1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tầm quan trọng của người lao động trong sản xuất. Các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động

24 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tầm Quan Trọng Của Người Lao Động Trong Sản Xuất. Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Lao Động
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn - ĐHQG Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Nguồn Nhân Lực
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 37,74 KB
File đính kèm Vai trò của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế.zip (34 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lực lượng sản xuất có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất xã hội cũng như quá trình phát triển của lịch sự loài người. Phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề được coi trọng và đề cao trong mọi thời kỳ phát triển của xã hội. Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất để tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao. Khi công cụ lao động đạt đến trình độ tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng. Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Nói đúng hơn thì yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người. Việc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất, đồng thời tìm ra các biện pháp nâng cao nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay đóng vai trò rất quan trọng, góp phần xây dựng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, cùng với đó là sự phát triển của nền kinh tế, của đất nước. Do đó, em lựa chọn đề tài số 4: Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho bài thu hoạch.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tính thời sự của đề tài 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

PHẦN NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN 3

1 Khái niệm về lực lượng sản xuất 3

2 Kết cấu lực lượng sản xuất 3

3 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM 6

1 Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 6

2 Thực trạng nguồn nhân lực trong ngành Y 9

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 13

1 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 13

2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Y ở Việt Nam hiện nay 16

PHẦN KẾT LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lực lượng sản xuất có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất xãhội cũng như quá trình phát triển của lịch sự loài người Phát triển lực lượng sảnxuất là vấn đề được coi trọng và đề cao trong mọi thời kỳ phát triển của xã hội.Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động đểtạo ra của cải vật chất để tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năngsuất lao động cao Khi công cụ lao động đạt đến trình độ tự động hoá thì vai tròcủa nó lại càng quan trọng Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đotrình độ chinh phục tự nhiên của con người Nói đúng hơn thì yếu tố quan trọngnhất trong lực lượng sản xuất chính là con người

Việc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của người lao động trong lực lượngsản xuất, đồng thời tìm ra các biện pháp nâng cao nguồn nhân lực ở Việt Namhiện nay đóng vai trò rất quan trọng, góp phần xây dựng phát triển nguồn nhânlực Việt Nam, cùng với đó là sự phát triển của nền kinh tế, của đất nước Do đó,

em lựa chọn đề tài số 4: Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất

và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho bài thu hoạch

2 Tính thời sự của đề tài

Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai tròquyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong bốicảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Đảng vàNhà nước ta càng đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay

Tuy nhiên, hiện nay nguồn nhân lực nước ta còn chưa đạt đến trình độcao, không theo kịp sự thay đổi tiến bộ của nền kinh tế, phát sinh 1 số hạn chếlàm cản trở quá trình phát triển của đất nước Do đó, cần thiết phải khắc phục,

Trang 3

nâng cao trình độ của nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống nguồn nhân lực chấtlượng cao, đáp ứng kịp xu hướng phát triển của xã hội

3 Mục tiêu nghiên cứu

Bài đi sâu nghiên cứu vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất.Đồng thời chỉ ra thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay, đưa ra “tiếngchuông cảnh báo” cho nền kinh tế Từ đó đề ra các giải pháp nhằm xây dựng,phát triển hệ thống nguồn nhân lực cao, góp phần xây dựng nền kinh tế pháttriển Đặc biệt, các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong ngành Ynước ta hiện nay

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN

1 Khái niệm về lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là một khái niệm trung tâm của chủ nghĩa duy vật lịch

sử Việc nghiên cứu rõ nội hàm của khái niệm này là cơ sở để hiểu toàn bộ sựvận động và phát triển của quá trình sản xuất vật chất trong lịch sử xã hội loàingười Vì vậy, C Mác đã sớm nghiên cứu khái niệm lực lượng sản xuất Trongcác tác phẩm của mình, mặc dù ông không trực tiếp đưa ra khái niệm lực lượngsản xuất, nhưng nội hàm của khái niệm này đã được ông đề cập đến ngay từnhững tác phẩm đầu tay

Theo C Mác, Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với

tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đốitượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội

2 Kết cấu lực lượng sản xuất

Khi bàn đến lực lượng sản xuất, C Mác cũng chỉ ra những yếu tố cơ bảncấu thành nên nó, xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ thuật (tư liệusản xuất) và mặt kinh tế -xã hội (người lao động) Theo ông, để cải biến giới tựnhiên nhằm tạo ra của cải vật chất, người lao động cần phải có một sức mạnhtổng hợp Trước hết, đó là sức mạnh của thể chất và trí tuệ - những yếu tố tạonên khả năng lao động của con người Ông viết: “Để chiếm hữu được thực thểcủa tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống của bản thân mình, conngười vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay, chân, đầu vàhai bàn tay” Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì quá trình sản xuất vật chất vẫnchưa thể diễn ra Ngoài bản thân chủ thể lao động, con người còn sử dụng nhữngyếu tố khác, như “sử dụng những thuộc tính cơ học, lý học, hóa học của các vật,

để tùy theo mục đích của mình, dùng những vật đó làm công cụ tác động vàocác vật khác” Những vật đó được C Mác gọi là “khí quan”, giúp người lao động

Trang 5

có khả năng nối dài đôi bàn tay và làm cho quá trình tác động vào giới tự nhiêntrở nên có hiệu quả hơn Nếu tư liệu sản xuất là điều kiện cần của quá trình sảnxuất vật chất thì người lao động chính là chủ thể, đóng vai trò quyết định sự pháttriển của sản xuất Như vậy, theo C Mác, nếu không có con người biết chế tạo,

sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên thì sẽ không có quá trìnhsản xuất vật chất

3 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất

Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động

và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người laođộng là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xãhội Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất Ngày nay, trongnền sản xuất xã hội, tỷ trọng lao động cơ bắp đang có xu thế giảm, trong đó laođộng có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày càng tăng lên

Theo C.Mác, yếu tố vật thể sẽ không có bất cứ tác dụng nào nếu không cómột lực lượng xã hội để tiến hành sản xuất vật chất Tư liệu sản xuất sẽ trở thành

vô nghĩa nếu không có sự tác động của con người Điều này đã được C.Mác

khẳng định như sau: “Giới tự nhiên không chế tạo ra bất kỳ máy móc nào, không chế tạo ra xe hơi, đường sắt, điện báo, máy dệt Chúng là sản phẩm lao động của con người, đã biến thành vật chất tự nhiên của ý chí con người điều khiển tự nhiên hoặc bộ máy hoạt động của con người trong giới tự nhiên Chúng là cơ quan đầu não của con người được sáng tạo bởi bàn tay con người;

là lực lượng tri thức được vật hóa” Như vậy, nếu không có con người chế tạo

và sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên thì sẽ không có quátrình sản xuất vật chất

C.Mác đã khẳng định hoạt động sản xuất chính là một dạng hoạt động chỉ

có ở con người, nó khác hẳn về chất so với hoạt động của con vật: “Con nhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong phải làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con

Trang 6

ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc

đã xây dựng chúng ở trong đầu mình rồi Cuối quá trình lao động, người lao động thu được cái kết quả mà họ đã hình dung ngay từ đầu quá trình ấy, tức là

đã có trong ý niệm rồi”.

Khi tham gia vào quá trình sản xuất, trước hết, người lao động sử dụngsức mạnh cơ bắp Tuy nhiên, nếu chỉ tiến hành sản xuất bằng sức mạnh thể chấtthuần túy thì con người sẽ không bao giờ tiến xa hơn động vật Vì con người làmột sinh vật xã hội nên ngoài sức mạnh cơ bắp, con người còn có cả trí tuệ, ýthức và toàn bộ hoạt động tâm sinh lý, do đó lao động của họ trở nên khéo léo,linh hoạt, năng động, sáng tạo hơn Chính điều này làm cho các quá trình sảnxuất vật chất có thể giống nhau ở máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đầu vàonhưng sản phẩm đầu ra của những lao động khác nhau lại rất khác nhau Điều đócho thấy rõ vai trò quyết định của nhân tố người lao động trong lực lượng sảnxuất

Trang 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

1 Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Nguồn nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công củamọi tổ chức, quốc gia Đây là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định năng suất,chất lượng hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác trong hệ thống các nguồn lực

Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ việc thực hiện “Đột phá chiến lược vềđào tạo nhân lực” và đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục vẫn còn những hạnchế về nhận thức và tổ chức thực hiện, như: Đổi mới tư duy, hoạt động giáo dục

và đào tạo còn chậm, chưa quyết liệt, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; một số nhiệm

vụ, giải pháp đổi mới còn thiếu hệ thống, chưa ổn định Chất lượng, hiệu quảgiáo dục và đào tạo chưa cao

Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa bảo đảm tính đồng bộ và liên thônggiữa các trình độ, các phương thức giáo dục và đào tạo Nội dung, chương trìnhgiáo dục và đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo vẫn thiếu gắn kếtvới nghiên cứu khoa học, sản xuất - kinh doanh và nhu cầu của thị trường laođộng; Chưa chú trọng đúng mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học;Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội Đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa quantâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và khả năng tự học, kỹ năngsáng tạo, Chính vì vậy, cần có giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhânlực trong thời đại công nghệ 4.0 là việc rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK), tính đến tháng 6/2022,nguồn nhân lực của Việt Nam ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của dân số.Quy mô dân số cả nước ước đạt 97,58 triệu người, trong đó, lực lượng lao động

từ 15 tuổi trở lên khoảng 54,6 triệu người, chiếm gần 65% so với quy mô dân số

cả nước Trung bình mỗi năm có khoảng 500 nghìn người gia nhập lực lượnglao động Riêng trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, lực lượnglao động từ 15 tuổi trở lên ước giảm 1,2 triệu người so với năm 2019, chủ yếu là

Trang 8

do sự sụt giảm ở khu vực nông thôn (giảm hơn 1,1 triệu người) Trong số lựclượng lao động năm 2022, lực lượng lao động tăng từ 27,87 triệu người (năm1986), đến nay là 51,4 triệu người (quý 2/2022); tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng49% (năm 2014), nay là 67% (6 tháng đầu năm 2022)

Về chỉ số phát triển con người (HDI): Trong giai đoạn 2016 - 2020, HDI

của cả nước và hầu hết 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng quacác năm HDI của cả nước tăng từ 0,682 năm 2016 lên 0,687 năm 2017; 0,693năm 2018; 0,703 năm 2019 và 0,706 năm 2020 Theo đó, Việt Nam từ Nhómcác quốc gia, vùng lãnh thổ có HDI trung bình năm 2018 và những năm trước

đó đã gia nhập Nhóm đạt mức cao trong năm 2019 và năm 2020 Thứ hạng HDIcủa Việt Nam trong các quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới tăng từ vị trí 118 năm

2018 lên 117 năm 2019 và có thể tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 khiUNDP cập nhật Bảng xếp hạng Cụ thể, HDI của cả nước và hầu hết các địaphương đều tăng, nhưng tốc độ tăng thấp Năm 2020, HDI của cả nước đạt0,706, chỉ tăng 0,024 so với năm 2016 với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 0,9%.HDI của cả nước tuy đã chuyển từ Nhóm 3 lên Nhóm 2 nhưng mới ở mức thấpcủa Nhóm 2 Trong Bảng xếp hạng HDI thế giới, thứ hạng của Việt Nam cảithiện không nhiều và trong khu vực Đông Nam Á vẫn xếp thứ 7/11 quốc gia.Điều này cho thấy, chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung, đào tạo nhân lực nóiriêng, chưa đóng vai trò chủ đạo trong phát triển nhân tố con người, nhất lànguồn nhân lực chất lượng cao

Về cơ cấu trình độ nhân lực được đào tạo: Trình độ học vấn của nhân lực

Việt Nam liên tục được cải thiện qua từng năm Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đãtăng hơn gấp 2 lần sau khoảng 20 năm, từ 10,3% (năm 2000) lên 22,8% (năm2019) Giai đoạn 2009 - 2019, trình độ học vấn của nguồn nhân lực Việt Nam đãđược nâng cao; phân bổ lực lượng lao động theo trình độ học vấn tăng mạnh ởcác nhóm trình độ cao và giảm mạnh ở các nhóm trình độ thấp

Không chỉ trình độ học vấn được nâng cao, trình độ chuyên môn kỹ thuậtcủa nguồn nhân lực Việt Nam cũng không ngừng được cải thiện Tỷ lệ dân số có

Trang 9

chuyên môn kỹ thuật đã tăng lên đáng kể so với năm 2007, tăng 6,3 điểm phầntrăm, từ 17,7% (năm 2007) lên 24% (quý II/2020) Tỷ lệ dân số có trình độ đạihọc trở lên tăng mạnh nhất, từ 4,9% (năm 2007) lên 11,1% (quý II/2020) Điềunày cho thấy trong những năm qua, giáo dục đại học và trên đại học của ViệtNam đã có những thay đổi lớn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lựccủa đất nước Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn cần chú trọng và nỗ lực hơn nữa tronggiáo dục, đào tạo nghề để có được nguồn nhân lực có kỹ năng tốt phục vụ côngcuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây của Bộ Lao động, Thương binh và xãhội, lao động không chính thức và phổ thông vẫn chiếm chủ yếu Lực lượng đãqua đào tạo, có chứng chỉ, bằng cấp còn thấp, khoảng 24,5% năm 2020 (so với

