần có số lượng tối thiểu các quy tắc và ngoại lệ.

- C ó đánh giá chủ quan về khả năng biểu n gh ĩa và m ĩ h ọc củ a y ếu tố được chọn Đ ây là yêu cầu đối với bản thân nhà tạo c hu ẩn [48, 300]

John Lyons trong cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết” không sử dụng khái niệm “chuẩn ngôn ngữ”, mà ông nhấn mạnh rằng vấn đề đầu tiên cần bàn là tính “trong sáng” và tính “đúng” Rõ ràng, không có những tiêu chuẩn tuyệt đối về tính “trong sáng” và tính “đúng” trong ngôn ngữ, và những từ ngữ như vậy chỉ có thể được giải thích trong mối quan hệ với một tiêu chuẩn đã chọn trước.

N hìn c h u n g , trên th ế giới hình thành và phát triển hai q u an đ iể m chính về c h u ẩ n n g ô n ngữ:

Chuẩn ngôn ngữ là những quy tắc mà mọi người trong xã hội cần tuân theo Giao tiếp đang dần mất đi nền nếp, vì vậy cần thiết lập lại trật tự và phép tắc Nếu không, ngôn ngữ sẽ bị suy thoái và xã hội sẽ suy đồi.

Chuẩn ngôn ngữ là một lựa chọn quan trọng trong giao tiếp Sự phát triển của giao tiếp ngày càng gia tăng nhờ vào những yếu tố thúc đẩy từ sự chú trọng lựa chọn của cá nhân Ngôn ngữ phát triển song song với sự phát triển của xã hội Tại Việt Nam, có một số định nghĩa đáng chú ý về chuẩn ngôn ngữ như chuẩn mực ngôn ngữ.

“ C h u ẩ n mực, nói m ộ t cách khái quát, là cái đúng Đ ó là cái đ ú n g có tính chấl c h u n g , tính chất bình thư ờn g được mọi người tro n g m ộl c ó n e đ ồ n ẹ

Ngôn ngữ chấp nhận một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển lịch sử của nó Sự đúng đắn được xác định qua một tập hợp các quy tắc liên quan đến âm, viết chữ, sử dụng từ và cấu tạo từ mới, cũng như cách đặt câu.

Chuẩn của ngôn ngữ là kết quả của sự đánh giá và lựa chọn của xã hội, cụ thể là cộng đồng sử dụng ngôn ngữ, đối với các hiện tượng ngôn ngữ thực tế Điều này phản ánh "thực tế sử dụng ngôn ngữ" tại một thời điểm nhất định.

“ Chuẩn n g ô n n gữ là cái phát triển tự phát, do toàn thể c ộ n g đ ồn g người sử d ụ n g ng ô n ngũ' hình thàn h n ên ” [dt 75, 55]

Chuẩn của ngôn ngữ cần được xem xét từ hai khía cạnh: thứ nhất, chuẩn phải mang tính quy ước xã hội, tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng; thứ hai, chuẩn phải phản ánh hiện tượng thuộc kết cấu ngôn ngữ, nghĩa là phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử.

Chuẩn ngôn ngữ là những thói quen giao tiếp được hình thành trong xã hội và được người bản ngữ chấp nhận.

Tuy g iữ a cá c ý kiến còn có đ iểm khác nhau nhưng đã c ó m ột số đ i ể m ch u n g về kh ái n iệ m chuẩn:

Chuẩn không chỉ là một khái niệm ngôn ngữ mà còn là một khái niệm xã hội lịch sử Chuẩn bao gồm những cách diễn đạt được cấu trúc ngôn ngữ hợp lệ và được xã hội chấp nhận.

Chuẩn ngôn ngữ có tính xã hội, nhưng cũng chấp nhận tính cá nhân trong việc sử dụng Chuẩn không chỉ là sự khế ước và truyền thống, mà còn không loại trừ sự sáng tạo.

N g ô n ngữ và lời n ó i

Ở đâu có yêu cầu giao tiếp, ở đó có ngôn ngữ xuất hiện Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật trao đổi với nhau bằng lời nói Hoạt động tạo lời phụ thuộc vào nhận thức, hiểu biết, cách đánh giá của người phát (nói, viết) về người nhận (nghe, đọc), nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, phương tiện giao tiếp được sử dụng và mục đích giao tiếp.

V ì thố m ỗi lời nói phát ra đều m ang những tính chất cá nhân, cụ thể ch o m ột

\ _ _- - J irường họp g ia o tiếp xác định Song, đế người dọ c hiếu được lời nói cùa m ì n h , người phát phai x â y dựng, Cấu tạo lời nói trên c ơ sớ những đặc điểm chu n g

Hệ thống đặc điểm chung của ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong việc phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói Ngôn ngữ mang tính chất xã hội, phản ánh đặc điểm chung của cộng đồng, trong khi lời nói lại thể hiện tính cá nhân, cụ thể cho từng người trong các tình huống sử dụng khác nhau.

Khi sử dụng ngôn ngữ để xây dựng quan hệ xã hội, mối quan hệ này không chỉ là của người nói mà còn của người nghe Sự giao tiếp này thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau thông qua ngôn ngữ, tạo ra một sự thỏa thuận xã hội giữa hai bên Lời nói không chỉ mang tính cá nhân mà còn phản ánh yếu tố xã hội, cho thấy rằng giao tiếp luôn chứa đựng tính xã hội F de Saussure đã chỉ ra rằng trong lời nói, không có sự tách biệt hoàn toàn giữa cá nhân và xã hội, vì mọi biểu hiện đều mang tính chất cá nhân và nhất thời Sự phát triển của ngôn ngữ bắt nguồn từ lời nói, trong khi lời nói lại sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như những vật liệu cơ bản.

Lời nói không thể vượt qua sự ngăn cách về không gian và thời gian, chính vì thế mà chữ viết ra đời Chữ viết là sự ký hiệu hóa của lời nói, giúp mở rộng và dễ dàng hơn trong giao tiếp giữa con người Hơn nữa, chữ viết còn thúc đẩy quá trình thống nhất ngôn ngữ và liên kết các nền văn hóa Nếu lời nói dựa vào ấn tượng thính giác, thì chữ viết lại dựa vào thị giác.

Nếu ngôn ngữ gắn bó mật thiết với lời nói, thì công việc của Irons hiện nay thể hiện mối liên hệ quan trọng giữa lời nói và chữ viết.

18 khó c ó thể tách rời Khi nói tới lời n ó i, ch ú n g ta cần hiểu đ ó là sự sử d ụ n e n sô n ngũ' ở cả d ạn g nói và dạng viết.

Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên thông qua hình thức thể hiện ngôn ngữ là văn bản Bên cạnh những đặc điểm về hình thức ngữ âm và nghĩa của từ ngữ, chúng tôi cũng nghiên cứu các cách thể hiện đặc biệt về mặt chữ viết của học sinh - sinh viên trong các chuyên mục của báo Hoa Học Trò.

Từ - c á c m ặt củ a từ

Mỗi ngôn ngữ đều cần từ để hoạt động, vì từ là chất liệu cơ bản của ngôn ngữ Từ được kết nối với nhau theo những nguyên tắc nhất định, nhưng câu hỏi “từ là gì” vẫn chưa có lời giải đáp thống nhất Các nhà lý thuyết cho rằng từ là đơn vị truyền thống nhưng định nghĩa vẫn còn mơ hồ Vấn đề ranh giới của từ là một thách thức lớn trong ngôn ngữ học hiện đại Theo Nguyễn Thiện Giáp, hiện có hơn 300 định nghĩa về từ, và trong lĩnh vực Việt ngữ học, đã có nhiều định nghĩa đáng chú ý về từ.

"Từ là đơn vị n h ỏ nhất c ó n gh ĩa của n g ô n ngữ được vận dụng đ ộ c lập, tái hiện tự d o trong lời n ó i để xây dựng nên câu

Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, với cấu trúc âm thanh bền vững và hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên Nó được sử dụng độc lập và có khả năng tái hiện tự do trong lời nói để tạo thành câu.

“Tù' là đơn vị n h ỏ nhất c ó thể vận dụng độc lập ở trong câu N h ư n g kh ông phải bất kì từ nào cũ n g là m ột đơn vị tế bào củ a cú pháp

Tất cả các đặc điểm về pháp và cú pháp quan trọng đều bắt nguồn từ một đặc điểm gốc mà mọi người đều biết, đó là tiếng Việt không có biến hóa hình thái.

Từ trong tiếng Việt được định nghĩa là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định Từ nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định và ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.

"Tù' là đơn vị nh ỏ nhất để đặt câu Từ c ó n gh ĩa hoàn ch ỉn h và cấu tạo ổn đ ịn h ” [dt 7 5 , 3 3 4 ]

Từ ngữ Việt Nam được định nghĩa là đơn vị mang nghĩa nhỏ nhất, không thể phân tích thêm Một từ trong tiếng Việt là âm hiệu mang ý nghĩa riêng biệt và có chức năng ngữ pháp trong câu Theo định nghĩa này, có thể phân chia từ thành hai loại: từ đơn và từ phức.

Mặc dù có sự khác biệt giữa các đơn vị cấu tạo từ trong từ vựng và ngữ pháp, từ vẫn là giao điểm của nhiều hệ thống đơn vị Là đơn vị sẵn có, từ có chức năng định danh và mang nhiều tính chất thực dụng trong đời sống Để xác định một cách khách quan, cần dựa vào tính tách biệt của từ.

“Từ là đơn vị c ó ngh ĩa n h ỏ nhất của lời nói, c ó tính đ ộ c lập” , [dt 7 5 ,

Từ là đơn vị cơ bản trong cấu trúc ngôn ngữ, bao gồm hình vị và cụm từ Nó được hình thành từ một hoặc nhiều đơn vị ở hàng ngang, tức là hình vị, và tạo thành một khối hoàn chỉnh.

Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh và mô phỏng hiện thực, với khả năng kết hợp tự do và tính vững chắc về cấu tạo Trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích cách định nghĩa về từ, mà sử dụng một định nghĩa chung nhất mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đưa ra trong các cuốn từ điển phổ thông hiện nay.

Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, được sử dụng để tạo câu Định nghĩa này giúp làm rõ những đặc điểm của từ, như tính độc lập về nghĩa và khả năng kết hợp trong ngữ pháp Các tài liệu như "Từ điển tiếng Việt" (Hoàng Phê chủ biên, 2000) và "Đại từ điển tiếng Việt" (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1999) đã khẳng định vai trò quan trọng của từ trong ngôn ngữ.

- Từ là đơn v ị ngôn ngữ c ó ngh ĩa độc lập.

- Từ là đơn vị ngôn ngữ tồn tại dưới dạng c ó sẩn và c ó cấu trúc ổn định.

- Từ là đơn vị n gôn ngữ có chứ c năng định danh, n g h ĩa là g ọ i tên h iện tượng, tính chất, trạng thái

- Từ là đơn v ị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.

Từ là một đơn vị ngôn ngữ có những đặc điểm phổ quát, cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của từ trong hoạt động sử dụng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trưng của từ bao gồm tính hoàn chỉnh, khả năng phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện dễ dàng trong lời nói Từ có thể được phân chia thành ba cấu trúc chính: cấu trúc ngữ âm, cấu trúc hình thái và cấu trúc ngữ nghĩa Cấu trúc ngữ âm bao gồm tất cả các hiện tượng âm thanh tạo nên âm thanh của từ, trong khi cấu trúc hình thái là tập hợp các hình vị tạo thành từ Cuối cùng, cấu trúc ngữ nghĩa phản ánh các nghĩa khác nhau của từ cũng như cấu trúc nét nghĩa trong một nghĩa cụ thể.

Mỗi ngôn ngữ đều có sức sống riêng, không bị gò bó bởi các quy tắc ngữ âm, ngữ nghĩa hay hình thái chuẩn mực Trong giao tiếp, con người thể hiện tư tưởng và tình cảm một cách linh hoạt Dựa vào ngữ cảnh giao tiếp, họ tự do vận dụng khả năng ngôn ngữ để đạt được mục đích Các hành vi ngôn ngữ mang tính cá nhân và phản ánh trung thực, hiệu quả về hoàn cảnh thực tế.

21 phươna tiện được sử dụng cũng m a n s những đặc đ iểm riêng Đ ó là nhĩrntĩ dơn vị ngón ngữ ó' trạng thái đ ộ n s.

Từ vựng là phương tiện quan trọng giúp ngôn ngữ luôn ở trạng thái động Sự lựa chọn và liên kết các đơn vị từ vựng của người phát ngôn tạo ra nội dung ngữ nghĩa gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Nội dung ngữ dụng và ngữ nghĩa có mối liên hệ biện chứng trong mỗi môi trường giao tiếp Mỗi đơn vị từ vựng không chỉ mang nghĩa cố định mà còn có thể phát sinh những nghĩa mới qua người sử dụng Trong giao tiếp, bên cạnh chức năng thông báo, con người thường thể hiện suy nghĩ, nhận xét và đánh giá của mình qua ngôn từ Những sắc thái biểu cảm này có thể mang lại thông tin giá trị không kém so với nội dung ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng Một số đơn vị từ vựng có khả năng chuyển tải thông tin ngữ dụng kèm theo thông tin mô tả, góp phần thực hiện nhiệm vụ cơ bản của ngôn ngữ là cung cấp chất liệu ngôn ngữ mới Sự thay đổi liên tục là điều kiện cần thiết để ngôn ngữ tồn tại và phát triển.

2 2 m ộl loại quá Irình vận đ ộn g, trong đ ó có sự lăng s ố lượng các đơn vị ngôn nnĩr

- mà tù' vựng là c ơ bản, và phức tạp hoá tính chất quan hệ của chúng.

Bán thân sự vận động và phát triển của từ bao hàm sự hoại độn của các yếu tố nhỏ hơn, bao gồm ngữ nghĩa và hình thức thể hiện Ngữ âm và chữ viết có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ, đặc biệt trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, nơi các yếu tố giao tiếp liên hệ lời nói với hình ảnh dưới dạng chữ viết, nhất là khi sử dụng ngoại ngữ Trong giao tiếp bằng văn bản, có những từ ngữ khiến người ta liên tưởng đến kiểu cách nói của chủ thể phát ngôn.

1 3 2 H ìn h th ứ c th ể h iệ n c ủ a tù

N g ô n ngữ n g a y từ khi hình thành đã tồn tại dưới dạng thức âm thanh

Âm thanh được ghi lại bằng chữ viết, tạo thành mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng Chữ viết không chỉ là ký hiệu của âm thanh mà còn là vỏ bọc của nó, giúp ngôn ngữ tồn tại và phát triển Khi xem xét từ, chúng ta không thể tách rời âm thanh và chữ viết ra khỏi nhau.

Hình thức ngữ âm của từ bao gồm các âm và thanh phối hợp với nhau, đồng thời phản ánh số lượng âm tiết trong một từ, có thể là đơn tiết hoặc đa tiết Các nhà ngôn ngữ học gọi hình thức âm thanh của ngôn ngữ là ngữ âm Trong tiếng Việt, hệ thống âm thanh được sử dụng để giao tiếp chính là hệ thống ngữ âm, đóng vai trò quan trọng trong việc biểu đạt ngôn ngữ.

Sự lệ c h ch uẩn của từ 2 6

Trong giao tiếp, việc lựa chọn từ ngữ là rất quan trọng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội và tâm lý Mỗi văn bản cụ thể yêu cầu sự lựa chọn từ ngữ phù hợp với từng bối cảnh giao tiếp Do đó, trong mỗi nhóm xã hội, có thể xuất hiện những yếu tố lệch chuẩn so với ngôn ngữ toàn dân Những yếu tố này được xác định dựa trên chuẩn ngôn ngữ chung mà toàn dân sử dụng Trong khi một số từ ngữ có thể được coi là lệch chuẩn trong ngôn ngữ toàn dân, chúng lại có thể không bị xem là lệch chuẩn trong bối cảnh của từng nhóm xã hội cụ thể Sự xác định này rất quan trọng trong việc hiểu cách sử dụng từ ngữ của học sinh, sinh viên.

Học sinh - sinh viên thường có xu hướng phân hóa các sự vật và khái niệm, diễn đạt chúng qua ngôn ngữ với những ý nghĩa biểu vật và biểu cảm khác nhau về sắc thái Họ có cái nhìn nhạy bén và tinh tế trong cách cảm thụ, do đó, thích nêu bật những điểm khác biệt giữa các sự vật và hiện tượng.

Học sinh, sinh viên thường sử dụng các phương thức ngôn ngữ như đồng nghĩa, trái nghĩa, phương ngữ, từ vay mượn nước ngoài và nói tắt để thể hiện sắc thái tình cảm và tạo sự mới lạ trong giao tiếp Tuy nhiên, việc lạm dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa có thể gây trở ngại cho giao tiếp và ảnh hưởng đến tính trong sáng của tiếng Việt Từ ngữ địa phương và từ vay mượn mang lại sự ngắn gọn và diễn đạt ý nghĩa hiệu quả hơn so với từ ngữ toàn dân Sáng tạo từ ngữ mới cũng là một cách để thỏa mãn tính sáng tạo của học sinh, sinh viên, phản ánh sự phát triển của xã hội và bản chất ham thích khám phá của tuổi trẻ.

1.4.2 Sụ lệch c h u ẩ n về hình thức thê hiện

Trong hoạt động giao tiếp, mặt ngữ âm và hình thức thể hiện của từ có thể biến đổi và chuyển hóa linh hoạt, giúp các thành viên giao tiếp hiểu nhau Những biến đổi này tạo ra dạng thức lâm thời tương ứng với dạng thức từ trong hệ thống ngôn ngữ Dạng thức lâm thời được xem là những biến thể từ vựng, trong khi biến thể quá xa với chuẩn được coi là lệch chuẩn Nếu sau một thời gian sử dụng, biến thể được cộng đồng xã hội chấp nhận và nhập vào hệ thống chung, nó sẽ trở thành chuẩn; ngược lại, nó sẽ bị đào thải Các chuẩn mới sẽ tồn tại song song với chuẩn cũ, thể hiện sự khác nhau về sắc thái biểu cảm và phong cách.

Bài viết này phân tích sự biến đổi dạng thức của từ tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, so sánh với sự biến đổi dạng thức của từ trong các ngôn ngữ Ân-Âu Trong các ngôn ngữ Ân-Âu, sự biến đổi này nhằm đáp ứng các yêu cầu ngữ pháp, thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp khác nhau của từ.

T rong khi đó ở tiế n g V iệt, sự biến đổi nhằm m ụ c đích từ vựng.

1.4.2.1 S ự lệch chuẩn vê m ặt ngữ âm

Hệ thống ngữ âm có tính bền vững và chặt chẽ trong cấu trúc, với tính khép kín trong sử dụng Đặc điểm ngữ âm của một ngôn ngữ không phai là bất biến, mặc dù sự thay đổi diễn ra chậm Trong giao tiếp, sự biến đổi ngữ âm của tiếng Việt không mang tính đồng loạt mà phụ thuộc vào vai giao tiếp trong từng hoàn cảnh cụ thể để đạt được hiệu quả giao tiếp Ví dụ, để thể hiện cách nói của người miền Nam, người sử dụng ngôn ngữ có thể dùng các từ mang đặc trưng của vùng miền này.

Biến đổi ngôn ngữ trong xã hội không thể tùy ý theo cách cá nhân hay địa phương, mà phải tuân theo các quy tắc chung và tính hệ thống Mỗi cá nhân hay nhóm xã hội không thể tự ý thay đổi ngôn ngữ mà không có sự chấp nhận của cộng đồng Những biến đổi mang tính cá nhân hoặc địa phương không được coi là phổ biến và không tuân theo quy tắc chung sẽ được xem là lệch chuẩn Ví dụ như các từ như "xiền" thay vì "tiền", "xún" thay vì "rốn", hay "trùi ui" thay vì "trời ơi" đều thể hiện sự lệch chuẩn trong ngôn ngữ.

1.4.2.2 S ự lệch chuẩn về mặt chữ viết - kí hiệu ngôn ngữ

Hệ thống từ vựng cà n g đang phát triển, đi kèm với những biến đổi trong chữ viết Hệ thống chữ viết được cải tiến để ngắn gọn hơn, chính xác hơn, và đảm bảo tính tiết kiệm của ngôn ngữ.

2 8 inrớc đây c h ú n g ta vần viết là “ n gh àn h ” , nhưng b ây giò' từ này được viết là

Trên các sách báo hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện của nhiều từ ngữ có chứa các con chữ không thuộc hệ thống chữ cái của tiếng Việt như “j”, “w”, “z” Những từ này thường có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài hoặc các thuật ngữ khoa học, được sử dụng để đảm bảo tính thẩm mỹ, tính khoa học và tính chính xác (ví dụ: nhạc jazz, file ) Tuy nhiên, nếu những con chữ này xuất hiện trong các từ ngữ tiếng Việt đã có sẵn hình thức và ngữ nghĩa để diễn đạt vỏn vẹn âm của tiếng Việt, thì chúng được coi là lệch chuẩn (như dậy, vậy, zui zỏ, đẹp quá ).

Âm thanh và chữ viết không chỉ là biểu thị đơn thuần mà còn đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp Chúng có những cách sử dụng riêng biệt, bao gồm đặc điểm từ ngữ và cú pháp, cùng với hình thức trình bày Những đặc điểm này thể hiện rõ nét trong ngôn ngữ giao tiếp của học sinh.

Sinh viên thường gặp các ký hiệu ghi ý trong hệ thống ngôn ngữ ghi âm của tiếng Việt, bao gồm các thuật ngữ khoa học chuyên ngành như toán học, hóa học, vật lý, và các ký hiệu trên bản đồ, biển chỉ đường Việc sử dụng những ký hiệu này là cần thiết để đảm bảo tính khoa học, chính xác, dễ hiểu cho người sử dụng ngôn ngữ khác nhau trên toàn thế giới Tuy nhiên, trong cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên, những ký hiệu ghi ý này lại được sử dụng lệch chuẩn, tạo ra sự sáng tạo mới và thể hiện ý nghĩa tình thái của người nói Ví dụ, kéo dài hình thức chữ viết (chào ooooo, ơi iiii), sử dụng chữ số (0 sướng - không sướng, 2! - hi - chào), và các ký hiệu khoa học (J - con trai, 9 - con gái, H2O - nước) hay hình vẽ (ik - sao, ngôi sao, y - trái tim) Nghiên cứu về cách sử dụng từ ngữ lệch chuẩn trong giao tiếp không thể bỏ qua bình diện này.

Sinh viên là nhóm trẻ của xã hội, họ tiếp thu cái mới nhanh chóng và thường xuyên cập nhật các kí hiệu mới để thể hiện sự sáng tạo, nhạy bén và hiện đại Những kí hiệu này được sử dụng trong ngôn ngữ của học sinh, sinh viên và được coi là lệch chuẩn Sự lệch chuẩn này mang lại những hiệu quả ngôn ngữ mới trong giao tiếp.

1.4.3 Sụ chuyển nghĩa củ a tù

Ngôn ngữ luôn vận động và phát triển thông qua sự giao tiếp Mỗi biến động nhỏ trong ngôn ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu thực hiện chức năng giao tiếp trong từng hoàn cảnh cụ thể Sự chuyển nghĩa của từ không nằm ngoài quy luật này, với các yếu tố xã hội đóng vai trò quan trọng Khi xã hội phát triển mạnh về phương diện nào, những hiện tượng ở phương diện đó tác động mạnh mẽ vào tâm lý con người, dẫn đến việc các từ chuyển nghĩa để biểu thị những sự vật, hiện tượng khác Sự biến đổi này thường diễn ra trong quá trình sử dụng ngôn ngữ của mọi người và ở mọi lĩnh vực ý nghĩa Từ một hình thức âm thanh, từ có thể biểu đạt nhiều nghĩa khác nhau, và các nghĩa này được mỗi người tiếp nhận và tích lũy dần trong tiềm năng ngôn ngữ của mình Mỗi cá nhân có khả năng sử dụng và biến đổi nghĩa của từ riêng, và chính các yếu tố giao tiếp, quy tắc thẩm mỹ ngôn ngữ, cùng tính thời đại của ngôn ngữ sẽ giải thích cho việc làm lệch chuẩn về nghĩa của từ của người sử dụng.

T iểu k ế t

Cũng như các ngôn ngữ khác trên thế giới, sự phát triển và hoạt động của các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn trong tiếng Việt chịu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội và nội bộ ngôn ngữ Sự xuất hiện và phát triển của các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn này nhằm thoả mãn hai mục đích.

Vấn đề ngoài ngôn ngữ liên quan đến việc các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn được tạo ra nhằm mục đích gì và các phạm vi của đời sống xã hội ảnh hưởng đến sự ra đời của những đơn vị này.

V ấn đề th uộc nội bộ ngôn ngữ: C ho thấy cá c xu hướng và phương tiện để tạo tù' m ới.

Các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn được hình thành dựa trên hai yếu tố chính: nguồn gốc và cấu trúc của hệ thống từ vựng, cùng với việc sử dụng từ ngữ địa phương và từ ngoại quốc Một số xu hướng ngôn ngữ lệch chuẩn nổi bật hiện nay bao gồm

Sự vận động và chuyển dịch trong nội bộ cơ cấu nghĩa của từ thể hiện sự mở rộng phạm vi ngữ nghĩa và hình thành các nghĩa mới Các hiện tượng chuyển nghĩa và chuyển loại từ diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự hòa nhập từ vựng giữa các phong cách và nhóm từ nghề nghiệp, xã hội Nhiều từ đang chuyển dần từ vốn từ tiêu cực sang tích cực, trong khi những từ lỗi thời được hồi sinh nhờ tác động của đời sống chính trị và xã hội Những thay đổi này phản ánh sự đổi mới trong tư duy và cách nhìn nhận, đánh giá về một số từ.

Việc sử dụng từ nước ngoài dưới các dạng phiên chuyển, không phiên chuyển, nguyên dạng và tắt, bao gồm cả âm và nghĩa, là rất phổ biến Điều này không chỉ giúp làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn phản ánh sự giao thoa văn hóa.

Để đạt được chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt, bên cạnh việc nghiên cứu lý thuyết, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu thực tiễn về ngôn ngữ này.

Để hiểu rõ sự phát triển của tiếng Việt, cần xác lập các chuẩn mực ngôn ngữ, từ đó có những định hướng nhất định từ Nhà nước cho người sử dụng Nghiên cứu sự lệch chuẩn trong ngôn ngữ nói chung và từ ngữ nói riêng là rất cần thiết Qua việc khảo sát các yếu tố lệch chuẩn, chúng ta có thể lựa chọn những đơn vị lệch chuẩn tích cực để phát huy, đồng thời hạn chế dần những đơn vị lệch chuẩn tiêu cực, nhằm gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIẾM s ử DỤNG TỪ NGỮ

TIẾNG NƯỚC NGOÀI TRONG LỜI NÓI

CỦA THANH THIẾU NIÊN (HỌC SINH - SINH VIÊN)

M ượn n g u y ên dạn g cá c từ n gữ tiến g nước n g o à i

Hiện tượng vay mượn từ ngữ trong mỗi ngôn ngữ là một quá trình tất yếu trong lịch sử phát triển của nó, diễn ra song song với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Sự mở rộng không ngừng của hệ thống từ ngữ vay mượn nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt các sự vật, khái niệm mới, bao gồm cả những khái niệm hoàn toàn mới hoặc mới được du nhập vào một hệ thống ngôn ngữ Trong tiếng Việt, các từ ngữ vay mượn đến từ nhiều nguồn khác nhau như Anh, Pháp.

Trong thời kỳ phong kiến, tiếng Hán chiếm ưu thế trong hệ thống từ vay mượn của tiếng Việt Tuy nhiên, trong thời kỳ chống thực dân Pháp, số lượng từ vay mượn từ tiếng Pháp đã gia tăng đáng kể.

Sau khi đất nước được giải phóng, sự hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và Liên Xô cũ đã dẫn đến việc nhiều từ ngữ tiếng Nga du nhập vào Việt Nam Vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, cùng với xu hướng toàn cầu hóa, một lượng lớn từ ngữ tiếng Anh - ngôn ngữ phổ biến nhất hiện nay - đã được hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt vay mượn.

Hiện nay, trên các báo chí, đặc biệt là những báo dành cho học sinh - sinh viên, xuất hiện nhiều từ ngữ có nguồn gốc từ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh Điều này phản ánh thực tế rằng thanh thiếu niên rất nhạy bén trong việc tìm tòi và tiếp nhận cái mới Những từ ngữ nước ngoài này giúp cách diễn đạt trở nên linh hoạt, tạo ấn tượng mới lạ và ngắn gọn Đồng thời, chúng cũng thể hiện tính chủ quan và biểu cảm của người viết Các yếu tố này của từ ngữ vay mượn đã đáp ứng nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ Vì vậy, ngày càng có nhiều từ ngữ vay mượn xuất hiện trong lối nói của học sinh - sinh viên dưới nhiều dạng thức khác nhau như nguyên dạng, viết tắt, phiên âm, và lấy âm - nghĩa của tiếng nước ngoài để chỉ âm - nghĩa của tiếng Việt Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy những từ vay mượn nguyên dạng được sử dụng trên báo Hoa Học Trò.

( 2 0 0 0 - 2 0 0 2 ) chủ y ế u là tiến g A nh và có tần s ố rất lớn (1 1 2 5 ) ch iếm tỉ lệ 72,67% c á c từ n gữ tiế n g nước n goài trong n gôn ngữ h ọc sinh - sinh viên

Các từ ngữ vay mượn chủ yếu được lấy từ hai nguồn: giao tiếp trực tiếp và văn bản Chúng có thể được phân thành hai nhóm: từ ngữ vay mượn trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và từ ngữ vay mượn thuộc các lĩnh vực chuyên ngành Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, học sinh - sinh viên thường không tách rời hai nhóm từ này mà sử dụng đan xen để diễn đạt ý muốn một cách hiệu quả nhất.

Việc sử dụng ngôn ngữ tiến bộ và hiện đại của giới trẻ hiện nay đã trở thành một xu hướng tất yếu Họ thường sử dụng các hình thức ngôn ngữ mới, gần gũi và sinh động hơn, với các câu văn ngắn gọn và phong cách giao tiếp giống như tin nhắn Ngôn ngữ này, mặc dù có thể gây khó chịu cho những người bảo thủ, lại mang lại lợi ích cho học sinh trong việc rèn luyện kỹ năng ngoại ngữ Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc sử dụng tiếng Anh-Việt trong giao tiếp trở nên phổ biến, giúp giới trẻ dễ dàng tiếp cận và thích nghi với ngôn ngữ hiện đại.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ khảo sát sự vay mượn từ ngữ tiếng nước ngoài của học sinh - sinh viên, đặc biệt là trong bối cảnh văn chương Mặc dù có những ý kiến trái chiều về việc sử dụng từ "sến", nhưng rõ ràng là có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ ngôn ngữ nước ngoài trong cách diễn đạt của giới trẻ hiện nay Việc sử dụng tiếng Việt một cách tinh tế và điêu luyện là điều cần thiết để bảo tồn bản sắc văn hóa.

2.1.1 C ác tù ngữ thông dụ n g tro n g đòi sống sinh hoạt h àn g ngàv

Những từ ngữ vay mượn thường được sử dụng trong đời sống hàng ngày, mang ý nghĩa cụ thể và giá trị biểu cảm cao, thể hiện dấu ấn chủ quan của người nói Chúng giúp cách diễn đạt trở nên linh hoạt và tạo ấn tượng mới lạ trong phát ngôn, từ đó tác động tích cực đến sự tiếp nhận của người nghe Số lượng từ vay mượn này rất phong phú, vì hầu hết các từ có nghĩa được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày đều có thể được vay mượn.

Vcl.: - Cô c h ỉ cần dành 6 tiếng cho m ộ t đêm và hôm sau là hoàn toàn fresh cho m ộ t n g à y mới (358)

- ơ đ â y bạn s ẽ thấy bạn bè mình ev ery w h ere đang dám n s h ĩ chím làm và dám chịu trách nhiệm về những việc mà ban c h ỉ n g ồ i mù dream dream (317)

Sự vay mượn ngôn ngữ không chỉ xuất hiện ở từng từ đơn lẻ mà còn thể hiện qua các cụm từ kết hợp theo đúng trật tự cú pháp của tiếng Anh.

V d.: - Aqua của chúng ta đã been around the w orld (346)

Khi bạn "fall in love", điều quan trọng là không nên nghe nhạc của người khác mà hãy tạo ra âm nhạc riêng cho mình Hãy để cảm xúc của bạn được thể hiện qua những giai điệu mà chính bạn sáng tác, để trải nghiệm tình yêu một cách trọn vẹn nhất.

Sự vay mượn từ ngữ trong cách diễn đạt của học sinh - sinh viên thường chỉ nhằm mục đích thu hút sự chú ý của người tiếp nhận.

34 dùng từ vay m ư ợ n, người viết lại sử dụng m ột loạt tù' ngũ' tiến g V iệt để diễn íiiái lại ý n g h ĩa cú a từ vay m ượn vừa được sử dụng ở phía trước.

Tuyên bố chính thức: Thay mặt cho văn phòng sở, mọi thứ vẫn giữ nguyên như cũ Chúng ta tiếp tục chuẩn bị cho cuộc thi vào mùa hè 2001.

- Chướng n gại vật tiếp theo: Tim cho mình m ộ t N e w style - phong cách mới (350)

Việc đưa các từ ngữ tiếng Việt vào ngay sau từ ngữ tiếng Anh không chỉ đơn thuần là một sự định nghĩa cho từ tiếng Anh mà còn thể hiện sự chú thích mang tính hài hước, vui nhộn có chủ ý của người viết.

Vd.: - Lần khủng bô'đáng sợ: Bị m ộ t anh trong đoàn chụp ảnh nguyên a 7 b o tto m , (c á i m ô n g c o n g tớ n ) (462)

T rong từ đ iể n A nh - V iệ t, “bottom ” chỉ m an g n g h ĩa là “cái m ô n g ” , [dt

+ Q ua k h ảo sát các từ v a y m ượn n g u y ên dạng, ch ú n g tôi nhận thấy từ

Từ "fa n" là một trong những từ vay mượn có tần số sử dụng cao nhất Nó không chỉ được dùng độc lập mà còn là yếu tố cấu tạo từ ghép, kết hợp với một yếu tố có nghĩa khác trong tiếng Anh.

Vd.: - A nh là m ôt big fan của các th ể loại ph im tài liệu (436)

- Thum g ia m ộ t fan clu b, coi như bạn đ ã trở thành m ộ t C Đ V chuyên nghiệp (449)

- M ình quả là m ộ t lovely fan, dù c ó muộn m ấ y cũng c ố công đợ i thẩn tượng (449)

- Sharon Síone chắc chắn s ẽ g â y ấn tượng mạnh với cin eíần Việt Nam (453)

- C h ì c ó m ộ t tuần đ ể các bạn thê hiện mình là những crazyfan nốm i bỏníỉ nhất của Sao (453)

- L àm t h ế nào đ ế tạo ra m ộ t ro ck fan ? (445)

Các yếu tố có nghĩa kết hợp với "fan" không nhất thiết phải là một từ, mà có thể là tiếp đầu ngữ như "anti" hoặc là ký hiệu viết tắt của các cụm từ.

V d : - Test n à y dành cho cả WWW fan, cả cho những người chua từng biết m ù i net, và cười vào m ũ i những người còn lại (449)

- G eoíỉiv M ichael lạ i m ớ i thu thập thêm m ộ t lương c T JT anti-fan đáng k ế tụi • c

Ngày đăng: 02/08/2023, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. D iệ p Q u an g Ban - H oà n g Vãn Tliung, N s ữ pháp tiếng V iệ l, N X B G iáo due, ì 9 9 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N s ữ pháp tiếng V iệ l
Tác giả: D iệ p Q uan g Ban, H oà n g Vãn Tliung
Nhà XB: N X B G iáo due
Năm: 1998
2. N g u y ễ n Tài c ẩ n , T ừ loại danh từ trong tiếng V iệt hiện đại, N X B K hoa học xã h ộ i. 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1975
3. Đ ỗ Hữu Châu, C ơ s ở n g ữ nghĩa h ọ c từ vựng, N X B G iáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C ơ s ở n g ữ nghĩa h ọ c từ vựng
Tác giả: Đ ỗ Hữu Châu
Nhà XB: N X B G iáo dục
Năm: 1998
4. Trán Châu, “ Hơi b ị ” , Tạp c h í N a ô n ngữ và đời s ố n g , s ố 7, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơi b ị
Tác giả: Trán Châu
Nhà XB: Tạp chí Nông ngữ và đời sống
Năm: 1998
5. Linh Chi, Các Fan hay cá c Fans?, Tạp c h í N g ô n ngữ và đời số n g , s ố 1+2, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Fan hay cá c Fans
Tác giả: Linh Chi
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống
Năm: 2002
6. Mai N g ọ c Chừ - V ũ Đ ứ c N g h iê u - H oàng Trọng Phiến, Cơ sở n s ô n ngữ học và tiến g V iệt, N X B Đ ạ i h ọc và g iá o dục c h u y ê n ngh iệp , 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở n s ô n ngữ học và tiến g V iệt
Tác giả: Mai N g ọ c Chừ, V ũ Đ ứ c N g h iê u, H oàng Trọng Phiến
Nhà XB: N X B Đ ạ i h ọc và g iá o dục c h u y ê n ngh iệp
Năm: 1990
7. H o à n g Cao Cương, Sự phát triển n gôn ngữ và n gôn ngữ đã phát tricn:trường hợp tiến g V iệ t, Tạp c h í N g ô n ngữ, s ố 1, 2 0 0 0 .K. N g u v ễ n Đ ứ c D ân, L ô g íe và tiếng V iệt, N X B G iá o dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ đã phát triển: trường hợp tiếng Việt
Tác giả: H o à n g Cao Cương
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2000
9. N g u y ễ n Đ ứ c D ân , N g ữ d ụ n g học, N X B G iá o dụ c, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: N g u y ễ n Đ ứ c D â n
Nhà XB: N X B G iá o dụ c
Năm: 1998
10. N g u y ễ n Thị K im D u n g , “ K h o a i” và “chuối", Tạp ch í N g ô n ngữ và đời s ố n g , s ố 7, 2 0 0 3 .I 1. Hữu Đạt, P h o n g c á c h h ọ c tiếng V iệt hiện đại, N X B K hoa h ọc xã hội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung, Hữu Đạt
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống
Năm: 2003
12. Hữu Đ ạt, Trần Trí D õ i, Đ à o Thanh Lan, Cơ sở tiến g V iệt, N X B G iáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiến g V iệt
Tác giả: Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan
Nhà XB: N X B G iáo dục
Năm: 1998
13. Phạm V ă n Đ ồ n g , Trớ lại vấn đề: V ì sự trong sáng và phát triển của tiếng V iệt, Tạp c h í N g ô n ngữ, s ố 6, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trớ lại vấn đề: V ì sự trong sáng và phát triển của tiếng V iệt
Tác giả: Phạm V ă n Đ ồ n g
Nhà XB: Tạp c h í N g ô n ngữ
Năm: 1999
14.D ư ơng Kỳ Đ ứ c - V ũ Q u a n g Hào, Từ điển trái nghĩa - đ ồ n g ngh ĩa tiếng V iệt, N X B Đ ại h ọ c và g iá o dục c h u y ên ngh iệp , 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển trái nghĩa - đồng nghĩa tiếng Việt
Tác giả: D ư ơng Kỳ Đ ứ c, V ũ Q u a n g Hào
Nhà XB: N X B Đ ại h ọ c và g iá o dục c h u yên ngh iệp
Năm: 1992
15. Đ in h Vãn Đ ứ c , N g ữ pháp liế n g V iệt (từ loại), N X B Đại học và trung học c h u y ê n n g h iệp , 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp liến g Việt (từ loại)
Tác giả: Đinh Vãn Đức
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
16. N g u y ễ n T hiện G iáp , Cơ sỏ' ngôn ngữ học, N X B K hoa h ọc xã hội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: N g u y ễ n T hiện G iáp
Nhà XB: N X B K hoa h ọc xã hội
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm