Báo cáo Tài khoản đặc biệt; Báo cáo Tình hình thực hiện hợp đồng; Báo cáothực hiện công việc - Xây lắp; Báo cáo thực hiện công việc - Mua sắm; Báo cáothực hiện công việc - Tư vấn; Bảng c
Trang 11 AASC : Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
8 FMRs : Báo cáo quản lý tài chính
9 FAPAD : Vụ Kiểm toán các dự án nước ngoài tài trợ
11 ODA : Hỗ trợ Phát triển chính thức
14 Sub-PMU : Tiểu Ban Quản lý dự án
16 URENCO : Công ty Môi trường đô thị
17 VACPA : Hội nghề nghiệp Kế toán, Kiểm toán Việt Nam
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều các thành phần kinh tế cùng thamgia trên thị trường, các thành phần kinh tế quan hệ mật thiết với nhau trên cơ sởhiểu biết lẫn nhau, đặc biệt là sự hiểu biết về tình hình tài chính của nhau Dịch
vụ xác nhận báo cáo tài chính hay còn gọi là dịch vụ kiểm toán BCTC đã xuấthiện Để xác nhận được BCTC theo yêu cầu, các kiểm toán viên phải dùng các
kỹ thuật chuyên nghiệp của mình để thực hiện công việc kiểm toán Một trongcác công việc kiểm toán đó là lập kế hoạch kiểm toán để từ đó đưa ra các thủ tụckiểm toán thích hợp nhằm giảm thiểu thời gian kiểm toán, tiết kiệm chi phí kiểmtoán và đạt hiệu quả như quy định
Là một nước đang phát triển có nhiều thành tựu nổi bật ở khu vực Châu Á,Việt Nam đã và đang được các nhà tài trợ quốc tế đánh giá cao về các hoạt độngxoá đói giảm nghèo và ngày càng có nhiều khoản hỗ trợ tài chính từ các tổ chứcquốc tế: Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á,… dành cho ViệtNam để thực hiện mục tiêu này Trong quá trình hội nhập quốc tế vấn đề minhbạch tài chính càng được yêu cầu cao, vì vậy các nhà tài trợ đòi hỏi các dự ánphải do các công ty kiểm toán có uy tín và chất lượng dịch vụ cao kiểm toán Đểđạt được các tiêu chí lựa chọn của nhà tài trợ, các Công ty kiểm toán và cácKTV cần phải có một khả năng tư duy tốt và phương pháp làm việc khoa học.Lập kế hoạch kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quy trình kiểm toánBCTC dự án của KTV Nó giúp cho KTV sắp xếp công việc hợp lý theo tiến độthời gian, tìm ra vùng rủi ro và thực hiện kiểm toán để cuộc kiểm toán mang lạihiệu quả như mong muốn
Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới Đây là cơ hội cũng
là thách thức đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Chúng ta đã kêugọi được nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam, trong đó phải kể đến các nguồn vốnviện trợ không hoàn lại, nguồn vốn vay Để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư,quản lý và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả đòi hỏi rất nhiều công việc của các
Trang 3nhà quản lý ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Hệ thống kế toán và kiểm toán đòi hỏiphải hoàn thiện để phù hợp hệ thống kế toán, kiểm toán quốc tế Do vậy, Đề tài:
“Hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán BCTC dự án do Công ty TNHH Dịch vụ Tưvấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện” là cần thiết trong giaiđoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu Đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về lập kếhoạch kiểm toán BCTC dự án, căn cứ vào thực trạng lập kế hoạch kiểm toánBCTC dự án do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểmtoán (AASC) thực hiện, học viên tiến hành phân tích, đánh giá về những ưu vànhược điểm của công việc đó Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, họcviên đề đạt phương hướng và giải pháp hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toánBCTC dự án áp dụng tại AASC
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là lập kế hoạch kiểm toán BCTC dự án do
AASC thực hiện
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài:
Trong phạm vi Đề tài này, học viên đi sâu xem xét lập kế hoạch kiểm toáncủa AASC đối với BCTC do Ban Quản lý dự án lập cho các dự án sử dụngnguồn viện trợ chính thức ODA Vì trong dự án tài trợ bởi nguồn viện trợ chínhthức thường bao gồm cả phần nguồn vốn đối ứng (trong nước) Vì vậy phươngpháp, kỹ thuật lập kế hoạch kiểm toán mà AASC áp dụng cho dự án nguồnviện trợ chính thức cũng được sử dụng tổng quát cho cả dự án có nguồn vốntrong nước
Trên cơ sở nghiên cứu lập kế hoạch kiểm toán BCTC dự án, học viên lựachọn phân tích thực trạng điển hình các dự án trong Ngành Lâm nghiệp do WBtài trợ và các dự án trong Ngành Môi trường đô thị do WB, ADB tài trợ Đây làmột trong các dự án có quy mô vốn lớn, nằm trong chiến lược phát triển bềnvững của đất nước, với mục tiêu xoá đói giảm nghèo bằng chính sự tham gia
Trang 4của các đối tượng hưởng lợi trực tiếp, đồng thời nâng cao ý thức cải thiện môitrường của người dân Việt Nam Từ thực trạng nêu ra, học viên đưa ra phươnghướng và giải pháp hoàn thiện đó trên góc độ của KTV độc lập.
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Học viên sử dụng phương pháp luận duy vật biệnchứng, phương pháp tổng hợp, phân tích, kết hợp chặt chẽ giữa tư duy lý luận vàphân tích thực tiễn Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế tại hai dự ánnêu trên, học viên sử dụng kết hợp phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích,
so sánh, chứng minh và kỹ thuật tính toán Trong kỹ năng trình bày Đề tài, Họcviên sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp, trình bày lời văn cùng với bảngbiểu và sơ đồ minh hoạ
5 Đóng góp của Đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng lập kế hoạch kiểm toánBCTC dự án do AASC thực hiện, học viên đưa ra các phương hướng và giảipháp nhằm hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán BCTC dự án nhằm giúp AASCnâng cao hiệu quả trong công tác kiểm toán của mình
6 Kết cấu Đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; đề tài được chiathành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính dự án;
Chương 2: Thực trạng lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính dự án do Công
ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán báocáo tài chính dự án do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán vàKiểm toán thực hiện
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH DỰ ÁN 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DỰ ÁN
1.1.1 Khái quát về dự án và khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính
Khái niệm về dự án
“Dự án” được hiểu là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và
phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định vớinguồn lực và thời gian xác định
ODA (Official Development Assistance) có nghĩa là hỗ trợ phát triển chính
thức hay còn gọi là viện trợ phát triển chính thức Trên thế giới khái niệm ODA
đã xuất hiện từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 trên cơ sở sự thoả thuận của cácnước công nghiệp phát triển về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lạihoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển Theo OECD, tổchức hợp tác kinh tế và phát triển, ODA là một giao dịch chính thức được thiếtlập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nướcđang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi vàthành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% Nguồn vốn ODA là nguồntài chính do các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương)của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triểnnhằm hai mục tiêu chủ yếu:
Một là: Thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và xoá đói giảm nghèo ở các nước
tiếp nhận viện trợ;
Hai là: Tăng cường lợi ích chiến lược và lợi ích chính trị của các nước
cung cấp viện trợ
Xét về nguồn tài trợ, dự án có thể phân loại thành hai loại:
Thứ nhất: Dự án sử dụng từ nguồn vốn trong nước thuần tuý;
Trang 6Thứ hai: Dự án sử dụng nguồn vốn vay, viện trợ từ nước ngoài hay còn gọi
là dự án ODA
Trong Đề tài này học viên đi sâu vào phân tích, trình bày về dự án ODA.Đây là các dự án có vốn đầu tư lớn, quy mô hoạt động rộng, phương pháp kỹthuật kiểm toán KTV sử dụng áp dụng cho cả dự án có nguồn vốn trong nước.Bên cạnh đó, ODA là nguồn lực rất có ý nghĩa để hỗ trợ thực hiện các chươngtrình, dự án các khu vực kinh tế tư nhân Việc sử dụng các nguồn vốn ODAđược thực hiện thông qua triển khai các dự án nhằm đạt được một hoặc một sốmục tiêu xác định Các dự án này được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trongkhoảng thời gian xác định Hiện nay, các dự án nước ngoài tài trợ vào Việt Namthường gồm hai loại:
Một là: Dự án đầu tư với mục tiêu tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ
sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cảitiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm, dịch vụ
Hai là: Dự án hỗ trợ kỹ thuật với mục tiêu hỗ trợ phát triển năng lực và thể
chế hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào kỹ thuật để chuẩn bị, thực hiện cácchương trình, dự án thông qua các hoạt động cung cấp chuyên gia, đào tạo, hỗtrợ trang thiết bị, tư liệu và tài liệu, tham quan khảo sát, hội thảo
Về BCTC của dự án
Các BCTC của dự án phải tuân theo các quy định về Hệ thống biểu vàphương pháp lập BCTC theo Quyết định Số 214/QĐ/2000/BTC ngày28/12/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về chế độ kế toán chủ đầu tư;
Bên cạnh các báo cáo theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam, nhà tài trợ cóthể yêu cầu PMU lập các báo cáo theo yêu cầu của mình để phục vụ cho côngviệc giám sát và đánh giá thực hiện dự án, quản lý nguồn và sử dụng nguồn tàitrợ (Financial Monitoring Reports – gọi tắt là FMRs) Các yêu cầu này có thểđược đề cập ngay trong thoả thuận tài trợ hoặc được tham chiếu đến Sổ tayhướng dẫn về FMRs của nhà tài trợ Thông thường yêu cầu của nhà tài trợ gồmcác báo cáo: Báo cáo nguồn vốn và sử dụng vốn; Báo cáo cân đối nguồn vốn;
Trang 7Báo cáo Tài khoản đặc biệt; Báo cáo Tình hình thực hiện hợp đồng; Báo cáothực hiện công việc - Xây lắp; Báo cáo thực hiện công việc - Mua sắm; Báo cáothực hiện công việc - Tư vấn; Bảng cân đối số phát sinh; Báo cáo tổng hợp cácsao kê chi tiêu;
Về kiểm toán BCTC: Có rất nhiều quan niệm về kiểm toán, tại Việt Nam, các
giáo trình giảng dạy kiểm toán tại nhiều trường đại học khác nhau lại nêu ranhiều khái niệm khác nhau nhưng có rất nhiều quan điểm của các chuyên gia vàcác nhà nghiên cứu thống nhất khái niệm về kiểm toán như Giáo sư Alvin A.Arens của Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Missigan và Giáo sư JamesKloebbecke của Trường Đại học Utah trong cuốn sách “Kiểm toán” đã nêu định
nghĩa chung về kiểm toán:“Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về các mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập.”
Kiểm toán BCTC là một trong nhiều hình thức của kiểm toán Nó là loạihình kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính trung thực, hợp lý của cácBCTC của một đơn vị theo các chuẩn mực và các quy định liên quan
Kiểm toán BCTC dự án chỉ là một phần trong tổng thể các hoạt động kiểmtoán dự án nhưng nó giữ vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tàichính và được các đối tượng liên quan quan tâm Có thể hiểu kiểm toán BCTC
dự án là quá trình kiểm tra và trình bày ý kiến nhận xét của KTV về tính trungthực, hợp lý, tính hợp thức và tính hợp pháp của BCTC dự án
1.1.2 Vị trí của lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính dự án
Khi thực hiện kiểm toán BCTC, mỗi Công ty Kiểm toán đều có một quytrình nhất định, thông thường các quy trình này lần lượt bao gồm các khâu:Khảo sát, đánh giá khách hàng; Lập kế hoạch kiểm toán; Thực hiện kiểm toán;Kết thúc kiểm toán Quy trình kiểm toán này giúp cho các KTV quyết địnhphương pháp kiểm toán tiếp cận kiểm toán, các thủ tục kiểm toán áp dụng đốivới từng phần hành kiểm toán, xác định vùng rủi ro do kiểm soát mang lại
Trang 8Việc nghiên cứu lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầuchính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công táckiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểmtoán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các KTV phải tuân theo đầy
đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng
Nhu cầu của cuộc kiểm toán BCTC dự án là cụ thể hoá mục tiêu kiểm toánthành những việc phải làm và xác định thời gian tương ứng Thông thường trongkiểm toán BCTC dự án, ngay từ ban đầu kiểm toán đã phải đạt được sự hiểu biết
về hoạt động thực hiện dự án, lĩnh vực đầu tư của dự án, mục đích của dự án, độlớn của nguồn vốn, phương thức thực hiện dự án, những đối tượng hưởng lợi từ
dự án, công nghệ áp dụng hiểu biết về môi trường và hệ thống kiểm soát nội bộ.Kiểm toán BCTC dự án đặt niềm tin cho người quan tâm tới BCTC dự án như:Các nhà tài trợ, các tổ chức có ý định tài trợ cho Việt Nam, các nhà hoạch địnhchính sách, các nhà thầu cũng như giúp cho đánh giá được cách thức, hiệu quả,hiệu năng đầu tư vào các chương trình, dự án Kiểm toán BCTC dự án còn làmột nhân tố thúc đẩy PMU và bộ phận tài chính kế toán của dự án tự giác hơntrong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình
Như vậy, lập kế hoạch kiểm toán chiếm vị trí quan trọng trong quy trìnhkiểm toán BCTC, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của cuộc kiểm toán
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DỰ ÁN
1.2.1 Quy trình kiểm toán và vai trò lập kế hoạch kiểm toán kiểm báo cáo
tài chính dự án
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểmtoán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứcho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC, cuộckiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: lập
kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán,hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố BCTC dự án
Trang 9Trong đó, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần thựchiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng nhưnhững điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán đãđược quy định rõ ràng trong các chuẩn mực kiểm toán hiện hành, Chuẩn mựckiểm toán thứ tư trong 10 chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận rộng rãi(GAAS) đòi hỏi “công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ
lý, nếu có, phải được giám sát đúng đắn” Đoạn hai trong Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam Số 300 cũng nêu rõ KTV và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểmtoán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách cóhiệu quả
Lập kế hoạch kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệuquả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiệnqua một số điểm sau:
Một là: Kế hoạch kiểm toán giúp KTV thu thập được các bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về BCTC, từ
đó giúp các KTV hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nângcao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng;
Kế hoạch kiểm toán giúp các KTV phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phốihợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên giabên ngoài, … Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, KTV có thể tiến hànhcuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăngcường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàngtrong mối quan hệ làm ăn lâu dài;
Trang 10Chuẩn bị kế hoạch
Dự kiến giảm mức độ đánh giá về rủi ro kiểm soát
Sơ đồ 1.1 - Khái quát quy trình kiểm toán BCTC
Đạt được những thông tin cơ sở Đạt được những thông tin về tính tuân thủ pháp luật của khách hàng
Thực hiện những thủ tục phân tích ban đầu Đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận và rủi ro tiềm tàng Hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát Phát triển kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán
Thực hiện các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát Thực hiện các thử nghiệm cơ bản đối với các nghiệp vụ Đánh giá khả năng của những sai phạm trên các BCTC
Thấp
Thực hiện các thủ tục phân tích Khảo sát chi tiết đối với các khoản mục chủ yếu
Trung bình Cao hoặc không
Thực hiện thêm các khảo sát đối với các số dư
Soát xét các khoản nợ bất thường Xem xét các sự kiện phát sinh sau Thu thập các bằng chứng cuối cùng
Đánh giá kết quả Lập báo cáo kiểm toán Công bố báo cáo kiểm toán
Có
Không Giai đoạn thực hiện
Trang 11Hai là: Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh
xảy ra những bất đồng đối với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đãlập, KTV thống nhất với khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thờigian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên… Ngoài ra, căn
cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, KTV có thể kiểm soát và đánh giá chấtlượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa Công tykiểm toán và khách hàng
Đối với kiểm toán BCTC dự án, KTV ngay ban đầu dự kiến đánh giá mức độrủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, dự kiến về các mức trọng yếu cho các mục tiêukiểm toán cũng như xác định người tham gia, các trang thiết bị, phương tiện cầnthiết sự phối hợp, chỉ đạo, đảm bảo một mức phí cạnh tranh, đem lại lợi nhuận
Kế hoạch kiểm toán được thể hiện một phần trong hợp đồng kiểm toán, trong đóquy định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn từng bên cả trong việc chuẩn bị vàthực hiện kiểm toán
Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thựchiện có hiệu quả, các Giám đốc kiểm toán và các KTV cao cấp thường lập chiếnlược kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 300, Kế hoạch kiểmtoán, chiến lược kiểm toán được hiểu là định hướng cơ bản cho một cuộc kiểmtoán dựa trên hiểu biết của công ty kiểm toán về tình hình hoạt động của kháchhàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và chương trình kiểm toán) gồm sáu bước công việc như sau:
Trang 12Bước 1: Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Bước 3: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích
Bước 4: Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Bước 5: Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Bước 6: Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
Sơ đồ 1.2 - Các bước lập kế hoạch kiểm toán BCTC dự án
1.2.2 Lập kế hoạch tổng quát
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số 300 quy định: “Kế hoạch kiểm toán phải
được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng
yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm
toán được hoàn thành đúng hạn” Để chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán, KTV
cần thực hiện các công việc chủ yếu sau:
Bước 1: Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán:
Quy trình kiểm toán được bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán thu nhận
một khách hàng Thu nhận khách hàng là một quá trình hai bước gồm:
Thứ nhất: Phải có sự liên lạc giữa KTV với khách hàng tiềm năng, khách
hàng yêu cầu được kiểm toán;
Trang 13Thứ hai: KTV phải đánh giá khả năng chấp nhận yêu cầu Đối với những
khách hàng hiện tại, KTV phải quyết định khả năng tiếp tục kiểm toán
Trên cơ sở đã xác định được khách hàng và có thể phục vụ trong tương lai,công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạchbao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểmtoán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán Thôngthường, các dự án ODA được kiểm toán dưới hình thức đấu thầu cạnh tranh.Theo thông báo mời thầu kiểm toán cho dự án đăng trên các phương tiện đạichúng, công ty kiểm toán tham dự buổi giới thiệu về dự án để có được nhữngđánh giá ban đầu về lĩnh vực hoạt động của dự án, tổ chức hoạt động của dự áncũng như mục tiêu đặt ra cho công việc kiểm toán Đối với các dự án do WB,ADB tài trợ danh sách các công ty kiểm toán được lựa chọn đánh giá lại hàngnăm, chỉ những công ty kiểm toán có trong danh sách ngắn mà nhà tài trợ đánhgiá lựa chọn mới được tham dự thầu Các dự án do các tổ chức quốc tế khác tàitrợ, việc lựa chọn các công ty kiểm toán rộng hơn
Để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán có hiệu quả, KTV cần thực hiện côngviệc sau:
Thứ nhất: Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
KTV phải đánh giá khả năng chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tụckiểm toán cho một khách hàng cũ có tăng rủi ro cho hoạt động của KTV hay làmhại đến uy tín của công ty kiểm toán Để làm được điều đó, KTV phải tiến hànhcác công việc như sau:
Một là: Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng:
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 220 “Kiểm soát chất lượng đối với việcthực hiện một hợp đồng kiểm toán” của một Công ty kiểm toán cho rằng KTVphải xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng khi đánh giá khả năng chấp nhậnkiểm toán
Trang 14Để đưa ra quyết định nhận hay giữ một khách hàng thì Công ty kiểm toánphải xem xét tính độc lập của KTV, khả năng phục vụ tốt khách hàng của Công
ty kiểm toán và tính liêm chính của BGĐ khách hàng
Hai là: Tính liêm chính của BGĐ công ty khách hàng
PMU là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc lập BCTC Tính liêmchính của PMU có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của các thông tin trênBCTC dự án Nếu PMU thiếu tính liêm chính, KTV không thể dựa vào bất kìbản giải trình nào của PMU cũng như không thể dựa vào các sổ sách kế toán của
dự án để kiểm toán và Công ty kiểm toán có quyền không nhận kiểm toán dự án.Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 “Đánh giá rủi ro kiểm soát nộibộ” tính liêm chính của BGĐ là bộ phận cấu thành then chốt của môi trườngkiểm soát, đây là nền tảng cho tất cả các bộ phận khác của hệ thống kiểm soátnội bộ Vì vậy, tính liêm chính của BGĐ rất quan trọng đối với quy trình kiểmtoán bởi lẽ BGĐ có thể phản ánh sai các nghiệp vụ hoặc giấu diếm các thông tindẫn tới các sai sót trọng yếu trên BCTC Thêm vào đó, Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam Số 240 “Gian lận và sai sót” nhấn mạnh tầm quan trọng về đặc thùcủa BGĐ và ảnh hưởng của nó tới môi trường kiểm soát như là nhân tố rủi roban đầu của việc báo cáo gian lận các thông tin tài chính Những nghi ngại vềtính liêm chính của BGĐ có thể nghiêm trọng đến nỗi KTV kết luận rằng kiểmtoán không thể thực hiện được
Ba là: Liên lạc với KTV tiền nhiệm
Đối với những khách hàng tiềm năng: Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu KTV
kế nhiệm phải liên lạc với KTV tiền nhiệm về những vấn đề liên quan đến việckiểm toán để quyết định có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không Các vấn
đề này bao gồm: những thông tin về tính liêm chính của BGĐ, những bất đồnggiữa BGĐ với KTV tiền nhiệm về các nguyên tắc kế toán, thủ tục kiểm toánhoặc các vấn đề quan trọng khác,… và lý do thay đổi KTV khách hàng Ngoài
ra, KTV có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của KTV tiền nhiệm để hỗ trợ cho KTV
kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán Tuy nhiên, theo quy định ở nhiều
Trang 15nước, việc thiết lập mối quan hệ giữa KTV kế tục và KTV tiền nhiệm phải được
sự chấp thuận của đơn vị khách hàng Mặc dù khách hàng đã chấp thuận điều đóthì KTV tiền nhiệm vẫn có thể hạn chế hoặc từ chối mối quan hệ KTV có thểthu thập thông tin về khách hàng thông qua trang web, nghiên cứu sách báo, tạpchí chuyên ngành, thẩm tra các bên liên quan như ngân hàng, cố vấn pháp lý,các bên có mối quan hệ tài chính buôn bán với khách hàng,… thậm chí có thểthuê các nhà điều tra chuyên nghiệp để điều tra các vấn đề cần thiết khác
Đối với khách hàng cũ, hàng năm KTV phải cập nhật các thông tin về kháchhàng và đánh giá khả năng rủi ro KTV phải ngừng cung cấp dịch vụ kiểm toáncho họ KTV có thể ngừng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng trongtrường hợp hai bên có những mâu thuẫn về các vấn đề như: phạm vi thích hợpcủa cuộc kiểm toán, loại báo cáo kiểm toán phải công bố, giá phí kiểm toán hoặcgiữa hai bên có những vụ kiện tụng hoặc trong trường hợp KTV cho rằng bangiám đốc thiếu liêm chính,…
Điều cân nhắc cuối cùng nhưng quan trọng nhất của KTV khả năng đánh giáchấp nhận khách hàng hay từ chối khách hàng chính là việc xác định khả năng
có thể kiểm toán của khách hàng
Thứ hai: Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng làviệc xác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng của họ
Để hiểu biết điều đó, KTV có thể phỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng hoặcdựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm toán đã thực hiện trước đó Và trong suốtquá trình thực hiện kiểm toán này, kiểm toán sẽ thu thập thêm thông tin để hiểubiết thêm lý do kiểm toán của khách hàng Việc xác định người sử dụng BCTC
và mục đích sử dụng của họ là hai yếu tố quyết định đến số lượng bằng chứngphải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến đưa ra trong báo cáo kiểmtoán
Đối với dự án, người sử dụng BCTC dự án là nhà tài trợ, cơ quan chủ quảncủa dự án, các bộ, ban, ngành có liên quan, uỷ ban nhân dân và những người
Trang 16quan tâm khác Thông tin họ cần nhận được với những yêu cầu khác nhau, trênnhiều khía cạnh và mục đích sử dụng khác nhau Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến
số lượng bằng chứng phải thu thập và ý kiến KTV Cụ thể:
Với các nhà tài trợ (WB, ADB, ), họ cần BCTC hàng năm đã được kiểm
toán để kiểm tra việc tiếp nhận nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn vay theo mụcđích và mức độ tuân thủ Hiệp định vay và thoả ước tài trợ;
Với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, họ sử dụng BCTC của dự án để tổng
hợp BCTC hàng năm về việc rút vốn và giải ngân thông qua tài khoản đặc biệt
và báo cáo thực trạng với Chính phủ;
Với với Bộ Tài chính, họ xem xét các BCTC do PMU đệ trình, là cơ quan
chịu trách nhiệm cao nhất trước Chính phủ đối với việc quản lý tài chính của dựán;
Với Bộ chủ quản, họ sử dụng BCTC để xem xét và phê duyệt chương trình
công tác tổng hợp và ngân sách của PMU
Như vậy, thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng, công tykiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ đó lựa chọnđội ngũ nhân viên thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán
Thứ ba: Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho cuộc kiểm toán nhằmhướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán, tính tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toánchung được thừa nhận (GAAS) Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ
“Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một KTV”.
