1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm thạch học - thạch địa hóa granitoit khối bà đội - an giang và khoáng hóa liên quan 07

13 387 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm thạch học - thạch địa hóa granitoit khối bà đội - an giang và khoáng hóa liên quan 07
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Địa chất
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1990
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 532,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm thạch học - thạch địa hóa granitoit khối bà đội - an giang và khoáng hóa liên quan

Trang 1

15 CHUONG III

DAC DIEM DIA CHAT KHOANG SAN KHU VUC

Đến nay, theo các kết quả nghiên cứu của các công trình đo vẽ bản đồ địa

chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1/500.000, 1/200.000 và 1/50.000, trên diện tích nghiên cứu, khu vực khối Bà Đội có các thành tạo địa chất sau (Bản vẽ số 2) :

A ĐỊA TẦNG PALEOZOI MUỘN

Trias thượng Hệ tầng Dầu Tiếng (T;dt)

_ Hệ tầng do Phan Doãn Thích và nnk thành lập 1985 với mặt cắt chính được đo vẽ ở vùng núi Ông, Dầu Tiếng (Tây Ninh)

Trên diện tích nghiên cứu, các đá xếp vào hệ tầng Dầu Tiếng lộ ở đồi 41 (phum Cà Lanh : Nam khối Bà Đội) với diện tích nhỏ, kéo dài theo phương Tây

Bắc - Đông Nam Thành phần của hệ tầng trong khu vực gồm có:

- Tập I : cát kết hạt mịn dạng quarzit, bột kết, phiến sét

- Tập 2 : cuội-sạn kết, cát kết màu xám sáng phân lớp dày, xiên chéo Thành phần cuội sạn chủ yếu là thạch anh, ít silic

Đá bị biến đổi sừng hóa, biến chất dạng sẩn đốm do ảnh hưởng của khối

xâm nhập thuộc pha 2 phức hệ Đèo Cả (ðKđc›) và phức hệ Định Quán (yð1; đq;) nằm cạnh kể ở phía Bắc xuyên qua Bề dày thấy được khoảng 25 - 30m Đá có thế nằm thoải 5 - 10”cắm về Tây Nam Bề dày hệ tầng khoảng 130 - 150m Chưa thấy được quan hệ của hệ tầng với các hệ tầng khác, chỉ thấy bị phủ bởi các trầm

tích Đệ Tứ

Tạm xếp hệ tầng vào Trias thượng trên cơ sở liên hệ với các trầm tích tương tự ở vùng Tri Tôn Bảy Núi (Nam Quy, Ta Pả) Ngoài ra còn gặp chúng ở

Trang 2

(9661

VyI309

JÁtqđOuE1811081Đ)

E1

ƒI 30

22.00, SOP

_—

126.00 9 SOL

[Jee

SK

00 9 S01

100, SOF

BILLEg

Trang 3

17

ven bờ biển Đông Nam Hòn Nghệ Tại vùng Bảy Núi cho thấy các trầm tích của

hệ tầng bị phủ không chỉnh hợp bởi anđesit của hệ tầng Đèo Bảo Lộc và bị granitoit phức hệ Định Quán xuyên qua Ở Hòn Nghệ, các trầm tích lục địa màu

đỏ của hệ tầng bị các đá tuf, đăm kết ryodacit của hệ tầng Nha Trang phủ không chỉnh hợp lên trên Mặt khác, hệ tầng thường có thế nằm thoải nên được xem là thành tạo sau uốn nếp chính vào đầu Trias muộn và được tạm xếp vào Trias thượng, tương đồng với Loạt Gagau ở bán đảo Malaysia hoặc Huahinlat ở Bắc Thái Lan

ĐỆ TỨ

Pleistocen thượng (QI) Hệ tầng Long Mỹ, trầm tích biển (mQJqjlm) (Nguyễn Ngọc Hoa và nnk, 1990)

Trên diện tích nghiên cứu, các thành tạo Pleistocen thượng phân bố khá rộng rãi với phần xuất lộ trên mặt dạng thểm biển viển quanh các khối núi sót ở

