1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu hỗ trợ gv hs ngữ văn 8 hki (kntt)

94 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lá cờ thêu sáu chữ vàng
Tác giả Nguyễn Huy Tưởng, Hồ Thị Thuý
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Phú Thượng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 247,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng các biệt ngữ xã hội như vậy giúp người đọc có thể hiểu được một xã hội của một nhóm người cụ thể như: lao động, nông dân,.... Nguyễn Huệ 1755 - 1792, còn gọi là vua Quang Tr

Trang 1

BÀI 1: CÂU CHUYỆN CỦA LỊCH SỬ

VĂN BẢN 1: LÁ CỜ THÊU SÁU CHỮ VÀNG ( trích Nguyễn Huy Tưởng)

TRƯỚC KHI ĐỌC

Câu hỏi 1 Chia sẻ cảm nghĩ của em về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản ( qua các

tài liệu lịch sử, sách báo, phim ảnh, mà em đã đọc, đã xem)

Trần Quốc Toản là một thiếu niên anh hùng, tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Câu chuyện nổi tiếng về Trần Quốc Toản vẫn còn được kể lại Khi vua Trần Nhân Tông cùng các quan bàn chuyện đánh giặc Vua thấy Trần Quốc Toản còn trẻ nên không cho vào dự, ban cho một quả cam Khi trờ về, quả cam trong tay đã nát từ lúc nào không hay Trần Quốc Toản là tấm gương về lòng dũng cảm

Câu hỏi 2 Ngoài Trần Quốc Toản, em còn biết thêm nhân vật thiếu nhi lỗi lạc nào trong lịch

sử?

Ông Trạng Nguyễn Hiền vừa là người có tài năng lỗi lạc, vừa là người có ý chí kiên trì vượt khó Ông là tấm gương sáng cho mọi thiếu nhi noi theo

ĐỌC VĂN BẢN

Câu hỏi 1 Quang cảnh, không khí ở bến Bình Than - nơi diễn ra một hội nghị quan trọng

- Quang cảnh: những chiếc thuyền lớn xung quanh đậu dài san sát nhau, những lá cờ bay phấp phơi trên mui thuyền

- Không khí: trang nghiêm

Câu hỏi 2 Những ý nghĩ của nhân vật xen vào lời của người kể chuyện.

Mắt Hoài Văn nhìn đăm đăm vào thuyền của Hưng Võ Vương, Hưng Trí Vương, Hưng Hiếu Vương, những nhân vật có tầm cỡ đi vào thuyền ngự khiến những ý nghĩ ấy mang tầm nhìn

xa trông rộng

Câu hỏi 3 Hoài Văn có những suy nghĩ gì khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước?

Khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước, Hoài Văn dám chắc các vị có ý cho quân Nguyênmượn đường vào đánh Chiêm Thành hoặc chống cự lại Trong ý nghĩ, chàng muốn được xuống thuyền rồng bàn việc nước, quỳ trước mặt và xin quan gia cho đánh

Câu hỏi 4 Điều gì sẽ xảy ra khi Hoài Văn có hành động vượt khuôn pháp?

Nếu Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép thì sẽ thành phạm thượng và có thể phải chịu tội chết

Câu hỏi 5 Hoài Văn giải thích như thế nào về hành động của mình?

Hoài Văn biết mình mang tội lớn nhưng vì quốc gia có biến lớn, dù biết tuổi mình chưa đủ nhưng thân mang chí lớn sao có thể ngồi yên vị được nên muốn cầm binh đánh giặc bởi nghĩ đến trung nghĩa

Câu hỏi 6 Thái độ của Trần Quốc Toản thể hiện như thế nào qua lời nói?

Qua lời thoại và cách Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên, có thể thấy chàng đã rất tức giận khi nghe nói có người chủ hòa, cho giặc mượn đường qua nước ta, dâng giang sơn gấm vóc cho chúng

Câu hỏi 7 Cách nhà vua xử lí hành động của Trần Quốc Toản có đúng như dự đoán của em

không?

Đúng như dự đoán của em

Câu hỏi 8 Tâm trạng của Hoài Văn

Cảm tạ vua nhưng cũng vừa tức, vừa hờn vừa tủi

Trang 2

lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân" và anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Câu chuyện dựa trên bối cảnh của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai

Câu hỏi 2 Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ

nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than?

Khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản cảm thấy sốt ruột và lo lắng không yên Chàng muốn xuống thuyền bàn việc nước, quỳ xin quan gia cho đánh nhưng lại sợ phạm thượng

Câu hỏi 3 Khi bị quân Thánh Dực ngăn cản xuống bến gặp vua, Trần Quốc Toản có hành

động gì khác thường? Vì sao Trần Quốc Toản có hành động như vậy?

Chàng đã liều chết để gặp vua dù bị quân lính cản lại Sở dĩ có hành động như vậy là vì lo lắng vận mệnh của đất nước, bọn giặc đang hoành hành, dân chúng thì đói khổ

Câu hỏi 4 Chứng kiến hành động và nghe lời tâu bày của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo

có thái độ và cách xử lí như thế nào? Thái độ và cách xử lí đó cho thấy điều gì ở vị vua này? Chứng kiến hành động và nghe lời tâu bày của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo đã gật đầu, mỉm cười nhìn Hưng Đạo Vương Lời nói của Quốc Toản cũng hợp với ý của vua và Hưng Đạo Tuy rằng Quốc Toản phạm thượng, nhưng vì nể tình còn trẻ, hoàn cảnh đáng thương, lạibiết lo lắng cho vua, lo cho việc nước nên thứ tội, cho lui về làm tròn chữ hiếu phận làm con Sau đó, vua còn đích thân tặng chàng một quả cam sành chín mọng

Thái độ và cách xử lý như trên cho thấy đây là một vị vua đức độ anh minh, xét sự việc dựa trên cả lý lẫn tình, trân trọng chí khí và nỗi lòng quan tâm đến việc dân, việc nước của người trẻ

Câu hỏi 5 Trong lời người kể chuyện đôi chỗ xen vào những ý nghĩ thầm kín của nhân vật

Trần Quốc Toản Hãy nêu một vài trường hợp và phân tích tác dụng của sự đan xen đó Trường hợp trong lời người kể có đan xen ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trần Quốc Toản là đoạn Hoài Văn đỡ lấy cam vua ban, lủi thủi bước lên bờ và uất ức nghĩ đến đám quân Thánh Dực, nung nấu ý định chiêu binh mãi mã: “Hoài Văn đỡ lấy quả cam, tạ ơn vua càng bóp mạnh.”

=> Tác dụng: Việc đan xen ý nghĩ của nhân vật trong lời kể khiến cho câu chuyện trở nên sinh động và chân thực hơn Người đọc không chỉ thấy được rõ các sự việc đang diễn ra mà còn thấy được những ý nghĩ thầm kín để qua đó hiểu hơn về tiến trình tâm lý và biết được

Trang 3

tính cách thực sự của nhân vật Tính cách của Trần Quốc Toản vì thế cũng được bộc lộ rõ ràng hơn.

Câu hỏi 6 Những nét tính cách nào của Trần Quốc Toản được thể hiện qua lời đối thoại với

các nhân vật khác trong truyện?

Can đảm, dũng cảm, yêu nước

Câu hỏi 7 Trong truyện này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang

đậm màu sắc lịch sử Hãy nêu một số ví dụ và cho biết tác dụng

Chi tiết: Cháu biết là mang tội lớn Nhưng cháu trộm nghĩ rằng khi quốc biến thì đứa trẻ

cũng phải biết lo, huống hồ cháu đã lớn Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước, nhưng cháu

có phải là giống cỏ cây đâu mà ngồi yên được?

Tác dụng: giúp câu chuyện mang tính lịch sử, ngôn ngữ đời thường giúp người đọc dễ hiểu ravấn đề hơn

Câu hỏi 8 Hãy khái quát chủ đề của văn bản và cho biết căn cứ vào đâu em khái quát như

vậy

Chủ đề của văn bản: Lòng yêu nước

Giải thích: vì đây văn bản có sự kiện lịch sự trọng đại của dân tộc là cuộc kháng chiến nên chủ đề như vậy để khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân

VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Câu hỏi: Viết đoạn văn ( khoảng 7 - 9 câu) phân tích chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả

cam

Khi không gặp được vua, Quốc Toản bèn xông vào thuyền đòi gặp vua để yết kiến vua Vua bèn cho chàng đứng dậy và bảo chàng tuy đã làm trái phép nước, phải trị tội nhưng thấy chàng còn trẻ mà đã biết lo việc nước nên vua đã ban cho chàng một quả cam Chi tiết ban quả cam cho thấy nhà vua rất tán thưởng hành động này của chàng Đến chi tiết bóp nát quả cam vì bị vua xem thường là trẻ con vã nghĩ tới quân giặc vẫn đang hoành hành, lăm le đè đầu cưỡi cổ dân mình Chi tiết này cũng cho thấy sự gan dạ, dũng cảm, phẩm chất anh hùng của Trần Quốc Toản

THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- BIỆT NGỮ XÃ HỘI

Câu hỏi 1 Chỉ ra biệt ngữ xã hội ở những câu sau và cho biết dựa vào đâu em khẳng định

như vậy Hãy giải nghĩa các biệt ngữ đó

a Năm lên sáu, cung thiếu nhi thành phố có cuộc tuyển “gà" khắp các trường tiểu học, tôi cũng được chọn gửi đến lớp năng khiếu

(Ngô An Kha, Tìm mảnh ghép thiếu)

b Ôn tập cẩn thận đi em Em cứ "tủ" như vậy không trúng đề thì nguy đấy

TL:

a Từ "gà" là biệt ngữ xã hội bởi từ gà chỉ một loại gia cầm nhưng ở đây lại đặt trong ngữ cảnh của một tổ chức đang tuyển thí sinh "gà" ở đây có thể hiểu là những thành viên mới, những con người mới

b Từ "tủ" ở đây là biệt ngữ xã hội chỉ việc thi cử của học sinh không chịu ôn tập kĩ càng chỉ

ôn những phần mà mình nghĩ sẽ vào

Câu hỏi 2

Trang 4

Cái việc lơ đễnh rất hữu ý đó, cái chuyện bỏ quên hộp thuốc lào vẫn là một ám hiệu của Cai Xanh dùng tới mỗi lúc đi lim bạn để “đánh một tiếng bạc lớn" nghĩa là cướp mội đám lo.(Nguyễn Tuân, Một đảm bất đắc chỉ)

Vì sao ở câu trên, người kể chuyện phải giải thích cụm từ "đánh một tiếng bạc lớn"? Theo

em, tác giả dùng cụm từ đó với mục đích gì?

Người kể chuyện phải giải thích cụm từ "đánh một tiếng bạc lớn" để cho người đọc có thể hiểu được nội dung câu chuyện Việc tác giả sử dụng như vậy giúp người đọc hiểu được vấn

đề mà tác giả muốn nói tới

Câu hỏi 3

Trong phóng sự Tới kéo xe của Tam Lang (viết về những người làm nghề kéo xe chỗ người thời trước Cách mạng tháng Tắm năm 1945), có đoạn hội thoại:

- Mày đã "làm xe" lần nào chưa?

- Bẩm, chúng cháu chưa làm bao giờ cả

Trong Cạm bẩy người của Vũ Trọng Phụng - một tác phẩm vạch trần trò gian xảo, bịp bợm

của những kẻ đánh bạc trước năm 1945 - có câu: Tới rất lấy làm tạ là vì cứ thấy hai con chim mòng thẳng trận, ù tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí hai mươi viên đạn.

Nêu tác dụng của việc sử dụng biệt ngữ xã hội (in đậm) trong các trường hợp trên Đọc tác phẩm văn học, gặp những biệt ngữ như thế, việc đầu tiên cần làm là gì?

Việc sử dụng các biệt ngữ xã hội như vậy giúp người đọc có thể hiểu được một xã hội của một nhóm người cụ thể như: lao động, nông dân, hình dung ra được cuộc sống của những con người ấy diễn ra như thế nào

Khi đọc các tác phẩm văn học mà gặp phải những biệt ngữ xã hội thì việc chúng ta cần làm phải tìm hiểu ngữ cảnh trong bài

Câu hỏi 4 Chỉ ra biệt ngữ xã hội trong các đoạn hội thoại sau và nhận xét về việc sử dụng

biệt ngữ của người nói:

a - Cậu ấy là bạn con đấy à?

- Đúng rồi, bố Nó lầy quá bố nhỉ?

b - Nam dạo này tớ thấy Hoàng buồn buồn, ít nói Cậu có biết vì sao không?

-Tớ cũng hem biết vì sao cậu ơi

Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn

Công lao to lớn của người, ba lần tổng chỉ huy quân dân Đại Việt cản phá quân Nguyên - Mông hung bạo, đánh cho chúng thất điên bát đảo Trấn nam vương Thoát Hoan phải chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết

Với tài thao lược, trí đũng song toàn, luôn đặt lợi ích dân tộc và đất nước lên trên hết, Trần Hưng Đạo không chỉ sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà còn vang danh khắp

Trang 5

năm châu bốn biển Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới

Câu hỏi 2 Chia sẻ những hiểu biết của em về người anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ

Nguyễn Huệ (1755 - 1792), còn gọi là vua Quang Trung, là người anh hùng áo vải đã đánh

đổ cả hai chính quyền phản động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, người đã lập nên những chiến công hiển hách chống quân xâm lược Xiêm và Mãn Thanh, thực hiện được khát vọng thống nhất đất nước của dân tộc vào cuối thể kỉ thứ 18

Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài Trong hoạt động quân sự, ông chủ động tập trung lực lượng đánh vào những mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất và hành động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng, quyết liệt làm cho đối phương không kịp đối phó

Nguyễn Huệ còn là nhà chính trị sáng suốt Từ mục tiêu trước mốt của phong trào nông dân

là đánh đổ chế độ áp bức Trịnh - Nguyễn, Nguyễn Huệ đã vươn lên nhộn thức được nhiệm

vụ dân tộc là thống nhốt đốt nước và đánh đuổi ngoại xâm

ĐỌC VĂN BẢN

Câu hỏi 1 Thời điểm diễn ra các sự kiện và thái độ, phản ứng của Bắc Bình Vương

- Ngày 25/11 năm Mậu Thân (22/12/1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung, chỉ huy quân tiến ra Bắc, liên tục tuyển thêm quân

- Vua Quang Trung chia quân làm 5 đạo tiến ra Bắc Hà, đạo chủ lực do Quang Trung chỉ hủytiến thẳng vào Thăng Long

* Diễn biến:

- Đêm 30 tết, quân ta vượt sông Gián Khẩu tiêu diệt gọn quân địch ở đồn tiền tiêu

- Đêm mùng 3 tết, bao vây tiêu diệt đồn Hà Hồi

- Đêm mùng 5 tết, quân ta tấn công và hạ đồn Ngọc Hồi

- Cùng lúc đạo quân của đô đốc Long tấn công, tiêu diệt đồn Đống Đa

* Kết quả: Trong vòng 5 ngày đêm, quân ta quét sạch 29 vạn quân Thanh

* Thái độ, phản ứng: nghiêm túc, dũng cảm, mưu trí, mang dáng vẻ một tướng soái tài ba,

Câu hỏi 2 Những công việc Quang Trung đã tiến hành và thời điểm nhà vua hạ lệnh xuất

quân

Những công việc mà vua Quang Trung đã làm: nhà vua hạ lệnh xuất quân (25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), tế cáo trời đất cùng với các thần sông, thần núi; chế ra áo cổn mũ miện, lên ngôi hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Dức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung, lễ xong, hạ lệnh xuất quân

Câu hỏi 3 Nội dung lời dụ quân lính của vua Quang Trung.

* Nội dung chính lời phủ dụ:

- Khẳng định chủ quyền dân tộc; lên án, tố cáo hành động xâm lược của quân Thanh

- Nhắc lại truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc; kêu gọi quân sĩ đồng tâm hiệp lực chống giặc

- Đề ra kỉ luật nghiêm minh

Trang 6

Câu hỏi 4 Lời của vua Quang Trung nói với các tướng lĩnh.

Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm chức tướng soái Ta giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên, lạicho tùy tiện làm việc Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước

Câu hỏi 5 Theo em, kết quả trận đánh giữa quân Tây Sơn và quân Thanh sẽ như thế nào?

Dựa vào đâu em dự đoán như vậy?

Kết quả trận đánh giữa quân Tây Sơn và quân Thanh là quân Tây Sơn sẽ thắng vì họ đã chuẩn bị kĩ lưỡng, đánh bất ngờ Dựa vào tài cầm quân của vua Quang Trung

Câu hỏi 6 Em có đoán đúng kết quả trận đánh không?

Em đoán đúng kết quả trận đánh

Câu hỏi 7 Những chi tiết miêu tả hành động, thái độ của Tôn Sĩ Nghị

Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính

kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng bắc mà chạy

Câu hỏi 8 Hành động, thái độ của vua Lê Chiêu Thống khi nghe tin quân Tây Sơn kéo vào

thành

Vội vã cùng bọn Lê Quỳnh, Trịnh hiến đưa thái hậu ra ngoài Cả bọn chạy đến bến sông thì cầu phap đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi Tàm, gặp được chiếc thuyền đánh cá vội cướp lấy rồi chèo sang bờ Bắc

SAU KHI ĐỌC

Câu hỏi 1 Đoạn trích có thể chia thành mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần

– Phần 1: Từ đầu đến “…ngày 25 tháng chạp năm Mậu thân 1788”: Khi nghe tin Quân Thanh

đã đóng chiếm thành Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế rồi thân chinh cầm quân dẹp giặc

– Phần 2: Từ đoạn “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” đến “….vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”: Kể về cuộc hành quân thần tốc cùng chiến thắng lừng lẫy mà nghĩa quân Tây Sơn đã dành được

– Phần 3: Từ đoạn “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” đến “… lấy làm xấu hổ”: Nói đến sự thất bại của quân Thanh, tình trạng thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống

Câu hỏi 2 Em hãy liệt kê những nhân vật và sự kiện lịch sử được tác giả đề cập trong văn

Sự bỏ chạy của các vua Lê

Câu hỏi 3 Tìm những chi tiết tiêu biểu miêu tả thái độ, lời nói và hành động của Bắc Bình

Vương khi nghe tin báo quân Thanh xâm lược nước ta Những chi tiết đó cho thấy đặc điểm tính cách gì của nhân vật?

Bắc Bình Vương biết tin báo giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay

Những công việc mà Bắc Bình Vương đã làm: tế cáo trời đất cùng với các thần sông, thần núi; chế ra áo cổn mũ miện, lên ngôi hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Dức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung, lễ xong, hạ lệnh xuất quân

Trang 7

Những chi tiết đó cho thấy Bắc Bình Vương là một quân tử yêu nước, thương dân, là người

có tầm nhìn xa trông rộng

Câu hỏi 4 Nêu cảm nhận của em về nhân vật vua Quang Trung được khắc họa trong đoạn

trích, qua đó nhận xét cảm hứng của tác giả đối với vị anh hùng dân tộc này

Quang Trung chính là nhà quân sự thiên tài Trong hoạt động quân sự, ông đã chủ động tập trung lực lượng đánh vào những mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất và hành động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng, quyết liệt làm cho đối phương không kịp đối phó

Đối với vị anh hùng dân tộc này, cảm hứng của tác giả là ngợi ca và tự hào về một trang tuấn kiệt đã vươn lên nhận thức được nhiệm vụ bảo vệ dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm và thống nhất đất nước

Câu hỏi 5 Nhân vật Lê Chiêu Thống được khắc họa rõ nét qua những chi tiết tiêu biểu nào?

Phân tích một chi tiết đặc sắc, thể hiện rõ bản chất của nhân vật Lê Chiêu Thống, qua đó thấyđược thái độ của tác giả đối với nhân vật này

Vua Lê Chiêu Thống ở trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội vã cùng bọn Lê Quỳnh, Trịnhhiến đưa thái hậu ra ngoài Cả bọn chạy đến bến sông thì cầu phap đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi Tàm, gặp được chiếc thuyền đánh cá vội cướp lấy rồi chèosang bờ Bắc

Phân tích: Vua Lê Chiêu Thống và bề tôi trung thành chỉ vì lợi ích riêng của dòng họ mà mù quáng “cõng rắn cắn gà nhà”, cấu kết với nhà Thanh, để rồi đặt vận mệnh của dân tộc vào tay

kẻ thù phương Bắc vốn không đội trời chung Lê Chiêu Thống không xứng đáng với vị thế của bậc quân vương Kết cục ông phải trả giá là chịu chung số phận thảm hại của kẻ vong quốc: “chạy bán sống, bán chết”, nhịn đói để trốn, ông cùng kẻ cầu cạnh chỉ biết “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt” Bằng một giọng văn chậm rãi tác giả đã gợi lên sự thảm bại của bọn vua tôi phản nước, hại dân Lê Chiêu Thống Mặt khác, đó cũng là tâm trạng ngậm ngùi của người cầm bút trước hình ảnh của một bậc đế vương nhu nhược trong lịch sử dân tộc

Câu hỏi 6 Sự đối lập giữa hai nhân vật Quang Trung và Lê Chiêu Thống, giữa quân Tây

Sơn và quân Thanh có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích? Hãy khái quát chủ đề đó

Sự đối lập giữa vua Lê Chiêu Thống và vua Quang Trung, giữa quân nhà Thanh và quân Tây Sơn đã so sánh, đánh giá những hình ảnh nổi bật của Quang Trung và quân Tây Sơn trong chiến thắng đại phá quân Thanh, ca ngợi chiến công hiển hách của vua Quang Trung, nổi bật hình tượng vị anh hùng áo vải, vị hoàng đế với trí tuệ sáng suốt, mạnh mẽ và quyết đoán Chủ đề của tác phẩm: Quang Trung – người anh hùng áo vải, vị hoàng đế với trí tuệ sáng suốt, mạnh mẽ và quyết đoán

Câu hỏi 7 Ở đoạn trích này, những yếu tố đặc trưng nào của truyện lịch sử đã được tác giả

sử dụng? Hãy nhận xét về nghệ thuật kể chuyện lịch sử của tác giả

Đặc trưng của truyện lịch sử: theo lối biên niên, kể về các biến cố lịch sử qua các thời đại, tái hiện lại các nhân vật lịch sử, các cuộc chiến tranh, các hoạt động bang giao; tác phẩm viết về

đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính

và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy; văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua

Trang 8

Đây là những thể loại văn học vừa thuộc phạm trù khoa học lịch sử, vừa thuộc phạm trù khoahọc văn học nghệ thuật do phẩm chất riêng của từng tác phẩm như miêu tả sinh động, khắc họa chân dung, tính cách, chi tiết chọn lọc, gợi cảm, tái hiện tình huống, không khí, ngôn từ lịch sử,…

VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Câu hỏi: Viết đoạn văn ( khoảng 7 - 9 câu) nêu cảm nhận về một chi tiết trong văn bản

Quang Trung đại phá quân Thanh để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất

Mờ sáng ngày mồng 5 Tết, quân ta đánh đồn Ngọc Hồi - Thanh Trì - Hà Nội Đây là đồn quan trọng nhất của địch với hàng vạn quân tinh nhuệ đóng giữ Đồn luỹ được xây đắp kiên

cố, xung quanh đều cắm chông sắt và chôn địa lôi dày đặc Vua Quang Trung thấy thế, truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm thành một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt đao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất" Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả Nhân có gió bắc, quân Thanh liền dùng ống phun khói lửa, toả khói mù trời, cách gang tấc không thấy gì hòng làm quân Nam rối loạn Không ngờ trong chốc lát sau đó, trời chuyến gió, kẻ địch thành ra tự đốt mình Vua Quang Trung liền gấp rút sai dội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước Khi gươm giáo hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh Quân Thanh không chống đỡ nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết, thây ngổn ngang đầy đồng, máu chảy thành suối Trước đó nhà vua Tây Sơn đã sai một toán quân theo bờ đê Yên Duyên kéo lên, mở cờ dóng trống để làm nghi binh ớ phía đông Đến lúc đó, quân Thanh lại càng sợ tìm lối tắt đế trốn Chợt lại thấy voi từ Đại Áng tới, quân Thanh đều hết hồn hết vía, vội trốn xuống Đầm Mực, làng Quỳnh Đô Quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp chết hàng vạn người

THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG

Câu hỏi 1 Chỉ ra từ ngữ địa phương và tác dụng của việc sử dụng những từ ngữ đó trong các

"Ruộng mình quên cày xáo

Nên lúa chín không đều

Nhớ lấy để mùa sau

Nhà cổ làm cho tốt”

(Trần Hữu Thung, Thăm lúa)

c Chữ đây Huế Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gây

Hãy bay lên! Sông núi của ta râu

(Tố Hữu, Huế tháng Tám)

d Nói như cậu thì còn chí là Huế!

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Chuyện cơm hến)

e Má, tánh lo xa Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hi vọng rực lên theo màu lúa

(Nguyễn Ngọc Tư, Trở gió)

Trang 9

Câu hỏi 2 Nhận xét việc sử dụng từ ngữ địa phương ( in đậm) trong các trường hợp sau:

a Năm học này, cả lớp đặt chỉ tiêu giồng và chăm sóc 20 cây ở nghĩa trang liệt sĩ của xã.

(Trích Biên bản họp lớp)

b Con xem, mới có hai hôm mà hạt đậu nó đã nhớn thế đấy Nếu con giống nó ra vườn,

chăm bón cẩn thận, nó sẽ ra hoa ra quả

(Vũ Tú Nam, Những truyện hay viết cho thiếu nhi)

c Lần đầu tiên tôi theo tía nuôi tôi và thằng Cò đi "ăn ong" đây!

(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam)

d Tui xin cam đoan những nội dung trình bày trên đây là đúng sự thật.

(Trích một bản tường trinh)

TL:

a Việc sử dụng từ địa phương trong các văn bản hành chính là không hợp lý mà phải sử dụng

từ ngữ toàn dân nên thay "giồng" thành "trồng"

b Việc sử dụng từ địa phương trong văn học có thể được sử dụng để làm rõ khung cảnh của từng vùng miền qua các sáng tác của thi sĩ

c Việc sử dụng từ địa phương trong văn học có thể được sử dụng để làm rõ khung cảnh của từng vùng miền qua các sáng tác của thi sĩ

d Việc sử dụng từ địa phương trong các văn bản hành chính là không hợp lý mà phải sử dụng từ ngữ toàn dân nên thay "tui" thành "tôi"

Câu hỏi 3 Trong những trường hợp giao tiếp sau đây, trường hợp nào cần tránh dùng từ ngữ

địa phương?

a Phát biểu ý kiến tại một đại hội của trưởng

b Trò chuyện với những người thân trong gia đình

c Viết biên bản cuộc họp đầu năm của lớp

d Nhắn tin cho một bạn thân

e Thuyết minh về di tích văn hoá ở địa phương cho khách tham quan

TL: a,c,e.

Đề bài: Viết bài văn kể lại một chuyến đi ( tham quan một di tích lịch sử, văn hóa)

Chuyến tham quan nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập Đoàn đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc Với chủ đề “Về nguồn”, chúng em được đến thăm mảnh đất lịch sử của Địa đạo Củ Chi.Buổi sáng hôm ấy, khi em đến trường thì đã nhìn thấy năm chiếc xe ô tô đỗ sẵn Các học sinhđều vô cùng háo hức Khoảng ba mươi phút sau, chúng em di chuyển lên xe theo sự hướng dẫn của thầy cô chủ nhiệm Xe xuất phát khoảng ba mươi phút thì đến nơi

Địa đạo Củ Chi là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng thuộc xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi Nơi đây là kỳ quan độc nhất vô nhị dài 250km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất Đặc biệt được làm từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc xe xúc đất Biết vậy chúng ta mới thấy

Trang 10

rằng sự bền bỉ, kiên cường và lòng yêu nước mãnh liệt của chiến sĩ ta Đúng như câu nói “Cósức người sỏi đá cũng thành cơm” Đường hầm sâu dưới đất 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ một người đi lom khom Khi một lần chui vào địa đạo Củ Chi, ta sẽ cảm nhận rõ chiều sâu thăm thẳm của lòng căm thù, y chí bất khuất của “vùng đất thép” và sẽ hiểu vì sao một nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng một nước lớn và giàu có như Hoa Kỳ Ta sẽ hiểu vì sao Củ Chi mảnh đất nghèo khó lại đương đầu ròng rã suốt hai mươi năm với một đội quân thiện chiến,

vũ khí tối tân mà vẫn giành thắng lợi

Chúng em đi tham quan địa đạo Củ Chi theo sự hướng dẫn của các anh chị hướng dẫn viên Khoảng mười một giờ thì cả trường được nghỉ ngơi để ăn trưa Nghỉ ngơi khoảng mười lăm phút, chúng em đem cơm nắm mang theo ra ăn Tất cả tập trung lại một chỗ ăn uống, cười nói vui vẻ Sau đó, tất cả nghe thầy phổ biến lịch tham quan Hình ảnh làng quê Củ Chi, lũy tre, đồng ruộng và hầm địa đạo cứ chờn vờn trong em

Sau đó, đoàn đã đến thắp hương tưởng niệm và tri ân 44.520 anh hùng liệt sĩ tại Đền Bến Dược Nơi những người con ưu tú của quê hương được khắc tên trong đền vì sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc Đoàn đã dâng lên những bó hoa tươi thắm và thắp lên bia đá những nén hương để tưởng nhớ những người con của dân tộc đã ngã xuống trên mảnh đất Củ Chi anh hùng

Rời phòng họp âm, chúng em được dẫn tới một đoạn địa đạo “mẫu”, mà theo lời giới thiệu thì đã được khoét rộng hơn “nguyên bản” để du khách có thể chui qua chứ không phải bò nhưnhững du kích dũng cảm năm nào Dẫu địa đạo đã được khoét rộng hơn, nhưng để có thể dịch chuyển trong đó, ai nấy đều phải lom khom, không được cao hơn mặt đất quá 80 - 90cm.Sau khi làm lễ và tham quan Đền Bến Dược xong, đoàn tiếp tục chuyến tham quan của mình tới khu vực tái hiện Vùng giải phóng Con đường nhỏ dẫn chúng em tới Phòng họp âm – một gian phòng đào chìm xuống lòng đất, sâu ngập đầu – nơi mà bốn mươi mấy năm trước, những chiến sĩ đã từng ngồi họp, bàn phương án đánh giặc Sơ đồ nổi trong phòng giới thiệu cho du khách thấy địa đạo được đào sâu bốn tầng dưới lòng đất, thông với nhau theo muôn vàn ngách nhỏ, với tổng cộng chiều dài tới 250km Tầng trên cùng thường là những phòng rộng dùng làm phòng họp, trụ sở, bếp ăn, khu điều trị của thương binh… những tầng dưới chỉ

là những đường ngầm nhỏ và hẹp, thông với nhau nhằng nhịt như mạng nhện, toả nhánh khắpnơi “Cầu thang”, nối các tầng với nhau là những đoạn dốc trượt xuống Cuối mỗi đoạn “cầu thang” đó thường có một hầm chông nắp gỗ đợi sẵn, phòng khi giặc liều mạng bò xuống thì

ta rút nắp cho chúng trượt xuống

Sau đó, toàn trường tập trung lại để cô Loan (cô Tổng phụ trách) tổng kết các cuộc đi tham quan bổ ích này Chúng em thu dọn lều, bạt, đồ đạc rồi ra về Đoàn xe chầm chậm rời khỏi khu địa đạo, tiến ra đường quốc lộ, rồi thẳng tiến về Thành phố Hồ Chí Minh Ngồi trên xe, chúng em hồi tưởng lại diễn biến buổi đi chơi, ai ai cũng cảm thấy tiếc khi phải ra về

Hình ảnh làng quê Củ Chi, lũy tre, đồng ruộng và hầm địa đạo cứ chờn vờn trong em Buổi đichơi này đã để lại trong chúng em những kỉ niệm đẹp và sâu sắc Qua chuyến đi đã góp phần khơi lại, hun đúc lòng yêu nước trong mỗi đoàn viên thanh niên, ý thức tinh thần dân tộc sâu sắc Khâm phục những khó khăn, gian lao, vất vả và sự hy sinh cống hiến của những vị anh hùng đất thép

VĂN BẢN 3: TA ĐI TỚI ( Tố Hữu)

SAU KHI ĐỌC

Trang 11

Câu hỏi 1 Đọc trích đoạn bài thơ, em hình dung như thế nào về bối cảnh lịch sử (không

gian, thời gian, những sự kiện quan trọng ) đã gợi nguồn cảm hứng thơ ca cho tác giả?Không gian: rộng được tác giả nhắc nhiều qua các địa danh trên khắp mọi miền tổ quốc Thời gian: ban ngày

Thời điểm: tháng 8 năm 1954 cuộc cách mạng kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi

=> Bài thơ Ta đi tới ca ngợi chiến thắng, vừa gợi suy nghĩ về đoạn đường sắp tới Bài thơ chứa đựng những cảm xúc thời đại, và có tính biểu tượng cao

Câu hỏi 2 Nhìn lại chặng đường cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp "ba ngàn ngày

không nghỉ" nhà thơ đã bộc lộ cảm xúc gì? Theo em, đây chỉ là cảm xúc của cá nhân nhà thơ hay còn là cảm xúc chung của cộng đồng? Vì sao?