kế hoạch đặt ra là 40%) Trong khi nhân lực đã qua đào tạo chưa phù hợp vớinhu cầu thực tiễn, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Năng suất lao động(NSLĐ) của Việt Nam vẫn thấp so với các nước trong khu vực Theo Tổng cụcThống kê: Tính theo giá hiện hành, NSLĐ của Việt Nam năm 2016 đạt 84,4triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 7.398 USD) và đến năm 2021 đạt171,3 triệu đồng/lao động, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2016 Năm 2019, năngsuất lao động Việt Nam đạt 110,5 triệu đồng/lao động (tương đương 4.792USD) Lao động Việt Nam đang có xu hướng chuyển dịch từ khu vực nôngnghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, góp phần vào gia tăng năng suấtlao động

Mặc dù, gia tăng NSLĐ của Việt Nam chủ yếu là gia tăng năng suất nộingành, song sự chuyển dịch lao động cũng đóng góp khoảng 1/3 gia tăng NSLĐtổng thể của nền kinh tế So với các quốc gia trong khu vực ASEAN, thời gianqua, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao Tính chunggiai đoạn 2011 - 2019, năng suất lao động theo sức mua tương đương năm 2017(PPP 2017) của Việt Nam tăng trung bình 5,1%/năm, cao hơn so với mức tăngbình quân của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines hay Indonesia Tuyvậy, năng suất lao động Việt Nam hiện vẫn rất thấp so với các quốc gia khác

Trang 10

trong khu vực: Chỉ bằng 8,4% mức năng suất của Singapore, 23,1% củaMalaysia, 41,5% của Thái Lan, 55,5% của Indonesia và 62,8% của Philippinse;chỉ cao hơn năng suất lao động của Campuchia (gấp 1,8 lần) Theo Tổ chức Laođộng Quốc tế (ILO), năm 2021, lao động Singapore đóng góp vào GDP cả nước73,7 USD trong 1 giờ lao động, trong khi lao động Việt Nam đóng góp khoảng7,3 USD/giờ vào GDP.

2 Thực trạng nguồn nhân lực trong ngành Y

Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách và tạo ra những thay đổi tíchcực trong việc tăng số lượng nguồn nhân lực y tế, nhưng trên thực tế, ngành yvẫn còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực, dẫn đến hạn chếchất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở nước ta, đó là:

Thứ nhất, phân bổ nguồn nhân lực mất cân đối, bất hợp lý theo vùng,

miền, lĩnh vực

Nhiều khu vực còn thiếu nhân lực y tế như Vùng đồng bằng sông CửuLong và Tây Nguyên có tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân thấp nhất so với cả nước Đặcbiệt, một số lĩnh vực: pháp y, giải phẫu, lao, phong, tâm thần… của ngành y tếthiếu nhân lực hơn hẳn các lĩnh vực khác Lý do của sự thiếu hụt này là do thunhập thấp, không đủ thu hút cán bộ y tế Tình trạng thiếu nhân lực y tế nóichung và nhân lực có trình độ là bác sĩ ở tuyến y tế cơ sở, cũng như nhân lực y

tế dự phòng vẫn còn là vấn đề đáng lo ngại, trong khi tỷ lệ số trạm y tế có bác sĩ

ở Hà Nội là 93,8% thì Lào Cai là 35,4%; Quảng Nam là 31,6%, cá biệt ở Quảngtrị chỉ 8,5% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc Tình trạng biến động nguồn nhânlực y tế tại tuyến huyện, xã là vấn đề Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa Sốcán bộ nghỉ việc, chuyển đi ở các cơ sở tuyến huyện bằng 50% tổng số nhân lựcmới tuyển dụng, ở tuyến xã, số nhân lực nghỉ việc, chuyển đi bằng 30% số mớituyển (4) Nhiều bệnh viện huyện, trung tâm y tế huyện nhiều năm không tuyểnđược bác sĩ nào trong khi số lượng cán bộ chuyển đi nơi khác vẫn tiếp diễn