Bà Đội, Núi Cấm - Vồ Thiên Tuế - Tn Tôn Trên cơ sở các đặc điểm thạch học,

cổ sinh, địa mạo các thành hệ Pleistocen thượng này có kiểu nguồn gốc biển ứng với hệ tầng Long Mỹ

Hệ tầng được xác lập trên cơ sở mặt cắt chi tiết nghiên cứu trong lỗ khoan

211 nằm tại thị trấn Long Mỹ tỉnh Cần Thơ (23 - 52 m) Ở khu vực viển quanh các khối đá sót granitoit vùng Tịnh Biên - Tri Tôn nói chung và núi Bà Đội nói riêng, hệ tầng này có kiểu mặt cắt trầm tích bờ biển cổ : tổn tại dưới dạng dải thểm hẹp (ngang 1 -2 km) ở độ cao 10 —15 m Thành phần trầm tích chủ yếu là cát hạt thô, lựa chọn kém (do nguồn cấp tại chỗ) lẫn ít bột sét và các tầng lăn đá gốc Trầm tích màu xám sáng, gắn kết khá vững chắc Bề dày thay đổi từ 3 - 4m đến hàng chục mét

Về cơ sở định tuổi, ngoài các yếu tố địa mạo, quan hệ địa chất, cổ sinh, hệ tầng này ở đảo Phú Quốc có một giá trị tuổi tuyệt đối C'” phân tích từ thân cây

hóa than ở độ sâu 2,5 m có tuổi 36.984 + 15 năm

Ở ranh giới dưới các trầm tích này phủ không chỉnh hợp lên bể mặt bào

mòn của các trầm tích Pleistocen giữa-muộn (tương ứng hệ tầng Long Toàn ở LK

9 Long Xuyên, 806 Thị xã Rạch Giá từ độ sâu 40 m trở xuống ) Phía trên chúng

bị các trầm tích Holocen phủ bất chỉnh hợp lên.

Trang 4

Holocem

Trong Holocen, trên diện tích nghiên cứu, phổ biến các trầm tích có nguồn gốc khác nhau Những dấu hiệu về một đợt biển tiến vào thời kỳ này hiện nay vẫn

còn nhận biết được bằng dấu vết bờ biển cổ phân bố ở vùng Tịnh Biên - Tri Tôn,

các ám tiêu vỏ sò ở Trung Bình, núi Chóc và các hóa thạch Foraminifera trong

các trầm tích sét, cát phân bố ở độ sâu 2 - 3 m trở xuống Lộ trên mặt có các đơn

vị trầm tích sau :

Holocen trung Hệ tẳng Hậu Giang, trầm tích biển (mQrv2hg)

Lộ trên mặt dạng bậc thểm biển phân bố kéo dài thành đải phương kinh tuyến ở rìa các khối núi granitoit ở vùng Trị Tôn - Tịnh Biên Riêng trong điện tích nghiên cứu hệ tầng hiện diện ở phía Đông núi Bà Đội Ngoài ra chúng bị

chôn vùi dưới các trầm tích trẻ hơn ở độ sâu 1,5 - 4,0 m Bậc địa hình 3 ~ 4 m

Thành phan chính là cát thạch anh (ở các thêm), bột, sét bột, sét (trong các

lớp bị chôn vùi ở độ sâu 1 - 2 m trở xuống) và tùy từng nới chúng có lẫn ít sạn sồi

hoặc xác mùn thực vật và vỏ sò điệp Trong các lỗ khoan thường phát biện trong

hệ tầng có chứa Foraminifera và tảo mặn Bề dày trầm tích thay đổi từ 1 vài mét đến 3 — 4m

Về cơ sở định tuổi, liên hệ các trầm tích cùng hệ tầng ở các vùng khác cho thấy : Ngoài các tập hợp Foraminifera gặp khá phổ biến trong các lỗ khoan, còn

có một loạt giá trị tuổi tuyệt đối CÌ” lấy ở các vị trí địa tầng khác nhau Loạt thứ

nhất ở độ sâu 22m (nằm ngay trên mặt bào mòn của các trầm tích Pleistocen thương) lấy từ thân cây hóa than, trong lỗ khoan 206 Thạnh Hưng Đồng Tháp cho giá trị 8.200 + 100 năm, trong lễ khoan 204 Cần Đăng, Châu Thành An Giang cho

giá trị 7.050 + 110 năm Trong khi đó các kết quả lấy từ vỏ sò ở Trung Bình ở độ

sâu 0,5 m cho giá trị 5.550 + 8Ô năm Tại kinh Phước Xuyên: độ sâu Ó,5 - 10m

cho giá trị 5.993 + 150 năm Các ám tiêu vỏ sò ở khu vực Ba Thê - Núi Sập cho

giá trị tuổi C!” từ 5.570 + 120 năm 5.680 + 120 nam

Holocen trung-thượng, phần trên.Trầm tích song - dam tay (abQrv232).

Trang 5

19

Các trầm tích Holocen trung - thượng phần trên trong diện tích nghiên cứu

được chia vào kiểu nguồn gốc sông - đầm lay Chúng phân bố dạng dải hẹp kéo dài theo phương kinh tuyến, phân bố ở phía Đông các trầm tích hệ tầng Long Mỹ

Bé mặt hơi trũng thấp, trên đó phát triển các lòng sông cổ

Thành phần trầm tích có bột, sét, mùn thực vật, than bùn, ít thân cây phân

hủy kém Liên quan với loại trầm tích này có khoáng sản than bùn trong các lòng sông cổ phiá Đông phạm vi nghiên cứu (Núi Tô, Cầu Sắt ) Than ở đây có chất lượng tốt

Qua các giá trị tuổi tuyệt đối C” lấy từ than bùn ở Cầu Sắt cho 6.000 năm (

ở độ sâu 4 - 6 m) và tại Cóc Lô Vê (phía Nam núi Cô Tô) cho tuổi là 2.120 + 60 năm (ở độ sâu 2,8 - 4 m) cho thấy trầm tích này bắt đầu được hình thành vào Q¡v'

và kéo dài liên tục cho tới Quy’

Bề dày trầm tích không ổn định, thay đổi l - 5 m, cá biệt trong lòng sông

cổ đạt đến 6 - 7 m

HE DE TU KHONG PHAN CHIA : Deluvi (dQ)

Các trầm tích Hệ Đệ Tứ không phân chia chiếm diện tích không lớn, phân

bố viền quanh các khối núi sót : núi Cấm - Vồ Thiên Tuế, Bà Đội ; ở độ cao 20 —

30 m, phủ trực tiếp trên nền đá gốc

Thành phần gồm có : Khối tẳng lăn, cát, dăm, cuội lẫn sét Thành phần

cuội, sạn,.là granodiorit, granit với kích thước khác nhau: đôi khi đến vài chục

mỶ Trên bể mặt này, trước đây thường là cây dại mọc thưa, hiện nay phần lớn đã

được cải tạo thành vườn cây ăn trái của nhân dân như : xoài, dừa, chuối, mít,

hoặc một vài nơi trồng cây bạch đàn

B ĐÁ XÂM NHẬP

Trên diện tích nghiên cứu, các thành tạo xâm nhập phổ biến granitoit của

cua vung Bay Nui

Riêng phức hệ Định Quán, thì theo công trình khảo sát đo vẽ địa chất tỷ lệ 1/200.000 (Hoang Ngoc Ky, 1980 - 1989 va Nguyễn Ngoc Hoa, 1989 - 1991)

Trang 6

phức hệ này không có mặt trong phạm vi diện tích nghiên cứu và toàn bộ các

granitoit thuộc khối Bà Đội được xác định là các đá xâm nhập thuộc pha 2 của

phức hệ Đèo Cả Mặt khác, trong công trình thăm dò đá xây dựng mỏ khối Bà

Đội (Võ Văn Vấn và Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên, 1998) thì một phần diện tích

các granitoit thuộc sườn Đông Nam khối Bà Đội được xếp vào pha 1 của phức hệ Đèo Cả

Tuy nhiên, từ các nghiên cứu về thạch học, khoáng vật, thạch địa hóa trong

báo cáo này cho phép phân chia các granitoit thuộc khối Bà Đội thành 2 phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả

Xâm nhập Jura muộn Phức hệ Dinh Quan (-yðJ2đq)

Phức hệ Định Quán được Huỳnh Trung, Nguyễn Xuân Bao xác lập năm

1979

Các đá xâm nhập granitoit trong phạm vi diện tích nghiên cứu được xếp

vào phức hệ Dinh Quán chỉ lộ ra với một diện tích nhỏ chừng 0,2 km” ở phần rìa chân sườn phía Nam - Đông Nam khối Bà Đội Granitoit của phức hệ bị kiểm hóa khá mạnh mẽ ở ranh giới tiếp xúc bởi các thành tạo granitoit của phức hệ Đèo Cả

ở phần Đông Nam của khối Bà Đội Dựa vào các đặc điểm thạch học, khoáng vật,

thạch địa hóa, đá xâm nhập này được xếp vào pha 2 của phức hệ

Pha 2 (yõJ;đq;) : có thành phần là granodiorit biotit horblend hạt vừa (lớn),

granit biotit horblend hạt nhỏ, đôi khi có dạng porphyr yếu màu xám kha sam

màu

Thành phần khoáng vật : plagioclas (30 - 50%), orthoclas (18 - 25%), thạch

anh (16 - 25%), biotit (5 - 10%), horblend (4 - 10%), Pyroxen (2 - 5%) Khoáng vật phụ có : apatit, zircon, sphen, quặng không thấu quang Trong mẫu giả đãi có inmenit, manhetit, pyrit, apaut, ziricon

Quá trình biến đổi thường gặp là felspat kali hóa dưới tác dụng của xâm

nhập thuộc phức hệ Đèo Cả

Tuổi xâm nhập của phức hệ được giả định là Jura muộn dựa trên cơ sở so

sánh chúng với các xâm nhập của phức hệ Định Quán ở các khu vực lân cận thuộc

Trang 7

21

I

đới Đà Lạt Tuy nhiên, ở khu vực phiá Tây Bắc Tri Tôn và ở mỏm Đông Bắc Hòn

Đất (trong lỗ khoan) cho thấy các xâm nhập thuộc phức hệ xuyên qua các trầm

tích lục địa của hệ tầng Dầu Tiếng và các đá phun trào andesit thuộc hệ tầng Đèo Bảo Lộc Một mẫu đơn khoáng theo biotit trong granodiorit lấy tại Hòn Đất cho

giá trị tuổi tuyệt đối 153 + 4 triệu năm

Xâm nhập Creta Phức hệ Đèo Cả (yõ-yš-yKđc)

Phức hệ Đèo Cả được Huỳnh Trung, Nguyễn Xuân Bao xác lập năm 1979 Trong diện tích nghiên cứu, các thành tạo xâm nhập của phức hệ Đèo Cả lộ ra khá phổ biến dưới dạng các khối nhỏ như khối Bà Đội hoặc lớn như núi Cấm Các thành tạo xâm nhập của Phức hệ Đèo Cả xuyên cắt và gây kiểm hóa các granitoit

pha 2 của phức hệ Định Quán ở phần Đông Nam khối Bà Đội Chúng bị phủ bởi các trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ

Phức hệ này được chia ra làm 3 pha xâm nhập và pha đá mạch, nhưng hiện diện trong phạm vi nghiên cứu chỉ có pha 1, pha 2 và pha đá mạch (theo các tài

liệu đã công bố) :

Pha 1 (6Kđc¡) gồm monzođiorit thạch anh hạt trung màu xám sáng với

diện lộ nhỏ, ở sườn Đông Nam Núi Cấm

Pha 2 (y-y&Kde) : có thành phần là granit, granosyenit biotit hạt vừa, hạt nhỏ-vừa, đôi khi có dạng porphyr yếu màu hồng Chúng phân bố chủ yếu ở khu

vực Núi Cấm, khối Bà Đội

Pha đá mạch gồm có granit aplit, granit porphyr dày từ vài cm đến 10 m

và các ổ, mạch pegmatit kích thước nhỏ từ vài cm đến một vài mét phân bố rải rác

ở khu vực khối Bà Đội

Thành phần khoáng vật của các đá pha 1 gồm : plagioclas (20 - 25%),

felspat kali (60 - 65%), thạch anh (6 - 8%), biotit (3%) Các đá pha 2 có thành phần : plagioclas (15 - 25%), felspat kali (40 - 55%), thach anh (20 - 38%), biotit

(2 - 8%) Trong thành phần khoáng vật phụ có apatit, epiđot, magnetit

Về thạch hóa : các đá pha 2 và pha 3 đều có hàm lượng silic cao : SiO, =

68 -75%, Q = 26 - 34 với tổng kiểm : Na,O + K,O =8 ,3 - 9,3% ; a = 14 -15.

Trang 8

Các đá đều rơi vào trường : granit - granit á kiểm với kali trội hơn naưi

thuộc đãy thạch hóa bình thường tới thừa nhôm Độ khoáng vật màu thấp hơn và

giảm đi rõ rệt từ pha đầu đến pha cuối

Các nguyên tố vi lượng : Cu, Sn, Ni đều lớn hơn Clark ; Pb xấp xỉ Clark ;

Sr, Be, Y, Yb gặp ở hầu hết các mẫu với hàm lượng thấp Các biến đổi phát triển

mạnh mẽ là quá trình kiểm hóa (felspat kali hóa)

Tuổi của phức hệ được xác định là Creta dựa vào mối quan hệ xuyên cắt

của các đá thuộc phức hệ này qua các phun trào andesit thuộc hệ tầng Đèo Bảo

Lộc và các xầm nhập của phức hệ Định Quán (có tuổi lura muộn), phù hợp với 3 giá trị mối tuyệt đối : 78 + 4, 97 + 2 và 100 + 2 triệu năm của 3 mẫu đơn khoáng

theo felspat - biotit vA amphibol trong granit biotit (J.17673, 1.16471) của khối Thi

Tôn nằm về phía Nam - Tây Nam diện tích nghiên cứu

Cc KIEN TAO - LICH SU PHAT TRIEN KIEN TAO

1 Vị trí kiến tạo

Khi xét đến các yếu tố kiến tạo, thì trong phạm vi diện tích nghiên cứu không thể tách rời các bối cảnh kiến tạo xảy ra chung cho đồng bằng sông Cửu

Long và nếu như vậy sẽ không thể lý giải một cách rõ ràng về lịch sử địa chất hình thành phạm vị đang nghiên cứu,

Những nghiên cứu về thạch học cũng như về địa tầng cho thấy các ram

tích lục nguyên có tuổi cổ nhất là Devon - Carbon hạ của hệ tầng Hòn Chông Nhiều nhà nghiên cứu địa chất, kiến tạo cho rằng vùng Hà Tiên - Phú Quốc -

Long Xuyên và các quần đảo ở vịnh Thái Lan năm trong miễn vỏ lục địa được hình thành trong Paleozoi muộn - Mesozoi sớm do việc khép lại nhánh phiá Nam

của biển Paleotethvs Trong các văn liệu nước ngoài, miễn vỏ lục địa này còn

được gọi là đai địa máng uốn nếp Hercyni muộn Tham gia vào cầu trúc nay trong

phạm vị lãnh thổ Việt Nam có đới Mường Tè ở Tây Bắc bộ và đới Hà Tiên

Vào giai đoạn Kainozoi vùng này tham gia vào gờ nâng Khorat - Natuna

phan cach 2 bến trũng Cửu Long và vịnh Thái Lan

Trang 9

23

Kết quả những nghiên cứu về địa tầng cho thấy các đá của hệ tầng Hòn

Heo (D;.; hh), Chùa Hang (D; - C¡ch), Hà Tiên (P ht), Hòn Đước (Pa - T¡hđ), Núi

Cọp (T; anc), Minh Hòa (T; amh), Hòn Nghệ (T; lhn), Tà Pa (T; - J,tp), đều bị

uốn nếp theo phương kéo dài ĐB - TN Hơn nữa các trầm tích lục nguyên hệ tầng

Hòn Heo, lục nguyên carbonat hệ tầng Chùa Hang, carbonat hệ tầng Hà Tiên, thành hệ đá phiến silic và phun trào trung tính andesit - dacit hệ tầng Hòn Đước,

lục nguyên phun trào hệ tầng Núi Cọp, lục nguyên carbonat hệ tầng Minh Hòa,

Hòn Nghệ, lục nguyên hạt thô hệ tầng Tà Pa đều thuộc các tổ hợp kiến tạo kiểu

rìa lục địa thụ động, cung đảo hoặc rìa lục địa tích cực (Trương Công Đượng và nnk., 1998)

Tất cả những yếu tố nêu trên thể hiện vùng Hà Tiên - Phú Quốc - Long

Xuyên là một phần của lục địa mới Paleozoi muộn - Mesozoi sớm Vào Mesozoi muộn vùng Long Xuyên bị lôi cuốn vào một đới rìa lục địa tích cực kiểu Andes

2 Cấu trúc sâu

Theo tài liệu địa vật lý trọng lực độ sâu bể mat Moho vùng Châu Đốc -

Rạch Giá là 32,5 km, qua vùng Hà Tiên - Minh Hòa là 35 km Như vậy bề mặt Moho c6 hướng sâu dần từ Đông sang Tây của vùng Long Xuyên Độ sâu bề mặt Conrad ở vùng Hà Tiên - Hòn Chông là 12 km, ở vùng Trị Tôn - Tịnh Biên là L4

km, cho thấy bề mặt Conrad sâu dần từ Tây sang Đông

Tịnh Biên - Hòn Tre là 3 km Bề mặt móng kết tỉnh khá nông và có xu hướng nâng dần về phiá Tây để đến khu vực Pursat (Campuchia) gần như bằng không Điều đó chứng tỏ nếu trừ bề dày trầm tích Kainozoi thì lớp phủ trầm tích Paleozoi

- Mesozoi khá mỏng không vượt quá 4km Cũng theo tài liệu địa vật lý trọng lực

thì mặt móng Kainozoi vùng nghiên cứu không quá 200m Chúng tạo nên những

và từ (Bùi Công Quế, 1982) đã cho phép phát hiện nhiều đứt gãy khu vực nằm

tích trẻ dày tới 2 - 3km

3 Các tập hợp thạch-kiến tạo :

Trang 10

Ngoài các tập hợp thạch - kiến tạo trong toàn bộ vùng Long Xuyên, Hà

Tiên - Phú Quốc có tuổi cổ nhất Devon - Carbon hạ của hệ tầng Hòn Chông và có

tuổi Permi của hệ tầng Hà Tiên, thì trong pham vì diện tích nghiên cứu có sự hiện

điện của các tập hợp sau :

- Trias thượng : gồm các trầm tích vụn molas lục địa (hệ tầng DầuTiếng)

có thế nằm rất thoải, được hình thành trong các nếp oằn rìa mảng trong pha tạo

núi Inđosim

- Jura thượng - Creta : gồm các xâm nhập granitoid kiểm - vôi (phức hệ 'Định Quán, phức hệ Đèo Cả), đặc trưng cho ria lục địa tích cực kiểu Andes

- Kainozoi : gồm các trầm tích vụn tướng châu thổ hoặc biển ven bờ, hình

thành trong trũng tách dẫn giữa các vòm nắng tân kiến tạo

4 Khối địa chất

Dựa vào bề sâu móng kết tỉnh và qui luật phân bố của các thành tạo trầm tích và magma, phạm vi nghiên cứu thuộc khối Ba Thê - Núi Sập (N guyén Xuan

Bao và nnk., 1994) với lớp phú trầm tích Kainozoi mỏng (100 - 300m) Cấu tạo

nên móng trước Kainozoi là các thành tạo Paleozoi trung - thượng có bề dày trên

4 km Bià phiá Tây của khối lộ ra nhiều diện tích các đá xâm nhập - phun trào

thuộc cấu trúc rìa lục địa tích cực kiểu Andes trong Mesozoi muộn

5, Đứt gãy

Những đứt gãy có ảnh hưởng đến phạm vị nghiên cứu như:

- Đứt gãy phương kinh tuyến Hòn Khoai-Hòn Tre kéo dài từ Hòn Khoai

tương đối thẳng đứng với các cánh trượt ngang - trái thuận

- Đứt gãy TB - ĐN là đứt gấy sông Hậu được thể hiện rõ bằng dị thường

đứt gãy vào thời kỳ này với sự sụt lún kiểu graben của đới Chợ Mới - Vĩnh Long

2

Ngày đăng: 28/01/2013, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w