PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÓM TẮT LUẬN VĂN 1. Tên đề tài: “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp tại Tp. Hồ Chí Minh” 2. Nội dung: Luận văn thể hiện quan điểm, nhìn nhận cá nhân của tác giả về tình hình “Pháp Luật Về Thuế Thu Nhập Cá Nhân Của Người Lao Động Trong Doanh Nghiệp Tại TP. Hồ Chí Minh”. Trong bài luận sẽ hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN, ngoài ra còn cập nhật thực trạng về việc thi hành pháp luật về thuế TNCN của ngƣời lao động hiện nay. Phân tích từ những quy định, phạm vi quy phạm của luật thuế TNCN, cách thức thi hành, áp dụng so với tình hình thực tế. Để từ đó đánh giá, nhìn nhận những bất cập còn tồn đọng của luật thuế TNCN. Tác giả diễn giải những yếu tố tác động đến việc dẫn ra những vƣớng mắc ở thực trạng của thuế TNCN đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp tại Việt Nam cũng nhƣ Tp. Hồ Chí Minh nhƣ: bất cập trong công tác quản lý; mức thu nhập, giảm trừ gia cảnh của ngƣời chịu thuế; phƣơng thức thanh toán thuế cũng nhƣ cách xử lý các vi phạm của ngƣời lao động đối với luật thuế TNCN . Qua bài Luận văn này, đề xuất ý kiến cá nhân, đƣa ra một số giải pháp nhằm sửa đổi, tiến đến hoàn thiện pháp luật về thuế TNCN. 3. Từ khóa: Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập chịu thuế, ngƣời lao động trong doanh nghiệp. MỤC LỤC PHẦN NỘI DUNG CHÍNH.....................................................................................1 PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................1 CHƢƠNG 1.............................................................................................................10 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP .................................................10 1.1. Quá trình hình thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân................................10 1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân với người lao động trong doanh nghiệp...............................................................................................13 1.3. Các quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp ...................................................................................................................20 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1.......................................................................................31 CHƢƠNG 2.............................................................................................................32 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TNCN ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TẠI TP.HỒ CHÍ MINH .......................32 2.1. Tình hình thực thi pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh ...................................................32 2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh và nguyên nhân ......................................................................................................................38 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2.......................................................................................44 CHƢƠNG 3.............................................................................................................45 BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TNCN ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TẠI TP.HỒ CHÍ MINH .45 3.1. Bất cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.......................45 3.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện nay.........................................................................................................................48 3.3. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân .......54 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.......................................................................................59 KẾT LUẬN .............................................................................................................60 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................i TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT................................................................i KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.......................................................................................59 KẾT LUẬN .............................................................................................................60 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................i TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT................................................................i đƣa ra nguyên nhân tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nƣớc ngoài; đề xuất ý kiến nhằm củng cố, hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về thuế TNCN với đối tƣợng NLĐ trong doanh nghiệp. 2.2. Mục tiêu cụ thể Để thực hiện đƣợc mục tiêu đã đƣa ra, đề tài sẽ đặt các mục tiêu cụ thể nhƣ: ˗ Thứ nhất, trình bày và giải thích những vấn đề, cơ sở lý luận cơ bản về thuế TNCN đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp. ˗ Thứ hai, tìm hiểu, thực trạng thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp ở Tp. Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua, phân tích những bất cập và tìm ra nguyên nhân đồng thời nghiên cứu tiếp thu có lựa chọn kinh nghiệm pháp luật thuế TNCN ở một số quốc gia. ˗ Thứ ba, kiến nghị và bàn thảo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật ở khía cạnh thuế TNCN đối với NLĐ trong doanh nghiệp của Việt Nam và đóng góp ý kiến với mục đích là đổi mới pháp luật về thuế TNCN ở Việt Nam. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Về đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc đề cập Luận văn là: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp ở Tp. Hồ Chí Minh. Ngoài ra đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn có xem xét đến các quy định của pháp luật tại một số quốc gia trên thế giới về thuế thu nhập của ngƣời lao động làm căn cứ so sánh pháp luật. 3.2. Về phạm vi nghiên cứu Luận văn phân tính rõ về tính pháp lý đối với ngƣời lao động chịu thuế TNCN tại Tp. Hồ Chí Minh hiện nay, cụ thể: ˗ Về nội dung: Nội dung nghiên cứu xoay quanh hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thuế TNCN cụ thể ở đối tƣợng là ngƣời lao động trong doanh nghiệp ở nƣớc ta, tình hình thực tế áp dụng các quy định này và quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật.
Quá trình hình thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân
1.1.1 Quá trình hình thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân trên thế giới
Thuế TNCN có lịch sử phát triển lâu đời, bắt nguồn từ Vương quốc Anh năm 1799 và chính thức ban hành vào năm 1942 để hỗ trợ các chiến dịch chiến tranh Sau đó, nhiều quốc gia tư bản như Nhật Bản (1877), Đức (1899), Mỹ (1903), Pháp (1916) và Liên Xô (1922) đã áp dụng loại thuế này vào hệ thống thu ngân sách quốc gia.
Thuế TNCN đƣợc áp dụng theo hai cách tính sau:
Cách tính theo từng hộ gia đình được áp dụng tại Pháp và Hà Lan, mang lại sự công bằng xã hội cao hơn Tuy nhiên, phương pháp này phức tạp hơn và đòi hỏi nhiều thời gian để theo dõi và cập nhật nguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình.