Thứ hai, quản lý, sử dụng nhân lực y tế còn nhiều bất cập, hạn chế

Trang 11

Mạng lưới y tế cơ sở nói chung, gồm cả tuyến xã và tuyến huyện, chưa tạo đượcniềm tin cho người dân vào chất lượng dịch vụ, dẫn tới tình trạng các bệnh việntuyến trung ương bị quá tải, trong khi các cơ sở y tế tuyến dưới không hoạt độnghết công suất Nguyên nhân của tình trạng này là do cơ chế sử dụng nhân lựccủa Nhà nước và ngành y tế chưa hợp lý, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệmchưa rõ ràng, tính trách nhiệm của người cán bộ y tế không cao, dẫn tới lãng phínguồn lực Bên cạnh đó, việc tuân thủ các chế độ, chính sách, quy định trongquản lý, sử dụng nhân lực y tế vẫn còn nhiều vấn đề, góp phần làm hạn chế nănglực nguồn nhân lực y tế.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực tuyến y tế cơ sở còn thấp

Chất lượng nguồn nhân lực y tế ở tuyến cơ sở, vùng sâu, vùng xa, miền núi chưađáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Năng lực của cán bộ y

tế, kể cả bác sĩ của tuyến xã yếu, thậm chí không đủ khả năng cung cấp dịch vụchăm sóc sức khỏe ban đầu Nhiều trạm y tế khang trang, không thiếu trang thiết

bị nhưng cán bộ y tế nơi đây lại không biết sử dụng Đây là vấn đề mà Nhà nướccần ưu tiên giải quyết trong những năm tới Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ làm việctăng hàng năm, nhưng bác sĩ ở tuyến xã đa phần là học tại chức, hoặc chuyên tunên năng lực chuyên môn thấp Tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến thức và kỹ năng đạtyêu cầu trong sơ cấp cứu, chẩn đoán và điệu trị một số bệnh, cũng như kiến thức

về xử lý bệnh dịch rất hạn chế Một điều tra cho thấy chỉ có 17,3% số bác sĩ và y

sĩ có kiến thức và kỹ năng đúng trong xử lý sơ cấp cứu, 17% số bác sĩ và y sĩđược hỏi biết được các dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ phụ nữ mang thai,50,5% cán bộ y tế được hỏi biết cách chẩn đoán tăng huyết áp, 15,6% biết cách

xử lý một vụ dịch Kết quả từ một số khảo sát khác cũng cho thấy kiến thức vềchăm sóc sức khỏe sơ sinh của cán bộ trạm y tế chỉ đạt 60% so với chuẩn quốcgia; 54,3% bác sĩ có kiến thức đúng về chẩn đoán và điều trị các mức độ mấtnước tiêu chảy

Nghề y là một nghề đặc biệt Nhân lực ngành y tế phải đáp ứng yêu cầu cả

về chuyên môn và y đức; vì thế cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi

Trang 12

ngộ đặc biệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tăng cường côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới (Nghịquyết số 20-NQ/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2017) xác định mục tiêu tổng quát:Nâng cao sức khoẻ cả về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượngcuộc sống của người Việt Nam Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng,hiệu quả và hội nhập quốc tế Phát triển nền y học khoa học, dân tộc và đạichúng Bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khoẻ.

Để thực hiện mục tiêu đó, cần xây dựng hệ thống mạng lưới y tế rộngkhắp, gần dân; được chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt về chuyên môn, nghiệp vụtheo ngành từ Trung ương tới địa phương trong phạm vi cả nước, đồng thời bảođảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương Đồng thời, cầnxây dựng đội ngũ cán bộ y tế “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, có năng lựcchuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế Nâng cao năng lực cạnh tranhtrong chuỗi sản xuất, cung ứng dược phẩm, dịch vụ y tế

Trong phát triển ngành y tế, bên cạnh việc xây dựng khung khổ pháp lýthống nhất; xây dựng mạng lưới y tế đồng bộ trong toàn quốc; đầu tư nguồn lựctài chính một cách thỏa đáng để ngành y tế có thể làm tốt việc chăm sóc sứckhỏe cộng đồng, Nhà nước còn phải xây dựng, đào tạo đủ và phân bổ hợp lýnguồn nhân lực cho cho ngành y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngàycàng cao của quần chúng nhân dân

Nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực y tế luôn có vai trò quan trọng, quyếtđịnh đến việc thành công hay thất bại trong công tác chăm sóc sức khỏe cộngđồng Bởi một trong những yếu tố quyết định đến vai trò của Nhà nước đối vớiquản lý phát triển y tế là đội ngũ nhân lực Nguồn nhân lực y tế có đủ năng lực,chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức… có vai trò quan trọng dẫn đếnthành công hay thất bại trong việc nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo của mìnhđối với công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Các chính sách của nhà nướctrong lĩnh vực y tế có đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn hay không, việc thực

Ngày đăng: 02/08/2023, 09:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w