Chặng đường cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp "ba ngàn ngày không nghỉ " nhà thơ đã bộc lộ tình cảm yêu cách mạng, yêu nước trong những năm chiến đấu gian khổ

Đây chính là cảm xúc chung của cộng đồng bởi thời ấy, cách mạng chính là mục tiêu chung của dân tộc Việt Nam, nên cảm xúc cá nhân của tác giả đã hòa vào cảm xúc chung của cả cộng đồng

Câu hỏi 3 Xác định hình ảnh trung tâm của đoạn trích Hình ảnh đó có mối liên hệ với

những hình ảnh nào khác trong đoạn trích?

Hình ảnh trung tâm của đoạn trích là nhân vật trữ tình "ta" Hình ảnh này có thể là Quân dân ta/ Nhân dân/ Dân tộc/ Những người dân nước Việt

Câu hỏi 4 Những địa danh nào được nhắc đến trong đoạn trích? Theo em, việc xuất hiện

mỗi loạt địa danh như vậy mang lại hiệu quả gì trong việc thể hiện tình cảm của tác giả?Những địa danh được nhắc trong đoạn trích: Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên, Tây Bắc, ĐiệnBiên, sông Lô, Bình Ca, Phú Thọ, Trung Hà, Hưng Hóa, khu Ba, khu Bốn, sông Thao, Nam

Bộ, Tiền Giang, Hậu Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Nam - Ngãi, Bình - Phú, Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết, Tây Nguyên, Kom Tum, Đắc Lắc, khu Năm, sông Hương, bến Hải, cửa Tùng

Việc xuất hiện một loạt địa danh như vậy chứng tỏ niềm vui hân hoan trong ngày chiến thắngĐiện Biên đã trải khắp từ Bắc vào Nam cho thấy tình yêu cách mạng, lòng yêu nước được hiện diện trong mỗi người dân Việt Nam trên khắp cả nước

Câu hỏi 5 Trong đoạn trích, tác giả sử dụng lặp đi lặp lại cấu trúc: "Ai ", "Đường " Hãy

phân tích tác dụng biện pháp nghệ thuật ấy

Biện pháp nghệ thuật điệp cấu trúc "Ai ", "Đường " đã nhấn mạnh những khó khăn, vất vả của người lính khi hành quân và ca ngợi những tấm gương anh hùng không ngại gian khó, vất vả để tham gia vào cuộc kháng chiến trường kì của cả dân tộc

Câu hỏi 6 Nhận xét về cách đặt nhan đề của bài thơ.

Ta đi tới là nhan đề được tác giả Tố Hữu đặt mang ý nghĩa vừa ngợi ca chiến thắng, vừa gợi suy nghĩ về đoạn đường sắp tới mà nhân dân đang đi tới xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 12

 Bày tỏ cảm xúc của em khi được trực tiếp tham gia chuyến đi.

2 Thân bài

- Kể lại cụ thể diễn biến của chuyến tham quan (trên đường đi, lúc đến điểm tham quan, trình

tự các điểm đến thăm, những hoạt động chính trong chuyến đi…)

- Thuyết minh, miêu tả và nêu ấn tượng của em về những nét nổi bật của di tích lịch sử, văn hóa đó (thiên nhiên, con người, công trình kiến trúc…)

3 Kết bài

Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em về chuyến tham quan, di tích lịch sử văn hóa

Viết bài văn kể lại một chuyến đi

Có ai đó đã từng nói rằng: “Cuộc đời là những chuyến đi” Chúng ta đi để thấy được rằng thếgiới thật rộng lớn, còn nhiều điều mà bản thân chưa khám phá hết Bản thân tôi cũng có những chuyến đi bổ ích như vậy

Cuối tuần, tôi đã có một chuyến tham quan cùng với các thành viên trong lớp Trường học đã

tổ chức cho học sinh toàn trường một chuyến ghé thăm kinh thành Huế Chúng tôi đã được

có thêm nhiều điều bổ ích sau chuyến đi này

Từ tối hôm trước, mẹ đã giúp tôi chuẩn bị các đồ dùng cần thiết Tôi đi ngủ thật sớm để sáng hôm sau đến trường cho đúng giờ Buổi sáng, tôi thức dậy ăn sáng và được mẹ đưa đến trường Đúng sáu giờ, học sinh của từng lớp phải tập hợp ở sân trường Cô giáo chủ nhiệm yêu cầu lớp trưởng điểm danh sĩ số Sau đó, chúng tôi xếp thành hàng để lên xe Khoảng sáu giờ ba mươi phút, xe đã xuất phát Bác hội trưởng và hội phó của hội phụ huynh học sinh cũng đi cùng Chúng tôi cảm thấy hào hứng lắm Từ Đà Nẵng vào Huế phải đi mất gần hai tiếng mới đến nơi Trên đường đi, chúng tôi vừa ngắm nhìn đường phố, vừa trò chuyện vui

vẻ Chị hướng dẫn viên còn tổ chức một số trò chơi để bầu không khí thêm sôi động

Khoảng hai tiếng sau, xe đã đi đến nơi Chúng tôi theo sự hướng dẫn của cô giáo chủ nhiệm

đã xuống xe Ai cũng háo hức, mong được nhanh vào tham quan Chúng tôi xếp thành hai hàng, rồi đi tham quan theo sự hướng dẫn của chị hướng dẫn viên Đi đến đâu, chúng tôi cũng được dừng lại, nghe chị thuyết trình về nơi đó Một số bạn còn đặt ra những câu hỏi để chị hướng dẫn viên giải đáp

Kinh Thành Huế được xây dựng vào năm 1805 dưới thời vua Gia Long và được kéo dài gần

ba mươi năm năm đến thời vua Minh Mạng Thành gồm có mười cửa chính Bên trong kinh thành bao gồm: Phòng thành (xây dựng từ những năm 1805 - 1817), Hoàng thành và Tử cấm thành (1840), đàn Nam Giao… Và cả những lăng tẩm, phủ chúa nổi tiếng như lăng Gia Long (1814 - 1820) lăng Minh Mạng (1820 - 1840), lăng Tự Đức (1864 -1867) rất uy nghi, tráng lệ

Kết thúc buổi tham quan, tôi đã học thêm nhiều kiến thức bổ ích về mảnh đất cố đô Tôi càngthêm yêu mến và tự hào về lịch sử của dân tộc Các thành viên trong lớp cũng có được nhiều bức ảnh kỉ niệm đẹp

Tôi cảm thấy chuyến đi này thật bổ ích Tôi cũng mong rằng sẽ có thêm nhiều chuyến đi hơn nữa cùng với bạn bè và thầy cô

NÓI VÀ NGHE

Trình bày bài giới thiệu ngắn về một cuốn sách (cuốn truyện lịch sử)

Bài tham khảo 1:

Trang 13

Tác phẩm “Sử Việt – 12 khúc tráng ca” kể về 12 câu chuyện dựng nước và giữ nước thời phong kiến, được chọn lọc theo tính chất quan trọng và hùng tráng trong dòng chảy lịch sử Việt Nam

Cuốn sách là sự kết hợp của những tư liệu lịch sử đã được kiểm chứng, xen kẽ với nhận định

và đánh giá của người biên soạn Tác phẩm kể lại các câu chuyện Sử Việt đầy hấp dẫn bằng một cách tiếp cận hoàn toàn mới, không phải như tiểu thuyết dã sử, nhưng cũng không phải

là một tài liệu chuyên khảo khô khan

Đây là cuốn sách lịch sử Việt Nam dành cho tất cả mọi thế hệ Bởi chỉ cần là người Việt Nam, thì đều có thể tìm kiếm được trong đây tình yêu với sử nhà bởi tính chất hấp dẫn, bi hùng và những bài học của tiền nhân để lại thông qua những câu chuyện đặc sắc

Không chỉ đưa người đọc đến với những vị anh hùng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… cuốn sách còn đến với những nhân vật quan trọng chưa được đánh giá đúng mực (Khúc Hạo), hay những địa danh bị bụi phủ mờ (thành Bình Lỗ, đầm Thi Nại), càng không chỉ nói sơ qua chiến tích ở Bạch Đằng, mà còn giúp hiểu thêm kĩ thuật đóng cọc trên sông Bên cạnh giải đáp chuyện bí ẩn Quang Trung hành quân thần tốc, còn lý giải vì sao lãnh thổ dân tộc có diện mạo hình chữ S như ngày hôm nay

“Sử Việt – 12 khúc tráng ca” hệt như một cuốn phim li kì, với hàng loạt câu hỏi về các nghi

án lịch sử, những tranh đoạt hoàng quyền trong các triều đại phong kiến Việt Nam Cuốn sách lịch sử Việt Nam này như một bản nhạc, khi thì dồn dập, khi thì bi ai, khi thì hùng tráng,khi thì trầm mặc Những câu chuyện trập trùng xen kẽ như các khúc ca thăng trầm của dân tộc Việt Nam

Bài tham khảo 2:

Được hoàn thiện bằng chữ Hán năm 1914, rồi được chính tác giả chuyển soạn sang chữ quốc ngữ và đăng trên Đông Dương tạp chí năm 1915, VIỆT SỬ YẾU của Hoàng Cao Khải có thểxem là cuốn sách quốc ngữ đầu tiên mở ra lối viết hiện đại về lịch sử Việt Nam Học tập cáchviết sử từ phương Tây, sách tạo nên một bứt phá đáng kể trong cách tiếp cận và biên soạn lịch sử, khác hẳn lối chép sử biên niên truyền thống của các sử gia phong kiến

Như một cuốn sử yếu, tác phẩm khái quát ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ về toàn bộ lịch

sử Việt Nam, từ sự khởi đầu của nhà nước Văn Lang cho đến thời điểm cuốn sách lịch sử Việt Nam này được hoàn thiện năm Duy Tân thứ tám, 1914

Thay vì lần lượt ghi chép các sự kiện theo trình tự năm tháng và các đời vua chúa, Hoàng Cao Khải đưa ra cách phân kỳ lịch sử mới, hệ thống hóa và bố cục thành các chương, tiết rành mạch, chặt chẽ, đồng thời có những ý kiến phê bình, nhận xét tinh tế, sắc bén

Đó là điều mang lại cảm hứng cùng những gợi dẫn vô cùng quan trọng để các công trình sau

đó kế thừa, phát huy, trong đó trực tiếp và đáng kể nhất là Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim Cho đến nay, VIỆT SỬ YẾU vẫn là một công trình mang nhiều điểm độc đáo để chúng

ta cùng suy ngẫm và đối thoại

Bài tham khảo 3:

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim xuất bản lần đầu năm 1920, dựa trên những nghiên cứu trước đó như Nam sử tiểu học và Sơ học An Nam sử lược từ những năm 1914 -1917, là

bộ thông sử viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam được soạn theo phương pháp hiệnđại

Với Việt Nam sử lược, sử học Việt Nam lần đầu tiên có một công trình thoát ly được khỏi lốichép sử biên niên truyền thống của Trung Quốc vốn chỉ nêu lên từng sự kiện riêng lẻ, rời rạc

Trang 14

Việt Nam sử lược trình bày các diễn biến lịch sử thành một câu chuyện liên tục và hấp dẫn, cho người đọc thấy được mối liên lạc nhân quả, biện chứng giữa các sự kiện xảy ra theo dòngthời gian

Ngoài ra, khác với lối chép sử của các sử thần thời phong kiến thường chỉ chú ý ghi chép hành vi, hoạt động của vua chúa quan lại, những cuộc tranh bá đồ vương, Việt Nam sử lược trái lại đã bắt đầu chú ý nhiều đến những sự kiện liên quan đời sống thực tế của dân chúng, sinh hoạt của xã hội, phong tục, tín ngưỡng, … Tất cả đều được thể hiện với một thái độ điềm tĩnh, khách quan, và công bằng đúng như một sử gia cần có

Từ lâu đã được coi là tác phẩm kinh điển của sử học Việt Nam, cũng là cuốn sách lịch sử Việt Nam để đời của học giả Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược hiện vẫn là bộ tín sử ngắn gọn súc tích, dễ nhớ dễ hiểu, sinh động và hấp dẫn nhất từ trước đến nay Một kiệt tác luôn cần được đọc và đọc lại

sang nước ta giả vờ mượn đường

để xâm lược nước ta Thấy sứ giặcngang ngược đủ điều, Trần Quốc Toản vô cùng căm giận Vào một buổi sáng, biết vua vừa họp bàn việc nước ở dưới thuyền rồng, chàng quết đòi gặp vua Trần Nhân Tông để nói hai tiếng " xin đánh"

Đợi từ sáng đến trưa vẫn không được gặp, chàng liều chết xô mấy tên lính gác ngã xuống rồi xăm xăm xuống thuyền Quân lính ập đến vây kín, Quốc Toản mặt đỏ bừng bừng vuốt gươm quát lớn: "

Khi nghe tin QuânThanh đã đóng chiếm thành Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đếrồi thân chinh cầmquân dẹp giặc Cuộc hành quân thần tốc cùng chiến thắng lừng lẫy mà nghĩa quânTây Sơn đã dành được Sự thất bại

Trang 15

Ta xuống xin bệ kiến vua, không

kẻ nào được giữ ta lại" Lúc đó, cuộc họp cũng đã xong, vua cùng các vương hầu ra ngoài du thuyề, chàng chạy đến và quỳ xuống tâu:

" Cho giặc mượn đường là mất nước xin bệ hạ cho đánh" Và nói xong, chàng đặt gươm lên gáy xin chịu tội Vua cho chàng đứng dậy

và bảo chàng đã làm trái phép nước lẽ ra nên chịu tội nhưng thấy chàng còn trẻ nên tạm tha cho chàng vì tấm lòng của chàng Nói xong, vua ban cho chàng một quả cam, chàng tạ ơn vua, chân bước lên bờ mà lòng ấm ức bởi thấy chàng còn quá trẻ chưa đủ bàn việc nước Nghĩ đến quân giặc đang hoành hành như vậy, chàng nghiến răng hai bàn tay bóp chặt quả cam Sau đó chàng trở về tập hợp gia nô và nhân dân mài vũ khí, đóng thuyền, thêu lên cờ sáu chữ: " Phá cường địch báo hoàng ân"

của quân Thanh, tình trạng thảm hạicủa vua tôi Lê Chiêu Thống

Trần Nhân Tông, các vươg gia

Vua Quang Trung,

Lê Chiêu Thống,

giản dị

Câu hỏi 2 Tìm đọc thêm một truyện lịch sử và thực hiện các yêu cầu sau:

a Xác định bối cảnh xảy ra các sự kiện được tái hiện trong tác phẩm

b Nêu chủ đề của truyện

c Chọn một nhân vật em yêu thích và nêu một vài đặc điểm tiêu biểu của nhân vật đó ( ngoạihình, lời nói, hành động, suy nghĩ, )

a Quân Nam Hán xâm lược nước ta

b Chủ đề: Ngô Quyền đánh quân Nam Hán

c

Ngô Quyền sinh ngày 12-3-898, ở tại Đường Lâm (Ba Vì - Hà Tây), cha là Ngô Mân một Hào trưởng có tài đức Ngô Quyền thông minh, văn võ song toàn, được Dương Đình Nghệ gảcon gái là Dương Thị Ngọc và cho cai quản đất Ái Châu (Thanh Hóa) Nhà Hán có con là Vạn Vương Hoằng Thao, đưa quân sang xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã nhanh chóng tập

Trang 16

hợp lực lượng, đem quân giết tên phản bội là Kiêu Công Tiễn và đón đánh quân Nam Hán

Để đánh thắng quân Nam Hán, lợi dụng thủy triều lên xuống ông cho bố trí một trận địa cọc nhọn bịt sắt, cắm xuống lòng sông Bạch Đằng Khi chiến thuyền của giặc hùng hổ tiến vào sông Bạch Đằng, quân ta nhử cho giặc vượt qua trận địa cọc, đợi cho nước thủy triều xuống, đánh trước mặt và hai bên bờ sông làm cho thuyền giặc tháo chạy va vào cọc nhọn bịtsắt bị đắm chìm gần hết Thái tử Hoằng Thao chết tại trận, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân Nam Hán Sau chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng

đô ở Cổ Loa (Hà Nội), mở ra một kỷ nguyên mới dựng nền độc lập tự chủ, tức là đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, Ngô Quyền làm vua từ năm 939 đến 944 thì mất

Câu hỏi 1 Chỉ ra đặc điểm thi luật ( bố cục, niêm, luật bằng trắc, vần, nhịp, đối) của thể thơ

thất ngôn bát cú Đường luật được thể hiện trong bài thơ Thu điếu

- Bố cục: gồm đủ 4 phần: đề - thực - luận - kết, mỗi phần 2 câu

- Niêm: có các cặp câu cùng thanh của chữ thứ 2: chiếc-biếc (T-T), vàng-mây (B-B), trúc-gối(T-T), thu-đâu (B-B)

- Luật bằng trắc: Luật bằng (căn cứ vào chữ thứ 2 của câu 1 là thanh bằng)

Trang 17

- Đối: nắng xuống - trời lên.

Câu hỏi 2 Giải thích ý nghĩa của nhan đề bài thơ Chỉ ra mối liên hệ giữa nhan đề và hai câu

đề

 Chủ đề bài thơ: Qua việc diễn tả thú vui câu cá vào mùa thu, Nhà thơ thể hiện niềm giao cảm với thiên nhiên, cảnh vật, từ đó bộc lộ những tâm sự thầm kín về quê hương,đất nước thông qua việc diễn tả thú vui câu cá

 Nhan đề Câu cá mùa thu có liên quan mật thiết đến chủ đề bài thơ, thể hiện hành vi của chủ thể trữ tình nhưng ârn chứa sau đó là thế giới nội tâm nhiều trăn trở của tác giả

Câu hỏi 3 Bức tranh thiên nhiên mùa thu được tái hiện ở những khoảng không gian nào?

Nhận xét về trình tự miêu tả những khoảng không gian đó

 Không gian trong Thu điếu: tĩnh lặng, phảng phất buồn:

+ Cảnh thu đẹp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn: nước “trong veo” trên một không gian tĩnh, vắng người, ngõ trúc quanh co khách vắng teo

+ Các chuyển động rất nhẹ, rất khẽ, không đủ tạo ra âm thanh

+ Đặc biệt câu thơ cuối tạo được một tiếng động duy nhất: "Cá đâu đớp động dưới chân bèo" → Không phá vỡ cái tĩnh lặng, mà ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật → Thủ pháp lấy động nói tĩnh

→ Không gian đem đến sự cảm nhận về một nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ Bài thơ nói chuyện câu cá mà thực ra người đi câu cá không chú ý gì vào việc câu cá Tâm sựcủa người câu cá là chính là nỗi lòng non nước, nỗi lòng thời thế của nhà nho có lòng tự trọng và lòng yêu quê hương đất nước như Nguyễn Khuyến Tâm hồn của tác giả gắn bó tha thiết với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc

Câu hỏi 4 Phân tích các từ ngữ miêu tả hình dáng, màu sắc, âm thanh, chuyển động của

các sự vật; từ đó hãy khái quát những nét đẹp điển hình của mùa thu vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ được tái hiện trong bài thơ

Trang 18

- Cảnh thu vừa trong vừa tình Ao nước trong tưởng có thể nhìn thấu đáy (trong veo), sóng biêng biếc phản chiếu màu cây, màu trời, trời ít mây nên càng nổi bật màu xanh ngắt (xanh ở đây cũng có thể hiểu là trong) Tĩnh: mặt ao lặng, lạnh lẽo (cái lạnh) thường hay sóng đôi với cái lặng, sóng hơi gợn (gợn tí), gió khẽ đưa lá vàng, khách vắng teo, tiếng cá đớp bỗng nghe

mơ hồ như có như không (cái động của liêng cá đớp bỗng càng làm nổi bật cái tình chung của cảnh) Ở đây, trong gắn liền với tĩnh

- Đây là cảnh thu đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, ở xứ đồng chiêm trũng Các chi tiết miêu

tả trong bài đều giàu tính hiện thực, hầu như không vướng chút ước lệ nào, có thể gợi những cảm xúc sâu lắng về quê hương

- Dưới ngòi bút của tác giả, tất cả các sự vật được nhắc tới đều xứng hợp với nhau: ao thu nhỏ - thuyền câu bé, gió nhẹ - sóng gợn tí, trời xanh - nước trong, khách vắng teo - người ngồi câu trầm ngâm yên lặng, đặc biệt là các mảng màu xanh của nước, của tre trúc thật hoa diệu với màu xanh của bầu trời

- Từ láy trong thơ chẳng những tạo ra vẻ thuần Nôm cho tác phẩm mà còn có tác dụng làm tăng nhạc tính Từ láy vừa mô phỏng dáng dấp, động thái của sự vật, làm cho sự vật hiện lên sống động, vừa thể hiện được biến đổi tinh vi trong cảm xúc chủ quan của người sáng tạo: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng Lạnh lẽo không hẳn nói về cái lạnh của nước mà nói về không khí đượm vẻ hiu hắt của cảnh vật cũng như tâm trạng u uẩn của nhà thơ Tẻo teo có thể được giảithích là rất nhỏ (chiếc thuyền câu nhỏ), âm eo được lặp lại gợi liên tưởng về một "đối tượng" đang mỗi lúc một thu hẹp diện tích, phù hợp với cái nhìn của nhà thơ muốn mọi vật thu lại vừa trong tầm mắt, không mở ra quá rộng làm cho không khí suy tư bị loãng đi Lơ lửng vừa gợi hình ảnh đám mây đọng lại lưng chừng giữa tầng không, vừa gợi trạng thái mơ màng của nhà thơ

Câu hỏi 5 Ở hai câu kết, hình ảnh con người hiện lên trong tư thế, trạng thái như thế nào?

Qua đó, em cảm nhận được nỗi niềm tâm sự gì của tác giả?

Nhà thơ đã hòa vào trời thu, cảnh thu Cảnh thu rất đẹp, rất sinh động Phải yêu thiên nhiên, đất nước thì tác giả mới vẽ ra được một bức tranh thiên nhiên cảnh thu với màu sắc sống động, tươi sáng, mang một nét đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ Đặc biệt, hai câu thơ cuối thể hiện tấm lòng của nhà thơ:

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

→ Tác giả đi câu cá nhưng thực chất gợi lên những suy tư, ngẫm ngợi về chuyện dân, chuyệnnước, về nhân tình thế thái Tác giả tuy ở ẩn nhưng vẫn luôn hướng về cuộc đời, vẫn nặng lòng với thời cuộc và với đất nước

Câu hỏi 6 Nêu chủ đề của bài thơ Chủ đề ấy giúp em hiểu thêm điều gì về tâm hồn tác giả?

Chủ đề của bài thơ: Mượn việc miêu tả thú vui câu cá vào mùa thu, tác giả thiển hiện nỗi niềm hòa mình vào thiên nhiên, cảnh vật để bộc lộ những tâm tư thầm kín về quê hương, đất nước

Chủ đề này giúp em hiểu được nỗi lo lắng, sầu tư về thời thế của tác giả kể cả khi đã chọn về

ở ẩn, có cuộc sống thanh sao, chia xa sự đời

VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Câu hỏi: Viết đoạn văn ( khoảng 7 - 9 câu) phân tích hai câu thơ khiến em có ấn tượng nhất

trong bài thơ Thu điếu

Trang 19

Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lí Đông phương Thơ chữ Hán của ông hầu hết là thơ trữ tình Có thể nói

cả trên hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công Thu điếu được trích từ chùm thơ thu gồm ba bài: Thu điếu, thu vịnh Cả ba thi phẩm đều được viết bằng từ chương, bút pháp thi trung hữu họa, lấy động tả tĩnh của văn học trung đại, nhưng vẫn mang đậm dấu ấn riêng của một trong những bậc thầy thơ Nôm đường luật xuất sắc Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trờ lại gần Từ điểm nhìn của một người ngồi chiếc thuyền nhìn ra mặt

ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ vắng rồi lại trở người về với ao thu, nhà thơ đã quan sát không gian, cảnh sắc thu theo người lương thật sinh động

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”

Nguyễn Khuyến đã chọn những chi tiết rất tiêu biểu cho mùa thu xứ Bắc (ao thu, gió thu, trờithu) Ao thu là thứ ao rất riêng chỉ mùa thu mới xuất hiện Nguyễn Khuyến đã ghi nhận được hai đặc trưng của ao thu là lạnh lẽo và trong veo – ao lạnh nước yên, trong đến tận đáy Ao lànét thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến, nói đến ao là gợi đến một cái gì rất gần gũi, thân quen, tâm hồn Nguyễn Khuyến là thế: thân mật, bình dị, chân thành với hồn quê Trời thu trong xanh cũng là hình quen thuộc trong thơ Nguyễn Khuyến Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu Những án mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà

lơ lửng Xanh ngắt trong thơ Nguyễn Khuyến là xanh trong, tinh khiết đến tuyệt đối, không

hề pha lẫn, không hề gợn tạp Đường nét chuyển động nhẹ nhàng, mảnh mai, tinh tế: hơi gợn

tí, khẽ đưa vèo, mây lơ lửng, đường bao thanh mảnh của rặng trúc, đường gợn của lượn sóng

ao thu Cảnh vật toát lên sự hài hòa, xứng hợp: Ao nhỏ – thuyền bé; gió nhẹ – sóng gợn; trời xanh – nước trong; khách vắng teo – chủ thể trầm ngâm tĩnh lặng

THTV TỪ TƯỢNG HÌNH VÀ TỪ TƯỢNG THANH

Câu hỏi 1 Chỉ ra các từ tượng hình và từ tượng thanh trong những trường hợp sau:

a Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

[ ] Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

( Nguyễn Khuyến, Thu điếu)

b Líu lo kia giọng vàng anh

Mùa xuân vắt vẻo trên nhành lộc non

( Ngô Văn Phú, Mùa xuân)

c Tôi không nhớ tôi đã nghe tiếng chồi non tách vỏ vào lúc nào, tôi cũng không nhớ tôi đã nghe tiếng chim lích chích mổ hạt từ đâu, nhưng tôi cảm nhận tất cả một cách rõ rệt trong từng mạch máu đang phập phồng bên dưới làn da

( Nguyễn Nhật Ánh, Tôi là Bê - tô)

a từ tượng hình: lạnh lẽo, trong veo, tẻo teo, vắng teo, xanh ngắt

b từ tượng thanh: líu lo

từ tượng hình: vắt vẻo

c từ tượng thanh: lích chích, phập phồng

Câu hỏi 2 Xác định và phân tích tác dụng của các từ tượng hình, từ tượng thanh trong những

đoạn thơ sau:

a Năm gian nhà cỏ thấp le te,

Trang 20

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

( Nguyễn Khuyến, Thu ẩm)

b Sáng hồng lơ lửng mây son,

Mặt trời thức giấc véo von chim chào

Cổng làng rộng mở Ồn ào,

Nông phu lững thững đi vào nắng mai

( Bằng Bá Lân, Cổng làng)

a Le te: rất thấp và bé nhỏ

Lập lòe: có ánh sáng nhỏ phát ra, khi lóe lên khi mờ đi, lúc ẩn lúc hiện và liên tiếp

Phất phơ: chuyển động nhẹ nhàng qua làn gió

Lóng lánh: ánh sáng phản chiếu tựa như mặt nước dưới ánh trăng, không liên tục nhưng đều đặn, sinh động và đẹp mắt

b Lơ lửng: trạng thái di động nhẹ ở khoảng giữa lưng chừng, không dính bám vào đâu

Véo von: cao và trong, lên xuống nhịp nhàng, nghe vui và êm tai

Câu hỏi 3 Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

Giữa vùng có tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vụt cất cánh bay lên Chim ảo già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ bóng như màu thuốc đánh móng tay, lại có bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt Những con chim nhỏ bay vù vù kêu líu ríu lượn vòng trên cao một chốc, lại đáp xuống phía sau lưng chúng tôi

(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam)

a Liệt kê các từ tượng hình và từ tượng thanh trong đoạn văn trên

b Phân tích tác dụng của một từ tượng hình và một từ tượng thanh trong đoạn văn

a Các từ tượng hình: tranh khô vàng, mỏ đỏ bóng, chấm trắng chấm đỏ

Các từ tượng thanh: lao xao, bay vù vù, líu ríu

b Tranh khô vàng: biểu thị cho mùa thu khi lá rừng cây đã sang màu vàng

Lao xao: có nhiều âm thanh hoặc tiếng động nhỏ rộn lên xen lẫn vào nhau, nghe không rõ, không đều

VĂN BẢN 2: THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG

TRƯỚC KHI ĐỌC

Câu hỏi: Em có thích ngắm cảnh hoàng hôn không? Vì sao?

Em có thích ngắm hoàng hôn bởi đó là khoảnh khắc yên bình, lãng mạn và hạnh phúc nhất trong một ngày vất vả bộn bề

SAU KHI ĐỌC

Câu hỏi 1 Hãy xác định thể thơ của bài Thiên Trường vãn vọng và cho biết em dựa vào các

yếu tố nào để nhận biết thể thơ đó

"Thiên Trường vãn vọng" được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng)

Câu hỏi 2 Cảnh vật ở hai câu thơ đầu được tái hiện vào khoảng thời gian nào? Chỉ ra mối

liên hệ giữa thời gian và các hình ảnh được miêu tả

Trang 21

Cảnh vật hiện ra không rõ nét, nửa hư nửa thực, mờ ảo Đó là cảnh chiều muộn cảnh vật nhạt nhòa trong sương, thể hiện vẻ đẹp mơ màng, yên tĩnh nơi thôn dã Cảnh đó một phần là thực một phần do cảm nhận riêng của tác giả Khung cảnh vừa như thực lại vừa như cõi mộng “bán vô bán hữu” – nửa như có nửa như không Thời gian buổi chiều gợi nên nỗi buồn man mác, không gian làng quê im ắng, tĩnh mịch Điều đó cho thấy một tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước vẻ đẹp giản dị của cuộc sống.

Câu hỏi 3 Những hình ảnh ở hai câu thơ cuối đã gợi lên một bức tranh cuộc sống như thế

nào?

Âm thanh tiếng sáo làm cho bức tranh trở nên đầy sức sống Chiều về , ngoài đồng, những con trâu theo tiếng sáo của trẻ con mà về, khung cảnh thật yên bình, đẹp đẽ Màu trắng của từng đôi cò liệng xuống đồng cũng làm không gian bớt phần quạnh hiu Bức tranh được tác giả cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác – sắc trắng tinh khôi của những cánh cò; thính giác – âm thanh tiếng sáo du dương, trầm bổng của những đứa trẻ đi chăn trâu Nếu như ở haidòng thơ đầu, cảnh vật tịch mịch, tĩnh lặng không xuất hiện bất cứ chuyển động nào thì đến hai câu thơ cuối khung cảnh trở nên sinh động nhờ xuất hiện âm thanh và hoạt động của sự vật Hình ảnh “cò trắng từng đôi liệng xuống đồng” làm cho không gian được mở ra, trở nên thoáng đãng, cao rộng, trong sạch, yên ả Qua đó còn cho thấy sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, đem lại cảm giác thân quen, gần gũi

Câu hỏi 4 Bài thơ tái hiện cảnh vật và cuộc sống con người trong nhiều khoảng không gian

Em hãy chỉ ra những khoảng không gian đó theo trình tự được miêu tả trong bài thơ

Cảnh chiều tà từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thi sĩ, bởi không gian chiều tà thường gợi cho con người nhiều cảm xúc đặc biệt Bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra chính là sự giao hòa giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật nơi miền quê thôn

dã Mở đầu bài thơ, Trần Nhân Tông đã vẽ nên một không gian mờ ảo của cảnh chiều để làm nền cho bức tranh mà nhà vua sắp vẽ: Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Vùng quê trong thôn phía trước và sau đều chìm trong làn sương mờ mờ như khói phủ Chính không gian đó làm cho cảnh vật hiện lên trong miền quê trở nên huyền ảo, cho ta cảm giác nhẹ nhàng, thanhthoát Chính không gian đó đã tạo cho tác giả một cảm nhận khác lạ: Bóng chiều man mác códường không Tác giả nhìn bóng chiều và cảm nhận như nửa có, nửa không, vừa thực, vừa

mơ Không gian và lòng người như hòa quyện vào nhau và tạo ra cảm giác hư ảo khó diễn tả

Đó là một phần của bức tranh phong cảnh hiện ra trong những phần sau

Câu hỏi 5 Theo em qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống được tái hiện trong bài thơ, tác

giả đã bộc lộ cảm xúc, tâm trạng gì?

Tâm trạng của tác giả: Ta hình dung tác giả như đang đắm chìm mơ màng trong không gian buổi chiều tà dung dị quyến rũ ấy Trong lòng trào dâng một tình yêu tha thiết đối với xóm làng quê hương đất nước thân thương

Câu hỏi 6 Câu kết trong bài thơ tứ tuyệt Đường luật thường để lại dư âm Hãy cho biết câu

kết trong Thiên Trường vãn vọng có thể gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì

Tình quê và hồn quê chan hòa, dào dạt Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên, cảnh vật đồng quê Điều đó cho thấy tâm hồn thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước Tính bình dị, dân dã, hồn nhiên là cốt cách, là hồn thơ của ông vua anh hùng - thi sĩnày

Trang 22

Câu hỏi 7 Tác giả Thiên Trường vãn vọng còn là một vị vua Điều đó gợi cho em những suy

nghĩ gì khi đọc bài thơ?

Cảnh tượng buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh tượng vùng quê trầm lặng mà không đìu hiu vì ở đây vẫn có sự sống con người trong mối giao hòa với cảnh vật thiên nhiên rất đỗi nênthơ Một ông vua mà sáng tác những vần thơ gợi cảm như thế chứng tỏ đây là con người tuy

có địa vị tối cao, nhưng tâm hồn vẫn gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã

Nói khác đi, qua bài thơ Thiên Trường vãn vọng, vua Trần Nhân Tông đã bộc lộ tình yêu quêhương, tình yêu nhân dân, yêu đời trong sáng Điều đó cũng chứng tỏ, ở thời đại nhà Trần, dân tộc ta, nhân dân ta sống rất cao đẹp Bài thơ của Trần Nhân Tông góp thêm một vầng sáng nữa vào “Hào khí Đông A” của thơ văn đời Trần

VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Câu hỏi: Viết đoạn văn ( khoảng 7 - 9 câu) trình bày cảm nhận của em về nhan đề hoặc một

hình ảnh đặc sắc trong bài thơ Thiên Trường vãn vọng

“Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,

Bóng chiều man mác có dường không”

Thôn xóm, nhà tranh mái rạ nối nhau, sum vầy phía trước, phía sau, bốn bề san sát, khói phủ nhạt nhòa, mờ tỏ, “bán vô bán hữu” nửa như có, nửa như không Khói tỏa từ đâu ra thế? Phải chăng, đó là những làn sương chiều lãng đãng hòa quyện với những vầng khói thổi cơm ngay

từ những mái nhà lan tỏa thành một màn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng thanhthản khiến người ngắm cảnh cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không Cảnh thoáng, nhẹ, khiến tâm hồn con người cũng như lâng lâng Hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy làng xóm, khói sương êm ả, thanh bình như thế?

THTV: BIỆN PHÁP TU TỪ

Câu hỏi 1 Chỉ ra câu thơ, câu văn có sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ trong các trường hợp

sau:

a Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

( Trần Tế Xương, Thương vợ)

b Xóm làng xanh mát bóng cây

Sông xa trắng cánh buồm bay lưng trời

( Trần Đăng Khoa, Quê em)

c Chị Dậu về đến đầu nhà đã nghe tiếng khóc khàn khàn của hai đứa trẻ Sấp ngửa, chị chạy vào cổng, quẳng cả rổ mẹt, mẻ nón xuống sân, rồi vội vàng chị vào trong nhà

( Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

TL:

a Cả hai câu thơ đều sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ (lặn lội thân cò, eo sèo mặt nước)

b Cả hai câu thơ đều sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ (xanh mát bóng cây, trắng cánh buồm bay)

c Câu văn thứ hai sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ (sấp ngửa, chị chạy vào cổng; vội vàng chị vào trong nhà)

Câu hỏi 2 Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

Trang 23

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

( Bà Huyện Thanh Quan, Qua Đèo Ngang)

a Chỉ ra các câu thơ sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ trong đoạn thơ

b Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong từng câu thơ

TL:

a Cả 4 câu thơ đều sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ

b Tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ:

- Câu 1: Theo trật tự ngữ pháp thông thường của tiếng Việt, từ “lom khom” lẽ ra đặt sau cụm

từ “tiều vài chú” và từ “tiều” đặt sau “vài chú”, nhưng ở đây lại được tác giả đảo vị trí lên trước, có tác dụng nhấn mạnh tư thế, hình dáng nhỏ bé của con người, từ đó làm nổi bật lên khung cảnh hùng vĩ, hiểm trở của Đèo Ngang

- Câu 2: Theo trật tự ngữ pháp thông thường của tiếng Việt, từ “lác đác” phải đặt sau cụm từ

“chợ mấy nhà” và từ “chợ” đặt sau từ “mấy nhà”, nhưng ở đây lại được đảo vị trí lên trước,

để nhấn mạnh số lượng ít ỏi và sự thưa thớt của những ngôi nhà; từ đó gợi không khí vắng

vẻ, hoang sơ của núi rừng

- Câu 3 và 4: từ “nhớ nước”, “đau lòng”, “thương nhà”, “mỏi miệng” được đảo vị trí, có tác dụng thể hiện nỗi niềm hoài cổ – nhớ tiếc quá khứ vàng son đã trôi qua và tâm trạng hoài hương – nhớ gia đình, quê hương

Câu hỏi 3 Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong các đoạn thơ sau:

a Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Mất ổ bầy chim dáo dác bay

( Nguyễn Đình Chiểu, Chạy giặc)

b Con dê cát đỏ cỏ viền

Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò

( Hoàng Tố Nguyên, Gò Me)

c Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Gò Me hiện lên với sự trong mát, bình yên, giản dị của miền quê thân thiện

c Tác giả đảo hàng loạt tính từ “ồn ào”, “tấp nập” gợi không khí đông vui, sôi động Những người ở nhà tấp nập kéo nhau ra đón đoàn thuyền trở về

VĂN BẢN 3: CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG

SAU KHI ĐỌC

Câu hỏi 1 Các điệu hò xứ Huế gắn bó như thế nào với cuộc sống của con người?

Trang 24

Các điệu hò xứ Huế gắn bó với con người trong lao động, sản xuất, trong đời sống tinh thần của mỗi con người

Câu hỏi 2 Đêm ca Huế có gì đặc biệt về thời gian, không gian? Theo em, thời gian, không

gian ấy tác động như thế nào đến việc thưởng thức ca Huế?

Đêm Thành phố lên đèn như sao sa Màn sương dày dần lên, cảnh vật mờ đi trong một màu trắng đục Đêm đã về khuya Xa xa bờ bên kia Thiên Mụ hiện ra mờ ảo, ngọn tháp Phước Duyên dát ánh trăng vàng Thời gian, không gian ấy đã làm ca Huế nghe buồn man mác thương cảm, bi ai, vương vấn…

Câu hỏi 3 Theo văn bản, ca Huế được hình thành từ đâu? Nguồn gốc đặc biệt ấy mang lại

cho ca Huế vẻ đẹp gì?

Ca Huế hình thành từ nhạc dân gian và nhạc cung đình Các làn điệu ca Huế sôi nổi, tươi vui

vì có nguồn gốc từ nhạc dân gian, còn sang trọng, uy nghi ảnh hưởng từ nhạc cung đình

Câu hỏi 4 Nêu tác dụng của việc kết hợp các yếu tố có vai trò kể chuyện, miêu tả, bộc lộ

cảm xúc, bình luận, trong văn bản

Qua bài viết này, học sinh nhận ra được vẻ đẹp của Huế và ca Huế Cố đô Huế nổi tiếng không chỉ bởi các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử mà con nổi tiếng bởi các làn điệu dân

ca và âm nhạc cung đình Ca Huế là một hình thức sinh hoạt văn hóa – âm nhạc thanh lịch vàtao nhã, một sản phẩm tinh thần đáng trân trọng, cần được bảo tồn và phát triển

Câu hỏi 5 Nhận xét về tình cảm tác giả dành cho ca Huế, xứ Huế

Huế không chỉ nổi tiếng bởi danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử Huế còn nổi tiếng vớinhững làn điệu dân ca, âm nhạc cung đình Huế, những tà áo dài dịu dàng Đặc biệt nghe ca Huế trong thuyền rồng trên sông Hương là một thú tao nhã, đầy quyến rũ

Ca Huế trên sông Hương là một bài tùy bút đặc sắc, giàu chất thơ của Hà Ánh Minh đã đăng trên báo Người Hà Nội Bài tùy bút đã ngợi ca vẻ đẹp phong phú, đặc sắc, độc đáo của nhữngđiệu hò, bài lí, những bài dân ca Huế, những khúc nhạc, những tiếng đàn réo rắt du dương đầy sức quyến rũ, thể hiện một cách tuyệt đẹp tâm hồn con người Huế xưa và nay

Hà Ánh Minh cho biết “xứ Huế nổi tiếng với các điệu hò” như: chèo cạn, bài thai, hò đưa linh, hò giã gạo, hò mái nhì, hò mái đẩy, ru em, giã điệp, giã vôi, bài chòi, bài tiệm, nàng vung Bà con xứ Huế cất tiếng hò trong lao động sản xuất, hay trong mọi sinh hoạt đồng quê, “hò khi đánhcá trên sông ngòi, biền cả, hò lúc cày cấy, gặt hái, trồng cây, chăn tằm”

Hò xứ Huế, ý tình “trọn vẹn”, từ ngữ địa phương được dùng “nhuần nhuyễn”, ngôn ngữ diễn

tả “thật tài ba-phong phú” Giọng điệu cũng muôn màu muôn vẻ: hồ đưa kinh (tông tiễn linh hồn) thì “buồn bã”; chèo cạn, hò giã gạo, hò mái nhì, mái đẩy, bài chòi thì “náo nức, nồng hậu tình người" Các điệu hò lơ, hò xay lúa, hò nện “thể hiện lòng khát khao, nỗi mong chờhoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế” Dân ca Huế còn nổi tiếng với các điệu lí rất tình tứ, dịungọt như: lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam

Thú nghe ca Huế tao nhã, đầy sức quyến rũ Ca Huế là sự kết hợp hài hòa giữa dòng ca nhạc dân gian đậm đà, đắm say và ca nhạc cung đình, nhã nhạc “trang trọng uy nghi" Ca Huế rất phong phú, thể hiện theo hai dòng lớn: điệu Bắc và điệu Nam với trên 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc

Điệu Nam như nam ai, nam bình, quả phụ, nam xuân, tương tư khúc, hành vân thì “buồn man mác, thương cảm, bi ai, vương vấn”

Ca Huế rất phong phú, đa dạng, biến hóa về âm hưởng, thể điệu và lời ca Âm hưởng các bảnnhạc điệu Bắc pha phách điệu Nam thì “không vui, không buồn” như “tứ đại cảnh” Thể hiện

Trang 25

ca Huế có “sôi nổi, tươi vui, có buồn cảm, bâng khuâng, có tiếc thương ai oán” Lời ca thì trăm màu trăm vẻ: “thong thả, trang trọng, trong sáng gợi lên tình người, tình đất nước, trai hiền, gái lịch”:

Ca Huế rất hấp dẫn đối với du khách vì không gian trình diễn là trên một con thuyền rộng to

và dài, đầu rồng như muốn bay lên; sàn gỗ bào nhẵn, mui vòm trang trí lộng lẫy Đêm xuống,màn sương dày lên Trăng lên Gió mơn man dìu dịu Dòng sông Hương gợn sóng Con thuyền bồng bềnh Những đêm ca Huế tuyệt vời như vậy

Dàn nhạc dân tộc trong đêm ca Huế có đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhi, đàn tam, đàn bầu, sáo, cặp sanh để gõ nhịp, có đủ mặt anh tài tham gia

Các ca công rất trẻ, nam với áo dài the, quần thụng, khăn xếp; nữ rất xinh đẹp, mặc áo dài, khăn dóng, duyên dáng Nghệ thuật biểu diễn vô cùng điêu luyện, đủ các ngón đàn trau chuốtnhư: ngón nhấn, mổ, vỗ, vả, ngón bấm, day, chớp, búng, ngón phi, ngón rãi , nghe rất du dương, trầm bổng, réo rắt, lúc khoan lúc nhặt “làm nên tiết tấu xao động tận đáy hồn người”.Hòa cùng tiếng đàn, nhịp phách là “sóng vỗ ru mạn thuyền”, là tiếng gà gáy bên làng Thọ Xương, tiếng chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh Đêm đã khuya, chùa Thiên Mụ mờ ảo, ngọn tháp Phước Duyên dát vàng Khung cảnh ấy thật huyền ảo, thơ mộng Giữa không gian ấy lúc đêm đã về khuya, các ca nhi đẹp như những nàng tiên cất lên những điệu Nam

“nghe buồn man mác, thương cảm, bi ai, vương vấn”

Đúng như tác giả đã nói: “Thú nghe ca Huế tao nhã, đầy sức quyến rũ” Gà gáy đã sang canh

mà trong khoang thuyền “vẫn đầy ắp lời ca, tiếng nhạc”

Hà Ánh Minh, một lữ khách thích giang hồ, lần đầu được thưởng thức một đêm ca Huế trên sông Hương không bao giờ có thể quên Lúc bước xuống thuyền rồng “với hồn thơ lai láng, tình người nồng hậu” Lúc nằm trên dòng Hương thơ mộng để nghe ca Huế “với tâm trạng chờ đợi rộn lòng” Say đắm trong lời ca tiếng nhạc du dương, tác giả cảm thấy: “Không gian như lắng đọng Thời gian như ngừng trôi” Ca Huế, chính là nội tâm con gái Huế “thật phongphú và âm thầm, kín đáo và sâu thẳm” Nhận xét ấy rất xác đáng, rất phong tình và tài hoa Câu văn như rung động, cảm xúc dồn nén lại, lắng đọng và bâng khuâng

Trong chúng ta, ai đã được tham dự, được thưởng thức một đêm ca Huế trên sông Hương?

Và những ai trong chúng ta đã có ít nhiều hiểu biết về dân ca Huế và tâm hồn Huế?

Huế đẹp và thơ Cảnh sắc thiên nhiên đẹp Nhất là sông Hương - bài thơ trữ tình của cô' đô Huế Những câu hò, những bài ca Huế với tiếng đàn tranh, đàn tam huyền diệu mãi mãi in sâu vào tâm hồn người gần xa

Qua bài tùy bút Ca Huế trên sông Hương, Hà Ánh Minh dành những lời đẹp nhất, hay nhất ngợi ca một thú chơitao nhã của con người núi Ngự sông Hương đã bao đời nay Hò Huế, ca Huế và những tiếng đàn réo rắt du dương trong những đêm trăng ca Huế trên sông Hương là một nét đẹp của miền văn hóa Huế rất đáng trân trọng và tự hào

Hà Ánh Minh với cảm xúc “hồn thơ lai láng" của một lữ khách đã giới thiệu cho ta biết các điệu hò, bài ca Huế, hình ảnh các nhạc công và các ca nhi tài hoa, điệu nghệ, cách trình diễn những đêm ca Huế trên sông Hương Câu văn của Hà Ánh Minh rất giàu chất thơ khi viết về thiên nhiên, gió, trăng, sóng, con thuyền, chùa Thiên Mụ, tháp Phước Duyên cảnh và tình, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện Câu hát, lời

ca và tiếng đàn du dương hòa quyện, được nói đến với bao cảm xúc dạt dào

PHÂN TÍCH BÀI VIẾT THAM KHẢO

Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Trang 26

Câu hỏi 1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu khái quát giá trị của tác phẩm

Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam Thơ ông bắt nguồn từtâm huyết với dân, với nước, với đời Tú Xương cũng đã Việt hóa sâu sắc thể thơ Nôm Đường luật, hình ảnh ngôn từ bình dị, đậm sắc thái dân gian và nóng hổi hơi thở đời sống

"Thương vợ" là bài thơ cảm động nhất trong chùm thơ văn câu đối về đề tài bà Tú Với tình cảm thương yêu quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách chân thực xúc động hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh

Giá trị của tác phẩm:

1 Giá trị nội dung

 Xây dựng thành công hình ảnh của bà Tú - một người vợ tảo tần, giàu đức hi sinh, đã gánh vác gia đình với những gánh nặng cơm áo gạo tiền đè lên đôi vai gầy Đồng thời,thông qua đó, người đọc cũng có thể cảm nhận được tình thương yêu, quý trọng người

Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật

Câu hỏi 3 Phân tích nội dung cơ bản của bài thơ

a Hai câu thực:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

 Công việc của bà Tú là buôn bán Thời gian làm việc là quanh năm, tức là từ ngày nàyqua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không có một ngày được nghỉ ngơi Địa điểm làm việc ở mom sông Phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông, nơi người làng chài thường hay tụ tập mua bán Ở đây cũng gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cuộc đời lắm cơ cực, phải vật lộn để kiếm sống

 “Nuôi đủ năm con với một chồng” ý nói gánh nặng gia đình đang đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ Tú Xưng dùng cách đếm con, chồng nhằm ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia đình gặp nhiều khó khăn: đông con, còn người chồng đang phải

Trang 27

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

 Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tế Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú Thân cò lầm lũi gợi liên tưởng về thân phận vất vả, cực khổ, của

bà Tú cũng như những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ Ba từ "khi quãng vắng" đã nói lên không gian heo hút, vắng lặng chứa đầy những lo âu, nguy hiểm Câuthơ dùng phép đảo ngữ đưa từ "lặn lội" lên đầu câu và dùng từ "thân cò" thay cho từ

"con cò" càng làm tăng thêm nỗi vất vả gian truân của bà Tú Không những thế, từ

"thân cò" còn gợi nỗi ngậm ngùi về thân phận nữa Lời thơ vì thế mà cũng sâu sắc hơn, thấm thìa hơn

 Câu thứ tư làm rõ sự vật lộn với cuộc sống đầy gian nan của bà Tú Từ "eo sèo" là từ láy tượng thanh ý chỉ sự kì kèo, kêu ca phàn nàn một cách khó chịu, gợi tả cảnh tranh bán, cãi vã nơi “mặt nước” Câu thơ gợi tả cảnh chen chúc, bươn trải trên sông nước của những người làm nghề buôn bán nhỏ Chi tiết “buổi đò đông” hàm chứa không phải ít những lo âu, nguy hiểm "khi quãng vắng" Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được để “nuôi đủ năm con với một chồng” phải lặn lội trong nắng mưa, phải giành giật, phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt trong thời buổi khó khăn

c Hai câu luận

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

 Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt Từ “duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng Còn “nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình Từ “Âu đành phận”, “dám quản công” làm giọng thơ nhiều xót

xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le Ta thấy sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực

và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình

là một lẽ thường tình trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ Tú Xương dám thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, dám tự nhận khuyết điểm của mình Từ đó chothấy ông là một người có nhân cách đẹp

 Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo Tú

Trang 28

Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi.

Câu hỏi 4 Phân tích một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ

"Thương vợ" là một trong những bài thơ mà Tú Xương vận dụng một cách rất sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian

 Về hình ảnh: Trong ca dao, hình ảnh con cò có khá nhiều ý nghĩa: có khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương chịu khó; có khi lại tượng trưng cho thân phận người lao động với nhiều bất trắc thua thiệt

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

 Về từ ngữ:

o Thành ngữ "năm nắng mười mưa" được vận dụng một cách rất sáng tạo

o Cụm từ "nắng mưa" chỉ sự vất vả Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với "nắng, mưa" tạo nên một thành ngữ chéo Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú

o Bên cạnh đó chủ đề “Duyên nợ” trong ca dao cũng được tác giải sử dụng sáng tạo “một duyên hai nợ” muốn nhấn mạnh rằng duyên phận vợ chồng như số phận trời sắp đặt, tình nghĩa vợ chồng vì vậy cũng gắn bó hơn

Câu hỏi 5 Khẳng định vị trí, ý nghĩa của bài thơ

“Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người

mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị

THỰC HÀNH VIẾT THEO CÁC BƯỚC

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật)

Bài tham khảo 1:

Được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, bài thơ thần "Nam quốcsơn hà" của chủ tướng Lí Thường Kiệt đã trở thành một áng thơ văn bất hủ, không chỉ khẳng định được vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, độc lập của dân tộc Việt Nam, mà bài thơ còn thể hiện được tính thần lực, tự tôn dân tộc mạnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lí Thường Kiệt cũngnhư những người dân Việt Nam nói chung Bài thơ cũng là lời khẳng định tuyên bố đanh

Trang 29

thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm lăng vào lãnh thổ ấy, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc anh hùng

Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống của quân dân Đại Việt, chủ tướng Lí Thường Kiệt đãđọc bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" ở đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát - Là hai

vị thần của sông Như Nguyệt Khi bài thơ thần này vang lên vào thời điểm đêm khuya, lại được vọng ra hùng tráng, đanh thép từ một ngôi đền thiêng liêng nên đã làm cho quân Tống

vô cùng khiếp sợ, chúng đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng, nhuệ khí của quân giặc bị suy giảm một cách nhanh chóng Cũng nhờ đó mà quân dân ta có thể tạo ra một chiến thắng lừng lẫy, oai hùng sau đó

Mở đầu bài thơ, tác giả Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn

đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt, đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi "sách trời" quy định Tức sự độc lập,chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được:

"Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời"

Sông núi nước Nam là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của "sông núi" ấy là của người Nam Chúng ta cũng có thể thấyđây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng địnhmạnh mẽ, hào sảng đến như vậy Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc

ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là

"vua Nam" Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự địnhphận của "sách trời", đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của "trời" đều rất cógiá trị, đều rất đáng trân trọng

"Rành rành" là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết cũng phân biệt được "Rành rành định phận ở sách trời" có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định Như vậy, ở hai câu thơ đầu, tác giả Lí Thường Kiệt không chỉ đưa ra luận điểm là lời khẳng định hào sảng, chắc chắn về vùng lãnh thổ, ranh giới quốc gia và chủ quyền, quyền làm chủ của nhân dân Đại Việt với quốc gia, dân tộc mình mà tác giả còn rất tỉnh táo, sắc sảo khi đưa ra những luận cứ đúng đắn, giàu sức thuyết phục mà còn đưa ra một sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó Giọng văn hào hùng, mạnh mẽ nhưng không giấu được niềm tự hào của bản thân Lí Thường Kiệt về chủ quyền của dân tộc mình

Từ sự khẳng định mạnh mẽ vấn đề chủ quyền của dân tộc Đại Việt, Lí Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù, đó chính là cái kết cục đầy bi thảm mà chúng sẽ phải đón nhận nếu biết nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây đau khổ cho nhân dân Đại Việt:

"Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời"

Sự thật hiển nhiên rằng, "Sông núi nước Nam" là do người Nam ở, người Nam làm chủ Nhưng lũ giặc không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm

Trang 30

phạm Đại Việt cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lí, của luật trời: "Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm" hành động ngông cuồng, phi nghĩa này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất Và ở trong bài thơ này, tác giả Lí Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũcướp nước, coi thường đạo lí: "Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời" Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi "bị đánh cho tơi bời".

Như vậy, bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" là một bài thơ, một bài thơ mang tính chính luận rõràng, sâu sắc, một bản tuyên ngôn hùng hồn, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam Bài thơ thể hiện lòng tự hào của người Việt Nam về chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của người dân trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm

Bài tham khảo 2:

Trong xã hội phong kiến xưa, người phụ nữ luôn phải chịu những bất công, những định kiến đầy nghiệt ngã của xã hội Một trong những tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ là bàithơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương

"Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non"

Mở đầu bài thơ, nhà thơ Hồ Xuân Hương đã gợi mở những hình ảnh của những chiếc bánh trôi nước Bánh trôi nước là loại bánh làm bằng bột gạo nếp, qua bàn tay của những người nghệ nhân thì khi nặn xong chúng có hình dạng tròn trịa cùng một màu trắng đặc trưng của gạo Ở trong bài thơ này, nhà thơ Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh của những chiếc bánh trôi nước để nói về cuộc sống và số phận của những người phụ nữ trong xã hội xưa Hiểu nhưthế ta có thể thấy qua hình ảnh tròn, trắng của những chiếc bánh trôi gợi ra vẻ đẹp bên ngoài,

vẻ đẹp hình thể của những người phụ nữ

Đó chính là một vẻ đẹp tươi mới, tròn trịa, đầy sức sống "Thân em vừa trắng lại vừa tròn" Nhưng đối nghịch với vẻ đẹp đầy sức sống đó lại là một số phận, tương lai đầy mịt mờ, tăm tối "Bảy nổi ba chìm với nước non" Về ý nghĩa tả thực, ta có thể hiểu đây là là quá trình luộcchín bánh, hoàn thành bước cuối cùng Nhưng đây cũng chỉ là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng Bởi nó gợi ra số phận, cuộc đời đầy thăng trầm, biến đổi của những người phụ

nữ Như đã nói, trong xã hội xưa, sinh ra trong thân phận của người phụ nữ vốn đã là một thiệt thòi, bất công

Bởi từ khi sinh ra đến lúc dựng vợ gả chồng thì họ hoàn toàn không được quyết định bất cứ vấn đề gì, kể cả tình yêu, đối tượng kết hôn, hạnh phúc của cả cuộc đời mình, vì trong xã hội xưa có quan niệm "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", hay "xuất giá tòng phu", nghĩa là một khi

đã lấy chồng thì mọi việc đều phải theo chồng Vì vậy mà số phận thăng hay trầm đều hoàn toàn dựa vào người chồng của mình:

"Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son"

Đến câu thơ này thì ý niệm của hai câu thơ đầu được thể hiện, triển khai một cách rõ nét, cụ thể hơn Nếu như những chiếc bánh trôi tròn, méo, rắn, nát đều phụ thuộc vào tay người nặn, nếu như được họ cẩn trọng, nâng niu thì khi hoàn thành chiếc bánh sẽ có hình tròn mà màu trắng trong Ngược lại, nếu người nghệ nhân vô tâm, hời hợt thì chiếc bánh sẽ bị méo mó, và khi luộc trong nước sẽ bị vỡ Đối với người con gái trong xã hội xưa cũng vậy, nếu may mắn gặp được người cũng biết yêu thương, trân trọng thì cuộc sống của học sẽ hạnh phúc, vui vẻ;

Trang 31

còn khi lấy phải người chồng độc đoán, vũ phu thì họ sẽ có cuộc sống đau khổ, bất hạnh Nhưng dẫu cuộc sống có bất biến, phù du thì những người con gái ấy vẫn giữ được vẻ đẹp trong trắng thủy chung trong tâm hồn Đến đây thì hình ảnh của những người phụ nữ trong xãhội xưa được hoàn thiện, không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình mà vẻ đẹp tâm hồn của họ rất đáng được trân trọng.

Mượn hình ảnh của những chiếc bánh trôi, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã xây dựng thành công hình ảnh của người phụ nữ xưa, đó là những người phụ nữ có vẻ đẹp toàn diện, không chỉ là

vẻ đẹp hình thức mà còn là vẻ đẹp của tâm hồn Dẫu có những bất hạnh, đau khổ thì vẻ đẹp tâm hồn ấy không những không mất đi mà còn sáng rực lên những tia sáng của phẩm chất, đạo đức Thông qua bài thơ, nhà thơ cũng thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa

Bài tham khảo 3:

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là một con người có tâm hồn nghệ sĩ Người có tình yêu thiết tha với thiên nhiên vạn vật, ngay lúc còn trong ngục tối, thời gian bị giam hãm nhưng đứng trước

vẻ đẹp của thiên nhiên, bằng những rung cảm mãnh liệt Bác đã tạo ra những bài thơ tuyệt tác.Cho đến những ngày hoạt động ở chiến khu Việt Bắc đầy gian lao, vất vả nhưng tâm hồn Bácvẫn không thôi hướng về thế giới Và bài thơ Cảnh khuya là một trong những bài thơ được tạo ra từ những rung động trước cuộc sống như thế

Bài thơ Cảnh khuya được viết bằng chữ quốc ngữ mang đậm tính hiện đại Cũng vẫn là khung cảnh núi rừng Việt Bắc nhưng lại là khung cảnh thiên nhiên ở một chiều kích không gian khác Mở đầu bài thơ là âm thanh vang vọng núi rừng:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Tiếng suối hay tiếng người? Có lẽ là cả hai âm thanh này đã hòa quyện vào nhau chăng? Thậtkhó để có thể phân biệt được Trường liên tưởng và sự so sánh của Bác thật đặc biệt mà cũng thật đúng, tạo nên hình ảnh thơ sinh động, làm sống động cả khung cảnh thiên nhiên núi rừngViệt Bắc Đọc câu thơ này ta lại bất giác nhớ đến câu thơ của Nguyễn Trãi:

Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Nếu như trong hai câu thơ của Nguyễn Trãi lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp, của

sự toàn mĩ thì ngược lại trong thơ Bác lại lấy con người làm chuẩn mực của cái đẹp Đây có thể coi là một bước tiến, đánh dấu sự chuyển mình của thơ ca hiện đại Bác đã so sánh tiếng suối với tiếng hát một cách tinh tế, gợi cảm, hình ảnh so sánh này khiến cho âm thanh của tiếng suối xa càng trở nên gần gũi, thân mật với con người hơn

Câu thơ tiếp theo lại cho thấy sự hòa hợp, hòa quyện của cảnh vật: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh vật thiên nhiên vô cùng huyền ảo, chúng đan cài, hòa quyện vào nhau để tôn lên vẻ đẹp của nhau Ta có thể thấy bức tranh chồng lên nhau thành nhiều tầng, nhiều lớp, đường nét, hình khối đan cài, hòa hợp với nhau đến thần kì Có dáng cổ thụ vươn tỏa, trên cao là ánh trăng trong trẻo, lấp lánh, dưới mặt đất in hình muôn ngàn hoa cỏ, cây cối, bức tranh về đêm mà không hề tăm tối, u buồn, ngược lại đầy sinh động và tràn sức sống

Trong khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, hữu tình ấy con người xuất hiện và đó cũng chính là hình ảnh của thi nhân Nhà thơ say mê ngắm nhìn, chiêm ngưỡng và cảm nhận vẻ đẹp lung linh, huyền ảo Dòng thơ thứ tư bất ngờ mở ra chiều sâu mới trong tâm hồn nhà thơ: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Thì ra, Bác thao thức chưa ngủ được là còn vì đang lo lắng cho vận

Trang 32

mệnh của nhân dân, đất nước, chính trong những phút trầm lắng suy tư đó Bác đã bắt gặp được vẻ đẹp của thiên nhiên, vạn vật.

Điệp từ “chưa ngủ” được đặt ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư như một bản lề mở ra hai dòng tâm trạng của con người: một con người say mê trước vẻ đẹp thiên nhiên, một con người đầy ắp nỗi ưu tư về sự nghiệp giải phóng đất nước Hai khía cạnh này không mâu thuẫn mà hòa hợp thống nhất với nhau trong tâm hồn Bác Chân dung Bác hiện lên thật đẹp

đẽ, cảm động, đó là hình ảnh vị lãnh tụ hết lòng lo cho đất nước Câu thơ đã làm sáng ngời phẩm chất, nhân cách cao đẹp của Bác

Bài thơ có sự kết hợp linh hoạt các biện pháp nghệ thuật: so sánh, điệp từ (lồng, chưa ngủ) nối kết hai tâm trạng, bộc lộ chiều sâu tâm hồn cao đẹp của Bác Ngôn ngữ thơ hiện đại, giản

dị mà cũng hết sức tinh tế, hàm súc

Cảnh khuya đã cho ta thấy một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết, sâu nặng Cùng với đó là tấm lòng luôn lo nghĩ cho vận mệnh đất nước, dân tộc Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa yếu

tố cổ điển và yếu tố hiện đại, tạo nên nét đặc sắc cho tác phẩm

Bài tham khảo 4:

Bài thơ “Nguyên tiêu” (Rằm tháng giêng) là một trong những bài thơ nổi tiếng của chủ tịch

Hồ Chí Minh Bài thơ đã khắc họa được khung cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc trong đêmtrăng cũng như qua đó bày tỏ tấm lòng yêu nước sâu nặng của Người:

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên;

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.”

Có lẽ hình ảnh ánh trăng không còn xa lạ gì trong thơ ca Ta đã từng bắt gặp ánh trăng nhớ trong thơ Lý Bạch:

“Sàng tiền minh nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.”

(Đầu giường ánh trăng rọi,

Ngỡ mặt đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương)

Ánh trăng trong thơ Lý Bạch dường như mang nỗi nhớ về quê hương Còn trong “Rằm thánggiêng” của Hồ Chí Minh, ánh trăng lại mang một ý nghĩa khác

Nhà thơ đã xây dựng hình ảnh ánh trăng trong một đêm rằm tháng giêng với vẻ đẹp “nguyệt chính viên” - đó là lúc trăng ở vào độ tròn đầy và sáng nhất Ánh trăng trong đêm rằm vốn đãđẹp nhưng ánh trăng trong đêm rằm tháng giêng lại đẹp hơn cả Không chỉ vậy, sắc xuân từ ánh trăng giống như đang bao trùm lên mọi cảnh vật khiến cho “sông xuân”, “nước xuân” và

“trời cũng thêm xuân” Từ “xuân” được điệp lại tới ba lần như muốn khẳng định sắc xuân đang lan tỏa khắp không gian Không gian ấy mở rộng ra cả ba chiều: chiều cao, chiều rộng

và chiều sâu làm cho cảnh vật thiên nhiên trở nên rộng lớn hơn chứ không bó hẹp Sự nối tiếpgiữa “sông xuân”, “nước xuân” và “trời xuân” cũng gợi ra vẻ đẹp giao hòa giữa bầu trời và mặt đất đều tràn ngập ánh trăng

Trang 33

Trong bức tranh thiên nhiên đầy thơ mộng đó, người chiến sĩ cách mạng vẫn không quên đi một nhiệm vụ quan trọng Những năm tháng chiến tranh, mọi công việc hoạt động cách mạngđều phải diễn ra một cách âm thầm và kín đáo Chính vì vậy, những người chiến sĩ cách mạng đã lựa chọn thời điểm trong đêm khuya để bàn bạc việc quân việc nước Vì quá say sưabàn luận mà họ dường như quên mất đi thời gian, để đến khi công việc đã xong xuôi mới nhận ra đêm đã khuya Và ánh trăng lúc này cũng là sáng nhất Hình ảnh “con thuyền” ẩn dụ cho sự thắng lợi của cách mạng Con thuyền chứa đầy ánh trăng giống như thắng lợi của cáchmạng không còn xa nữa Đó chính là niềm tin của Bác Hồ vào sự nghiệp đấu tranh của dân tộc.

Như vậy, bài thơ “Rằm tháng giêng” đã khắc họa được bức tranh thiên nhiên trong đêm rằm tháng giêng đầy thơ mộng cùng tình yêu nước sâu sắc của Hồ Chí Minh Không chỉ vậy, người đọc cũng thấy được một tâm hồn thi sĩ đầy tinh tế nhạy cảm của Bác Hồ

NÓI VÀ NGHE

BÀI 2: Trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội ( một sản phẩm văn hóa truyền thống trong cuộc sống hiện tại).

Bài tham khảo 1:

Xin chào cô và các bạn Em tên là Minh Tâm Hôm nay, em sẽ trình bày suy nghĩ của mình

về vấn đề “sử dụng các sản phẩm thủ công truyền thống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày”.Các bạn thân mến, trong bài thơ “Việt Nam quê hương ta”, nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết

“Đất trăm nghề của trăm vùng/ Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem” Hai câu thơ đã cho thấy sự phong phú, đa dạng về làng nghề truyền thống ở đất nước ta Mỗi làng nghề lại sản xuất những mặt hàng, sản phẩm mang đặc trưng riêng

Ngày nay, dù cuộc sống đã trở nên hiện đại và kéo theo nhiều thay đổi nhưng nhiều người vẫn tin tưởng sử dụng sản phẩm thủ công Một số vật dụng vẫn hiện hữu trong đời sống sinh hoạt thường ngày như: bát sứ, tranh lụa, bình gốm,… Phải chăng, sự đổi thay dễ thấy nhất đến từ mô hình sản xuất? Thay vì làm thủ công 100%, nhiều làng nghề đã và đang áp dụng máy móc cùng những kĩ thuật tiên tiến để sản xuất nhằm đáp ứng thị trường và tiết kiệm chi phí

Có thể nói, việc sử dụng sản phẩm thủ công mang đến rất nhiều lợi ích Trước hết, nó đem lạilợi nhuận vô cùng lớn cho các làng nghề truyền thống Một vài mặt hàng được sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài như: mây tre đan, gốm sứ, hàng thủ công thêu tay,… cũng góp phần thu về rất nhiều ngoại tệ Tiếp đến, nếu làng nghề thủ công phát triển bền vững thì người lao động vẫn được đảm bảo công ăn, việc làm Ngoài ra, việc sử dụng sản phẩm thủ công còn giúp lưu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa, phong tục tập quán lâu đời của cha ông

Hi vọng rằng, các sản phẩm thủ công truyền thống sẽ được đông đảo người dân yêu thích và

sử dụng Người tiêu dùng cũng nên có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về những sản phẩm này Bên cạnh đó, các địa phương cần lên kế hoạch hợp lí nhằm thúc đẩy, phát triển làng nghề.Bài trình bày của em đến đây là hết Cảm ơn cô và các bạn đã theo dõi, lắng nghe

Bài tham khảo 2:

Trong buổi học hôm nay, em xin trình bày ý kiến của bản thân về việc sử dụng các sản phẩm thủ công truyền thống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Mời cô và các bạn theo dõi, lắng nghe

Trang 34

Chúng ta đang sống trong một kỉ nguyên với sự phát triển rực rỡ của máy móc, công nghệ, thiết bị hiện đại Các đồ dùng sinh hoạt được sản xuất trên quy mô lớn, giá thành rẻ, đa dạng mẫu mã và hình thức Những điều này là một phần nguyên nhân dẫn đến thay đổi thói quen của con người trong việc sử dụng sản phẩm hiện đại thay vì thủ công truyền thống.

Ngày nay, chúng ta ít khi bắt gặp nồi gang đúc hay rổ rá tre, Chúng ta đang thay thế chúng bằng các sản phẩm ưu việt, nhiều tính năng hơn Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn tới các làng nghề truyền thống Khi nhu cầu của người tiêu dùng giảm thì việc cung ứng cũng bị trì trệ, chậm chạp Không chỉ vậy, việc lãng quên sản phẩm thủ công truyền thống còn đồng nghĩa với việc vẻ đẹp văn hóa dân tộc dần mai một theo thời gian

Như vậy, việc sử dụng các sản phẩm này cũng chính là cách để chúng ta giữ gìn, phát triển giá trị văn hóa tốt đẹp của đất nước Đồng thời, góp phần đẩy mạnh giao thương hàng hóa, phát triển kinh tế ở làng nghề Ngoài ra, các sản phẩm làm từ tự nhiên như mây, tre cũng giúpbảo vệ môi trường sống, giảm thiểu rác thải từ nhựa, ni-lông

Để các sản phẩm thủ công truyền thống trở nên phổ biến, chúng ta có thể quảng bá, giới thiệutới mọi người Đồng thời, nếu có cơ hội, ta nên ghé thăm một số làng nghề để tham quan, tìmhiểu và trải nghiệm Hi vọng rằng, các địa phương sẽ đẩy mạnh và phát triển mô hình du lịch làng nghề nhằm thu hút du khách tới thăm

Đứng trước vấn đề này, các bạn có suy nghĩ như thế nào? Hãy chia sẻ nó với cả lớp nhé!Bài thuyết trình của em đến đây là kết thúc Cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe

Bài tham khảo 3:

Các nghề thủ công truyền thống là một thành tố cơ bản của văn hóa dân gian nên cũng góp phần vào việc hình thành và phát triển các giá trị văn hóa nơi cộng đồng làng xã Sản phẩm thủ công không chỉ thể hiện sự khéo léo ở kỹ thuật mà còn có yếu tố nghệ thuật Chính điều này làm nên chất nghệ sĩ của người thợ thủ công và tính văn hóa cao của các nghề thủ công.Tính văn hóa đó trước hết thể hiện ngay chính trong tổ chức xóm nghề, giữa các thợ thủ côngvới nhau và với nghề Tính tổ chức đó cao hơn hẳn so với nghề nông Từ sự phân công tự giác và rạch ròi giữa thợ cái/ thợ cả với thợ phụ ngay trong một lò/ xưởng đến việc liên kết giữa các nhóm thợ chuyên các sản phẩm khác nhau, tạo nên một thiết chế xã hội nghề nghiệptương tự như các thiết chế xã hội khác Trong thiết chế xã hội này, giữa các thành viên có chất kết dính hết sức mạnh mẽ là lòng yêu nghề và sự tri ân các thế hệ đã có công tạo dựng

và phát triển các nghề thủ công mà biểu hiện rõ nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề Mỗi dịp cúng tổ là một lần củng cố thiết chế xã hội của các người thợ, giúp họ có điều kiện trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, kết nối việc làm ăn và thêm gắn bó với nhau Trong hầu hết các đình thần của mỗi xóm ấp ở Nam bộ đều có bàn thờ Tiên sư, chính là đối tượng tôn thờ của tín ngưỡng thờ tổ nghề

Ngoài ra, các nghề thủ công còn góp phần xây dựng tiện nghi và bộ mặt thẩm mỹ cho đời sống người dân Các sản phẩm do họ tạo tác nên không chỉ mang tính thực dụng mà còn có giá trị thẩm mỹ độc đáo, là nơi họ gửi gắm những ước vọng bay bổng của tâm hồn Do vậy, ngoài công năng vốn có của nó, tự thân mỗi sản phẩm nghề thủ công còn là một tác phẩm nghệ thuật, thể hiện thế cách của con người trong ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội vốn còn nhiều mới mẻ ở vùng đất này

Giá trị văn hóa của các nghề thủ công truyền thống còn thể hiện ở lối sống, phong tục của từng cộng đồng Mỗi làng, do ảnh hưởng của nghề, có một lối sống, phong tục tập quán tương đối đặc biệt Một đặc điểm trong lối sống của các nghề thủ công truyền thống là tính

Trang 35

cộng đồng và tính nhân văn cao Một sản phẩm thủ công được hoàn thành phải qua nhiều công đoạn, mọi người cùng có trách nhiệm Công việc của người này có liên quan đến chất lượng công việc của người kia, vì thế luôn luôn có mối quan hệ ràng buộc giữa những người thợ với nhau, tạo nên một lối sống cộng đồng có trách nhiệm Tính cộng đồng trong các nghềthủ công truyền thống thể hiện rất cao qua cách thức sản xuất Mỗi thành viên trong làng không lao động đơn lẻ Người này học hỏi người kia, kinh nghiệm được trao đổi cho nhau Qua đó, tình làng nghĩa xóm ngày càng đậm đà Mức độ cạnh tranh nghề nghiệp không mãnhliệt nên không tiêu diệt được tình làng nghĩa xóm, mà trái lại, họ phải thi đua sản xuất để giữ thị trường, đạt được số lượng cần thiết của phía đặt hàng.

Bài tham khảo 4:

Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi giới trẻ được làm quen và tiếp cận nhiều với nền văn minh mới hiện đại và tiên tiến hơn, thì vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trở nên cần thiết hơn bất cứ khi nào hết

Thực trạng đang diễn ra mà ai cũng cảm nhận thấy đó là xã hội đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Con người chúng ta ngày càng được hòa nhập, cởi mở hơn với những nền văn hóa mới của nhiều quốc gia khác nhau Tuy nhiên, đôi lúc chúng ta lại quên đi nét đẹp, truyền thống văn hóa của chính đất nước mà chúng ta sinh ra và lớn lên Nhiều bản sắc đã bị mai một, giới trẻ lại ngày càng ít quan tâm và tìm hiểu về những truyền thống, bản sắc đó Thay vào đó, giới trẻ có xu hướng theo đuổi và ưa chuộng những văn hóa các nước khác

Hậu quả của việc chạy theo những nền văn hóa khác nhau là những giá trị truyền thống tốt đẹp sẽ ngày càng bị mai một và mất dần đi Những lễ hội, cuộc thi dân gian không còn được nhận nhiều sự quan tâm của con người hoặc chỉ mang dáng dấp hình thức Nhiều đứa trẻ hiệnnay không hiểu nền văn hóa truyền thống của đất nước mình bằng sự tân tiến của các nước trên thế giới Chính những điều này đã làm con người đánh mất đi giá trị cốt lõi của đất nước mình

Đứng trước thực trạng đáng báo động trên, là những người trẻ chúng ta cần làm gì để khắc phục? Trước hết, mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh cần phải tìm hiểu, trau dồi những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, có trách nhiệm giữ gìn và phát huy thật tốt những giá trị đó với bạn bè năm châu Bên cạnh đó, nhà trường cần phải tổ chức nhiều hơn những hoạt động tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức đúng đắn về giữ gìn bản sắc dân tộc Gia đình, cộng đồng cũng phải cùng chung sức, đồng lòng để tô đậm thêm nữa những giá trị văn hóa đó để không bị phai nhạt trong các luồng văn hóa khác

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm chung của tất cả những con người Việt Nam chúng ta Vì thế, chúng ta cần có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền thống đó để nó ngày càng đẹp đẽ và phát triển rộng rãi hơn

BÀI 2 CỦNG CỐ, MỞ RỘNG

Câu hỏi 1 Kẻ bảng vào vở theo mẫu dưới đây và điền nội dung về một số yếu tố thi luật của

thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thể hiện qua bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến:

1 B-B-T-T-T-B-B Câu 1 và 5 Eo 2/2/3 nắng xuống- trời

Trang 36

Câu hỏi 2 Kẻ bảng vào vở theo mẫu dưới đây và điền nội dung về một số yếu tố thi luật của

thể thơ tứ tuyệt Đường luật thể hiện qua bài thơ Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông:

Câu hỏi 3 Hãy chọn một bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật mà em yêu thích

và thực hiện các yêu cầu sau:

a Nhận xét về niêm, luật của bài thơ

b Xác định bố cục và nêu ý chính của từng phần

c Nêu chủ đề và chỉ ra một số nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

Bạn đến chơi nhà

(Nguyễn Khuyến)

Đã bấy lâu nay bác tới nhà,

Trẻ thì đi vắng, chợ thời xa

Ao sâu, sóng cả, khôn chài cá;

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà

Cải chửa ra cây, cà mới nụ;

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây, ta với ta

Đặc sắc nghệ thuật trước hết nằm ở thể thơ thất ngôn bát cú, lược bỏ những luật lệ hà khắc của thể thơ này, mang lại cảm giác hóm hỉnh, gần gũi Viết về nông thôn, tác giả lựa chọn những từ ngữ cùng lối viết hết sức giản dị, những từ mang đậm màu sắc địa phương như

"thời", "chửa" đem lại sự thoải mái, mang tính chất khẩu ngữ Hàng loạt những hình ảnh được liệt kê như "vườn rộng rào thưa", "ao sâu nước cả", vừa có tác dụng trình bày những thiếu thốn vật chất, vừa mở ra trước mắt người đọc khung cảnh làng quê thanh bình, yên tĩnh,thích hợp cho những cuộc tâm tình chơi cờ thưởng trà ngắm trăng Lời thơ giống như lời đối thoại trực tiếp hàng ngày tạo cho người đọc cảm giác như mình là người bạn của Nguyễn

Trang 37

Khuyến, lắng nghe ông bạn già trình bày mà lòng vừa cười vừa thương, khơi gợi trong lòng độc giả sự suy nghĩ sâu cay về tình bạn chân thật, tình bạn đẹp là tình bạn không gì có thể đong đếm nổi.

BÀI 2.THỰC HÀNH ĐỌC

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

- Đề tài và các yếu tố thi luật của bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật

- Các yếu tố thời gian, không gian, âm thanh, sự vật được tác giả sử dụng để miêu tả bức tranh thiên nhiên

- Cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ

- Tác dụng của các từ tượng hình, từ tượng thanh và biện pháp tu từ đảo ngữ

TL:

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng Vần gieo cuốicâu 1,2,4,6,8; phép đối câu 3-4 (lom khom dưới núi – lác đác bên sông; tiều vài chú – chợ mấy nhà), câu 5-6 (nhớ nước đau lòng – thương nhà mỏi miệng, con quốc quốc – cái gia gia).Tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan :

- Mượn cảnh nói tình : mượn hình ảnh hoang vắng, thưa thớt con người nói lên nỗi quạnh hiu, mượn tiếng kêu mang âm vọng đất nước, gia đình để thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ nước

- Trực tiếp tả tình : “Một mảnh tình riêng, ta với ta” – cô đơn, buồn

Không gian càng rộng, sự cô đơn, trống trải càng đậm nét, hình ảnh con người càng nhỏ bé, nỗi cô đơn càng nhân lên

BÀI 3 LỜI SÔNG NÚI

VB1 HỊCH TƯỚNG SĨ

TRƯỚC KHI ĐỌC

Câu hỏi 1 Hãy kể tên một số vị tướng nổi tiếng trong lịch sử nước ta.

Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt,

Câu hỏi 2 Theo em, vì sao quân Mông - Nguyên ba lần đem quản xâm lược nước ta đều

phải chịu thất bại?

Quân dân nhà Trần có sự chuẩn bị chu đáo: Rèn luyện binh sĩ, chuẩn bị vũ khí, lương thực, tinh thần,v.v - Quân dân nhà Trần có ý chí kiên quyết, đoàn kết đánh giặc

ĐỌC VĂN BẢN

Câu hỏi 1 Điểm chung của các cặp nhân vật lịch sử được nêu tên.

- Tận trung với chủ, với đất nước mà hi sinh bản thân mình, quyết không đầu hàng

- Quyết tâm chiến đấu và chiến thắng

Câu hỏi 2 Mối quan hệ vua - tôi, chủ tướng - tì tướng được Trần Quốc Tuấn viện dẫn làm cơ

sở cho những lập luận kế tiếp

Vai trò giữa vua và các tướng trong triều mỗi khi đất nước có biến cố

- Nguyễn Văn Lập giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu

- Tì tướng Xích Tu Tư xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại quân Nam Chiếu trong vài tuần khiến cho quân trưởng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng thơm

Câu hỏi 3 Những lí lẽ và bằng chứng được Trần Quốc Tuấn sử dụng nhằm lay động cảm

xúc của các tì tướng

Trang 38

- Lí lẽ:

+ Ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ

+ Ta thường tới bữa quên ăn,… ta cũng cam lòng

- Dẫn chứng:

+ Thác mệnh Hốt Tất Liệt đòi ngọc lụa, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn

+ Các ngươi không có mặc thì ta cho áo,… chẳng kém gì

Câu hỏi 4 Các bằng chứng và lí lẽ Trần Quốc Tuấn sử dụng để khẳng định các tì tướng đang

suy nghĩ và hành động không đúng

Trần Quốc Tuấn vạch ra những vấn nạn ở trước mắt: không biết lo cho vận mệnh đất nước, luôn lấy mấy trò tiêu khiển làm thú vui, lơ là việc nước, Lên án những điều xấu xa và cảnhbáo các tì tướng về lối sống xa đọa của mình

- Bằng chứng:

+ Lấy việc chọi gà làm niềm vui… hoặc mê tiếng hát

- Lí lẽ:

+ Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn

+ Nếu có giặc Mông Cổ tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp … tiếng hát không thể làm cho giặc điếc tai

+ Chẳng những thái ấp của ta không còn … lúc bấy giờ dẫu các người muốn vui vẻ phỏng có được không?

Câu hỏi 5 Những lí lẽ Trần Quốc Tuấn dùng để thuyết phục các tì tướng nghe theo lời

khuyên của chủ tướng

" đặt mồi lửa vào dưới đống củi", " kiềng canh nóng mà thổi rau nguội", huấn luyện các quân

sĩ tập dượt, xây dựng một quân đội hùng mạnh,

- Vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính và tà

- Chỉ có luyện binh đánh giặc mới có thể chiến thắng, cửa nhà no ấm, tiếng thơm muôn đời

- Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù

SAU KHI ĐỌC

Câu hỏi 1 Bài hịch được Trần Quốc Tuấn viết ra nhằm mục đích gì?

Bài hịch được làm để khích lệ tướng sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược (Sách tóm tắt những điều cốt yếu về binh pháp) do chính Trần Quốc Tuấn soạn

Câu hỏi 2 Xác định bố cục của bài hịch và nêu rõ vai trò của từng phần trong việc thực hiện

mục đích của bài hịch

 Phần 1 Từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt”: Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ

 Phần 2 Tiếp theo đến “ta cũng vui lòng”: Vạch trần tội ác của giặc và lòng căm thù của vị chủ tướng

 Phần 3 Tiếp theo đến “vui vẻ phỏng có được không?”: Sai trái của tướng sĩ dưới quyền

 Phần 4 Còn lại: Lời kêu gọi tướng sĩ ra sức học tập “Binh thư yếu lược”

Trang 39

Câu hỏi 3 Hãy chỉ ra những điểm chung của các cặp nhận vật lịch sử được nêu ở phần đầu

bài hịch Tác giả đã nêu hành động của tám cặp nhân lịch sử này để minh chứng điều gì?Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ

Các gương trung thần nghĩa sĩ hi sinh vì chủ:

 Từ quá khứ: Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Kính Đức, Cao Khanh

 Đến hiện tại: Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang

=> Làm nổi bật tinh thần quên mình vì chủ, vị vua, vì nước

Câu hỏi 4 Để khơi gợi những cằm xúc mạnh mẽ trong lòng các tì tướng và thuyết phục họ,

Trần Quốc Tuấn đã nhắc đến nhiều hiện tượng trong thực tế Đó là những hiện tượng nào?

- Tội ác và sự ngang ngược của giặc: Đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ,đòi ngọc lụa, thu bạc vàng… "Bạo ngược, tham lam, vô đạo."

- Hình ảnh ẩn dụ: lưỡi cú diều, thõn dê chó

- Giọng văn mỉa mai, châm biếm

⇒ Khắc hoạ sinh động hình ảnh kẻ thù, gợi cảm xúc căm phẫn cho người đọc, bộc lộ sự căm ghét, khinh bỉ

Nỗi lòng chủ tướng

- Được thể hiện rõ nét qua phần điệp với những câu văn biền ngắn gọn đối xứng cân chỉnh :

“Ta thường tới bữa quên ăn…ta cũng cam lòng”

- Nghệ thuật:

+ Dựng nhiều dấu phẩy và dấu chấm phẩy

+ Nhiều động từ chỉ trạng và hành động mãnh liệt như:

Quên ăn, vỗ gối, xẻ thịt, lột da, nuốt gan, uống máu…

+ Giọng văn thống thiết, tình cảm

⇒ Tác dụng:

+ Cực tả niềm uất hận dâng lên trong lòng người chủ tướng

+ Khơi gợi sự đồng cảm ở người đọc, người nghe

Câu hỏi 5 Tác giả đã dùng những bằng chứng và lí lẽ nào để chứng minh các tì tướng đã suy

nghĩ, hành động không đúng?

a Phê phán sai lầm của tướng sĩ

- Phê phán hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước

- Ham thú vui tầm thường: chọi gà, cờ bạc, săn bắn, ruợu ngon

"Thái độ phê phán dứt khoát

b Nỗi lòng người chủ tướng

- Khuyên:

+ Biết lo xa

+ Tăng cường võ nghệ

⇒ Chống giặc ngoại xâm

- Chủ tướng để khích lệ tinh thần trung quân ái quốc

- Cùng cảnh ngộ: khích lệ lòng ơn nghĩa, thuỷ chung của người chung hoàn cảnh

Trang 40

c Kêu gọi tướng sĩ

- Vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính và tà ⇒ kêu gọi, khích lệ tinh thần tướng sĩ

Câu hỏi 6 Tác giả đã chọn cách diễn đạt như thế nào để lời hịch có sức tác động lớn đến

nhận thức và tình cảm của các tì tướng? Hãy phân tích một ví dụ mà em cho là tiêu biểu cho cách diễn đạt đó

Bài hịch chuyển sang một giọng văn vừa lâm ly thống thiết khi gợi ra hậu quả vô cùng khủngkhiếp và thê thảm nếu không chống nổi giặc ngoại xâm, vừa mỉa mai chì chiết nhằm “khích tướng”, nghĩa là cố tình chọc vào,cứa vào lòng tự hào, tự trọng, ý thức về liêm sỉ của tướng sĩnhà Trần vốn nổi tiếng với “hào khí Đông Á với tinh thần sắt thép, với thái độ quyết đánh của hội nghị Diên Hồng: “Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, bằng lý và bằng tình – chủ yếu là bằng tình – bởi vì rút ra lý là chuyện đánh giặc cứu nước, cứu nhà, cứumình, có gì phải bàn cãi nhiều

Ấy là một vị anh hùng có trái tim lớn Trái tim chứa đầy tình cảm vĩ đại trong quan hệ với nước, với dân Đây là trái tim đau cái đau lớn, oăm cái căm lớn, nhục cái nhục lớn Một trái tim sôi sục mãnh liệt:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tứcchưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”

Ấy là một vị tướng hết sức nhân hậu, gắn bó với quân sĩ, bộ hạ, bằng một tình cảm ruột thịt, như tình cha con một nhà “Không có mặc thì ta cho áo, không cổ ăn thì ta cho cơm (…) lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết (…) thấy nước nhục mà không biết thẹn Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi nguỵ sứ

mà không biết căm (…) nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thổ đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh” Đến lúc ấy

“chẳng những gia quyến của ta bị tan mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổtông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên: chẳng những thân xa kiếp này chịu nhục, mà đến trăm ngưm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận Lúc bây giờ, dẫu các ngươi muôn vui vẻ phỏng có được không?”

“Khích tướng” là cốt để dẫn đến hành động Nhưng hành động chỉ có hăng hái nhiệt tình không đủ Phải có chuẩn bị chu đáo, phải biết cách dùng binh và phải biết luyện quân cho tốt

vì thế bài hịch kết thúc bằng sự chỉ ra cụ thể công việc phải làm: học và luyện tập quân sĩ theo Bình thư yếu lược Để nhấn mạnh lầm quan trọng của việc học tập cuốn sách này, tác giả coi đấy như là tiêu chuẩn để phân biệt địch la một cách dứt khoát:

“Nếu các ngươi biết chuyện tập sách này theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ nhược hằng khinh bỏ sách này trái lời dạy bảo của ta tức là kè nghịch thù”

Nhìn chung lập luận của bài hịch đi từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ giải quyết nhận thức, kích động tình cảm đến kết thúc hằng hành động có chỉ dần thiết thực cụ thể Lập luận cũng dùng lọi thắt buộc, thắt buộc chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười… ”

Ấy là một vị chủ soái đầy quyết tâm sắc đá, quyết đánh, quyết thắng, tin ở mình, tin ở tướng

sĩ của mình, thể hiện ở lời văn cuồn cuộn, với những mệnh đề khẳng định dứt khoát, dồn dập,không cho ai có thể nghi ngờ, không cho ai có thể chối cãi hay do dự Do dự lừng chừng là theo giặc, là phản bội, là nhục nhã, không đáng sống ở đời: “Giặc với ta là kẻ thù không đội

Ngày đăng: 02/08/2023, 06:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w