Cách tính thuế theo từng cá nhân, được thực thi rộng rãi ở Anh, Nhật Bản và Thụy Điển, mang lại ưu điểm là ít rườm rà, dễ thực hiện và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là chưa thể đáp ứng hoàn toàn yêu cầu về điều chỉnh nguồn thu của người dân qua thuế, đồng thời khó đảm bảo sự công bằng về thu nhập, đặc biệt đối với các cá nhân có người phụ thuộc trong gia đình.
Pháp luật thuế TNCN các nước thường quy định các vấn đề cơ bản như đối tượng nộp thuế, thu nhập tính thuế, nguồn thu không chịu thuế, cơ sở tính thuế và thuế suất Việc thu nộp thuế thường thực hiện theo phương thức khấu trừ tại nguồn sinh thu nhập, trong đó đối tượng chi trả thu nhập sẽ trích một phần tiền để nộp vào ngân sách nhà nước nhằm thực hiện nghĩa vụ thuế trước khi thanh toán cho người nhận thu nhập.
Luật thuế TNCN là phần cốt lõi trong hệ thống pháp luật thuế của nhiều quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong huy động nguồn thu ngân sách nhà nước và điều chỉnh thu nhập cá nhân Việc xác định mức thuế cao hay thấp, cũng như phạm vi áp dụng dựa trên quan điểm điều chỉnh thu nhập và các chính sách kinh tế, xã hội của từng đất nước trong từng giai đoạn khác nhau Thuế TNCN góp phần giảm sự phân biệt giai cấp trong xã hội, thúc đẩy công bằng và ổn định xã hội.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam
Trước năm 1975 ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã thực hiện thuế lợi tức lương bổng từ năm 1962, sau đó đổi tên thành thuế thu nhập cá nhân vào năm 1972 Ngày 27/12/1990, Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, đánh dấu bước ngoặt trong chính sách thuế của Việt Nam Kể từ đó, hệ thống thuế thu nhập cao đã trải qua 5 lần chỉnh sửa, bổ sung theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bắt đầu từ ngày 10/03/1992 và lần cuối vào ngày 13/06/2001 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2001) Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng, dẫn đến khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và thấp ngày càng lớn hơn.
Việc áp dụng thuế TNCN là cách tối ưu để đảm bảo tính hợp lý, công bằng và hiệu quả của hệ thống chính sách thuế Nó góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp tri thức và giúp Nhà nước xây dựng kế hoạch quản lý thu nhập cá nhân phù hợp Đồng thời, chính sách này cũng tạo nguồn lực cần thiết cho ngân sách nhà nước và góp phần chống tham nhũng, lãng phí trong hệ thống quản lý tài chính.
Việc đánh thuế thu nhập cao trong quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều nhược điểm như phạm vi điều chỉnh hẹp do bỏ sót các khoản thu nhập không thường xuyên và không đánh thuế đối với cá nhân kinh doanh Thuế suất lũy tiến quá nhanh và không công bằng giữa người Việt Nam và người nước ngoài cũng là những vấn đề tồn tại Ngoài ra, các chính sách thuế hiện hành còn gây ra khó khăn trong việc điều tiết thu nhập của cá nhân do bị ảnh hưởng bởi nhiều văn bản pháp luật như Pháp lệnh thuế thu nhập, Luật thuế TNDN và Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất Những nhược điểm này cần được cải thiện trong dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) để đảm bảo công bằng và hiệu quả hơn trong hệ thống thuế.
Ngày 21/11/2007, Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) chính thức được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và thích ứng với bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước Luật TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, góp phần hoàn thiện hệ thống thuế và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Luật thuế TNCN 2007 đã khắc phục những nhược điểm của Pháp lệnh thuế thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước Từ khi thực hiện, luật đã cụ thể hóa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong chính sách thuế cá nhân Đồng thời, luật thúc đẩy việc hợp lý hóa nguồn thu nhập của người dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và thống nhất các quy định về thuế đối với cá nhân có thu nhập Luật thuế TNCN 2007 cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước và từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát thu nhập của người dân trên toàn quốc.
Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN đã được ban hành ngày 21/12/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, nhằm cập nhật phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội Một số điều khoản có hiệu lực từ 01/07/2013 nhằm tập trung thay thế, bổ sung các nội dung bất cập so với thực tế, đảm bảo tính hợp lý và cân bằng của hệ thống pháp luật thuế Việc sửa đổi này giúp áp dụng kịp thời các khoản thu, không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách nhà nước Đồng thời, các thay đổi trong luật thuế TNCN góp phần nâng cao tính cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực và phù hợp với xu hướng cải cách thuế và thông lệ quốc tế.
Mặc dù thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đã ra đời tại Việt Nam từ khá sớm, nhưng pháp luật về thuế TNCN vẫn còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn thiện Điều này dẫn đến nhiều điểm chưa hợp lý trong quá trình áp dụng, gây khó khăn và bất cập cho người nộp thuế cũng như cơ quan quản lý.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân với người lao động
1.2.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy rằng thuế là một điều kiện khách quan không thể thiếu, gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của Nhà nước Nhà nước là bộ máy chính trị đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị, thực hiện các chính sách do giai cấp này đề ra để cai trị xã hội Để đảm bảo nguồn lực vật chất cho các hoạt động và chức năng của mình, Nhà nước cần sử dụng quyền lực để huy động một phần của cải của xã hội Việc tập trung nguồn của cải xã hội vào tay Nhà nước có thể được thực hiện qua nhiều hình thức như đóng góp bắt buộc, vận động dân tự nguyện đóng góp hoặc vay mượn, trong đó, biện pháp huy động bắt buộc mọi thành viên trong xã hội chính là thuế.
Hệ thống thuế của các quốc gia có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và được xây dựng linh hoạt phù hợp với chức năng và đối tượng chịu tác động riêng biệt Cách phân loại phổ biến nhất hiện nay dựa trên căn cứ đối tượng bị đánh thuế hoặc đối tượng chịu thuế, giúp phân chia các loại thuế thành các nhóm chính như thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản Điều này đảm bảo sự rõ ràng trong quản lý thuế và phù hợp với đặc thù của từng loại đối tượng chịu thuế.
Thuế thu nhập là các loại thuế mà nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Đối với người lao động trong doanh nghiệp, thu nhập chính đến từ tiền lương và tiền công, do đó thuế thu nhập cá nhân sẽ tác động trực tiếp vào các khoản thu này Nhà nước nhận thấy rằng, vì tiền lương, tiền công là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, nên việc đánh thuế theo từng tháng sẽ giúp họ phân bổ gánh nặng thuế đều đặn trong năm, giảm thiểu áp lực tài chính và hỗ trợ người lao động duy trì cuộc sống ổn định.
Thuế thu nhập đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thuế của các quốc gia, đặc biệt ở các nền kinh tế thị trường phát triển, vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập của người nộp thuế Đây là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế, có tính phức tạp và độ ổn định không cao, và chịu sự điều chỉnh của cả luật quốc gia lẫn luật quốc tế Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, thuế thu nhập gồm hai loại chính là thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN), dù chúng có thể được ban hành trong cùng một văn bản luật hoặc theo các quy định riêng biệt.
Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu tại các quốc gia phát triển và đối tượng nộp thuế gồm tất cả các người dân, không phân biệt quê quán, nghề nghiệp hay địa vị xã hội Đây là nguồn thu quan trọng giúp các quốc gia phát triển huy động ngân sách và thực hiện công bằng xã hội Sự ra đời của thuế TNCN bắt nguồn từ những nguyên nhân chính nhằm đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách quốc gia.
Việc tái phân phối thu nhập nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các tầng lớp lao động trong xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng do phân chia tài sản và vốn trong nền kinh tế thị trường Những người nắm giữ nhiều tư liệu sản xuất thường có thu nhập cao hơn, dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh phân phối thu nhập, giúp xây dựng xã hội công bằng hơn về quyền lợi và nghĩa vụ.
Sự ra đời của thuế TNCN xuất phát từ nhu cầu tài chính của nhà nước, nhằm đảm bảo nguồn ngân sách phục vụ các hoạt động chi tiêu Khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và khả năng thu nhập của cá nhân ngày càng tăng, nhà nước nhận thức rõ khả năng huy động nguồn thu từ thuế TNCN để nâng cao ngân sách quốc gia Thuế TNCN đóng vai trò quan trọng trong việc cân đối ngân sách nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chi tiêu công cộng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Thuế TNCN là phương thức quan trọng giúp Nhà nước quản lý và kiểm soát hoạt động kinh tế xã hội, góp phần điều chỉnh và phát triển xã hội Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc điều tiết các hoạt động kinh tế, và thuế TNCN là công cụ chủ lực để thực hiện chức năng này Thu nhập của cá nhân, tổ chức và quốc gia quyết định việc tích lũy, đầu tư, tiêu dùng và phân bổ nguồn lực trong xã hội Thông qua việc đánh thuế vào thu nhập theo các hình thức khác nhau, Nhà nước thể hiện trách nhiệm điều tiết nền kinh tế và đảm bảo sự cân bằng xã hội.
Việc phân định thuế TNCN và thuế TNDN dựa trên cơ sở chủ thể đóng thuế là cá nhân hay tổ chức có nguồn thu chịu thuế Thuế TNCN là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực nhận hàng năm, hàng tháng hoặc từng lần của cá nhân Người lao động có thu nhập chủ yếu từ tiền lương, tiền công sẽ được yêu cầu đóng thuế TNCN theo từng tháng, dựa trên mức thu nhập hàng tháng và khả năng chi trả của họ.
Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế do Nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các cá nhân vào ngân sách nhà nước, nhằm tạo nguồn thu ổn định và thúc đẩy công bằng xã hội.
Thuế TNCN trên thế giới thường áp dụng cho các cá nhân có thu nhập không rõ ràng về việc họ có hoạt động kinh doanh hay không, được xem là loại thuế đặc biệt Ngoài ra, người nộp thuế còn được xem xét các khoản miễn, giảm trừ thuế dựa trên hoàn cảnh cá nhân, nhằm thúc đẩy công bằng trong hệ thống thuế Đặc biệt, người lao động là đối tượng nhận được các khoản giảm trừ gia cảnh, giúp giảm nghĩa vụ thuế của họ dựa trên điều kiện sống và hoàn cảnh gia đình.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay áp dụng thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) dựa trên cơ sở kết hợp hai quyền thu thuế của Nhà nước: quyền thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và quyền thu thuế theo yếu tố quốc tịch Điều này có nghĩa là, ngoài việc còn có cá nhân mang quốc tịch của quốc gia thu thuế, các đối tượng nộp thuế TNCN còn bao gồm người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch có khoản thu phát sinh trong lãnh thổ quốc gia đó Tuy nhiên, đặc điểm này gây ra tình trạng đánh thuế hai lần khi một cá nhân phải nộp thuế TNCN cho cả quốc gia nơi cá nhân đó mang quốc tịch và quốc gia nơi phát sinh thu nhập Để hạn chế vấn đề này, các quốc gia thường ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa vụ thuế đã nộp ở quốc gia khác trong luật thuế TNCN.
1.2.2 Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân với người lao động
Thuế TNCN là loại thuế trực tiếp đánh vào lượng tiền thu được (dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật) của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định Vì chế độ thuế này thể hiện tính tương đồng giữa người nộp thuế (NNT) theo luật và chủ thể chịu thuế theo nghĩa kinh tế, NNT không thể ủy quyền hay chuyển giao trách nhiệm nộp thuế cho người khác Tuy nhiên, việc đánh thuế trực tiếp này thường tạo cảm giác nặng nề, khiến một bộ phận người dân cảm thấy nhạy cảm và có phản ứng tiêu cực đối với nghĩa vụ nộp thuế.
Thuế TNCN được áp dụng rộng rãi trên toàn diện với gần như tất cả các khoản thu nhập của cá nhân, không phân biệt nguồn gốc phát sinh Các đối tượng chịu thuế bao gồm thu nhập từ lương thưởng, tiền công, lợi nhuận từ kinh doanh, thu nhập từ đầu tư gián tiếp như cho vay hoặc mua cổ phần, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trúng thưởng, tiền bản quyền, quà biếu, tặng, thừa kế và các khoản thu nhập khác Trong số đó, tiền lương và tiền công là khoản thu nhập chính mà người lao động phải chịu thuế, áp dụng cho cả người Việt Nam và người nước ngoài cư trú hoặc không cư trú thường xuyên, bất kể nguồn gốc phát sinh của thu nhập.
Thời gian tính thuế TNCN thường là một năm dương lịch đối với thu nhập thường xuyên hoặc từng lần phát sinh đối với thu nhập không thường xuyên Để đảm bảo nguồn thu vào ngân sách nhà nước được thu đúng thời hạn, mỗi quốc gia quy định chế độ tạm thu theo từng khoảng thời gian như hàng tháng, hàng quý hoặc hàng 6 tháng đối với thu nhập thường xuyên Tại Việt Nam, thu nhập chủ yếu của người lao động được xác định là từ tiền lương và tiền công, theo quy định tại Điều 28 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, các tổ chức, doanh nghiệp sẽ tạm tính và trừ thuế vào khoản thu nhập của người lao động hàng tháng.
Các quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp
1.3.1 Người lao động trong thuế thu nhập cá nhân
Người lao động trong doanh nghiệp là những người có độ tuổi phù hợp theo quy định của Luật Lao động, được phép làm việc trong khoản thời gian nhất định Họ sử dụng khả năng của mình để sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ nhằm tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình Việc làm của người lao động góp phần vào hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp.
Các yếu tố như độ tuổi, thời gian lao động, sản phẩm của lao động và mục đích sử dụng là các yếu tố cần và đủ để xác định một cá nhân là người lao động Trong môi trường doanh nghiệp, người lao động có thể là nhân viên, học việc hoặc tập sự, và các đối tượng này chịu tác động của thuế thu nhập cá nhân dựa trên mức thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập liên quan.
Theo Luật thuế TNCN, các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật thuế TNCN 2007, với những thay đổi bổ sung năm 2012 Cụ thể, khoản b đã được sửa đổi để mở rộng phạm vi các khoản trợ cấp, bao gồm các khoản trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương theo quy định của Chính phủ Sự điều chỉnh này cho thấy luật thuế TNCN đã linh hoạt hơn trong việc xác định các khoản thu nhập không chỉ giới hạn ở Bảo hiểm xã hội hay trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội.
Người lao động chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được phân thành hai nhóm chính là cá nhân có cư trú và cá nhân không cư trú Việc xác định các đối tượng này dựa trên nơi cư trú của họ trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng như thời gian cư trú phù hợp, nhằm áp dụng các quy định thuế chính xác và phù hợp.
Luật thuế TNCN năm 2007 quy định rõ ràng về các điều kiện để xác định cá nhân cư trú và không cư trú tại Việt Nam Cá nhân cư trú bao gồm người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tiếp kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam như nơi đăng ký thường trú hoặc nhà thuê theo hợp đồng có thời hạn Ngược lại, cá nhân không cư trú là những người không đáp ứng các điều kiện này Chính sách thuế TNCN đề cập cụ thể đến quyền lợi và nghĩa vụ của từng nhóm cá nhân nhằm đảm bảo công bằng thuế.
Cá nhân cư trú phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tất cả các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh cả trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam Trong khi đó, cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Theo Nghị định số 100/2008/NĐ-CP, các trường hợp có nơi thường trú tại Việt Nam được xác định dựa trên việc đăng ký thường trú hoặc nhà ở hợp pháp theo pháp luật về cư trú, hoặc thuê nhà có thời hạn thuê từ
90 trở lên trong năm tính thuế
Thực tế thực hiện cho thấy các quy định dựa trên Luật Nhà ở và Luật cư trú có nhiều bất cập về nghĩa vụ thuế TNCN trong các trường hợp như người Việt Nam đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài vượt quá 183 ngày hoặc người nước ngoài đến Việt Nam cư trú làm việc, thuê nhà từ 90 đến 183 ngày Các qui định này dẫn đến thủ tục hành chính phức tạp, gây phiền hà cho người nộp thuế và khó quản lý thuế, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Để đảm bảo thực thi các cam kết quốc tế và giảm các thủ tục không cần thiết đối với cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 đã điều chỉnh tiêu chí thời gian từ 90 ngày thành 183 ngày, quy định rõ trường hợp cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà không cần chứng minh đối tượng cư trú.
Theo Luật thuế Thu nhập cá nhân ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cá nhân từ quốc gia khác chỉ được coi là cư trú tại Việt Nam và phải chịu thuế nếu họ có cư trú tại Việt Nam theo quy định của luật pháp.
Theo Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ, các cá nhân làm việc tại các công ty trong Khu kinh tế được quy định rõ về hợp đồng lao động với Ban quản lý Khu kinh tế hoặc tổ chức, cá nhân có trụ sở kinh doanh tại Khu kinh tế, kể cả những người được cử đến làm việc tại đây theo hợp đồng ký ngoài Khu kinh tế Những cá nhân có trụ sở cố định tại Khu kinh tế và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký sẽ được hưởng ưu đãi giảm 50% thuế thu nhập cá nhân năm đó, đặc biệt đối với các cá nhân làm việc tại Khu xử lý chất thải độc hại của Khu kinh tế, nếu khu vực này đã được phê duyệt theo quy định về môi trường và quy hoạch Việc sửa đổi các quy định này nhằm khắc phục những bất cập của luật thuế TNCN hiện hành, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam, đồng thời điều chỉnh phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
1.3.2 Thuế suất thuế thu nhập cá nhân với người lao động trong doanh nghiệp
Từ năm 2009 đến nay, quy định về biểu thuế lũy tiến đối với thu nhập từ hoạt động thương mại, tiền lương, tiền công gồm 07 bậc thuế, với các mức phân cách nhau 5% từ 5% đến 35% Thuế suất được tính theo bảng biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22, Luật Thuế TNCN năm 2007 Các mức thuế cụ thể từ 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30% đến 35% được áp dụng nhằm điều chỉnh thuế phù hợp với mức thu nhập của người lao động, đảm bảo công bằng và hợp lý trong hệ thống thuế.
Bảng 1.1: Biểu thuế luỹ tiến từng phần
Hầu hết các quốc gia áp dụng nguyên tắc thuế lũy tiến đối với thu nhập của cá nhân, trong đó mức thuế cao hơn áp dụng cho những người có thu nhập cao hơn Cụ thể, tại Myanmar, khung thuế suất TNCN dao động từ 1% đến 25%; Singapore từ 0% đến 22%; Philippines từ 5% đến 32%; Malaysia từ 1% đến 28%; Hàn Quốc từ 6% đến 40%; và Mỹ từ 10% cho mức thu nhập dưới 9.325 USD, lên đến 39,6% đối với mức thu nhập từ 418.400 USD trở lên.
Chính sách thuế TNCN nhằm đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, đồng thời thúc đẩy công bằng trong phân phối thu nhập Mục tiêu chính là hạn chế tình trạng gian lận, trốn tránh thuế để tăng nguồn thu ngân sách hiệu quả Ngoài ra, chính sách này còn góp phần khuyến khích người dân nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế và thúc đẩy tiêu dùng, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững.
Theo Trúc Thanh Lê (2020), thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa và tăng trưởng kinh tế Việc điều chỉnh mức thuế phù hợp không chỉ giúp tăng thu ngân sách nhà nước mà còn kích thích người dân tiêu dùng nhiều hơn, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển bền vững Việc đẩy mạnh tiêu dùng là một trong những chiến lược quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.
1.3.3 Giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân ở người lao động
Từ năm 2007 đến nay, quy định về mức chiết trừ gia cảnh đã trải qua nhiều thay đổi theo từng giai đoạn dựa trên tổng kết, ý kiến đóng góp và kinh nghiệm quốc tế Ban đầu, mức giảm trừ là 4.000.000 VNĐ/tháng cho người nộp thuế và 1.600.000 VNĐ/tháng cho mỗi người phụ thuộc Năm 2012, mức giảm trừ được sửa đổi, nâng lên thành 9.000.000 VNĐ/tháng cho người tự ý và 3.600.000 VNĐ/tháng cho mỗi người phụ thuộc kể từ tháng hình thành nghĩa vụ nuôi dưỡng Đến năm 2020, theo Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14, mức giảm trừ đã tăng lên 11.000.000 VNĐ/tháng cho người nộp thuế và 4.400.000 VNĐ/tháng cho mỗi người phụ thuộc Khi tính thuế thu nhập cá nhân, người lao động sẽ trừ các khoản chi phí liên quan đến tạo thu nhập và các khoản giảm trừ như gia cảnh, từ thiện để xác định thu nhập chịu thuế.
Đối với giảm trừ gia cảnh, bao gồm giảm cho người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, mức giảm trừ được xác định theo nguyên tắc một người phụ thuộc mỗi năm và phải là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng Người phụ thuộc cần đăng ký và cung cấp đầy đủ chứng từ theo yêu cầu của cơ quan thuế để được giảm trừ Theo Nghị định 65/2013/NĐ-CP, các đối tượng được coi là người phụ thuộc đã mở rộng, gồm con nuôi theo quy định pháp luật, con riêng của vợ hoặc chồng, cha dượng, mẹ kế và cha mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế Mức thu nhập làm căn cứ xác định người phụ thuộc đã tăng lên so với trước, cụ thể là mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn không vượt quá 1.000.000 đồng.
Tình hình thực thi pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh
2.1.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân trong các doanh nghiệp Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân trong doanh nghiệp là các cá nhân người lao động cƣ trú và không cƣ trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
Trong năm 2022, người lao động ở TP.HCM đã thực hiện đăng ký thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật thuế TNCN và hướng dẫn của Tổng cục Thuế, với tổng số hồ sơ đăng ký là 30.924, trong đó Cục thuế tiếp nhận 15.435 hồ sơ, bao gồm 412 của tổ chức doanh nghiệp và 15.028 của người lao động, chiếm khoảng 50% tổng số đối tượng nộp thuế trong thành phố Các Chi cục thuế quận, huyện cũng tiếp nhận 15.489 hồ sơ, trong đó 3.371 của tổ chức doanh nghiệp và 12.118 của người lao động Mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch Covid-19, thu ngân sách nội địa tại TP.HCM vẫn đạt 268.824 tỷ đồng, tăng 2,7% so với dự kiến, chiếm gần 18% tổng thuế nội địa trừ dầu thô.
Kể từ năm 2007, khi thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thay thế pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2004, chính sách thuế đối với người lao động trong doanh nghiệp đã có nhiều sự thay đổi đáng kể Các đối tượng chịu thuế đã mở rộng từ việc chỉ áp dụng cho các khoản thu nhập thường xuyên như tiền lương, tiền công, phụ cấp, tiền thưởng, thu nhập từ dịch vụ khác, và các khoản thu ngoài lương không thường xuyên như chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp biếu tặng hoặc trúng xổ số, sang năm 2009 áp dụng theo 10 nhóm đối tượng chịu thuế TNCN Điều này dẫn đến số lượng cá nhân người lao động đăng ký thuế tăng lên đáng kể, phản ánh sự thay đổi trong chính sách thuế nhằm đảm bảo công bằng và quản lý tốt hơn các loại thu nhập khác nhau của người lao động.
Từ năm 2010 đến 2015, người lao động nộp thuế TNCN đăng ký thuế ấn định qua tổ chức, cá nhân đăng ký thuế và được cấp mã số thuế duy nhất, sử dụng suốt đời Theo hướng dẫn tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính, mỗi mã số thuế là duy nhất và sẽ không được cấp lại sau khi tổ chức hoạt động chấm dứt, tuy nhiên mã số này sẽ được giữ nguyên suốt đời, kể cả khi đã ngưng hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động trở lại Mã số thuế của doanh nghiệp cũng được giữ nguyên khi chuyển đổi loại hình, và đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp, mã số thuế chính là mã số doanh nghiệp Thông tư số 80/2012/TT-BTC đã hết hiệu lực từ ngày 12/08/2016, và được thay thế bằng Thông tư 105/2020/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 17/01/2021, quy định rõ về thủ tục đăng ký mã số thuế cho cá nhân người lao động Người lao động nộp thuế qua cơ quan chi trả và ủy quyền cho cơ quan đó đăng ký thuế, trong trường hợp làm việc tại nhiều cơ quan, chỉ cần đăng ký tại một cơ quan và gửi mã số thuế cho các cơ quan còn lại để kê khai, nộp thuế.
Theo Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 80/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế, quy định rõ rằng cơ quan chi trả thu nhập không được ủy quyền đăng ký thuế, được nêu tại điểm b khoản 9 Điều 7 của Thông tư 105/2020/TT-BTC.
Từ năm 2010 đến 31/12/2021, số lượng đối tượng nộp thuế TNCN chủ yếu là tổ chức, người lao động đăng ký thuế và có mã số thuế, với tổng cộng 83.204 cá nhân đăng ký thuế tính đến cuối năm 2021 Trong đó, người lao động cá nhân chiếm hơn 50% với 41.636 đối tượng đã đăng ký và được cấp mã số thuế Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, Văn phòng cục thuế đã xử lý 25.071 hồ sơ đăng ký thuế của các đối tượng nộp thuế, trong đó có 21.992 hồ sơ của người lao động là cá nhân đăng ký thuế.
2.1.2 Căn cứ tính thuế và giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân của người lao động Đối tượng người lao động chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công được thực thi ở TP Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số thuế TNCN, cụ thể qua các năm
Trong các năm từ 2015 đến 2018, số thuế thu từ thu nhập cá nhân (TNCN) liên tục tăng, phản ánh sự mở rộng của nguồn thu này đối với ngân sách nhà nước Cụ thể, năm 2015, thuế TNCN đạt 67.504 triệu đồng, chiếm 37,92% tổng thuế TNCN; năm 2016 tăng lên 96.507 triệu đồng, chiếm 36,01% Năm 2017, số thu tăng mạnh lên 162.546 triệu đồng và chiếm 43,23%, trong khi năm 2018 thuế TNCN đạt 190.322 triệu đồng, chiếm 48,80% tổng thuế thu nhập cá nhân Những con số này cho thấy xu hướng tăng trưởng ổn định của nguồn thu từ thuế TNCN trong giai đoạn này.
Trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đều chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số thu ngân sách nhà nước, đặc biệt là tại cấp thành phố Cụ thể, năm 2019, tổng thu TNCN đạt 205.840 triệu đồng, trong đó Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân thu 188.544 triệu đồng (chiếm 91,59%), còn cấp quận, huyện thu 17.296 triệu đồng (chiếm 8,40%) Năm 2020, tổng thu đạt 147.470 triệu đồng, với Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân thu 134.632 triệu đồng (chiếm 91,29%) và cấp quận, huyện thu 12.838 triệu đồng (chiếm 8,70%) Đến năm 2021, tổng thu TNCN là 154.818 triệu đồng, trong đó Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ lệ lớn tới 91,77% với 142.087 triệu đồng, còn cấp quận, huyện thu 12.731 triệu đồng (chiếm 8,20%) Điều này cho thấy người lao động chịu thuế TNCN chủ yếu đều được thu tại cấp thành phố, phản ánh vai trò quan trọng của khu vực này trong công tác thu thuế TNCN.
Trương Bá Tuấn (2017) đánh giá về những cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu tái cấu trúc ngân sách nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả thu ngân sách và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Tỷ lệ người lao động chịu thuế TNCN từ tiền lương tại TP Hồ Chí Minh có xu hướng biến động mạnh theo thực tế, đặc biệt trong giai đoạn năm 2020 và 2021 khi ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 gây giảm đáng kể thu nhập của người lao động, dẫn đến tỷ lệ chịu thuế TNCN giảm hơn 10% so với các năm trước.
Trong giai đoạn từ 2020 đến 2021, thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đã giảm thêm gần 6,5%, phản ánh rõ tác động của tình hình kinh tế và các yếu tố môi trường xung quanh đến thu nhập của người lao động.
Từ năm 2007 đến 2013, chính sách thuế thu nhập cá nhân đã trải qua nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm thích nghi với biến động của thị trường Trong giai đoạn hơn 3 năm này, giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng cao khiến đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn Những điều chỉnh về luật thuế thu nhập cá nhân đã tác động trực tiếp đến thu nhập của người lao động, gây ảnh hưởng đến mức sống hàng ngày của họ.
Năm 2012, mức giảm trừ gia cảnh đã được điều chỉnh tăng lên 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm) cho người lao động nộp thuế, với mỗi người phụ thuộc được hưởng giảm trừ 3,6 triệu đồng/tháng Từ năm 2020 đến nay, mức giảm trừ gia cảnh tiếp tục được điều chỉnh tăng lên 11 triệu đồng/tháng, nhằm giảm gánh nặng thuế thu nhập cá nhân cho người lao động.
(132 triệu đồng/năm), mức giảm trừ đối với người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng trên
Trong hơn một tháng, các chính sách hỗ trợ đã giúp người lao động giảm bớt khó khăn phần nào, nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập trước thực tế tăng giá và lạm phát kéo dài Mức giảm trừ hiện tại đã trở nên lạc hậu so với tình hình kinh tế mới, đòi hỏi cập nhật để phù hợp hơn với diễn biến thực tế.
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh và nguyên nhân
- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động nộp thuế
Tổ chức công tác truyền thông pháp luật thuế TNCN cho đối tượng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả thi hành pháp luật Từ năm 2018 đến 2021, ngành thuế TP.Hồ Chí Minh phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình TP.Hồ Chí Minh, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, như hơn 400 buổi chuyên đề thuế qua đài phát thanh và truyền hình, cùng 5.464 lượt tin phát trên đài truyền thanh quận, huyện Trang thông tin điện tử của cục thuế thường xuyên đăng tải hướng dẫn về thuế, công bố các văn bản giải đáp vướng mắc doanh nghiệp và phản hồi của cục thuế, tổng cộng 1.342 tin, bài, hình ảnh Ngoài ra, ngành thuế tổ chức 73 lớp tập huấn thu hút hơn 13.900 lượt người tham gia gồm doanh nghiệp, cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức về các nội dung quản lý thuế, quyết toán TNCN và khai thuế qua các ứng dụng mới Hoạt động tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế, hướng dẫn chính sách, chế độ liên quan đến thuế và giải đáp thắc mắc cho hơn 39.500 tổ chức, cá nhân đóng thuế góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm tuân thủ pháp luật thuế của cộng đồng lao động.
- Về cơ cấu tổ chức, cán bộ thuộc ngành thuế TP.HCM
Dựa theo Thông tư số 38/TC/TCCB do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 25/8/1990, ngành thuế được thành lập theo hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện, thị xã, thành phố Tại cấp tỉnh, cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế được thành lập dưới sự lãnh đạo đồng thời của UBND tỉnh Ở cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chi cục thuế được thành lập và chịu sự lãnh đạo chồng chéo của UBND cùng cấp Các Chi cục thuế thành lập các tổ tại Chi cục và các Đội thuế tại xã, phường, thị trấn để quản lý hoạt động thuế Cục thuế và Chi cục thuế là tổ chức thuộc bộ máy hành chính nhà nước, có tư cách pháp nhân công quyền, con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước Các tổ chức này có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Thông tư số 38/TC/TCCB ngày 25/8/1990 của Bộ trưởng.
Cục thuế Nhà nước là cơ quan chuyên môn trực thuộc Tổng cục thuế, đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế theo đúng luật pháp và các chỉ dẫn của Bộ Tài chính cùng cấp Các hoạt động của Cục thuế bao gồm tuyên truyền chính sách thuế cho các đối tượng nộp thuế, lập kế hoạch thu ngân sách, phối hợp với Bộ Tài chính trong phân bổ ngân sách, tổ chức thu và đôn đốc người nộp thuế nộp đúng hạn, xử lý các vi phạm thuế, kiểm tra sổ sách kế toán và chứng từ liên quan, đồng thời đề xuất miễn giảm thuế theo quy định Cục thuế còn tham gia xét duyệt đăng ký kinh doanh, quản lý hồ sơ đăng ký nộp thuế, tổ chức công tác kế toán và thống kê số liệu thuế, báo cáo kết quả cho các cơ quan cấp trên, đồng thời quản lý biên chế, tài chính và đào tạo cán bộ Nhiệm vụ của Chi cục thuế gồm xây dựng kế hoạch thu, quản lý hồ sơ người nộp thuế, thực hiện các biện pháp thu, tính và lập số thuế, đẩy nhanh tiến độ nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước, đề xuất giảm, miễn thuế và kiểm tra gian lận trong kê khai, xử lý các khiếu nại, cùng với công tác kiểm tra, chống gian lận, và thực hành các chế độ thống kê, kế toán, báo cáo theo quy định để đảm bảo công tác thu ngân sách đạt hiệu quả cao.
Con người đóng vai trò quyết định thành công hay thất bại trong việc thực thi pháp luật thuế, vì chính họ là yếu tố trung tâm đảm bảo sự minh bạch và hiệu quả của hệ thống thuế Bác Hồ đã nhấn mạnh rằng "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong việc thực hiện các chính sách thuế một cách chính xác, công bằng và bền vững Do đó, nâng cao năng lực và đạo đức của cán bộ thuế là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả thu ngân sách và sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.
Trong việc xây dựng hệ thống chính sách thuế, nguồn lực cán bộ, công chức thuế đóng vai trò then chốt quyết định thành bại “Có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối đúng đắn,” góp phần xây dựng chính sách thuế phù hợp và tiến bộ Ngược lại, nếu thiếu cán bộ trình độ, dù chính sách đúng cũng khó đạt được thành công Đội ngũ công chức thuế là lực lượng chủ đạo trong quá trình phát triển hệ thống thuế, luôn nỗ lực vận dụng linh hoạt các quy định để thúc đẩy hiệu quả pháp luật thuế.
Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 38 TC/TCCB vào năm 1990 để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 281/HĐBT ngày 07/8/1990 của Hội Đồng Bộ Trưởng về việc thành lập hệ thống thu thuế nhà nước trực thuộc Bộ Tài Chính Văn bản này được ban hành ngày 25/8/1990 nhằm đảm bảo thực thi đúng các quy định về hệ thống thu thuế nhà nước.
Cán bộ thuế đóng vai trò quyết định trong thành công chung của ngành thuế TP.Hồ Chí Minh, với đội ngũ ngày càng trưởng thành qua các giai đoạn phát triển Trong bối cảnh TP.Hồ Chí Minh chuyển đổi nhanh chóng từ hình thức trực tiếp sang trực tuyến nhờ công nghệ số, quản lý thuế TNCN của người lao động trở nên phức tạp hơn do đa dạng thành phần kinh tế, quy mô doanh nghiệp lớn và toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với đặc thù kinh tế quốc gia đồng thời linh hoạt để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế là tiêu chí hàng đầu nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế Cục thuế TP.Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1975, ban đầu là Phòng thu Quốc doanh thuộc Sở Tài chính, sau đó phát triển thành 9 phòng và 22 Chi cục thuế, với tổng số cán bộ ngành đạt gần 700 người vào năm 1995, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế địa phương.
- Về cơ sở vật chất của Ngành thuế TP Hồ Chí Minh
Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế, bao gồm cả quản lý thuế TNCN, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành pháp luật về thuế Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã đầu tư vốn để xây dựng trụ sở mới cho cục thuế TP.HCM với diện tích 5.700 m2, cùng với 4 chi cục thuế sở hữu các trụ sở mới tổng cộng 7.200 m2 (bao gồm Chi cục thuế quận Bình Thạnh 1.500 m2, Chi cục thuế quận Phú Nhuận 1.500 m2, Chi cục thuế quận 7 - huyện Nhà Bè 1.700 m2, Chi cục thuế huyện Cần Giờ 2.500 m2) Ngoài ra, các cơ quan này được trang bị 04 xe ô tô cho cục thuế, 07 xe ô tô cho 07 chi cục thuế, cùng với việc trang bị mỗi cán bộ công chức một máy tính để bàn nhằm phục vụ công tác Hàng năm, tổng cục có bổ sung các thiết bị máy móc đã hư hỏng hoặc hết hạn sử dụng để duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống thuế.
Chi cục thuế được trang bị tối thiểu hai máy photocopy và một máy phát điện dự phòng có công suất từ 80Kw đến 110Kw để đảm bảo hoạt động ổn định trong quá trình làm việc Việc cung cấp thiết bị hỗ trợ này nhằm nâng cao hiệu quả công tác và đảm bảo liên tục hoạt động của đơn vị thuế Các thiết bị này giúp Chi cục thuế duy trì dịch vụ liên tục, đáp ứng kịp thời các yêu cầu công việc và tăng cường năng lực hoạt động.
- Phát động thi đua thực hiện pháp luật thuế TNCN
Ngay từ những ngày đầu năm, ngành thuế đã tích cực phát động phong trào thi đua khen thưởng nhằm thúc đẩy tinh thần làm việc của cán bộ Các đợt thi đua đều nhận được sự quan tâm và khen thưởng kịp thời từ cấp trên, giúp nâng cao động lực và ý thức trách nhiệm của ngành thuế Những hoạt động này đã góp phần thúc đẩy việc thực thi pháp luật thuế TNCN tại TP Hồ Chí Minh một cách hiệu quả và tích cực hơn.
Trong chương 2, tác giả tập trung phân tích và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam, gồm các chính sách về đối tượng chịu thuế, mức thuế, giảm trừ gia cảnh, và các quy định về đăng ký, kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán và hoàn thuế; đồng thời, đề cập đến các quy trình thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế TNCN tại TP Hồ Chí Minh Tác giả cũng nêu rõ các ưu điểm và tình hình thực tế về thuế TNCN với người lao động, từ đó làm cơ sở để xác định những bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TNCN nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong các doanh nghiệp.