Đối với kiểm toán các dự án thì việc công ty kiểm toán lựa chọn đội ngũnhân viên kiểm toán thích hợp có ý nghĩa rất lớn để đạt được hợp đồng kiểmtoán Vì một trong các tiêu chí trong bảng chấm điểm thầu của các dự án đó làtrình độ, kinh nghiệm của các KTV sẽ tham gia kiểm toán
Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, Công tykiểm toán cần quan tâm tới ba vấn đề:
Trang 17Một là: Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát một cách
thích hợp các nhân viên mới và chưa có kinh nghiệm và điều này cũng đượcchuẩn mực đầu tiên trong nhóm các chuẩn mực về công việc tại chỗ trongGAAS quy định;
Hai là: Công ty kiểm toán cần tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán
cho một khách hàng trong nhiều năm Việc tham gia kiểm toán cho một kháchhàng trong nhiều năm có thể giúp cho KTV tích luỹ được nhiều kinh nghiệmcũng như có được hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh của khách hàngđược kiểm toán Tuy nhiên theo như Nghị định Số 105/2004/NĐ-CP của Chínhphủ, quy định KTV không được ký quá ba năm liên tiếp đối với một kháchhàng Điều này, đảm bảo tránh những rủi ro có sự thông đồng giữa KTV vàkhách hàng, cũng như tránh lối mòn trong công việc không phát hiện ra các saisót trọng yếu;
Ba là: Khi phân công KTV thực hiện cuộc kiểm toán cần chú ý lựa chọn
những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của kháchhàng
Việc quan tâm đầy đủ các vấn đề trên khi lựa chọn đội ngũ kiểm toán sẽ gópphần giúp công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chất lượng và hiệuquả
Thứ tư: Lập Hợp đồng kiểm toán
Khi đã quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng và xem xét các vấn đềnêu trên, bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán màCông ty kiểm toán phải thực hiện là ký kết hợp đồng kiểm toán Đây là sự thoảthuận chính thức giữa Công ty kiểm toán và khách hàng về việc thực hiện kiểmtoán và các dịch vụ liên quan khác Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý đểKTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hưởng đếntrách nhiệm pháp lý của KTV đối với khách hàng
Trang 18Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, KTV lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.Trong giai đoạn này, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số 300, Lập kếhoạch kiểm toán, KTV thu thập hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanhcủa khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và các bên liênquan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán KTV đánh giá khả năngnhững sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiệncác thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và
mở rộng các thủ tục kiểm toán khác Các công việc KTV thực hiện trong bướcthu thập thông tin cơ sở sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu lĩnh vực hoạt động của dự án
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số 300, Kế hoạch kiểm toán quy định KTVphải tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng và trongđoạn 2 của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Số 310 “Hiểu biết về tình hình kinh
doanh đã hướng dẫn: “để thực hiện được kiểm toán BCTC, KTV phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ
và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của KTV, chúng có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc kiểm tra của kiểm toán hoặc đến báo cáo kiểm toán” Điều này rất cần thiết khi KTV thực hiện kiểm toán với
tính thận trọng nghề nghiệp đúng mức Do các mục tiêu hoạt động của dự án là
vì lợi ích của cộng đồng, vì vậy KTV tìm hiểu tình hình hoạt động dưới góc độkhách quan và dưới góc độ của dự án sau:
Một là: Những hoạt động và kết quả của dự án (Ví dụ: đối tượng hưởng lợi
là ai và các bên liên quan chính);
Hai là: Môi trường khách hàng đang hoạt động (Ví dụ: môi trường pháp luật,
môi trường kinh tế, kỹ thuật, tình hình chính trị của đất nước);
Ba là: Những mục tiêu của khách hàng bao gồm chiến lược mà ban quản lý
đặt ra để đạt tới những mục tiêu này;
Bốn là: Cơ cấu tổ chức, bao gồm nhiều mức độ trách nhiệm
Trang 19Để đạt được hiểu biết này, KTV sử dụng nhiều phương pháp kỹ thuật.Nhưng phương pháp KTV thường sử dụng nhiều lần là trao đổi với các KTV,những người đã tiến hành kiểm toán cho khách hàng những năm trước hoặc đãkiểm toán cho khách hàng khác trong cùng ngành nghề kinh doanh hoặc trao đổitrực tiếp với nhân viên, BGĐ công ty khách hàng
Thứ hai: Xác định rủi ro mà dự án gặp phải
Nhìn chung, các dự án ít gặp phải rủi ro Tuy nhiên, KTV vẫn cần xem xét rủi ro
mà khách hàng gặp phải và đánh giá các rủi ro có khả năng ảnh hưởng tớiBCTC, ảnh hưởng tới quá trình kiểm toán Nguyên nhân của những rủi ro này cóthể là những yếu tố ảnh hưởng tới môi trường hoạt động của khách hàng (ví dụ:mất đi khả năng có được nguồn tài trợ dài hạn, sự thay đổi về mặt thể chế, chínhtrị,…) hoặc là những yếu tố ảnh hưởng tới toàn bộ lĩnh vực hoạt động của dự ánhay toàn bộ nền kinh tế (ví dụ: thay đổi về công nghệ, ngành nghề kinh doanhnhạy cảm với những điều kiện kinh tế, cạnh tranh gay gắt, những điều chỉnhngoại hối…) Những cuộc trao đổi với ban quản lý cho phép KTV hiểu đượcquan điểm của ban quản lý khách hàng đối với những rủi ro mà họ gặp phải vàphân tích được về những rủi ro này trong một bối cảnh rộng hơn của lĩnh vựchoạt động và của nền kinh tế nói chung Những rủi ro khách hàng gặp phải cóảnh hưởng quan trọng tới công việc kiểm toán đối với những mục tiêu kiểm toántrọng tâm và xác định phương pháp tiếp cận với những mục tiêu kiểm toán này
Thứ ba: Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung
KTV sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về lĩnh vực hoạt động của khách hàng,KTV hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên
BCTC được kiểm toán
Thứ tư: Tham quan, điều tra các điểm, vùng thuộc phạm vi hoạt động của dự án
Việc tiến hành tham quan, điều tra các điểm, vùng thuộc phạm vi hoạt động của
dự án tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, trình bày ý kiến trong
Trang 20Biên bản ghi nhớ (thư quản lý) phát hiện những vấn đề cần quan tâm như đốitượng hưởng lợi đúng mục tiêu của dự án,…Ngoài ra, KTV cũng có được nhữngnhận định ban đầu về phong cách quản lý của BGĐ, tính hệ thống trong việc tổchức, sắp đặt công việc
Thứ năm: Nhận diện các bên hữu quan
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 550 “Các bên hữu quan” các bên hữuquan được hiểu là các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công tykhách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân nào mà công ty kháchhàng có quan hệ và các cá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soáthoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các chính sách hoặc chính sách quản trị củakhách hàng Các bên hữu quan và các nghiệp vụ giữa các bên hữu quan có ảnhhưởng lớn đến sự nhận định của người sử dụng BCTC Do vậy KTV phải xácđịnh các bên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giaiđoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấn BGĐ, xem sổ theo dõi khách hàng, từ
đó bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên hữu quan để cóthể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp
Thứ sáu: Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài
Thuật ngữ “chuyên gia” chỉ một người hoặc một văn phòng có năng lực hiểubiết và kinh nghiệm cụ thể trong một lĩnh vực riêng ngoài lĩnh vực kế toán vàkiểm toán Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 620, “Sử dụng tư liệu của mộtchuyên gia” hướng dẫn khi sử dụng chuyên gia, KTV phải đánh giá khả năngchuyên môn, hiểu mục đích và phạm vi công việc của họ cũng như sự phù hợpvới việc sử dụng tư liệu đó cho các mục tiêu dự định KTV cân nhắc về việc sửdụng sự giúp đỡ của chuyên gia, cân nhắc tính trọng yếu của khoản mục đượcxem xét và rủi ro tiềm tàng đối với mục tiêu kiểm toán liên quan, bằng chứngkiểm toán khác đối với khoản mục
Bước 2: Thu thập thông tin và nghĩa vụ pháp lý của dự án
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp KTV hiểu được về các mặthoạt động của dự án thì việc thu thập các thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của
Trang 21khách hàng giúp KTV nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnhhưởng đến các mặt hoạt động này Những thông tin này KTV thu thập trong quátrình tiếp xúc với BGĐ công ty khách hàng bao gồm: Tài liệu thẩm định dự án(Project Appraisal document), Hiệp định tài trợ, Thoả thuận tài trợ, Sổ tayhướng dẫn quản lý tài chính (Manual), Quyết định thành lập PMU và Quyếtđịnh bổ nhiệm BGĐ, kế toán trưởng, chuyên gia dự án; Các BCTC, báo cáokiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hay trong vài năm trước;Báo cáo tiến độ dự án (đối với dự án đi vào hoạt động), Báo cáo đánh giá củanhà tài trợ; Các hợp đồng và cam kết quan trọng.
Bước 3: Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 520 “Quy trình phân tích”, định nghĩathủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng,qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâuthuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã
dự kiến Các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằmvào các mục tiêu sau đây:
Một là: Thu thập hiểu biết về nội dung các BCTC và những biến đổi quan
trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể từlần kiểm toán trước;
Hai là: Tăng cường sự hiểu biết của KTV về lĩnh vực hoạt động của khách
hàng và giúp KTV xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tụccủa công ty khách hàng;
Ba là: Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên BCTC khách hàng.
Như vậy, qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán, kiểm toán có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toánBCTC Mức độ, phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tích thay đổi tuỳthuộc vào quy mô và tính phức tạp trong lĩnh vực hoạt động của khách hàng.Các thủ tục KTV sử dụng gồm hai loại cơ bản: phân tích ngang (phân tích xuhướng) dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC, phân
Trang 22tích dọc (phân tích tỷ suất) dựa trên cơ sở so sánh tỷ lệ tương quan của các chỉtiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC
Bước 4: Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải đánh giá mức độ trọngyếu để ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được, xác định phạm
vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC để từ đóxác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các khảo sát (thử nghiệm)kiểm toán KTV cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC và phân bổ mứcđánh giá đó cho từng khoản mục trên BCTC
Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV phải xác định rủi ro kiểm toán mongmuốn Theo định nghĩa trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 “Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do Công ty kiểm toán
và KTV đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”.
Xác định mức trọng yếu và rủi ro là thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũngnhư phán đoán của KTV Trên thực tế chỉ một số công ty kiểm toán tại ViệtNam đã xây dựng quy trình ước lượng trọng yếu và rủi ro
Bước 5: Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi
ro kiểm soát
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểmsoát là một phần việc hết sức quan trọng mà KTV phải thực hiện trong cuộckiểm toán, vấn đề này được quy định trong nhóm chuẩn mực đối với công việctại chỗ ở điều thứ 2 trong 10 chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi
(GAAS): “Kiểm toán viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và để xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thực hiện”.Và điều này cũng được quy định trong
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”
“Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
Trang 23của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán
có hiệu quả”
Đối với hoạt động dự án, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến nhiều đốitượng Việc thiết kế hệ thống KSNB của các dự án thường rất linh hoạt nhằmđảm bảo đạt được mục tiêu dự án Nhà tài trợ và GOV cũng có những hướngdẫn về hệ thống KSNB đối với từng dự án KTV cần đánh giá hệ thống KSNBcủa dự án để lựa chọn các thử nghiệm kiểm soát phù hợp, giảm thiểu rủi ro kiểmtoán, giảm thời gian, tiết kiệm chi phí kiểm toán Để mô tả hệ thống KSNB,KTV sử dụng một trong ba phương pháp hoặc cả ba phương pháp sau hoặc kếthợp cả ba phương pháp tuỳ thuộc đặc điểm và quy mô dự án: Bảng câu hỏi về hệthống KSNB; Bảng tường thuật về hệ thống KSNB; Vẽ lưu đồ (bao gồm lưu đồngang và lưu đồ dọc); trình bày tất cả các quá trình kiểm soát áp dụng cũng như
mô tả các chứng từ, tài liệu kế toán
1.2.3 Thiết kế chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toáncần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTVcũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập.Trọng tâm của chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thiết thựchiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán
Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế thành
ba phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếpcác số dư Mỗi phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và các khoảnmục trên BCTC
Việc thiết kế các loại hình trắc nghiệm kiểm toán trên đều gồm bốn nội dung:xác định thủ tục kiểm toán, quy mô mẫu chọn, khoản mục được chọn và thờigian thực hiện
Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộckiểm toán và có thể cần phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi Việc thay đổichương trình kiểm toán ban đầu không phải là điều bất thường vì việc dự kiến
Trang 24trước tất cả các tình huống xảy ra là rất khó khăn Theo Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam Số 300, “Lập kế hoạch kiểm toán” kế hoạch kiểm toán và chươngtrình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổ sung nếu cần trong quá trình kiểm toán nếu
có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quả ngoài dự đoán của cácthủ tục kiểm toán Nguyên nhân dẫn đến việc phải có những sửa đổi đáng kểtrong kế hoạch hoặc chương trình kiểm toán cần phải được ghi rõ trong hồ sơkiểm toán
1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DỰ ÁN
Lập kế hoạch kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong một cuộc kiểm toán.Trong Văn bản chỉ đạo quốc tế số 3 - Các nguyên tắc cơ bản xuyên suốt cuộc
kiểm toán, có nêu “Kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việc kiểm toán tiến hành có hiệu quả, đúng thời gian Kế hoạch kiểm toán phải dựa trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm hoạt động kinh doanh của khách hàng”.
Theo yêu cầu của các nhà tài trợ, tất cả các chương trình, dự án do nướcngoài tài trợ đều phải được kiểm toán
Tại Nhật Bản, nước phát triển, kiểm toán dự án các công trình công cộng làmột loại hình kiểm toán do Uỷ Ban Kiểm toán Nhật Bản tiến hành Kiểm toáncác dự án công trình công cộng là loại hình kiểm toán nhằm kiểm tra tính hợp lýcủa một dự án trong từng giai đoạn trên giác độ quan tâm tới khía cạnh tiến bộcủa dự án Kiểm toán dự án các công trình công cộng là phương pháp kiểm toánmột dự án bao gồm từ khâu lập kế hoạch dự án, thiết kế công trình, ước tínhkinh phí dự án, đấu thầu, ký hợp đồng, xây dựng, kiểm tra và quyết toán côngtrình đã hoàn thành Khi một dự án có quy mô lớn và được thực hiện thông quahai hoặc nhiều hợp đồng xây dựng thì phương pháp này được áp dụng cho từnghợp đồng và áp dụng các ý tưởng cơ bản cho toàn bộ dự án Do việc xây dựngcác công trình công cộng cần phải được thực hiện trên cơ sở một kế hoạch thíchhợp nên KTV trước hết phải tập trung vào khâu lập kế hoạch của dự án Các vấn
Trang 25đề cần kiểm toán trong giai đoạn này bao gồm: Xem xét khả năng phải kiểmtoán các dự án; Xem xét tính hợp lý quy mô, địa điểm và thời gian của dự án.Ngoài ra, kiểm toán viên cũng cần phải kiểm tra tính khả thi, tính kinh tế và cácphương án tốt hơn có thể thay thế
Việc xây dựng kế hoạch dự án các công trình công cộng của Nhật Bảnthường dựa trên cơ sở sau:
Thứ nhất: Các cuộc khảo sát khác nhau;
Thứ hai: Các chính sách của chính phủ;
Thứ ba: Các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Các cơ sở trên còn gọi là các điều kiện để xác định kế hoạch của dự án.Nhiệm vụ của KTV khi lập kế hoạch của dự án là phải xác nhận sự phù hợp giữacác điều kiện trên với khuôn khổ lập kế hoạch và tính thích hợp của các số liệukhảo sát thu thập được
Khi thời hạn của các dự án được mở rộng thì các điều kiện làm cơ sở choviệc lập kế hoạch dự án có thể cũng thay đổi theo, như sự thay đổi trong môitrường kinh tế - xã hội… Trong trường hợp này, KTV cần phải xem xét lại kếhoạch của dự án và xác định sự thay đổi kế hoạch này nếu cần
Các kế hoạch kiểm toán do Uỷ ban Kiểm toán Nhật Bản thực hiện được phânloại thành ba loại:
Một là: Kế hoạch kiểm toán tổng thể, kế hoạch này được chuẩn bị hàng năm
và mô tả chiến lược toàn bộ chiến lược kiểm toán Trong kế hoạch này, các mụcquan trọng như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phạm vi và đối tượng kiểmtoán…; việc phân bổ các nguồn lực… cần phải được xác định kỹ lưỡng trongbản kế hoạch này;
Hai là: Kế hoạch kiểm toán hoạt động, các chương trình kiểm toán tại hiện
trường, cách thức phát triển các phát hiện kiểm toán và các kỹ thuật lập báo cáođều được lập một cách cụ thể trong thời gian một năm, nửa năm hoặc hàng quý.Ngoài ra, từng thời điểm kiểm toán tại hiện trường thực tế, số lượng KTV trongcác tổ kiểm toán, ngày tháng hoàn thành quy trình kiểm toán cũng cần được đề
Trang 26cập trong bản kế hoạch này Bên cạnh kiểm toán tại hiện trường, Uỷ ban Kiểmtoán của Nhật Bản cũng tiến hành kiểm toán các tài liệu tại dự án Mặc dù việckiểm toán tài liệu, chứng từ được thực hiện thường xuyên nhưng thời điểm thíchhợp nhất để tiến hành loại hình này phụ thuộc vào thời điểm của các cuộc kiểmtoán tại hiện trường Việc lập kế hoạch kiểm toán hoạt động một cách hiệu quả
là rất cần thiết bởi vì điều này quyết định tính thống nhất của các hoạt độngkiểm toán cũng như cách thức phối hợp giữa các KTV trong từng cuộc kiểmtoán
Ba là: Kế hoạch kiểm toán đơn lẻ, được xây dựng cho từng tổ kiểm toán tại
hiện trường Kế hoạch kiểm toán đơn lẻ là kế hoạch trong đó có trình bày cụ thểđịa điểm thực hiện dự án và các khoản mục được kiểm toán, lịch trình kiểm toántại hiện trường… Lịch trình kiểm toán này cần được hoàn thành sớm và đượcchuyển tới đơn vị được kiểm toán trước khi cuộc kiểm toán bắt đầu để đơn vịđược kiểm toán có thể chuẩn bị các tài liệu cung cấp cho KTV và phối hợp vớiKTV một cách hiệu quả Ngoài ra, nếu lịch trình kiểm toán được chuyển tới đơn
vị được kiểm toán sớm thì đơn vị sẽ có thời gian để điền đầy đủ các thông tintheo các bảng thông tin do Uỷ ban Kiểm toán xây dựng và gửi lại cho tổ kiểmtoán trước khi cuộc kiểm toán được thực hiện Điều này chắc chắn sẽ nâng caođược chất lượng và hiệu quả của các cuộc kiểm toán tại hiện trường
Uỷ ban Kiểm toán Nhật Bản đã xây dựng cuốn Cẩm nang về công tác lậpbáo cáo kiểm toán để hỗ trợ KTV trong việc lựa chọn cách thức đánh giá và đưa
ra các kết luận kiểm toán trong một số trường hợp điển hình, tránh sự bất đồng
về quan điểm đánh giá giữa các kiểm toán viên Việc tham khảo và thực hiệntheo cẩm nang này còn đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của các kết quả kiểmtoán trong một báo cáo kiểm toán dự án các công trình công cộng
Ở các nước đang phát triển, chức năng kiểm tra kiểm soát và kiểm toán cácBCTC dự án đã được quy định rất cụ thể Chức năng kiểm toán dự án nướcngoài tài trợ của kiểm toán nhà nước Băng-la-đét do Vụ Kiểm toán Các dự ánnước ngoài tài trợ (FAPAD) thực hiện Phạm vi hoạt động của FAPAD là tất cả
Trang 27các chương trình, dự án có vốn nước ngoài do các bộ, ngành, cơ quan, doanhnghiệp, tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế có mặt tại Băng-la-đét, tổ chức tưnhân thực hiện, cũng như theo quy định trong thoả thuận giữa Chính phủ và nhàtài trợ Các đối tác phát triển chính của Băng-la-đét là WB, ADB,… Cuộc kiểmtoán được thực hiện theo các Chuẩn mực và thông lệ kiểm toán quốc tế của Tổchức Quốc tế của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước và của KTNN Băng-la-đét,đồng thời cũng theo quy trình do đối tác phát triển quy định
Hiện nay, hoạt động kiểm toán của FAPAD chủ yếu giới hạn ở kiểm toán tàichính và kiểm toán tuân thủ Nhiều bên liên quan, đặc biệt là đại biểu Quốc hội,muốn biết mức độ đạt được mục tiêu của dự án Kết quả đầu ra của một dự ánhoặc một chương trình có ý nghĩa hơn đối với họ Họ đề nghị Tổng Kiểm toánđánh giá tính hiệu lực và tiến hành kiểm toán hoạt động Tính hiệu lực của dự
án, kết quả mà dự án đưa lại và việc sử dụng nguồn hỗ trợ của nước ngoài đượccoi là quan trọng đối với các bên hữu quan FAPAD tiến hành kiểm toán hoạtđộng với phạm vi hạn chế và được gắn vào các vấn đề quan trọng của quốc gianhư y tế và giáo dục.Việc tổ chức các cuộc họp trước và sau kiểm toán mới đượcFAPAD áp dụng vài năm gần đây Đại diện của các đối tác phát triển lớn vàGiám đốc dự án tham dự các cuộc họp này, trước kiểm toán, thông báo kế hoạchkiểm toán, sau kiểm toán là thảo luận báo cáo kiểm toán
Năm 1995, KTNN Băng-la-đét xây dựng cuốn Cẩm nang Kiểm toán, đượcFAPAD sử dụng để thực hiện kiểm toán các dự án nước ngoài tài trợ Năm
2006, KTNN Băng-la-đét sửa đổi cuốn Cẩm nang Kiểm toán và đồng thời xâydựng Phần mềm hệ thống giám sát kiểm toán dự án nước ngoài tài trợ (Phầnmềm FAPAMS) Hai sản phẩm này đã và đang được cập nhật tới các KTV củaFAPAD và hỗ trợ đắc lực cho hoạt động kiểm toán và giám sát kiểm toán các dự
án nước ngoài tài trợ của KTNN Băng-la-đét
Do các cuộc kiểm toán các dự án nước ngoài tài trợ chỉ giới hạn kiểm toántài chính và kiểm toán tuân thủ nên việc lập kế hoạch kiểm toán ban đầu chưahướng tới tính hiệu quả, hiệu lực của dự án Đây là mối đặc biệt quan tâm của
Trang 28các bên hữu quan FAPAD dần hướng tới một cuộc kiểm toán thường xuyên baogồm: kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động)
Ở các nước phát triển và các nước đang phát triển, các cuộc kiểm toán bêncạnh kiểm toán BCTC, đã dần hướng tới một cuộc kiểm toán hiệu quả, hiệunăng Nhật Bản và Băng-la-đét đã xây dựng được cuốn Cẩm nang kiểm toán đểKTV tham khảo trong quá trình thực hiện kiểm toán Đây là kinh nghiệm Kiểmtoán Việt Nam nên nghiên cứu và áp dụng
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DỰ ÁN DO CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
VÀ KIỂM TOÁN THỰC HIỆN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN CỦA CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán - thành lập ngày 13/05/1991 theo Quyết định số 164TC/TCCB của Bộ Trưởng Bộ Tài chính AASC là một trong hai tổ chức hợppháp lớn nhất và đầu tiên ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, kếtoán, tư vấn tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp Hiện tại, AASC có trụ sởchính đặt tại Hà Nội và các chi nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố lớn trên lãnhthổ Việt Nam
Tháng 7 năm 2005, AASC được chính thức công nhận là thành viên củamạng lưới Quốc tế về Kế toán và Kiểm toán INPACT AASC và các thành viêncủa INPACT cam kết hợp tác và phát triển với mục tiêu đem đến cho kháchhàng những dịch vụ chuyên ngành đạt tiêu chuẩn quốc tế
Để hoạt động thành công và có hiệu quả AASC luôn coi trọng vấn đề trình
độ và kinh nghiệm đội ngũ nhân viên Trong năm 2007, Công ty có nhiều biếnđộng thay đổi về số lượng nhân viên, điều này không tránh khỏi như các công tykiểm toán khác Tuy nhiên, AASC không ngừng nâng cao trình độ nhân viêncùng hàng trăm cộng tác viên bao gồm các Giáo sư, Tiến sĩ, chuyên gia đầungành với kinh nghiệm và chuyên môn dày dạn để đáp ứng những yêu cầu caonhất của khách hàng
Trang 30Dịch vụ kế
toán
Kiểm toán Xác định giá trị doanh
nghiệp và tư vấn cổ phần hóa DN
Bảng 2.1 : Tình hình biến động về cán bộ, nhân viên trong 3 năm 2005-2007
của AASC Chỉ tiêu 31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007 Tổng số nhân viên
tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ
Do chất lượng dịch vụ cung cấp, hiện nay AASC đã có hàng nghìn kháchhàng hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế gồm các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế, các dự án được tài trợ bởi WB, ADB và các tổ chức tàichính, tín dụng quốc tế
Sơ đồ 2.1 Các dịch vụ chuyên ngành chủ yếu của AASC
Trang 31Tư vấn tài
chính thuế
Công nghệ thông tin
Đào tạo hỗ trợ tuyển dụng, dịch vụ khác
Sau hơn 16 năm phát triển, AASC đã đạt được nhiều thành tích với doanhthu ngày càng tăng Sau đây là tình hình kinh doanh của 3 năm gần đây nhất:
Bảng 2.2 : Kết quả kinh doanh trong 3 năm 2005-2007 của AASC
(Nguồn : Phòng Tài chính Kế toán)
Bảng số liệu trên đã thể hiện rõ nét tình hình phát triển và biến động hoạtđộng kinh doanh của Công ty Doanh thu năm 2006 tăng so với năm 2005khoảng 11% trong đó doanh thu của dịch vụ kiểm toán chiếm tới hơn 70%.Trong năm 2007, doanh thu giảm đi so với các năm trước do chi nhánh tại
Tp Hồ Chí Minh, chi nhánh tại Thanh Hoá tách ra thành hai công ty riêng.Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên không ngừng tăng, năm 2007tăng gấp hai lần so với năm 2005
Trang 322.2 TÌNH HÌNH LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DỰ ÁN DO CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
VÀ KIỂM TOÁN THỰC HIỆN
2.2.1 Khái quát công tác kiểm toán báo cáo tài chính dự án tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Tại AASC kiểm toán BCTC chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt độngcung cấp dịch vụ chuyên ngành Công ty đã có các quy trình kiểm toán BCTCqui định riêng cho loại hình dịch vụ này
Trong đó, quy trình kiểm toán BCTC doanh nghiệp chủ yếu được dựa trênquy trình kiểm toán BCTC hưởng lợi từ dự án EURO-TAPVIET và Công ty chỉban hành quy trình kiểm toán BCTC mẫu Đối với các khách hàng khác nhau,các KTV căn cứ vào quy trình mẫu sửa đổi cho phù hợp
Từ năm 2005 trở về trước, AASC có thực hiện kiểm toán BCTC dự án, tuynhiên, tỷ trọng kiểm toán BCTC dự án trong loại hình kiểm toán BCTC củaCông ty rất hạn chế Trong những năm gần đây, xuất phát từ nhu cầu thị trường,BGĐ Công ty đã đặt kiểm toán BCTC dự án là một trong loại hình kiểm toánmang lại doanh thu lớn cho Công ty Công ty đã và đang tham gia đấu thầunhiều dịch vụ tư vấn kiểm toán BCTC dự án do WB, ADB và các tổ chức phiChính phủ khác tài trợ
Các dự án do AASC kiểm toán trong các năm qua chủ yếu là các dự án do
WB, ADB tài trợ, bên cạnh đó có các dự án do tổ chức phi Chính phủ tài trợ.Các dự án thường có quy mô vốn lớn, địa bàn hoạt động rộng Lĩnh vực hoạtđộng dự án đa dạng gồm: y tế, giáo dục, lâm nghiệp, môi trường,
Do tính chất đặc thù riêng của kiểm toán BCTC dự án và nhằm nâng cao chấtlượng kiểm toán, tháng 11/2007, Công ty đã ban hành mẫu kiểm toán BCTC dự
án Tuy nhiên nó vẫn còn nhiều vấn đề cần sửa đổi trong quá trình thực tế Toàn bộ giấy làm việc kiểm toán được trình bày bằng Tiếng Việt
Về cơ bản, các bước kiểm toán BCTC dự án giống kiểm toán BCTC doanhnghiệp Phương pháp kiểm toán gồm: phương pháp kiểm toán chứng từ và
Trang 33phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ Theo đó, quy trình kiểm toán được chiathành các bước:
Bước 1: Những công việc thực hiện trước khi kiểm toán
Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán chiến lược
Bước 3: Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Bước 4: Chương trình kiểm toán
Bước 5: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Bước 6: Kết thúc công việc kiểm toán và lập báo cáo
Bước 7: Công việc thực hiện sau kiểm toán
Theo quy trình kiểm toán này một cuộc kiểm toán BCTC chia thành ba giaiđoạn: Lập kế hoạch kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Kết thúc kiểm toán
Tuy nhiên, trong các giai đoạn kiểm toán BCTC dự án có đặc thù riêng sovới kiểm toán BCTC doanh nghiệp.Trong phạm vi Đề tài, học viên chỉ phân tíchmột số điểm khác biệt trong giai đoạn Lập kế hoạch kiểm toán BCTC Cụ thể:
Thứ nhất: Mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận, mục tiêu
hoạt động của dự án là phi lợi nhuận Vì vậy, khi đánh giá rủi ro và mức độtrọng yếu đối với doanh nghiệp và dự án khác nhau Chỉ tiêu KTV sử dụng đểđánh giá về mức độ trọng yếu đối với dự án là theo tỷ lệ chi phí thực hiện dự án;còn đối với doanh nghiệp là lợi nhuận trước thuế;
Thứ hai: Đối tượng kiểm toán BCTC đều là các bảng khai tài chính Trong
doanh nghiệp Bảng khai tài chính bao gồm: Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo Kếtquả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh Báo cáo tàichính Đối với dự án Bảng khai tài chính bao gồm: Báo cáo Nguồn vốn và sửdụng vốn, Báo cáo Cân đối nguồn vốn, Báo cáo Tài khoản đặc biệt, Báo cáoTổng hợp các Sao kê chi tiêu Do vậy, KTV xác định mẫu biểu báo cáo kiểmtoán BTCT khác nhau, số liệu sử dụng trong thủ tục phân tích khác nhau, đốitượng cần thu thập thông tin có sự khác nhau;
Thứ ba: Do sự khác nhau vì mục tiêu hoạt động nên khi thiết kế chương trình
kiểm toán có sự khác nhau
Trang 34Công ty coi trọng lập kế hoạch kiểm toán BCTC dự án, đặc biệt đối với dự
án năm đầu kiểm toán Vì các dự án AASC thực hiện thường là các dự án Hợpđồng ký nhiều năm (từ khi thực hiện dự án đến khi kết thúc dự án) Các dự ánthường có quy mô vốn lớn, địa bàn trải khắp trên phạm vi cả nước Các cán bộquản lý tài chính ở một số dự án (dưới cấp xã) kiêm nhiệm, một số trình độchuyên môn còn hạn chế Thời gian hoàn thành kiểm toán Báo cáo tài chính chocác nhà tài trợ rất khắt khe, nhà tài trợ quy định ngay trong điều khoản hợpđồng Để cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập, hạn chế mức rủi rokiểm toán thấp nhất với các chi phí ở mức hợp lý thì KTV lập kế hoạch cần phải
có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực được giao
Các công việc trên được thể hiện bằng các tài liệu lưu trữ trong hồ sơ kiểmtoán
AASC chưa có một phần mềm kiểm toán chính thống quy định áp dụng chotoàn công ty, các ứng dụng kiểm toán bằng tin học do các KTV tự thiết kế đơn lẻtheo ý kiến cá nhân Nhưng các phần mềm này cũng chỉ giới hạn ở phần tổnghợp BCTC cho khách hàng, chưa hỗ trợ các kỹ thuật kiểm toán như lập kế hoạchkiểm toán, nghiên cứu hệ thống kiểm soát, đánh giá rủi ro kiểm soát, xác địnhmức trọng yếu,…
2.2.2 Nội dung và phương pháp lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
dự án do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện
Quy trình kiểm toán AASC được chia thành ba giai đoạn: lập kế hoạch kiểmtoán, thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc quá trình kiểm toán
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV khảo sát thu thập thông tin về kháchhàng, đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán, tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
và thiết kế chương trình kiểm toán
Giai đoạn thực hiện kiểm toán, dựa trên các kế hoạch và chương trình kiểm toán
đã lập kết hợp với khả năng của KTV, KTV và trợ lý kiểm toán sử dụng cácphương pháp kỹ thuật kiểm toán thích hợp với đối tượng kiểm toán để thu thập
Trang 35bằng chứng kiểm toán đưa ra kết luận xác đáng về mức độ trung thực và hợp lýcủa BCTC
Giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV tổng hợp kết quả kiểm toán dựa trên kết quảcông việc kiểm toán, trình cấp soát xét, lập và phát hành báo cáo kiểm toánBCTC cho khách hàng
Trong ba giai đoạn trên thì giai đoạn lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên, giữ
vị trí vô cùng quan trọng, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thời gian củatoàn bộ cuộc kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: lập kế hoạch kiểmtoán chiến lược, lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và chương trình kiểm toán.Thông qua việc lập kế hoạch kiểm toán này, KTV sẽ có sự hiểu biết nhất định về
cơ cấu tổ chức, ngành nghề, lĩnh vực, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhưcác thủ tục kiểm soát nội bộ của khách hàng Nhờ đó giúp các trưởng nhómkiểm toán có thể xác định số lượng nhân viên tham gia kiểm toán, thời giankiểm toán, chi phí kiểm toán, tạo điều kiện cho việc sử dụng có hiệu quả nguồnnhân lực và thời gian, định ra mức phí kiểm toán vừa mang tính cạnh tranh vừađảm bảo đem lại hiệu quả kinh doanh của bản thân công ty kiểm toán
Các thông tin mà KTV thu thập được trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán
sẽ được lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán chung và hồ sơ kiểm toán năm Trong hồ
sơ kiểm toán, các thông tin trên sẽ được KTV lưu trữ vào các chỉ mục tươngứng Cụ thể:
Trong hồ sơ kiểm toán chung, KTV lưu trữ:
Thông tin cơ bản về khách hàng bao gồm: Sơ đồ tổ chức dự án, Danh sách vềnhân sự trong Ban lãnh đạo trong đó có ghi rõ về bằng cấp, kinh nghiệm củanhững người đó trong hoạt động của dự án, các Quyết định bổ nhiệm;
Các tài liệu pháp luật bao gồm: Quyết định thành lập PCU, PMU; Tài liệu thẩmđịnh dự án; các Hiệp định vay, Hiệp định viện trợ không hoàn lại;
Các tài liệu kế toán bao gồm: Sổ tay hoạt động của Dự án; Báo cáo kiểm toán(đối với các hợp đồng ký năm đầu tiên, năm trước đã do Công ty khác kiểm toánkhác kiểm toán);
Trang 36Các tài liệu về hợp đồng: Hợp đồng kiểm toán, các Hợp đồng quan trọng.
Trong hồ sơ kiểm toán năm, KTV lưu trữ:
Các báo cáo của dự án phục vụ lập kế hoạch kiểm toán của KTV gồm: BCTC dựán; Báo cáo tiến độ thực hiện dự án; Báo cáo đánh giá của nhà tài trợ; Kế hoạchthực hiện dự án được phê duyệt hàng năm;
Kế hoạch kiểm toán gồm: Kế hoạch kiểm toán KTV lập, BGĐ đã ký phê duyệt;Câu hỏi về tính độc lập của KTV sẽ tham gia trong kiểm toán BCTC dự án;Khảo sát đánh giá dự án (đối với dự án năm đầu)
Các tài liệu do KTV thu thập, lập và lưu trữ; lãnh đạo phòng, BGĐ kiểm tra
và soát xét
Trong Đề tài này, học viên đi sâu phân tích dự án trong Ngành Lâm nghiệp
và Ngành Môi trường đô thị với nguồn viện trợ nước ngoài, theo hình thức đấuthầu rộng rãi do WB và ADB tài trợ Lý do:
Thứ nhất: AASC chủ yếu kiểm toán các dự án ODA Chương trình kiểm
toán dự án ODA được áp dụng tương tự chương trình kiểm toán cho các dự ánhình thành từ nguồn vốn khác;
Thứ hai: Chủ thể đầu tư WB và ADB là hai tổ chức quốc tế đầu tư vào Việt
Nam từ rất sớm Trong đó:
ADB là nhà tài trợ đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất hơn 75% vốn được giải ngân docác thủ tục tài chính thông thoáng và đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp
và hạ tầng cơ sở nông thôn;
Nguồn vốn vay ODA của Việt Nam từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) đượcxem là lớn nhất trên thế giới, WB ưu tiên hỗ trợ cho Việt Nam trong các lĩnhvực: xoá đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực, phát triển bền vững môitrường xã hội, tài chính khu vực tư nhân và hạ tầng cơ sở
Thứ ba: Đây là các dự án nằm trong chiến lược phát triển bền vững của đất
nước với mục tiêu xoá đói giảm nghèo bằng chính sự tham gia của các đối tượnghưởng lợi trực tiếp, đồng thời nâng cao ý thức cải thiện môi trường của ngườidân Việt Nam
Trang 37Các dự án trong Ngành Môi trường đô thị do ADB (WB) và GOV tài trợ AASC
đã thực hiện kiểm toán bao gồm: Dự án Cải thiện Môi trường Đô thị miềnTrung; Dự án Cải tạo nâng cấp hệ thống cấp thoát nước TP.Hồ Chí Minh; Dự ánMôi trường đô thị Hạ Long; Dự án Nâng cao năng lực của Việt Nam trongphòng chống ô nhiễm nguồn nước; Dự án Nâng cấp đô thị Nam Định, Dự ánNâng cấp đô thị Hải Phòng
Các dự án trong Ngành Lâm nghiệp do WB và GOV tài trợ AASC đã thực hiệnkiểm toán bao gồm: Dự án Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam; Dự án Pháttriển Ngành Lâm nghiệp
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán của AASC bao gồm các bước sau:
Tại AASC, khách hàng kiểm toán BCTC dự án chủ yếu là các dự án do WB,ADB tài trợ Bên cạnh đó có các dự án do các tổ chức Chính phủ và phí Chínhphủ khác tài trợ như (Chính phủ Nhật Bản, Chính phủ Phần Lan, AFD,…).Nhìn chung các dự án khi tuyển chọn dịch vụ tư vấn kiểm toán, đều tổ chứcđấu thầu rộng rãi (đăng báo), tuy nhiên có một số dự án nguồn vốn tài trợ nhỏ cóthể thông qua đấu thấu hạn chế (gửi thư mời trực tiếp tới các công ty kiểm toán)hoặc hình thức chỉ định thầu (chọn trực tiếp một công ty kiểm toán) Các dự án
có thể tuyển chọn một công ty kiểm toán sẽ kiểm toán BCTC từ khi bắt đầu dự
án đến khi kết thúc dự án, hoặc có thể tuyển chọn công ty kiểm toán trong từng
Trang 38giai đoạn của dự án tuỳ theo yêu cầu của nhà tài trợ Vì vậy, việc khảo sát banđầu khi đi bỏ thầu dự án của các công ty kiểm toán là rất quan trọng.
Thông thường, các dự án đăng báo tuyển dụng trên Thời báo Việt Nam News
và Báo Lao động Với tư cách là 01 trong 02 công ty kiểm toán Việt Nam cùngvới 04 công ty kiểm toán quốc tế hoạt động tại Việt Nam được phép tham giakiểm toán các dự án do WB tài trợ, AASC nhận được thư mời của Dự án giớithiệu tổng quan về dự án AASC đã gửi thư bày tỏ nguyện vọng đến Dự án Dự
án gửi mẫu hồ sơ dự thầu đến các công ty kiểm toán do WB lựa chọn Trong hồ
sơ thầu của dự án đã nêu rõ mục đích kiểm toán, phạm vi kiểm toán, các côngviệc cần phải thực hiện quy định trong các điều khoản tham chiếu
Sau khi nhận được mẫu hồ sơ dự thầu, KTV tiến hành tìm hiểu dự án thôngqua trang web, trao đổi với nhân viên dự án về những điều khoản tham chiếutrong dự án nếu nó chưa được nêu rõ ràng cụ thể
Cuộc khảo sát được tiến hành như sau:
KTV thu thập tài liệu từ hồ sơ dự thầu dự án gửi cho công ty KTV xem xét,đánh giá mục đích mời kiểm toán, phạm vi hoạt động của Dự án, yêu cầu cungcấp dịch vụ của Dự án với sự phù hợp về nhân sự, thời gian của công ty kiểmtoán KTV phỏng vấn cán bộ điều phối của Dự án, để tìm hiểu ban đầu về hoạtđộng của Dự án, KTV phân tích và đánh giá sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộcủa khách hàng Bằng kỹ thuật phân tích của các dự án tương tự, vào trang webtìm hiểu về hoạt động của PMU, KTV đưa ra đánh giá sơ ban đầu về rủi ro cóthể, tác động môi trường ảnh hưởng đến Dự án BGĐ công ty kiểm toán và KTVcân nhắc giữa giá phí kiểm toán với chi phí kiểm toán để đưa ra mức phí phù
hợp, đem lại lợi nhuận cho công ty (Xem ví dụ minh hoạ cụ thể của dự án ABC thuộc nhóm dự án trong ngành Lâm nghiệp - Phụ lục 1)
Căn cứ vào cuộc khảo sát đánh giá trên, KTV lập Đề xuất kỹ thuật và Đềxuất tài chính Để đạt được Hợp đồng kiểm toán, KTV phải nghiên cứu kỹ cáctiêu thức đề ra của Dự án, từ khâu lựa chọn nhân sự kiểm toán, nó không chỉđảm bảo chất lượng một cuộc kiểm toán mà đây còn là một trong các tiêu thức
Trang 39chấm điểm được đề ra trong mẫu hồ sơ dự thầu Trong Sổ tay quản lý dự án đãquy định rất rõ về mức độ độc lập của Công ty kiểm toán, trình độ và kinhnghiệm của công ty cũng như các nhân viên dự kiến sẽ tiến hành công tác kiểmtoán cần được WB (ADB) xem xét và chuẩn y trước KTV bố trí các nhóm kiểmtoán sẽ thực hiện, thời gian làm của các nhóm kiểm toán cũng như lộ trình đi lạiphù hợp để làm căn cứ tính giá phí kiểm toán Một mức giá phí phù hợp sẽ giúpCông ty đạt được Hợp đồng với các Công ty kiểm toán khác mà vẫn đạt được lợinhuận mong muốn.
Nhờ sự khảo sát đánh giá khách hàng hợp lý, Công ty đã trúng thầu Công ty
và Dự án tiến hành lập Hợp đồng kiểm toán
2.2.2.2 Lập kế hoạch chiến lược kiểm toán báo cáo tài chính dự án
Kế hoạch chiến lược được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tínhchất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán BCTC nhiều năm
Kế hoạch chiến lược do người phụ trách cuộc kiểm toán lập và được TổngGiám đốc Công ty (Phó Tổng Giám đốc được uỷ quyền hoặc Giám đốc chinhánh) phê duyệt
Nhóm kiểm toán phải tuân thủ các quy định của công ty và phương hướng doTổng Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc được uỷ quyền hoặc Giám đốc Chi nhánh)
đã duyệt trong kế hoạch chiến lược
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và thực hiện kiểm toán nếuphát hiện những vấn đề khác biệt với nhận định ban đầu của BGĐ thì KTV phảibáo cáo kịp thời cho BGĐ để có những điều chỉnh phù hợp
Các bước công việc của kế hoạch chiến lược:
1/ Tình hình hoạt động của dự án (tổng hợp thông tin về lĩnh vực hoạt động, loại hình dự án, hình thức sở hữu, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc biệt lưu ý đến những nội dung chủ yếu như: mục tiêu hoạt động
của dự án, đối tượng được hưởng lợi, tiến độ thực hiện của dự án
2/ Xác định những vấn đề liên quan đến BCTC như chế độ kế toán, chuẩn mực
kế toán áp dụng, yêu cầu về lập BCTC và quyền hạn của dự án;
Trang 403/ Xác định vùng rủi ro chủ yếu của dự án và ảnh hưởng của nó tới BCTC (đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát);
4/ Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của dự án;
5/ Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp cận kiểmtoán;
6/ Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia: Chuyên gia tư vấn phápluật, KTV nội bộ, KTV khác và các chuyên gia khác như kỹ sư xây dựng, kỹ sưnông nghiệp
7/ Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện;
8/ Giám đốc duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm kiểm toán Căn
cứ kế hoạch chiến lược đã được phê duyệt, trưởng nhóm kiểm toán lập kế hoạchkiểm toán tổng quát và chương trình kiểm toán
Hiện nay các dự án do Công ty kiểm toán AASC thực hiện không lập kế hoạchchiến lược mà chỉ lập kế hoạch tổng quát
2.2.2.3 Lập kế hoạch tổng quát kiểm toán báo cáo tài chính dự án
Để lập kế hoạch tổng quát, KTV cần phải xác định: Thông tin về hoạt độngkhách hàng và những thay đổi trong năm kiểm toán; Các điều khoản hợp đồngcần nhấn mạnh; Hiểu biết về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ; Đánhgiá rủi ro; Xác định mức độ trọng yếu; Phương pháp kiểm toán đối với khoảnmục; Yêu cầu về nhân sự; Các vấn đề khác
Thông tin về hoạt động của khách hàng và những thay đổi trong năm kiểm toán
Sự hiểu biết đầy đủ về Dự án giúp KTV xác định được các rủi ro chính màPMU gặp phải khi thực hiện dự án, đồng thời giúp cho KTV xác định và đánhgiá các thủ tục kiểm soát mà PMU cần hoặc đã thực hiện nhằm làm giảm nhữngrủi ro này Các hiểu biết căn bản mà KTV cần phải có khi kiểm toán dự án gồm: