1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quy định pháp luật của Việt Nam trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

55 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các quy định pháp luật của Việt Nam trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Luật thương mại quốc tế
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 52,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chấp nhận hối phiếu “draft do Người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi dáo hạn, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.” Theo quy định hiện hành của phá

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương đã thúc đẩynền kinh tế thế giới tăng trưởng không ngừng Vì thế, quan hệ mua bán hàng hóatrong nước và quốc tế cũng nhờ thế mà phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự xuất hiệncủa nhiều phương thức thanh toán, trong đó hình thức thanh toán bằng thư tín dụng

có vị trí và vai trò quan trọng nhất Với những ưu điểm nổi bật, thanh toán bằngthư tín dụng đã trở thành phương thức thanh toán được hầu hết các quốc gia sửdụng, với tỷ lệ chiếm khoảng 70% tổng số giao dịch thanh toán quốc tế

Trong những năm qua, hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của các ngânhàng thương mại Việt Nam đã có nhiều đổi mới, từng bước gắn với hội nhập thếgiới, đáp ứng các yêu cầu của quốc tế Nhờ vào hình thức thanh toán bằng thư tíndụng mà ngành ngoại thương nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung đangngày càng phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không nhỏ các lỗi,tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng do pháp luât quyđịnh chưa rõ ràng, một số quy định vẫn còn hạn chế, hay do các bên chủ thể ápdụng không đồng bộ các bộ luật hay các thông lệ quốc tế Chính vì vậy, nên nhóm

chúng em xin được lấy đề tài tiểu luận: “Các quy định pháp luật của Việt Nam trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng” nhằm trình bày một số quy định

pháp luật trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng, đồng thời đưa ra những đánhgiá và giải pháp để các quy định pháp luật liên quan đến thanh toán quốc tế bằngthư tín dụng hoàn thiện hơn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được trình bày thành haichương:

Phần I: Tổng quan về thư tín dụng

Phần II: Các quy định Pháp luật của Việt Nam trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

Trang 2

PHẦN I TỔNG QUAN VỀ THƯ TÍN DỤNG

Ngày nay, dưới tác động của xu hướng toàn cầu hoá, hoạt động ngoạithương trên thế giới ngày càng phát triển và đa dạng, xoá dần đi những rào cản tự

do hóa thương mại giữa các quốc gia Xuất phát từ tính rủi ro cao của nhữngthương vụ buôn bán toàn cầu, từ lâu người mua và người bán đã biết cách sử dụngnhững hình thức thanh toán có độ an toàn cao nhất, trong đó có hình thức thanhtoán bằng thư tín dụng (hay còn gọi là hình thức thanh toán bằng tín dụng chứngtừ)

1 Định nghĩa thư tín dụng (Letter of credit – L/C)

Trong quan hệ thương mại quốc tế, khái niệm thư tín dụng trong UCP600được thừa nhận rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới

Theo điều 2 UCP600: “Thư tín dụng là bất cứ một sự thoả thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết chắc chắn của Ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Thanh toán có nghĩa là:

a trả ngay khi xuất trình, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán ngay.

b cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi sáo hạn, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán về sau.

c chấp nhận hối phiếu (“draft) do Người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi dáo hạn, nếu Thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.”

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, thư tín dụng là một vănbản cam kết có điều kiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch

vụ thanh toán (người xin mở tín dụng), theo đó ngân hàng thực hiện yêu cầu củangười xin mở thư tín dụng để:

Trang 3

- Trả tiền hoặc uỷ quyền cho ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh củangười thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiệncuả tín dụng, hoặc:

- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc uỷ quyền cho ngân hàng khác trả tiền theo lệnhcủa người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai, khi nhận được

bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng

Cả hai cách định nghĩa trên đây, dù được dựa trên và hướng tới những chuẩnmực khác nhau trong thanh toán quốc tế nhưng đều tìm cách làm rõ các vấn đềmang tính bản chất của thư tín dụng Các vấn đề này bao gồm:

- Thư tín dụng có bản chất là một cam kết của ngân hàng phát hành, sẽ tựmình thực hiện việc trả tiền cho người thụ hưởng, hoặc ủy quyền cho ngân hàngkhác trả tiền cho người thụ hưởng theo các điều kiện thanh toán được ghi trong thưtín dụng

- Thư tín dụng tuy được mở theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thưtín dụng) nhưng lại làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng phát hành thư tíndụng, đối với người thứ ba (người thụ hưởng thư tín dụng) Nghĩa vụ này có tínhđộc lập so với nghĩa vụ của người xin mở thư tín dụng, đồng thời cũng độc lập sovới chính hợp đồng đã làm phát sinh ra nghĩa vụ đó

- Thư tín dụng làm phát sinh một quan hệ tín dụng giữa ngân hàng phát hànhvới khách hàng - người xin mở thư tín dụng, theo đó ngân hàng phát hành thư tíndụng cam kết sẽ ứng tiền của mình để thực hiện một nghĩa vụ tài sản thay chokhách hàng, đối với người thứ ba – người thụ hưởng thư tín dụng và do đó cóquyền yêu cầu khách hàng hoàn lại cho mình số tiền đã được ứng trước, kèm theomột khoản phí dịch vụ theo thỏa thuận

2 Các đặc trưng cơ bản của Thư tín dụng (L/C)

Thư tín dụng là một văn bản pháp lý quan trọng đối với hình thức thanh toántín dụng chứng từ Nếu không có thư tín dụng thì sẽ không có hình thức thanh toán

Trang 4

bằng thư tín dụng Trên nguyên tắc, thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợpđồng mua bán nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợpđồng mua bán và ngân hàng chỉ tham gia vào việc thanh toán trên cơ sở thư tíndụng

Thư tín dụng có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xét trong mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người yêu

cầu mở thư tín dụng thì Thư tín dụng là sự thoả thuận giữa ngân hàng phát hành vàngười yêu cầu mở thư tín dụng Khi nhận được yêu cầu mở thư tín dụng của kháchhàng, Ngân hàng sẽ xem xét hợp đồng mua bán hàng hoá giữa khách hàng (ngườiyêu cầu mở thư tín dụng) và người được thụ hưởng để quyết định việc chấp thuậnhay từ chối mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng Như vậy, việc phát hành(mở) thư tín dụng hay không là kết quả của sự thỏa thuận giữa ngân hàng vớingười yêu cầu mở thư tín dụng, thông qua việc ngân hàng thẩm định các điều kiện

mở thư tín dụng

Về bản chất, việc mở thư tín dụng vừa là một hoạt động cung cấp dịch vụcuả ngân hàng, đồng thời có thể xem là một phương thức cấp tín dụng của ngânhàng phát hành cho người yêu cầu mở thư tín dụng và người này phải ký quỹkhoản tiền mở thư tín dụng, trả phí cho dịch vụ này

Thứ hai, xét trong mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người thụ

hưởng thư tín dụng thì Thư tín dụng là cam kết đơn phương của ngân hàng về việctrả tiền cho người bán/người thụ hưởng thư tín dụng Do là cam kết đơn phươngnên sau khi thư tín dụng được phát hành hợp lệ bởi ngân hàng thì nó mới chỉ có giátrị ràng buộc đối với ngân hàng phát hành ra nó Người bán sau khi nhận đượcthông báo mở thư tín dụng nếu không đồng ý phải thông báo cho ngân hàng; nếuđồng ý thì sẽ giao hàng và hoàn thiện chứng từ để chuẩn bị đòi tiền từ ngân hàngphát hành thư tín dụng, theo các điều kiện trả tiền đã được ghi trong thư tín dụng.Ngân hàng gửi chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng để thông báo và quyết

Trang 5

toán tài khoản thư tín dụng để trực tiếp trả tiền ngay cho người thụ hưởng theo cácđiều kiện đã cam kết trong thư tín dụng, mà không cần đến sự chấp thuận củangười yêu cầu mở thư tín dụng

Thứ ba, Thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá

nhưng lại có tính độc lập so với hợp đồng mua bán

Thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng về bảnchất thư tín dụng là một giao dịch độc lập, tách biệt với các hợp đồng mua bán.Điều này thể hiện ở chỗ, sau khi đã phát hành thư tín dụng hợp lệ, ngân hàng pháthành chỉ bị ràng buộc với thư tín dụng do chính mình phát hành chứ không bị chiphối, liên quan hoặc bị ràng buộc với các hợp đồng mua bán vốn là cơ sở để phátsinh nhu cầu phát hành thư tín dụng, thậm chí ngay cả trong thư tín dụng có bất kỳ

sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó Nói cách khác, khi viết đơn yêu cầu mở thưtín dụng, người mua phải dựa vào nội dung của hợp đồng mua bán nhưng khi thưtín dụng đã được mở thì mọi hậu quả pháp lý xảy ra đối với hợp đồng mua bán đókhông hề ảnh hưởng gì đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân hàngphát hành thư tín dụng Trong quá trình thanh toán, ngân hàng chỉ cần dựa trênchứng từ, hồ sơ hợp lệ được các bên xuất trình mà không cần phải dựa vào thực tếgiao nhận hàng hoá, tên hàng, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì,giá trị hoặc sự hiện hữu của hàng hoá Bởi quan hệ trong hợp đồng mua bán làquan hệ giữa người bán và người mua còn quan hệ thanh toán tiền theo thư tíndụng lại phát sinh giữa ngân hàng phát hành với người thụ hưởng thư tíndụng/người bán Nếu xảy ra rủi ro trong quá trình giao nhận hàng hoá thì hai bênngười mua, người bán sẽ giải quyết theo hợp đồng hoặc pháp luật mà ngân hàngkhông phải chịu trách nhiệm về hàng hóa đó

3 Nội dung của thư tín dụng

Nội dung cơ bản của một thư tín dụng sẽ bao gồm các điều khoản được ngânhàng phát hành lập theo tiêu chuẩn chung của UCP600 Các điều khoản này phản

Trang 6

ánh một cách rõ ràng ý chí của ngân hàng phát hành trong việc cam kết thanh toán

số tiền ghi trên thư tín dụng cho người thụ hưởng/người bán hàng, nếu người nàyxuất trình thư tín dụng một cách hợp lệ để đòi tiền ngân hàng, theo các điều kiệnthanh toán đã được ghi trong thư tín dụng

Theo thông lệ chung, một thư tín dụng gồm có các điều khoản sau đây:

- Số hiệu của L/C Về nguyên tắc, tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng

nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình trao đổi thư từ, điện tín cho nhau trongquá trình thực hiện thư tín dụng Số hiệu của thư tín dụng còn được dùng để ghivào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán

- Địa điểm mở L/C Đó là nơi ngân hàng mở L/C lập bản cam kết thanh toán

tiền cho nhà xuất khẩu Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề chọn luật

áp dụng, mỗi khi có tranh chấp xẩy ra giữa các bên có liên quan đến thư tín dụng.Thông thường, nếu trong thư tín dụng không xác định rõ nơi mở thư tín dụng thìtheo tập quán giao dịch, địa điểm mở thư tín dụng được xác định là địa chỉ nơingân hàng phát hành đặt trụ sở chính, hoặc trụ sở chi nhánh (nếu thư tín dụng được

mở tại một chi nhánh cụ thể của ngân hàng)

- Ngày mở L/C Đó là ngày mà người đại diện hợp pháp của ngân hàng phát

hành thư tín dụng ký vào văn bản thư tín dụng để tạo lập một thư tín dụng theođúng các quy tắc của tín dụng chứng từ, dựa trên sự tuân thủ Bản Quy tắc và thựchành tín dụng chứng từ (UCP500) Trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp ngày

mở thư tín dụng chính là ngày mà sự cam kết thanh toán của ngân hàng đối với nhàxuất khẩu bắt đầu có hiệu lực, đồng thời cũng là ngày phát sinh hiệu lực của hợpđồng được thực hiện giữa ngân hàng mở thư tín dụng và nhà nhập khẩu Tuynhiên, về lý thuyết cũng có thể xảy ra trường hợp ngày mở thư tín dụng khôngtrùng khớp với ngày phát sinh hiệu lực của thư tín dụng, nếu trong thư tín dụng cóđiều khoản ghi chú của ngân hàng phát hành về việc lùi thời hạn có hiệu lực củathư tín dụng vào một ngày nhất định sau ngày mở thư tín dụng Đôi khi, ngày mở

Trang 7

thư tín dụng cũng được coi là căn cứ để nhà xuất khẩu kiểm tra xem nhà nhập khẩu

có mở L/C đúng như quy định trong hợp đồng mua bán hay không

- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C Các chủ thể này bao

gồm: người yêu cầu mở L/C; người thụ hưởng L/C; ngân hàng phát hành L/C;ngân hàng thông báo L/C và đôi khi là cả ngân hàng xác nhận L/C Các chủ thểnày phải được xác định rõ danh tính, địa chỉ và số hiệu tài khoản (nếu có) nhằmphòng ngừa và hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện thưtín dụng

- Trị giá của L/C Đó là số tiền được ghi bằng chữ và ghi bằng số, thể hiện

giá trị nghĩa vụ tài sản của ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng Trị giáđược ghi bằng chữ và trị giá được ghi bằng số trong L/C phải thống nhất với nhau

và trong trường hợp có sự không thống nhất thì có thể coi số tiền ghi bằng chữ là

có giá trị Ngoài ra, tên của đơn vị tiền tệ phải ghi rõ ràng, đầy đủ, chính xác theoquy định chung đã được thừa nhận trong giao dịch thanh toán quốc tế và tránh sựhiểu nhầm hay sự giải thích không có lợi cho các bên

- Thời hạn hiệu lực của L/C Đây là thời hạn mà ngân hàng phát hành cam

kết sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanhtoán trong thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C Thời hạn của L/

C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C Thời hạn hiệu lực củaL/C phải là một khoảng thời gian hiệu lực hợp lí để tạo thuận lợi cho quá trình thựchiện hợp đồng cũng như không gây khó khăn cho việc xuất trình bộ chứng từ thanhtoán từ phía nhà xuất khẩu/người thụ hưởng

- Thời hạn thanh toán của L/C Thời hạn này liên quan đến việc trả tiền ngay

hay trả chậm Điều khoản này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định trong hợp đồngngoại thương, trong đó các bên mua và bán có thể xác định rõ việc thanh toán bằngthư tín dụng trả ngay hay thanh toán bằng thư tín dụng trả chậm

- Thời hạn giao hàng Thời hạn này sẽ do hợp đồng mua bán quy định và

Trang 8

phải được ghi vào L/C như một điều kiện trả tiền đối với người thụ hưởng Trongtrường hợp các bên tham gia hợp đồng mua bán có thỏa thuận về việc kéo dài thờihạn giao hàng mà không đề cập đến việc kéo dài thời hạn có hiệu lực của thư tíndụng thì mặc nhiên được coi là thư tín dụng cũng được kéo dài thêm thời hạntương ứng Ngược lại, nếu các bên thỏa thuận kéo dài thời hạn có hiệu lực của thưtín dụng nhưng lại không thỏa thuận về việc kéo dài thời hạn giao hàng thì khôngđược phép hiểu rằng thời gian giao hàng cũng được kéo dài tương ứng.

- Điều khoản về những nội dung liên quan đến hàng hóa như tên hàng hóa,

số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, kí mã hiệu đều đượcghi đầy đủ vào L/C

- Điều khoản về những nội dung liên quan đến vận tải, giao nhận hàng hóa

như điều kiện giao hàng (FOB, CIF, CFR…), nơi bốc hàng, dỡ hàng, nơi gửi, nơigiao hàng, hình thức vận chuyển… cũng được ghi vào L/C

- Điều khoản xác định Bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu phải xuất trình để yêu cầu thanh toán Đây là nội dung rất quan trọng của L/C, vì bộ chứng từ là bằng

chứng chứng minh nhà xuất khẩu đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng đúng như L/C

đã quy định Nếu bộ chứng từ phù hợp với L/C thì ngân hàng phát hành sẽ thanhtoán tiền hàng cho nhà xuất khẩu và ngược lại, ngân hàng phát hành L/C có thể từchối thanh toán Bộ chứng từ do L/C quy định ít hay nhiều, tùy theo tính chất hànghóa và sự thỏa thuận giữa hai bên mua và bán Trong thanh toán quốc tế, ngânhàng thực hiện thanh toán dựa trên cơ sở chứng từ chứ không dựa vào hàng hóa.Thông thường, ngân hàng mở L/C đòi hỏi nhà xuất khẩu phải thỏa mãn những đặcđiểm sau đây khi xuất trình bộ chứng từ:

+ Các loại chứng từ đã được thỏa thuận trong hợp đồng mua bán giữa nhàxuất khẩu và nhà nhập khẩu

+ Số lượng của từng loại chứng từ

+ Thủ tục kí phát của từng loại chứng từ

Trang 9

- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C Đây là một trong số các nội

dung quan trọng nhất của L/C Điều khoản này ràng buộc trách nhiệm của ngânhàng mở L/C phải thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhà xuất khẩu xuất trình

bộ chứng từ phù hợp với những quy định của L/C Thực tiễn cho thấy nếu điềukhoản này không được quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến tranh chấp giữa cácbên và gây khó khăn cho Tòa án hay Trọng tài trong quá trình giải quyết tranhchấp

- Điều khoản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan Trong

thực tế, các loại L/C khác nhau đều mang những tính chất và nội dung khác nhau

Vì thế, việc quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong một thưtín dụng cũng có thể khác nhau

- Những điều khoản đặc biệt khác.

Ngoài những nội dung kể trên, ngân hàng mở L/C và nhà nhập khẩu có thểthỏa thuận đưa thêm vào thư tín dụng một số nội dung khác như có thể hoàn trảtiền bằng điện chuyển tiền hoặc thư điện tử…

- Chữ kí của ngân hàng mở L/C Do thư tín dụng thực chất là một khế ước

hay hợp đồng dân sự nên người kí vào thư tín dụng cũng phải là người có đủ nănglực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật dân sự Thôngthường, người ký tên vào thư tín dụng chính là người đại diện hợp pháp của ngânhàng phát hành, bao gồm người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo

ủy quyền

4 Phân loại thư tín dụng

Trong thực tiễn giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng, mỗi quan hệ thanhtoán có những đặc trưng riêng gắn với quyền lợi đặc thù của các bên thanh toán,đòi hỏi phải lựa chọn áp dụng những hình thức thư tín dụng phù hợp cho từng giaodịch thanh toán Chính vì vậy, việc phân loại thư tín dụng được xem là điều kiện,tiền đề, cơ sở cho việc lựa chọn và áp dụng hợp lý loại hình thư tín dụng cho từng

Trang 10

trường hợp cụ thể của quan hệ thanh toán.

Về lý thuyết, có thể phân loại thư tín dụng dựa vào các tiêu chí chủ yếu sauđây:

(i) Nếu căn cứ vào tính chất và đặc điểm, thư tín dụng có thể được phân

chia thành những loại sau:

- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable Letter Of Credit).

- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable Letter Of Credit).

- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed Irrerrcable Letter

Of Credit)

- Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi (Irrrvocable Without

Recouse Letter Of credit)

- Thư tín dụng có thể chuyển nhượng (Transferable Letter Of Credit).

- Thư tín dụng giáp lưng (Back To Back Letter Of Credit).

- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit).

- Thư tín dụng tuần hoàn (Rerolving letter of Credit).

- Thư tín dụng dự phòng (Standly Letter Of Credit).

- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause Letter Of Credit)

(ii) Nếu căn cứ theo thời điểm thanh toán, thư tín dụng có thể được phân

chia thành hai loại sau đây:

- Thư tín dụng trả ngay (at sight).

- Thư tín dụng trả chậm (usance L/C).

Trang 11

PHẦN II CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG THƯ

TÍN DỤNG

I Luật áp dụng cho hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)

Hoạt động thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nói chung

và thanh toán bằng L/C nói riêng làm phát sinh nhiều quan hệ lợi ích Những quan

hệ lợi ích này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích của các bên thamgia, đồng thời cũng ảnh hưởng đến các khía cạnh tăng trưởng của nền kinh tế Vì lẽ

đó, việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệnày nhằm đảm bảo lợi ích cho các chủ thể, đảm bảo an toàn cho nền kinh tế là điềucần thiết và tất yếu

Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng là tổng hợp các quy phạm phápluật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng Xét theo nghĩa rộng, phápluật về thanh toán bằng thư tín dụng bao gồm hai bộ phận, đó là pháp luật quốc gia

và pháp luật quốc tế (thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế về tín dụng chứng từ)

1 Luật quốc gia điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng

Đây là nguồn pháp luật cơ bản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh tronghoạt động thanh toán bằng thư tín dụng Bộ phận pháp luật này bao gồm các quyphạm pháp luật được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu như

Bộ luật dân sự; Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung

Trang 12

năm 2003); Luật các tổ chức các tín dụng năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung một sốđiều năm 2004); Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 về hoạt động thanhtoán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 20/3/2002 ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chứccung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định số 1096/2002/QĐ- NHNN ngày8/10/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành thủ tục thanhtoán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán…

Ngoài ra, hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng còn chịu sự điều chỉnh củacác văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Luật các công cụ chuyển nhượng

2005, Pháp lệnh ngoại hối 2005…

2 Các thông lệ quốc tế và tập quán ngân hàng quốc tế

Hiện nay chưa có các điều ước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh vấn đề thanhtoán bằng thư tín dụng Do vậy, các tập quán và thông lệ quốc tế về vấn đề nàyđược áp dụng rất rộng rãi trên toàn thế giới Các quy tắc và thực hành thống nhất

về tín dụng chứng từ (UCP) được công bố rộng rãi lần đầu tiên vào năm 1933, là

bộ các quy tắc được công nhận rộng rãi điều chỉnh đến việc sử dụng chứng từtrong thương mại quốc tế Trải qua 6 lần sửa đổi, bản “Quy tắc và Thực hành thốngnhất về tín dụng chứng từ số 600, sửa đổi 2007 của ICC” là bản sửa đổi hiện tại,toàn diện và sâu sắc nhất, hiện nay được các hiệp hội ngân hàng, các ngân hàngriêng biệt ở gần 200 quốc gia áp dụng, trong đó có Việt Nam

UCP600 là những quy tắc thể hiện đầy đủ các thông lệ và tập quán quốc tếtrong giao dịch L/C bao gồm các điều khoản vừa mang tính tổng quát vừa hết sức

cụ thể Có thể hình dung những vấn đề cơ bản được quy định trong văn bản nàybao gồm:

Mục A: Những quy định chung và định nghĩa

Mục B: Hình thức và thông báo tín dụng

Mục C: Nghĩa vụ và trách nhiệm

Trang 13

Mục D: Các chứng từ là những điều chỉ dẫn quan trọng, cần thiết khi sửdụng tín dụng chứng từ Các điều khoản này không chỉ cung cấp cho cácngân hàng, các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu mà cả các hãng vận tải, bảohiểm sự giúp đỡ thực hành và trợ lực có liên quan đến thương mại quốctế.

UCP là tập quán quốc tế áp dụng toàn cầu còn luật quốc gia là luật riêng ápdụng riêng cho từng nước Trừ Hoa Kỳ và Colombia coi UCP là một bộ phận cấuthành của hệ thống pháp luật quốc gia thì đa số các quốc gia đều nhìn nhận UCP làvăn bản trong hệ thống luật lệ và tập quán quốc tế mà các giao dịch quốc tế liênquan đều vận dụng Tuy nhiên, mức độ vận dụng như thế nào còn phụ thuộc vào hệthống pháp luật của mỗi quốc gia

II Một số vấn đề về các quy định pháp luật trong thanh toán quốc tế

a Bên yêu cầu mở thư tín dụng

Là người mua hoặc nhà nhập khẩu, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình pháthành L/C và có trách nhiệm pháp lý đối với việc trả tiền của ngân hàng cho ngườibán theo L/C này Trong thực tế, để tham gia vào giao dịch này, bên yêu cầu mởthư tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiện do ngân hàng quy định phù hợp với

Trang 14

pháp luật Các điều kiện này được gọi là điều kiện mở thư tín dụng

b Bên phát hành thư tín dụng

Ngân hàng phát hành (Issuing Bank) hay ngân hàng mở (Open Bank) làngân hàng được chỉ định theo yêu cầu của người mua, phát hành một hoặc nhiều L/

C cho người bán hưởng Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua, bán thoảthuận trong hợp đồng mua bán Trong trường hợp không có sự thoả thuận trước thìnhà nhập khẩu được phép lựa chọn ngân hàng phát hành

c Bên thụ hưởng thư tín dụng

Người thụ hưởng L/C (Beneficiary) là người được hưởng số tiền thanh toánhay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán Đó là người bán (seller) hoặc nhàxuất khẩu (exporter) hoặc người ký hối phiếu (drawer) hay người thắng thầu(contracter) Người thụ hưởng thư tín dụng sẽ được chỉ định ngay trong thư tíndụng và có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành thanh toán cho mình số tiền đãđược ghi trong thư tín dụng, phù hợp với các điều kiện thanh toán đã được ghitrong thư tín dụng, nếu họ xuất trình được đầy đủ bộ chứng từ và các giấy tờ cầnthiết cho Ngân hàng phát hành

d Các chủ thể khác có liên quan

Các chủ thể này có thể là Ngân hàng thông báo (Advising Bank), Ngân hàngxác nhận (Confirming Bank), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank)…

Ngân hàng thông báo: là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu

cầu thông báo L/C cho người hưởng Ngân hàng thông báo thường làngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước

mà nhà xuất khẩu mang quốc tịch

Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu

đứng ra xác nhận L/C trong trường hợp nhà xuất khẩu muốn có sự bảođảm chắc chắn của L/C bằng thủ tục xác nhận Thông thường, đó làmột ngân hàng lớn, có uy tín và trong nhiều trường hợp nó chính là

Trang 15

ngân hàng thông báo.

Ngân hàng chỉ định: là ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng nào đó

được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từxuất trình phù hợp với những quy định trong L/C thì thanh toán chongýời thụ hưởng, chấp nhận hối phiếu kỳ hạn, chiết khấu hối phiếuhoặc bộ chứng từ; hoặc chịu trách nhiệm trả chậm giá trị của L/C.Ngân hàng chỉ định có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ của nhà xuấtkhẩu gửi giấy như ngân hàng phát hành

1.2 Các quy định về điều kiện chủ thể tham gia thanh toán bằng thư

tín dụng

Các điều kiện này có thể được xác định khi chia các chủ thể tham gia thanh toán bằng thư tín dụng là chủ thể cung ứng dịch vụ thanh toán và chủ thể sử dụng dịch vụ thanh toán

a Đối với chủ thể cung ứng dịch vụ thanh toán bằng thư tín dụng

Thực tế cho thấy rằng thư tín dụng là công cụ thanh toán khá hoàn hảo và cóthể được sử dụng trong thanh toán nội địa và thanh toán quốc tế Dịch vụ thanhtoán bằng thư tín dụng có thể được thực hiện bởi các tổ chức tín dụng và đôi khi làcác tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng, nếu được Ngân hàng Nhà nướccho phép

Khi thực hiện thanh toán nội địa, do đồng tiền thanh toán chủ yếu là đồngtiền trong nước nên điều kiện về chủ thể chỉ đặt ra đối với tổ chức không phải là tổchức tín dụng Một tổ chức không phải là tổ chức tín dụng để được phép thực hiệnthanh toán nói chung và thanh toán bằng thư tín dụng nói riêng cần phải đáp ứngcác yêu cầu sau:

- Có giấy phép thành lập hoặc giấy phép hoạt động hoặc đăng ký kinh doanh

do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Các giấy phép này chứng minh năng lực

Trang 16

chủ thể của tổ chức xin phép thực hiện dịch vụ thanh toán.

- Có phương án hoạt động thanh toán, trong đó chứng minh:

 Dịch vụ thanh toán xin phép thực hiện là cần thiết và có liên quan chặtchẽ với hoạt động chính Quy định này là nhằm loại bớt những chủ thể không đủ điều kiện thanh toán và đảm bảo cho hoạt động thanh toán của các tổ chức này mang tính thường xuyên, đạt hiệu quả cao

 Đáp ứng các điều kiện vật chất phù hợp với dịch vụ thanh toán được phép thực hiện

 Có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ để quản lý và thực hiện dịch vụ thanh toán xin phép thực hiện

Các quy định này đều không nằm ngoài mục đích bảo vệ lợi ích của chínhcác chủ thể cung ứng dịch vụ thanh toán, của khách hàng và của nền kinh tế xã hội

Khi thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế, do đồng tiền thanh toán chủ yếu

là ngoại tệ (với tư cách là một loại ngoại hối) nên pháp luật quy định các ngânhàng và tổ chức không phải là ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Đối với ngân hàng: Các ngân hàng thực hiện các thanh toán quốc tế phải là

“Các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối và có điều kiện vật chất, đội ngũcán bộ có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để quản lý, thực hiện dịch vụ thanhtoán quốc tế”

Việc quy định điều kiện này chính là nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hợp lýcho các giao dịch thanh toán do Ngân hàng thực hiện đối với khác hàng của mình

- Đối với các tổ chức không phải là ngân hàng, để được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, phải có đủ những điều kiện như:

 Được phép hoạt động ngoại hối theo quy định của pháp luật;

Trang 17

 Dịch vụ thanh toán quốc tế là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động chính;

 Đáp ứng các điều kiện vật chất phù hợp với dịch vụ thanh toán quốc tế;

 Có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để quản lý vàthực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế

Có thể nhận ra rằng pháp luật hiện hành quy định các điều kiện trên đây chính là nhằm hạn chế quyền cung ứng dịch vụ thanh toán nói chung và thanh toánquốc tế nói riêng của các tổ chức, đặc biệt là đối với những tổ chức không phải là

tổ chức tín dụng Sở dĩ như vậy là bởi vì, thanh toán quốc tế là hoạt động có tính phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao mà các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng rất khó đáp ứng Quy định như vậy có thể xem

là hợp lý, phù hợp với thông lệ chung của thế giới và đảm bảo an toàn cho các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán

b Đối với chủ thể sử dụng dịch vụ thanh toán bằng thư tín dụng

 Chủ thể này được hiểu là các tổ chức, cá nhân là nhà nhập khẩu/ngườimua trong quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế.Chủ thể này muốn sử dụng dịch vụ thanh toán bằng thư tín dụng, cần có

đủ những điều kiện sau đây:

 Có tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ;

 Có giấy đề nghị mở L/C gửi đến ngân hàng

 Đối với L/C trong thanh toán quốc tế, bên xin mở cần có thêm điều kiện sau:

Trang 18

 Có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp Nếu không có giấyphép này thì bên đó phải uỷ thác việc mở L/C qua đơn vị khác và phảichịu phí uỷ thác.

 Giấy phép nhập khẩu hàng hoá

 Nhà xuất khẩu, người bán, hai bên thụ hưởng để được thanh toán phải có các điều kiện sau:

 Có tài khoản mở tại ngân hàng cùng hệ thống với ngân hàng mở L/C

 Nếu mở tài khoản tại ngân hàng khác hệ thống thì yêu cầu trên địa bàncủa ngân hàng đó có ngân hàng cùng hệ thống với ngân hàng mở và giữa ngân hàng này và ngân hàng có tài khoản của người thụ hưởng phải có quan hệ thanh toán bù trừ

2 Quyền và nghĩa vụ của các bên

2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên yêu cầu mở thư tín dụng

Trang 19

 Mở L/C đúng ngày, đúng thời hạn đã cam kết;

 Xác định cụ thể loại L/C mở, mỗi loại L/C khác nhau quy định quyền lợi và nghĩa vụ những người liên quan tới thư tín dụng cũng khác nhau;

 Cung cấp đầy đủ thông tin như hợp đồng đã kí kết (các bên liên quan, thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng );

 Thực hiện các hoạt động ký quỹ, đảm bảo tín dụng đầy đủ với bên phát hành L/C;

 Xem xét và thương lượng yêu cầu của các bên trong việc phát hànhL/C;

 Cung cấp bộ chứng từ L/C đầy đủ cho người thụ hưởng;

 Thực hiện nghĩa vụ trả phí và hoa hồng (nếu có) cho người phát hành L/C

2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên phát hành thư tín dụng

Trang 20

 Thực hiện việc thanh toán tiền cho người thụ hưởng theo đúng camkết trong L/C.

2.3 Quyền và nghĩa vụ của bên thụ hưởng thư tín dụng

 Quyền:

 Xuất trình bộ chứng từ đầy đủ để yêu cầu Ngân hàng phát hành L/

C thanh toán cho mình;

 Nếu không chấp nhận với điều khoản được nêu trong bộ chứng từ thì có quyền yêu cầu Ngân hàng phát hành sửa đổi sao cho phù hợp với hợp đồng và luật lệ có liên quan mà hai bên đang áp dụng

 Nghĩa vụ:

 Thực hiện đúng yêu cầu được ghi trên hợp đồng;

 Sau khi đã hoàn thành hợp đồng và thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng để xuất trình đòi tiền ngân hàng phát hành

2.4 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác có liên quan

Đối với Ngân hàng thông báo: khi nhận giấy báo thanh toán do bên thụ

hưởng nộp vào (đơn, bảng kê hoá đơn, chứng từ giao hàng), ngân hàng có quyền

và có trách nhiệm kiểm tra các thủ tục, xem xét thời gian hiệu lực của thư tín dụng,

số tiền bên thụ hưởng đề nghị thanh toán trong phạm vi số tiền mở L/C, nếu đúngthì ngân hàng thông báo sẽ tiếp nhận số tiền thanh toán từ tài khoản L/C do ngânhàng phát hành chuyển đến theo các chứng từ thanh toán

Ngân hàng thông báo không có trách nhiệm phải giải thích, dịch thuật nộidung của Thư tín dụng Mọi việc làm trái với quy định nói trên mà gây thiệt hại

Trang 21

cho Người thụ hưởng thì ngân hàng thông báo phải chịu trách nhiệm.

Đối với Ngân hàng thanh toán: Ngân hàng thanh toán có thể là ngân hàng

phát hành L/C hoặc là một ngân hàng được chỉ định, hoặc chính là ngân hàngthông báo Trách nhiệm của ngân hàng thanh toán cũng giống như ngân hàng pháthành, nghĩa là khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, ngân hàngphải tiến hành kiểm tra, nếu phù hợp với điều kiện của thư tín dụng thì thực hiệnviệc thanh toán, sau đó chuyển bộ chứng từ thanh toán tới ngân hàng phát hành đểngân hàng này yêu cầu thanh toán đối với người xin mở thư tín dụng

Đối với Ngân hàng xác nhận: Chủ thể này chịu trách nhiệm thanh toán số

tiền trong thư tín dụng cho người thụ hưởng, trên cơ sở quan hệ hợp đồng ủy quyền – hợp đồng dịch vụ xác nhận giữa họ với ngân hàng phát hành thư tín dụng

Để bảo đảm có tiền thanh toán cho người thụ hưởng, Ngân hàng này được phép yêu cầu người phát hành phải đặt tiền ký quỹ xác nhận theo tỷ lệ có thể tối đa 100% giá trị tín dụng và được hưởng phí xác nhận

3 Quy trình thanh toán bằng thư tín dụng

a Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ

Ngân hàng thông báo Ngân hàng phát hành

Người yêu cầu mở LC Người thụ hưởng

8

5 2

1 4

1 6 7

Trang 22

(1) Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ.

(2) Phát hành L/C qua Ngân hàng đại lý cho Người xuất khẩu hưởng lợi.(3) Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản gốc L/C cho Người hưởng lợi

(4) Giao hàng

(5) Xuất trình chứng từ đòi tiền Ngân hàng phát hành L/C

(6) Ngân hàng phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho Người yêu cầu

(7) Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán

(8) Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ

b Diễn giải quy trình thanh toán bằng thư tín dụng theo tập quán Việt Nam

Bước 1: Gửi đơn yêu cầu phát hành L/C và tiến hành ký quĩ

- Người nhập khẩu căn cứ vào nội dung hợp đồng thương mại, viết đơn yêucầu phát hành L/C gửi đến ngân hàng chỉ định trong hợp đồng (nếu có) hoặc tự lựachọn

- Bản chất pháp lý của đơn yêu cầu phát hành L/C là một loại hợp đồng dịch

vụ ký kết giữa ngân hàng phát hành và người yêu cầu Do vậy, khi viết đơn cầnphải dựa vào những văn bản pháp lý điều chỉnh loại hợp đồng này Các văn bảnpháp lý gồm:

+ Luật thương mại Việt Nam 2005+ Pháp lệnh ngoại hối Việt Nam 2005+ Các luật điều chỉnh ngân hàng phát hành và người yêu cầu

Trang 23

+ UCP 600 2007 ICC, nếu có dẫn chiếu trong L/C

- Người yêu cầu phải ký quĩ mở L/C tại ngân hàng phát hành Mức ký quĩ dongân hàng qui định

- Người nhập khẩu Việt Nam không thể trực tiếp yêu cầu ngân hàng pháthành L/C mà phải thông qua chi nhánh của nó có trụ sở thường trú cùng với ngườinhập khẩu Trong trường hợp này, vai trò của chi nhánh ngân hàng phát hành làngân hàng yêu cầu phát hành L/C

- Người yêu cầu không nên đưa quá nhiều nội dung chi tiết vào L/C Ngườiyêu cầu phải chịu rủi ro về sự mơ hồ ghi trong đơn yêu cầu phát hành L/C

Bước 2: Phát hành L/C qua ngân hàng đại cho người hưởng lợi

- Ngân hàng phát hành L/C thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nướcngười hưởng lợi và ngân hàng đại lý này có vai trò là ngân hàng thông báo L/C.Trong trường hợp ngân hàng thông báo không có quan hệ đại lý với ngân hàngphát hành thì phải qua một ngân hàng thứ 3 có quan hệ đại lý với cả hai ngân hàngnày

- Có ba hình thức phát hành L/C:

+ Phát hành bằng thư+ Phát hành bằng điện+ Phát hành hỗn hợp: Vừa bằng thư vừa bằng điện

- L/C được coi như đã hoàn thành việc phát hành một khi bản thân nó thoát

ra khỏi tầm kiểm soát của ngân hàng phát hành

Bước 3: Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản gốc L/C cho người hưởng lợi

- Ngân hàng thông báo phải kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C màmình thông báo Một L/C đảm bảo được tính chân thật của nó thì ngân hàng mớiđược phép thông báo L/C Ngược lại, nếu ngân hàng cứ thông báo thì hậu quả gây

Trang 24

nên thiệt hại cho người hưởng lợi L/C từ việc thông báo đó sẽ do ngân hàng thôngbáo gánh chịu.

- Ngân hàng thông báo không có trách nhiệm phải giải thích, dịch thuật nộidung L/C Mọi việc làm trái với qui định nói trên mà gây thiệt hại cho ngườihưởng lợi L/C thì ngân hàng thông báo phải chịu trách nhiệm

- Người hưởng lợi kiểm tra nội dung L/C, nếu chấp nhận thì tiến hành giaohàng Ngược lại, người hưởng lợi có thể yêu cầu ngân hàng phát hành tu chỉnh L/Ccho phù hợp với hợp đồng và luật lệ có liên quan mà hai bên đang áp dụng Nhữngyêu cầu kiểm tra như sau:

+ Khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành+ Nội dung L/C không trái với nội dung hợp đồng+ Những yêu cầu của ngân hàng phát hành đối với người hưởng lợiphải có tính khả thi, không trái với luật lệ có liên quan đến L/C mà haibên đang áp dụng

+ Vì chứng từ xuất trình phải phù hợp về bề mặt với các điều kiện vàđiều khoản của L/C, cho nên cần kiểm tra kỹ lưỡng hình thức câu chữghi trong L/C Câu, chữ nào không rõ ràng, mơ hồ mà có thể hiểubằng nhiều cách khác nhau, cần yêu cầu ngân hàng phát hành làm rõ

Bước 4: Giao hàng

- Người hưởng lợi L/C ngoài hợp đồng, còn phải nghiên cứu nội dung L/C

để chỉ đạo giao hàng cho đúng các yêu cầu của L/C, vì chỉ như thế mới nhận đượccác chứng từ giao hàng phù hợp với L/C

- Người yêu cầu cần trích sao các yêu cầu tạo lập chứng từ qui định trong L/

C để truyền đạt cho các bộ phận trong công ty và các đơn vị ký phát chứng từ khác

để tạo điều kiện cho họ ngay khi họ có điều kiện tạo lập chứng từ phù hợp với L/C

Bước 5: Xuất trình chứng từ đòi tiền ngân hàng phát hành L/C

- Người hưởng lợi lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C để xuất

Trang 25

trình đòi tiền ngân hàng phát hành Bộ chứng từ gồm có:

+ Hối phiếu hoặc hóa đơn+ Các chứng từ thương mại+ Thư yêu cầu đòi tiền theo L/C

- Ngân hàng phát hành kiểm tra chứng từ

+ Kiểm tra bề mặt của chứng từ so với các yêu cầu về điều kiện vàđiều khoản của L/C xem có phù hợp hay không, nếu không có quyền

- Khi phát hiện chứng từ có sai biệt so với các điều khoản và điều kiện củaL/C, ngân hàng phát hành:

+ Thông báo không chậm trễ các sai biệt cho người hưởng lợi L/Cbiết, giữ chứng từ lại và chờ ý kiến định đoạt của người hưởng lợi.+ Có thể tranh thủ ý kiến của người yêu cầu về các sai biệt đó

+ Có thể được người hưởng lợi ủy quyền thương thảo về các sai biệt

đó với người yêu cầu

+ Trong trường hợp không thể bỏ qua các sai biệt, ngân hàng pháthành phải trả lại chứng từ cho người xuất trình chứng từ không chậmtrễ, nếu không sẽ mất quyền từ chối chứng từ có sai biệt

Bước 6, 7, 8: Chấp nhận hoặc từ chối thanh toán

- Ngân hàng phát hành Việt Nam thông báo kết quả kiểm tra chứng từ bằngvăn bản cho người yêu cầu và qui định người yêu cầu phải trả lời bằng văn bản

Trang 26

trong vòng 48 tiếng, nếu quá thời hạn, coi như đồng ý với kết quả kiểm tra củangân hàng phát hành.

- Căn cứ vào văn bản trả lời của người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanhtoán, ngân hàng phát hành sẽ tiến hành trả tiền hay từ chối trả tiền bộ chứng từ củangười hưởng lợi xuất trình

4 Các vấn đề khác

4.1 Các vấn đề liên quan đến bộ chứng từ

Bộ chứng từ bao gồm các chứng từ gốc và bản sao Các chứng từ gốc

thường gồm những giấy tờ sau:

- Hóa đơn thương mại:

 Hóa đơn thương mại phải thể hiện là do người thụ hưởng phát hành, phải đứng tên người yêu cầu, phải ghi bằng loại tiền của tín dụng, không cần phải kí

 Ngân hàng xác nhận, hoặc ngân hàng phát hành có thể chấp nhận một hóa đơn thương mại phát hành có số tiền vượt quá số tiền được phép của tín dụng, và quyết định của nó sẽ ràng buộc tất cả các bên, miễn là ngân hàng đó chưa thanh toán hoặc thương lượng thanh toán cho số tiền vượt quá số tiền cho phép của tín dụng

 Mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện trong hóa đơn thương mại phải phù hợp với mô tả hàng hóa trong tín dụng

- Các chứng từ vận tải:

 Chứng từ vận tải liên hợp và vận tải đa phương thức

 Vận đơn đường biển

 Giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng

 Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu

 Chứng từ vận tải hàng không

Trang 27

 Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địaCác chứng từ vận tải phải:

 Được ký bởi người chuyên chở hoặc một đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt người chuyên chở

Nếu là vận đơn đường biển hoặc đường thủy thì cần chữ ký củachủ tàu hoặc đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt chủ tàu vàngười thuê tàu và đại lý được chỉ định cho hoặc thay mặt ngườithuê tàu

Các chữ ký của thuyền trưởng, chủ phương tiện, người thuê tàuhoặc đại lý… phải phân biệt được rõ ràng với nhau

Chữ ký của đại lý phải thể hiện là đại lý đã ký thay mặt chohoặc đại diện cho thuyền trưởng, chủ tàu hoặc người cho thuê.Một đại lý khi ký cho hoặc thay mặt cho chủ tàu hoặc người thuê tàu phải ghi tên của chủ tàu hoặc của người thuê tàu

 thể hiện hàng hóa được chuyên chở

Ngày phát hành vận đơn theo hợp đồng thuê tàu sẽ được coi là ngày giao hàng, trừ khi trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu có ghi chú hàng đã xếp lên tàu có ghi ngày giao hàng, trong trườnghợp này, ngày ghi ở trong ghi chú hàng đã xếp lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng

 thể hiện việc giao hàng từ cảng xếp hàng tới cảng dỡ hàng quy định trong tín dụng

- Biên lại chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm

- Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm

Ngày đăng: 02/08/2023, 16:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w