1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài 5. Ôn Tập Trò Chuyện Cùng Thiên Nhiên (2).Docx

79 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Trò Chuyện Cùng Thiên Nhiên
Trường học Chân trời sáng tạo
Chuyên ngành Ngữ văn 6
Thể loại Giáo án dạy thêm
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 205,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO ÁN DẠY THÊM – VĂN 6 CHÂN TRỜI SÁNG TẠO BÀI 5 Ngày soạn Ngày dạy ÔN TẬP TRÒ CHUYỆN CÙNG THIÊN NHIÊN A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT 1 Kiến thức Ôn tập hệ thống hóa kiến thức của các văn bản kí và hồi kí mục đí[.]

Trang 1

- Ôn tập về biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân hoá,…

- Ôn tập cách viết bài văn tả cảnh sinh hoạt

- Ôn tập cách trình bày một cảnh sinh hoạt bằng hình thức viết nói

2 Năng lực:

- Năng lực chung: Tự chủ và tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Năng lực chuyên môn: Năng lực ngôn ngữ (đọc – viết – nói và nghe); năng lực văn

học

3 Phẩm chất:

- Yêu thiên nhiên, hòa mình vào thế giới tự nhiên

- Có ý thức bảo vệ thiên nhiên

Trang 2

- Yêu thương những người thân, trân trọng tình cảm gia đình; giữ gìn, nâng niu kỉ niệmtuổi thơ.

- Luôn có ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, có ý thức kết hợp hài hòa giữa việc họckiến thức văn hóa và rèn luyện kĩ năng sống.- Có ý thức ôn tập nghiêm túc

B PHƯƠNG TIỆN VÀ HỌC LIỆU

1.Học liệu:

- Tham khảo SGV, SGK Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo

- Tài liệu ôn tập bài học

- Các phiếu học tập

2 Thiết bị và phương tiện:

- Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến bài học

- Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, lành mạnh

- Sử dụng máy chiếu/tivi kết nối wifi

C.PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC

- Phương pháp: Thảo luận nhóm,động não, dạy học giải quyết vấn đề, thuyết trình,

đàm thoại gợi mở, dạy học hợp tác

- Kĩ thuật: Sơ đồ tư duy, phòng tranh, chia nhóm, đặt câu hỏi, khăn trải bàn,

D.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ

BUỔI 1:

Hoạt động 1 : Khởi động

a Mục tiêu: Kết nối – tạo hứng thú cho học sinh, chuẩn bị tâm thế bước vào giờ ôn tập

kiến thức

b Nội dung hoạt động: HS hoàn thành Phiếu học tập

c Sản phẩm: Câu trả lời đúng của HS.

d Tổ chức thực hiện hoạt động:

B1: Chuyển giao nhiệm vụ:

a Mục tiêu: Kết nối – tạo hứng thú cho học sinh, chuẩn bị tâm thế bước vào giờ ôn tập

kiến thức

b Nội dung hoạt động: HS hoàn thành Phiếu học tập

Trang 3

c Sản phẩm: Câu trả lời đúng của HS.

d Tổ chức thực hiện hoạt động:

B1: Chuyển giao nhiệm vụ:

GV yêu cầu HS hoàn thành Phiếu học tập: Viết theo trí nhớ những nội dung của bài học 05: Trò chuyện với thiên nhiên

Thời gian: 03 phút Làm việc cá nhân

Đọc – hiểu văn bản Đọc hiểu văn bản:

GV gọi một số HS lên bảng /đứng tại chỗ báo cáo sản phẩm học tập

B3: Báo cáo, thảo luận sản phẩm học tập:

B4: Đánh giá, nhận xét

- GV nhận xét, đánh giá

- GV khái quát nội dung ôn tập bài 5:

Trang 4

Đọc – hiểu văn bản Đọc hiểu văn bản:

+Văn bản 1: Lao xao ngày hè (Duy Khán) + Văn bản 2: Thương nhớ bầy ong (Huy Cận)

Đọc kết nối chủ điểm :

Văn bản 3 : Đánh thức trầu (Trần Đăng Khoa)

Thực hành Tiếng Việt: các biện pháp tu từ ẩn dụ và hoándụ

Thực hành đọc hiểu:

+ Văn bản 4: Một năm ở Tiểu học (Nguyễn Hiến Lê)

Viết Viết: Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt

Nói và nghe Nói và nghe: Trình bày về một cảnh sinh hoạt

Hoạt động 2: Ôn tập kiến thức cơ bản

a.Mục tiêu: Giúp HS ôn tập, nắm chắc các đơn vị kiến thức của bài học 5 Trò chuyện

với thiên nhiên

b Nội dung hoạt động: Vận dụng các phương pháp đàm thoại gợi mở, hoạt động

nhóm để ôn tập

c Sản phẩm: Câu trả lời cá nhân hoặc sản phẩm nhóm.

d Tổ chức thực hiện hoạt động.

B1: Chuyển giao nhiệm vụ:

- GV hướng dẫn HS ôn lại các đơn vị kiến thức cơ bản bằng phương pháp hỏi đáp, đàm thoại gợi mở; hoạt động nhóm,

- HS lần lượt trả lời nhanh các câu hỏi của GV các đơn vị kiến thức cơ bản của bài học 4

Trang 5

 KIẾN THỨC CHUNG VỀ VĂN BẢN KÍ

Câu hỏi: Em hãy nêu những hiểu biết về thể loại kí Em cần lưu ý những gì khi đọc hiểu một văn bản kí?

+ Hồi kí là một thể của kí dùng để ghi chép lại những sự việc, những quan sát, nhận xét

và tâm trạng có thực mà tác giả đã trải qua

+ Du kí là một thể của kí dùng để ghi lại những điều đã chứng kiến trong một chuyến đi

diễn ra chưa lâu của bản thân tới một miền đất khác

3 Tính xác thực của sự việc mà kí ghi chép được thể hiện qua một hoặc nhiều yếu tố

cụ thể như thời gian (ngày, tháng, năm, ); địa điểm diễn ra sự việc; sự có mặt của người khác như người thân trong gia đình, bạn bè cùng tham gia vào một sự việc

4 Ngôi kể: Người kể trong kí thường kể theo ngôi thứ nhất (người kể xưng tôi)

5 Cách đọc hiểu một văn bản kí:

*Yêu cầu chung:

- Nhận biết được văn bản kể về ai và sự việc gì; những chi tiết nào của bài kí mang tính xác thực;

- Chỉ ra được hình thức ghi chép của bài kí; ngôi kể và tác dụng của ngôi kể thường dùng trong kí

- Chỉ ra những câu, đoạn trong bài kí thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của tác giả, nhận biết được tác dụng của những suy nghĩ và cảm xúc ấy đối với người đọc

*Yêu cầu riêng:

ÔN TẬP ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

Trang 6

+ Nhận biết được văn bản ghi lại những điều có thật hay do tưởng tượng.

+ Chỉ ra được những thông tin độc đáo, mới lạ, hấp dẫn về sự vật, con người, phong tục, cảnh sắc… trong bài du kí

 ÔN TẬP VĂN BẢN ĐỌC HIỂU

*GV hướng dẫn HS chốt các đơn vị kiến thức cơ bản của các văn bản đọc hiểu:

 Văn bản 1: LAO XAO NGÀY HÈ (DUY KHÁN)

I TÁC GIẢ DUY KHÁN

- Duy Khán (1934- 1993) tên khai sinh là Nguyễn Duy Khán

- Quê quán: Thôn Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Nghề nghiệp: là nhà văn, nhà báo

+ Năm 15 tuổi nhập ngũ, làm phóng viên chiến trường trong hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ

+ Là nhà văn dành nhiều trang tâm huyết cho quê hương và gia đình

Tác phẩm chính:

II VĂN BẢN: ĐOẠN TRÍCH “BÀI HỌC ĐƯỜNG ĐỜI ĐẦU TIÊN”

Trích từ chương 6 “Lao xao” trong cuốn “Tuổi thơ im lặng”

* Vài nét về Hồi kí Tuổi thơ im lặng:

Trang 7

+ Được viết trong nhiều năm (từ 1977 đến 1984), xuất bản lần đầu năm 1986 Hồi kí

tập hợp gồm 29 chương nhỏ trải dài từ lúc tác giả bắt đầu biết nhận thức cho đến khigia nhập quân đội năm 15 tuổi Mỗi chương là những kí ức sinh động về làng quê BắcNinh, từ thiên nhiên, phong tục, lễ hội đến mảnh đời những con người có số phận éo le,con vật nuôi, qua con mắt trẻ thơ, không định kiến của cậu bé Khán)

+ Là món quà ý nghĩa mà tác giả Duy Khán dành tặng quê hương và những người thânyêu (ba người con của tác giả)

2 Thể loại: Hồi kí

3 Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất, nhân vật xưng : “tôi” để kể mọi việc Việc tác giả sử

dụng ngôi kể thứ nhất, cho người kể chuyện tự kể lại câu chuyện của mình đã khiến câuchuyện trở nên chân thực, khách quan, nhân vật có thể bộc lộ rõ nhất tâm trạng, cảm xúc của mình khi trải qua

4 Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp với miêu tả, biểu cảm.

5 Bố cục: 3 đoạn

- Đoạn 1 (Từ đầu … đến Râm ran): Cảnh làng quê lúc chớm hè.

- Đoạn 2 ( Tiếp đến cả bãi húng dũi): Thế giới các loài chim.

- Đoạn còn lại: Tâm trạng, cảm xúc của nhân vật tôi và các bạn

6 Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật:

*Nghệ thuật:

- Sự kết hợp độc đáo giữa miêu tả, kể chuyện và biểu cảm

- Lời kể chân thực, tự nhiên

- Hồi kí hiện đại nhưng chứa đựng những yếu tố văn hoá dân gian:

+ Đồng dao: Bồ các là bác chim ri là chú bồ các

+ Thành ngữ: Dây mơ, rễ má; kẻ cắp gặp bà già; lia lia láu láu như quạ vào chuồng lợn.

+ Truyện cổ tích: Sự tích chim bìm bịp, sự tích chim chèo bẻo.

* Nội dung:

Trang 8

- Bức tranh ngày hè làng quê với những thông tin thú vị về các loài chim, từ tập tính,hình dáng cho tới thói quen bắt mồi… trong kí ức tuổi thơ êm đềm của nhân vật tôi –người kể chuyện.

- Thể hiện tình yêu với thiên nhiên và sự trân trọng, gìn giữ vẻ đẹp của thiên nhiên,cảnh sắc quê hương Việt Nam

III ĐỊNH HƯỚNG PHÂN TÍCH VĂN BẢN

1 Dàn ý

1.1 Nêu vấn đề:

- Giới thiệu tác giả Duy Khán và tập hồi kí “Tuổi thơ im lặng”.

- Giới thiệu đoạn trích “Lao xao ngày hè”, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật

1.2 Giải quyết vấn đề:

B1: Khái quát về văn bản: xuất xứ, tóm tắt, bố cục, khái quát giá trị của văn bản,… B2: Phân tích nội dung – nghệ thuật của văn bản theo luận điểm:

1.2.1 Bức tranh làng quê chớm hè

- Người kể chuyện: nhân vật “tôi” - ngôi thứ nhất

- Bức tranh làng quê chớm hè hiện lên với đầy đủ hình ảnh, màu sắc, âm thanh:

+ Hoa lan, hoa dẻ, hoa móng rồng…

+ Ong vàng, ong vò vẽ, ong mật, bướm…

+ Màu sắc: Trắng xóa của hoa lan

+ Hương thơm tỏa ra từ các loài hoa

+ Âm thanh: lao xao

- Nghệ thuật: liệt kê (các loài hoa, các loài ong) nhân hóa (bướm hiền lành…) Từ láy

tượng thanh lao xao: rất khẽ, rất nhẹ nhưng khá rõ → Sự chuyển động của đất trời,

thiên nhiên làng quê khi hè về

Trang 9

Bức tranh chớm hè đẹp và phong phú, sinh động

1.2.2.Thế giới các loài chim

- Tác giả không miêu tả thế giới các loài chim một cách tuỳ tiện mà ông xếp, phânloại chúng theo 2 nhóm: Chim hiền - Chim ác

a Nhóm chim hiền:

- Bài hát đồng dao sử dụng nhân hóa

-> Gợi mối quan hệ họ hàng thân thuộc nơi làng quê, dễ đi vào tâm hồn trẻ thơ Làmcho bạn đọc có cảm giác được sống trong bầu không khí rất đỗi quen thuộc của vănhoá dân gian

- Gọi là Chim hiền vì chúng thường xuyên mang niềm vui đến cho người nông dân,cho thiên nhiên cho đất trời

- Chim hiền gồm Chim sáo và chim tu hú :

+ Chim sáo đậu trên lưng trâu mà hót; tọ toẹ học nói; bay đi đâu, chiều lại về vớichủ

+ Chim tu hú: báo mùa vải chín, báo mùa hè tới

- Miêu tả: bằng việc quan sát hình dáng, màu sắc, hoạt động kết hợp với trí tưởng

tượng dân gian phong phú

- Hình ảnh so sánh - ẩn dụ , chỉ những ông sư tuy tu hành nhưng vẫn chưa bỏ đượctính ác độc, hung dữ, nham hiểm tựa như loài rắn hổ mang có nọc độc , mổ chếtngười

- Có lẽ dựa vào màu lông xám và tập tính suốt ngày nằm trong bụi rậm , thường kêubịp bịp Đặc biệt là khi nó cất tiếng kêu thì một loạt các loài chim ác, chim dữ xuấthiện

b Nhóm chim ác

- Diều hâu, quạ, chèo bẻo, cắt

- Đó là 4 loài chim ác, dữ thường gặp ở nông thôn chứ chưa phải là tất cả các loài

Trang 10

chim ác , dữ

- Chim diều hâu, chim quạ và chim cắt

- Cảnh gà mẹ xù lông, xoè cánh, che chở cho đàn con bé dại, vừa kêu quang quác vừađạp, vừa mổ, liều chết đánh lại diều hâu để bảo vệ đàn con là cảnh hiếm gặp ở làngquê Cảnh này gợi cho người đọc nghĩ đến sự cạnh tranh sinh tồn giữa các loài chimhiền, chim ác Không những thế nó khiến cho người đọc liên hệ đến tình mẹ con, đếntình thương con đã biến thành sức mạnh liều mạng ntn ngay trong thế giới các loàichim

- Cảnh diều hâu tha ga con lên chưa kịp ăn thì đã bị chèop bẻo bất ngờ tập kích, đánhđuổi ráo riết

- Nó chứng minh cho câu tục ngữ “Kẻ cắp gặp bà già” hay câu danh ngôn “Cao nhân thất hữu cao nhân trị” (Người giỏi còn có người giỏi hơn)

- Quạ là loài vật kém cỏi, hèn hạ và bẩn thỉu và vì thế đáng ghét đáng khinh hơn diềuhâu Câu tục ngữ tả rất đúng tư thế, động tác của loài quạ khi đậu, dòm vào chuồnglợn để kiếm mồi

- Làm cho người đọc nghĩ đến những con người có tính cách giống như loài quạ

- Thể hiện trong cách gọi là chim ác, dữ

- Vì đây là loại chim dám đánh lại các loại chim ác, chim xấu

- Hình dáng: Như những mũi tên đen hình đuôi cá

- Hoạt động: Lao vào đánh diều hâu túi bụi khiến diều hâu phải thả con mồi, hú vía.+ Vây tứ phía đánh quạ Có con quạ chết đén rũ xương

+ Cả đàn vây vào đánh chim cắt để cứu bạn, khiến cắt rơi xuống, ngắc ngoái

- Tác giả muốn thể hiện thiện cảm của mình với loài chim này; ca ngợi hành độngdũng cảm của chèo bẻo

- Dù có mạnh khoẻ đến đâu, gây tội ác thì nhất định sẽ bị trừng trị, bị thất bại Sứcmạnh của tinh thần đoàn kết, cộng đồng sẽ làm cho sức mạnh gấp bội, biến yếu thànhmạnh và giành chiến thắng Đó không chỉ là quy luật tự nhiên, của các loài chim mà

Trang 11

của chính loaì người Một lần nữa triết lí dân gian lại thấp thoáng hiện lên trong thâmtâm, thấm thía

- Các câu tục ngữ, thành ngữ dân gian: “Ở hiền gặp lành”, “Ác giả, ác báo”, “Gieo gió, gặt bão”.

- Sự khác biệt trong thái độ của nhân vật “tôi” đối với chèo bẻo, quạ, diều hâu vàchim cắt cho thấy nhân vật tôi rất am hiểu về tập tính của các loài chim, có sự quansát kĩ lưỡng với từng loài Nhân vật tôi có sự am hiểu sâu sắc từ tự quan sát tự nhiên

và kinh nghiệm có được khi sống ở vùng quê

 Tác giả vừa là người có khả năng quan sát rất tinh tế, vừa là người có tình cảm gắn

bó thân thiết với làng quê và thiên nhiên

* Một số câu văn kể chuyện, miêu tả và biểu cảm:

+ Kia kìa! Con diều hâu bay tít lên cao, nó có cái mũi khoằm, đánh hơi tinh lắm: Đâu có xác chết Đâu có gà con… Khi tiến nó rú lên, tất cả gà chui vào cánh mẹ + Người ta nói chèo bẻo là kẻ cắp Kẻ cắp hôm nay gặp bà già! Nhưng từ đây tôi lại quý chèo bẻo/ Ngày mùa, chúng thức suốt đêm Mới tờ mờ đất đã cất tiếng gọi người” “Chè cheo chét” Chèo bẻo trị kẻ ác Thì ra, người có tội khi trở thành người tốt thì tốt lắm!

Việc kết hợp miêu tả, biểu cảm khi kể chuyện đã giúp cho việc thể hiện không khíngày hè trở nên sôi động hơn

1.2.3 Tâm trạng, cảm xúc của nhân vật tôi và các bạn

- Cảm xúc vui sướng, hạnh phúc khi được trải qua những mùa hè êm đềm, bình yên ởquê hương: tắm suối, la ó, reo hò; quay quần bên mâm cơm gia đình, cùng thưởngthức hương lúa non…

- Yêu thương, gắn bó với cảnh làng quê mà “ngày lao xao, đêm cũng lao xao” vàmong ước: Mùa hè nào cũng như màu hè này

Nhân vật tôi – tác giả không chỉ có vốn hiểu biết phong phú, tỉ mỉ về các loài chim

ở làng quê mà còn có tình cảm yêu mến và gắn bó với thiên nhiên làng quê sâu sắc Đặc biệt nhà văn vẫn giữ được nguyên vẹn cho mình cái nhìn và những cảm xúc hồn

Trang 12

nhiên của tuổi thơ khi kể và tả về thiên nhiên làng quê.

1.3 Đánh giá khái quát

*Nghệ thuật:

- Sự kết hợp độc đáo giữa miêu tả, kể chuyện và biểu cảm

- Lời kể chân thực, tự nhiên

- Hồi kí hiện đại nhưng chứa đựng những yếu tố văn hoá dân gian:

+ Đồng dao: Bồ các là bác chim ri là chú bồ các

+ Thành ngữ: Dây mơ, rễ má; kẻ cắp gặp bà già; lia lia láu láu như quạ vào chuồng lợn.

+ Truyện cổ tích: Sự tích chim bìm bịp, sự tích chim chèo bẻo.

* Nội dung:

- Bức tranh ngày hè làng quê với những thông tin thú vị về các loài chim, từ tập tính,

hình dáng cho tới thói quen bắt mồi… trong kí ức tuổi thơ êm đềm của nhân vật tôi –người kể chuyện

- Thể hiện tình yêu với thiên nhiên và sự trân trọng, gìn giữ vẻ đẹp của thiên nhiên,cảnh sắc quê hương Việt Nam

2 Định hướng phân tích

Quê hương thanh bình cùng những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ luôn là mảnh đất màu

mỡ đối với mỗi nhà văn nhà thơ, để rồi đã có thật nhiều tác phẩm độc đáo và đặc sắc.Một trong số những tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả đó chính là tậphồi kí tự truyện "Tuổi thơ im lặng" của tác giả Duy Khán Thông qua hồi tưởng và kỉniệm tuổi thơ,tác giả dựng lại những nét chấm phá về cuộc sống ở làng quê thuở trướctrong những bức tranh thiên nhiên, sinh hoạt, đồ vật và hình ảnh con người Cuộc sống

ấy tuy nghèo khó, vất vả nhưng giàu sức sống bền bỉ và chứa đựng bản sắc văn hóa độc

đáo của làng quê Đoạn trích “Lao xao ngày hè” là một trong những đoạn trích tiêu

biểu của cuốn hồi kí Đoạn trích đã kể lại khoảng đời trong sáng của nhà văn ở làngquê gắn với khung cảnh mùa hè bình dị, nhiều màu sắc, sống động cùng thế giới cácloài chim hiện lên trong kí ức êm đềm của tuổi thơ

Trang 13

Đoạn trích “Lao xao ngày hè” trích chương 6 trong tổng số 29 chương tác phẩmhồi kí “Tuổi thơ im lặng” Đoạn trích kể lại hồi ức của nhà văn về những kỉ niệm tuổithơ qua ngôi kể thứ nhất Với đoạn trích “Lao xao ngày hè”, Duy Khán đã đưa ngườiđọc trở lại với phần ký ức tuổi thơ nằm sâu và trở nên bền chặt trong tâm tư nhà văn, từ

đó vẽ lên bức tranh làng quê chớm hè đầy sống động, qua đó cho thấy tình yêu thiênnhiên, yêu làng quê của nhà văn

Mở đầu đoạn trích, người viết đã vẽ lên bức tranh làng quê chớm hè với đầy

đủ hình ảnh, màu sắc, âm thanh:“Giời chớm hè Cây cối um tùm Cả làng thơm Cây

hoa lan nở hoa trắng xoá Hoa giẻ từng chùm mảnh dẻ Hoa móng rồng bụ bẫm thơm như mùi mít chín ở góc vườn ông Tuyên Ong vàng, ong vò vẽ, ong mật đánh lộn nhau

để hút mật ở hoa Chúng đuổi cả bướm Bướm hiền lành bỏ chỗ lao xao Từng đàn rủ

nhau lặng lẽ bay đi.” Thời gian thì “chớm hè”, mới bắt đầu mùa nắng Không gian thì

được miêu tả từ rộng đến hẹp, từ “cả làng” đến “góc vườn ông Tuyển” Khung cảnh

làng quê lúc sang hè với bao màu sắc và hương thơm của các loài hoa quen thuộc như hoa lan, hoa giẻ, hoa móng rồng,…, cùng với vẻ nhộn nhịp, xôn xao, tất bật của bướm ong Bằng nghệ thuật liệt kê (các loài hoa, các loài ong), phép nhân hóa (bướm hiền

lành…) kết hợp với từ láy tượng thanh lao xao (diễn tả âm thanh rất khẽ, rất nhẹ nhưng

khá rõ), chỉ qua mấy câu văn mở đầu ngắn gọn đã khiến người đọc hình dung được tất

cả sự chuyển động của đất trời, thiên nhiên làng quê khi hè về

Bức tranh lành quê xuất hiện thêm con người – “chúng tôi”, bọn trẻ, trong đó có

nhà văn, chuyện trò “râm ran” trong buổi sáng sớm ngày hè thanh bình, trong sáng

Nhưng sự xuất hiện của con người chỉ là cái cớ để tác giả miêu tả và kể chuyện về

các loài chim Từ đây, tác giả miêu tả về thế giới loài chim với đủ loại Bằng đôi mắt

quan sát tinh tường, vốn hiểu biết phong phú và tình cảm yêu mến quê hương, nhà văn

đã vẽ nên bức tranh sinh động, phong phú về thế giới các loài chim Các loài chim đượcchia theo hai nhóm Nhóm chim lành gần gũi với con người như bồ các, sáo sậu, tu hú Nhóm chim ác như diều hâu, quạ, chim cắt Đặc biệt là chèo bẻo dám đánh lại lũ chim

ác Tác giả đã chọn ở mỗi loài chim một vài nét nổi bật về tiếng kêu, màu sắc, hình dáng, hoặc tập tính của chúng để miêu tả Thế giới các loài chim hiện lên vô cùng sống động mà gần gũi, thể hiện vốn sống, vốn hiểu biết khá phong phú của tác giả Thiên nhiên được miêu tả qua cái nhìn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú của tuổi thơ Từng loài chim được miêu tả trong mối quan hệ với con người, theo cách đánh giá của dân gian và ít nhiều mang tính biểu tượng cho từng loại người trong xã hội:

Trang 14

Từ bài hát đồng dao quen thuộc của trẻ con “ Bồ các là bác chim ri Chim ri là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú Tu hú lại là chú bồ các, ”, nhà

văn đã đi miêu tả một loạt dòng họ của chim bồ các – các loài chim hiền Gọi là chim

hiền vì chúng thường xuyên mang niềm vui đến cho người nông dân, cho thiên nhiêncho đất trời Tác giả vừa miêu tả vừa kể tính cách hiền hậu của họ nhà chim này Từ

hình ảnh sáo sậu, sáo đen đậu trên lưng trâu hót mừng được mùa, con sáo đen “tọ tọe” tập nói ở nhà bác Vui cho đến con “tu hú đỗ ngọn cây tu hú mà kêu” đều là loại

chim mang vui đến cho trời đất Để miêu tả và kể chuyện quê mình, Duy Khán đã dùng

tiếng địa phương như “giời, thống buổi, ngấp ngoái” (trời, xế buổi - quá nửa buổi, ngắc

ngoài) khiến người đọc như được nghe một người vùng Bắc Ninh kể về làng mình

Cùng là một từ “tu hú” tên của loài chim cùng họ với bồ các nhưng cũng là tên của cây vải theo địa phương chỉ vì khi chim tu hú kêu là báo hiệu mùa trái vải chín “Quả chín

đỏ, đầy ụ như mâm xôi gấc”:

Lướt qua đàn chim ngói, chim nhạn, nhà văn bắt đầu miêu tả các loài “chim ác”,

“chim xấu” mà trước hết là “con bìm bịp” Nhà văn đã kể chuyện “về một ông sư dữ

như hổ mang” để giải thích vì sao chim có tính dữ và tên ấy Khoác bộ cánh màu nâu, suốt đêm ngày núp trong bụi rậm, và chí lên tiếng “bịp bịp” khi “thổng buổi”

Và “khi nó kêu thì một loạt chim ác, chim xấu mới ra mặt” Vừa miêu tả chim bìm bị, câu văn vừa giữ vai trò chuyển tiếp trong việc miêu tả các loài “chim ác, chim

xấu” khác Tiếng kêu của nó như hiệu lệnh cho đồng bọn hành sự.

Ra mặt đầu tiên là con diều hâu “có cái mũi khoắm đánh hơi tinh lắm” Ở vùng

quê, “Đâu có xác chết Đâu có gà con ” là thấy nó rồi! Tác giả bắt đầu kể lại trận “Ẩu

đả dưới, gốc vối già” giữa diều hâu và gà mẹ mà tác giả đã nhìn tận mắt Ấy là đoạn văn kể chuyện bằng cách miêu tả các chi tiết chọn lọc, gợi hình: “Con diều hâu lao như mũi tên xuống, gà mẹ xù cánh vừa kêu vừa mổ, vừa đạp diều hâu” Trận này, diều hâu thắng, bắt được gà con mang đi thì “những mủi tên đen, mang hình đuôi cá từ đâu tới

tấp bay đến Ấy là những con chèo bẻo”, mệnh danh là “kẻ cắp” Thế là một trận chiến

nữa xảy ra trên không giữa diều hâu và đàn chèo bẻo Ngôn ngữ miêu tả tự nhiên, có cả thành ngữ, gợi hình ảnh sinh động Lần này thì diều hâu thua, phải chạy trốn Chèo bẻo

là kẻ chiến thắng, để lại hình ảnh đẹp làm thay đổi tình cảm của nhà văn “Từ đây, tôi lại quý chèo bẻo”, để rồi tác giả đưa ra nhận xét: “Thì ra, người có tội khi trở thành người tốt thì tốt lắm” Chèo bẻo “trị kẻ ác” nên tấn công cả những tên “lia lia

láu” như “quạ đen, quạ khoang” khi chúng rình vào chuồng lợn để bắt gà con hay

trộm trứng Con quạ bị đàn chèo bẻo tấn công chết đến rũ xương

Trang 15

Người đời thường bảo vỏ quýt dày có móng tay nhọn, kẻ cắp gặp bà già Có diều hâu,

quạ thì có chèo bẻo, có chèo bẻo thì có chim cắt Duy Khán kết hợp thật nhuần nhuyễn.

văn miêu tả và văn kể chuyện trong đoạn văn này, hay nói đúng hơn là Duy Khán đã kể lại chuyện chim bồ câu nhà chú Chàng bị chim cắt xỉa chết và trận đánh kinh hoàng giữa chim cắt và chèo bẻo bằng lối văn miêu tả Khi miêu tả, nhà văn chỉ chọn những

chi tiết đặc biệt Ví dụ, miêu tả chim cắt thì chỉ tả “cánh nhọn như dao bầu dục chọc tiết lợn” Về đặc tính hoạt động thì “Chúng là loài quỷ den, vụt đến, vụt

biến ”, và “Khi đánh nhau, chim cắt chỉ xỉa bằng cánh” Những câu văn so sánh và

đặc tả ấy cũng đủ để gây ấn tượng với người đọc về loài chim ác này Trận chiến đấu kinh hoàng trên không được sự cổ vũ của đám trẻ con kết thúc bởi cái chết củacon chimcắt, và kẻ chuyên trị chim ác là chèo bẻo đã chiến thắng Kẻ phục thiện và làm điều

thiện đã được đền đáp! Qua chiến thắng của họ hàng chèo bẻo trước chim cắt, tác giả muốn thể hiện thiện cảm của mình với loài chim này; ca ngợi hành động dũng cảm của chèo bẻo Qua đó gửi gắm bài học với con người: dù có mạnh khoẻ đến

đâu, gây tội ác thì nhất định sẽ bị trừng trị, bị thất bại; sức mạnh của tinh thần đoàn kết, cộng đồng sẽ làm cho sức mạnh gấp bội, biến yếu thành mạnh và giành chiến thắng Đókhông chỉ là quy luật tự nhiên, của các loài chim mà của chính loaì người Một lần nữa triết lí dân gian lại thấp thoáng hiện lên trong thâm tâm, thấm thía

Sự khác biệt trong thái độ của nhân vật “tôi” đối với chèo bẻo, quạ, diều hâu và chim cắt cho thấy nhân vật “tôi” rất am hiểu về tập tính của các loài chim, có sự quan sát kĩ lưỡng với từng loài Nhân vật tôi có sự am hiểu sâu sắc từ tự quan sát tự nhiên và kinh nghiệm có được khi sống ở vùng quê Việc kết hợp miêu tả, biểu cảm khi kể

chuyện đã giúp cho việc thể hiện không khí ngày hè trở nên sôi động hơn: “Kia kìa! Con diều hâu bay tít lên cao, nó có cái mũi khoằm, đánh hơi tinh lắm: Đâu có xác chết Đâu có gà con… Khi tiến nó rú lên, tất cả gà chui vào cánh mẹ”; “Người ta nói chèo bẻo là kẻ cắp Kẻ cắp hôm nay gặp bà già! Nhưng từ đây tôi lại quý chèo bẻo/ Ngày mùa, chúng thức suốt đêm Mới tờ mờ đất đã cất tiếng gọi người” “Chè cheo chét” Chèo bẻo trị kẻ ác Thì ra, người có tội khi trở thành người tốt thì tốt lắm! ” Bằng

khả năng quan sát tinh tế, tỉ mỉ bằng thính giác và thị giác, sự hiểu biết về các loài chim, tác giả đã miêu tả thế giới các loài chim vô cùng sinh động, chúng liên kết thành một xã hội như loài người: có hiền, có dữ, có mâu thuẫn giải quyết bằng bạo lực…Đó lànhững những âm thanh, hình ảnh sinh động, góp phần tạo nên cái lao xao ngày

hè Trong đoạn trích, tác giả còn sử dụng một số chất liệu văn hóa dân gian: đồng dao (Bồ các là bác chim ri, chim ri là rì sáo sậu… tu hú là chú bồ các); thành ngữ dân gian

(Dây mơ, rễ má; Lia lia láu láu như quạ dòm chuống lợn, Kẻ cắp gặp bà già, Ở hiền gặp lành, Ác giả, ác báo, Gieo gió, gặt bão); truyện cổ tích (Sự tích chim bìm bịp)

Trang 16

Cách sử dụng chất liệu dân gian nói trên làm cho mạch văn phát triển tự nhiên, lời kể gần gũi mà sinh động với con người.

Ở phần cuối đoạn trích, nhà văn giãi bày tâm trạng, cảm xúc của mình và các bạn Nhân vật “tôi” bày tỏ cảm xúc vui sướng, hạnh phúc khi được trải qua những mùa

hè êm đềm, bình yên ở quê hương: được tắm suối, la ó, reo hò; quây quần bên mâm cơm gia đình,… Bức tranh lành quê không chỉ lao xao ban ngày mà ban đêm cũng lao xao bởi tiếng sáo diều vi vút, tiếng ca của bầy ve, tiếng chó thủng thẳng sủa giăng,… Nhân vật “tôi” không chỉ được đắm chìm trong âm thanh rộn ràng, lao xao mà còn thưởng thức hương vị của thiên nhiên khi đêm đến– hương lúa non từ đồng thoảng vào Đúng là ngày hè lao xao – cái lao xao bất tuyệt cả ngày lẫn đêm, cái lao xao đem lại chotuổi thơ vị ngọt ngào Cái lao xao của thiên nhiên đất trời hay là cái lao xao của chính

tâm hồn nhà văn để rồi nhân vật “tôi” khát khao thầm ước: “Mùa hè nào cũng như mùa hè này” Mong ước, khát khao đó cho thấy tình cảm yêu mến và gắn bó của “tôi”

với thiên nhiên làng quê sâu sắc Chỉ có yêu và gắn bó sâu nặng với quê hương mới am hiểu thiên nhiên đến vậy, mới nghe được những thanh âm “lao xao” của bức tranh làng quê khi hè về, mới thấy giá trị của mùa hè và tiếc nuối, níu giữ Đặc biệt nhà văn vẫn giữ được nguyên vẹn cho mình cái nhìn và những cảm xúc hồn nhiên của tuổi thơ khi

kể và tả về thiên nhiên làng quê

Văn bản “Lao xao ngày hè” là một đoạn trích đặc sắc tiêu biểu của thể loại hồi kí.Đoạn trích nói riêng và tác phẩm “Tuổi thơ im lặng” nói chung được viết nên từ tình yêu sâu nặng của nhà văn Duy Khán dành cho ngôi làng nhỏ nghèo khổ, của dòng sông

kí ức không lúc nào ngơi tuôn trào trong tâm khảm về đất, về người, về xóm làng, về gia đình, về những kỉ niệm ấu thơ trong trẻo Nhà văn Duy Khán đã thành công với cách xây dựng thế giới các loài vật nhỏ bé theo lối nhân hóa, với óc quan sát tinh tế, giọng văn hấp dẫn, kể chuyện kết hợp với miêu tả sống động Với sự quan sát tinh tường, tài chọn lọc các chi tiết trong sự hiểu biết phong phú về thế giới tự nhiên, cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn tự sự và miêu tả, tác giả đã khắc hoạ bức tranh mùa hè đẹp, bình dị, nhiều màu sắc, sống động cùng thế giới các loài chim Văn bản giúp mỗi chúng ta thêm yêu và gắn bó với thế giới tự nhiên quanh mình hơn, tự rút ra cho mình những bài học ý nghĩa, giàu tình nhân văn từ chính câu chuyện của loài vật,

đó là bài học về lối sống thân ái, chan hòa; yêu thương giúp đỡ và mang niềm vui đến cho mọi người; đoàn kết, biết cách ứng xử lễ độ, khiêm nhường,…

Qua những kỉ niệm thời niên thiếu, nhà văn Duy Khán đã tái hiện bức tranh thiênnhiên và cuộc sống ở nông thôn Hiện thực cuộc sống đã trở thành chất liệu nghệ thuậtdưới ngòi bút tài hoa của nhà văn Có thể nói Duy Khán đã gửi cả tâm hồn mình vào

Trang 17

những trang viết mộc mạc, hồn nhiên và đầy chất thơ như thế Hãy đọc và cùng lắngđọng để cảm nhận hương vị tuổi thơ của riêng mỗi người!

IV LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU:

*GV hướng dẫn HS thực hành các đề đọc hiểu về văn bản: “Lao xao ngày hè” (DuyKhán)

 ĐỀ ĐỌC HIỂU SỐ 1:

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

Sớm Chúng tôi tụ hội ở góc sân Toàn chuyện trẻ em Râm ran

Các Các Các

Một con bồ các[2] kêu váng lên Cái con này bao giờ cũng vừa bay vừa kêu cứ như bị ai đuổi đánh

Chị Điệp nhanh nhảu:

- Bồ các là bác chim ri Chim ri là dì sáo sậu[3] Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu

hú Tu hú lại là chú bồ các,

Thế thì ra dây mơ, rễ má thế nào mà chúng đều có họ với nhau Họ của chúng đều hiền

cả Chúng đều mang vui đến cho giời đất Sáo sậu, sáo đen hót, đậu cả lên lưng trâu mà hót mừng được mùa Nhà bác Vui có con sáo đen tọ toẹ học nói Nó bay đi ăn, chiều chiều lại về với chủ Con tu hú to nhất họ, nó kêu “tu hú” là mùa tu hú chín; không sai một tẹo nào Cả làng có mỗi cây tu hú ở vườn ông Tấn Tu hú đỗ ngọn cây tu hú mà kêu Quả chín đỏ, đầy ụ như mâm xôi gấc Tiếng tu hú hiếm hoi; quả hết, nó bay đi đâu biệt

Một đàn chim ngói sạt qua rồi vội vã kéo nhau về hướng mặt trời lặn

Nhạn tha hồ vùng vẫy tít mây xanh “chéc chéc”

(Lao xao ngày hè, Duy Khán)

Câu 1: Xác định các phương thức biểu đạt có trong đoạn văn trên?

Trang 18

Câu 2: Theo đoạn trích, vì sao các loài bồ các, chim sáo, chim tu hú được coi là chim hiền? Chúng được miêu tả về những đặc điểm nào?

Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau:

“Quả chín đỏ, đầy ụ như mâm xôi gấc.”

Câu 4: Em hãy chia sẻ về một hình ảnh hoặc âm thanh thiên nhiên ngày hè mà em ấn

tượng

Gợi ý làm bài Câu 1: Các phương thức biểu đạt có trong đoạn văn trên: tự sự, miêu tả, biểu cảm Câu 2:

- Các loài bồ các, chim sáo, chim tu hú được coi là chim hiền vì chúng đều đem vui

đến cho giời đất

- Để miêu tả các loài chim hiền, tác giả tập trung miêu tả bằng tiếng kêu và tiếng hót”

+ Chim bồ các kêu "váng" lên

+ Cậu sáo sậu, sáo đen đậu lên cả lưng trâu mà hót mừng được mùa

+ con sáo đen tọ toẹ học nói

+ Con tu hú to nhất họ, nó kêu “tu hú” là mùa tu hú chín

Câu 3:

- Biện pháp tu từ so sánh:

Cây tu hú (cây vải) khi chín đỏ cây, tán tròn đầy được so sánh với mâm xôi gấc

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp đẽ, đầy sức sống của cây vải khi đến mùa quả chín mỗi khi chim

tu hú kêu, từ đó nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của bức tranh làng quê khi vào hè

+ Cho thấy tình yêu thiên nhiên của nhà văn

+ Làm cho cách diễn đạt thêm sinh động, gợi hình, gợi cảm hơn

Trang 19

Câu 4: HS chia sẻ về hình ảnh, âm thanh thiên nhiên ngày hè ấn tượng Có thể nêu:ấn

tượng về các hình ảnh như hoa phượng đỏ/ cánh đồng hoa sen/cánh đồng lúa chín ngàyhè/ cây vải chín đỏ quả,… hoặc âm thanh tiếng chim tu hú/tiếng ve…

- Các loài chim cùng tạo nên bản giao hưởng, bản hoà ca của thiên nhiên,làm cho tâm hồn của con người thoải mái, thêm yêu cuộc sống, vơi bớt muộnphiền

 ĐỀ ĐỌC HIỂU SỐ 2:

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

“Cả nhà ngồi ăn cơm trong hương lúa đầu mùa từ đồng Chõ thoảng về, trongtiếng sáo diều cao vút của chú Chàng; trong dàn nhạc ve, trong tiếng chó thủng thẳngsủa giăng…

Chúng tôi no nê, rủ nhau giải chiếu ở hiên nhà ngủ cho mát

Ôi cái mùa hè hiếm hoi Ngày lao xao, đêm cũng lao xao Cả làng xóm hình nhưkhông ai được ngủ, cùng thức với giời, với đất Tôi khát khao thầm ước: Mùa hè nàocũng được như mùa hè này!”

(Lao xao ngày hè, Duy Khán)

Câu 1 Xác định và chỉ ra tác dụng của ngôi kể trong đoạn trích trên.

Câu 2 Nhân vật “tôi” đã cảm nhận vẻ đẹp của buổi đêm nơi làng quê bằng những giác

quan nào và cảm nhận được những điều gì?

Câu 3 Theo em, tác giả đoạn trích đã thể hiện những cảm xúc gì khi kể về những ngày

hè đã qua?

Câu 4 Theo em, vì sao học sinh thường yêu thích và trông đợi mùa hè? Hãy chia sẻ

ngắn gọn về một vài việc làm cụ thể của em trong mùa hè vừa qua

Gợi ý:

Câu 1

Trang 20

- Ngôi kể của được sử dụng ở đoạn văn là: Ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng “Tôi”

(chúng tôi)

- Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất của đoạn văn:

+ Tác giả để một nhân vật trong chuyện (là hình bóng của tuôi thơ tác giả) kể lại câuchuyện khiến câu chuyện trở nên chân thực, khách quan, nhân vật có thể bộc lộ rõ nhấttâm trạng, cảm xúc

+ Việc lựa chọn phù hợp với thể loại hồi kí

Câu 2 Nhân vật “tôi” đã cảm nhận vẻ đẹp của buổi đêm nơi làng quê bằng thính giác,

thị giác và khứu giác:

+ Bằng thính giác để nghe thấy âm thanh của tiếng sáo diều cao vút của chú Chàng;

tiếng ve thành bản nhạc; tiếng chó thủng thẳng sủa giăng…

+ Thị giác để ngắm thấy ông giăng

+ Khứu giác để cảm nhận được hương lúa non từ đồng thoảng vào.

- HS chia sẻ ngắn gọn một vài việc làm của bản thân trong kì nghỉ hè vừaqua: Đi thăm ông bà ở xa; cũng câu cá với bố buổi chiều; thả diều với các bạn,…

BUỔI 2:

 Văn bản 2: THƯƠNG NHỚ BẦY ONG (HUY CẬN)

Trang 21

I TÁC GIẢ HUY CẬN

- Cù Huy Cận (1919 – 2005), bút danh hoạt động nghệ thuật là Huy Cận.

- Quê quán: Ân Phú – Hương Sơn – Hà Tĩnh

- Ông được biết đến trước hết với tư cách là một nhà Những bài thơ hay của Huy Cận thường mang một nỗi buồn mênh mang khó tả…

- Ngoài làm thơ, ông còn viết văn xuôi, tiểu luận và phê bình văn học

- Các tác phẩm chính: Lửa thiêng (thơ, 1940); Trời mỗi ngày lại sáng (tập

thơ, 1958); Đất nở hoa (tập thơ, 1960); Suy nghĩ về nghệ thuật (tiểu luận phê bình, 1980 - 1982), Hồi ký song đôi (tự truyện, 1997),

II VĂN BẢN: “THƯƠNG NHỚ BẦY ONG”

1 Xuất xứ: Trích từ tập 1 của hồi kí Song đôi, được Huy Cận đặt là Tổ ong trại Nhan

đề Thương nhớ bầy ong là do người biên soạn đặt.

- Lời kể chân thực với những từ ngữ giản dị, phù hợp với hồi kí

- Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế của người kể chuyện

*Nội dung:

- Hồi ức của nhân vật tôi về những đõ ong của gia đình mình khi còn nhỏ

Trang 22

- Tâm trạng buồn thương da diết, khó tả của nhân vật “tôi” khi bầy ong của gia đình bỏ

tổ bay đi mà không có cách nào níu giữ chúng lại

III ĐỊNH HƯỚNG PHÂN TÍCH VĂN BẢN

1 Dàn ý:

1.1 Nêu vấn đề:

- Giới thiệu tác giả Huy Cận và tập hồi kí “Song đôi”

- Giới thiệu văn bản “Thương nhớ bầy ong”, khái quát giá trị của văn bản

1.2 Giải quyết vấn đề:

B1: Khái quát về văn bản

B2: Phân tích nội dung – nghệ thuật của văn bản theo luận điểm:

1.2.1 Nghề nuôi ong của gia đình nhân vật “tôi”

- Nuôi nhiều, từ thời ông nội

- Khi ông mất, cha và chú tiếp tục nuôi nhưng ít hơn

- Buổi chiều, ong bay ra họp đàn trước đõ

→ Nhân vật “tôi”: mải mê quan sát, ngắm đàn ong không chán mắt

→ Tâm trạng: Buồn trước sự quạnh quẽ của chiều quê, nhất là khi cả nhà đi vắng… ➩ Nhân vật “tôi” khá nhạy cảm trước cảnh thiên nhiên

1.2.2 Bầy ong bay đi và tâm trạng nhân vật “tôi”

- Nhân vật “tôi” nhiều lần chứng kiến cảnh đàn ong bay đi: rời xa, bỏ tổ nhà, mang theo

một ong chúa…

+ Nếu ong trại vào giữa trưa thì người chú sẽ hô hào mọi người tung đất vụn lên và đànong quay trở lại tổ

+ Nếu ong trại vào lúc chú đi làm, mình “tôi” ở nhà thì đành buồn bã nhìn đàn ong bay

đi mặc dù đã hết sức cố gắng níu giữ

Trang 23

- Tâm trạng: buồn, rất buồn khi chứng kiến bầy ong bỏ tổ bay đi:

+ Tôi cũng ném đất vụn lên nhưng không ăn thua gì.

+ Tôi nhìn theo, buồn không nói được.

+ Nhìn ong trại đi, tưởng như một mảnh hồn của tôi đã san đi nơi khác.

→ Nhân vật tôi – người kể chuyện:

+ Là người có tình cảm yêu mến đặc biệt với bầy ong, khi chúng rời xa, cậu cảm thấybuồn bã như mất đi một phần vốn rất thân quen với mình

+ Có sự quan sát tỉ mỉ

+ Những hiểu biết về đặc điểm loài ong

+ Cách cảm nhận về thiên nhiên, loài vật vô cùng tinh tế và phát hiện ra những điều sâu sắc: mọi vật đều mang trong nó một linh hồn, gần gũi và thân thuộc với con người

I.3 Đánh giá khái quát

*Nghệ thuật:

- Lời kể chân thực với những từ ngữ giản dị, phù hợp với hồi kí

- Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế của người kể chuyện

*Nội dung:

- Hồi ức của nhân vật tôi về những đõ ong của gia đình mình khi còn nhỏ

- Tâm trạng buồn thương da diết, khó tả của nhân vật “tôi” khi bầy ong của gia đình bỏ

tổ bay đi mà không có cách nào níu giữ chúng lại

2.Định hướng phân tích

Nhắc đến Huy Cận là nhắc đến một cây bút tiêu biểu trong văn học Việt Namhiện đại Ngoài tư cách là một nhà thơ nổi tiếng bậc nhất của phong trào Thơ mới, HuyCận còn viết văn xuôi, tiểu luận và phê bình văn học Các tác phẩm chính của tác giảđược công chúng biết đến rộng rãi như Lửa thiêng (thơ, 1940); Trời mỗi ngày lại

sáng (tập thơ, 1958); Đất nở hoa (tập thơ, 1960); Suy nghĩ về nghệ thuật (tiểu luận phê

Trang 24

bình, 1980 - 1982), Hồi ký song đôi (tự truyện, 1997) Hồi kí “Song đôi” là tập hồi kí

của Huy Cận đã ghi lại tuổi thơ của tác giả với người bạn của mình là nhà thơ Xuân

Diệu, gồm 2 tập Văn bản “Thương nhớ bầy ong” trích từ tập 1 của hồi kí được kể

theo ngôi thứ nhấ Văn bản ghi lại tâm trạng buồn thương da diết, khó tả của nhân vật

“tôi” khi bầy ong của gia đình bỏ tổ bay đi mà không có cách nào níu giữ chúng lại

Văn bản “Thương nhớ bầy ong” (trích từ tập hồi kí Song đôi của Huy Cận)

kể lại sự việc trong quá khứ khi gia đình nuôi ong và chứng kiến cảnh ong “trại” (mộtphầnbầy ong bỏ đi) với tâm trạng buồn bã, chất chứa những suy tư, chiêm nghiệm củamình: những vật vô tri vô giác, nhỏ nhẻ, vụn vặt cũng mang một linh hồn vương vấnvới hồn ta và khiến ta yêu mến Những cảm xúc ngày thơ bé đó cũng đã ảnh hưởng, ámảnh đến tác giả về sau Bố cục văn bản có thể chia hai phần: phần 1 từ đầu đến “cày ải”

kể về bầy ong trong kí ức tuổi thơ của nhân vật “tôi” trước ngày ong “trại”; phần 2 cònlại thể hiện tâm trạng buồn da diết, khó tả của nhân vật “tôi” khi chứng kiến cảnh ong

“trại” và niềm thương nhớ bầy ong

Phần đầu của văn bản, nhân vật “tôi” kể lại hồi ức về bầy ong của tuổi thơ Gia đình nhân vật tôi có nghề nuôi ong từ thời ông nội: Ngày xưa ông tôi nuôi

nhiều ong; đằng sau nhà có hai dãy đõ ong mật Sau ngày ông tôi chết, cha và chú tôi còn nuôi một ít đõ, nhưng không “vượng” như xưa nữa Tuổi thơ lớn lên bên những đõ

ong nên nhân vật “tôi” gắn bó vớ những bầy ong của gia đinh và cả những nỗi buồn khi ong “trại” “Tôi” tự hào về hai đõ ong “sây” (đông đúc) ở sau nhà và vô cùng hứng khởi thích thú ngắm nhìn chúng Nhân vật “tôi” bao lần mê mẩn ngắm nhìn đàn ong bay ra họp đàn trước đõ cứ khoảng 4 giờ chiều Và “tôi” cũng thấm thía nỗi buồn mơ hồtrước sự quạnh quẽ của chiều quê, nhất là khi cả nhà đi vắng: “Buồn lắm, cái buồn xa

côi vắng tạnh của chiều quê, của không gian mà tôi cảm nghe từ buổi ấy Nhất là

những lúc cả nhà đi vắng thì tôi buồn đến nỗi khóc một mình, nghe lòng bị ép lại, như trời hạ thấp xuống Và bầy ong thì vù vù không thôi” Buồn nhất khi “tôi” chứng kiến

mấy lần ong “trại”, nghĩa là một phần đàn ong rời xa, bỏ tổ nhà, mang theo một ong chúa.” Ong trại nhiều lần, nếu có người chú ở nhà thì sẽ có cách để giữ bầy ong lại, nhưng khi người chú đi vắng thì nhân vật “tôi” chỉ còn biết bất lực nhìn đàn ong bỏ đi

mà không có cách gì để níu giữ Tất cả những cảm nhận trên cho thấy nhân vật “tôi” có tâm hồn khá nhạy cảm trước cảnh thiên nhiên

Phần sau của văn bản, nhân vật “tôi” nhớ lại cảnh bầy ong bay đi và tâm trạng đầy tiếc nuối của mình “Tôi” kể lại một lần ong “trại” mà “tôi” khi đó ở nhà một mình nhìn thấy nhưng không thể làm khác được Nhân vật “tôi” đã hết sức

Trang 25

cố gắng níu giữ bằng cách ném đất vụn lên không nhưng không ăn thua gì Ong vù vù lên cao, bay mau và mất hút trong chốc lát Cậu bé khi đó buồn, rất buồn khi chứng

kiến bầy ong bỏ tổ bay đi: “Tôi nhìn theo, buồn không nói được Cái buồn của đứa bé rộng lớn đến bao nhiêu, các thi sĩ, văn nhân đã ai nói đến chưa? Nhìn ong trại đi, tưởng như một mảnh hồn của tôi đã san đi nơi khác” Biện pháp so sánh cảm xúc nuối

tiếc khi phải chứng kiến đàn ong rời đi giống như tâm hồn bị san sẻ đi nơi khác Hình ảnh so sánh nhấn mạnh niềm luyến tiếc bầy ong với cả trái tim mình của “tôi” Bầy ong bay đi mang theo một khoảng kí ức đẹp đẽ của tôi, bao yêu thương lẫn cả nỗi buồn mà tôi gửi gắm Để rồi khi bầy ong đã bỏ đi, từng cái tổ ong sau thềm nhà, cái giá đặt đõ ong, từng chậu nước con con ở chân giá xanh lè vì rêu bám… cũng gợi thương gợi nhớ trong lòng chú bé Đó là những tình cảm rất đỗi chân thật của cậu bé khi chứng kiến thứgần gũi, gắn bó với mình bấy lâu nay bỗng rời xa khỏi vòng tay mà không thế nào níu giữ Những dòng văn cho thấy nhâ vật “tôi” có tình cảm yêu mến đặc biệt với bầy ong, khi chúng rời xa, cậu cảm thấy buồn bã, như mất đi một phần vốn rất thân quen với mình Những cảm xúc ngày thơ bé đó cũng đã ảnh hưởng, ám ảnh đến tác giả về sau Chính những điều bình dị của thiên nhiên đã dạy cho nhân vật “tôi” những bài học đầu tiên về ý nghĩa cuộc đời và vũ trụ, đã ảnh hưởng đến ý thơ, những cảm xúc trong thơ của tác giả sau này Đó là mối liên hệ giữa quá khứ với hiện tại và tương lai

Những trải nghiệm mỗi lần nhìn thấy bầy ong rời đi đã đem đến cho nhân vật

“tôi” những suy nghĩ, chiêm nghiệm: hoá ra những vật vô tri vô giác, nhỏ nhẻ, vụn vặt cũng đều mang một linh hồn vương vấn với hồn ta và khiến ta yêu mến Nếu ta thực sự gắn bó với thiên nhiên, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên thì bất cứ sự thay đổi nào của thiên nhiên ấy cũng sẽ ít nhiều vang động đến tâm hồn bạn Những cảm nhận của chú bé Huy Cận hồi nào mang một nỗi buồn trong sáng, khiến cho người đọc bỗng thấytrân trọng hơn những điều giản dị quanh mình

Bằng lời kể chân thực với những từ ngữ giản dị, phù hợp với hồi kí, sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế của người kể chuyện, văn bản “Thương nhớ bầy ong” (Huy Cận) đã ghilại những cảm xúc trong trẻo của tác giả về thiên nhiên gần gũi quanh mình, chứa đựng

cả nỗi nhớ thương da diết, khó tả của nhân vật “tôi” khi bầy ong của gia đình bỏ tổ bay

đi mà không có cách nào níu giữ chúng lại Thông qua cảm xúc chân thật của tôi về thiên nhiên, văn bản nhắc nhở ta cần trân trọng nhiều điều giản dị, gần gũi của thiên nhiên quanh mình

Đọc “Thương nhớ bầy ong” (Huy Cận), độc giả sẽ phần nào lí giải được nỗi buồn nhân thế - cảm xúc chủ đạo trong các tác phẩm của Huy Cận sau này Mỗi người hãy tự cảm nhận được ý nghĩa thông điệp mà văn bản hướng tới

Trang 26

IV LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU

*GV hướng dẫn HS thực hành đề các đề đọc hiểu về văn bản “Giọt sương đêm” (TrầnĐức Tiến):

Đề bài 01: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

“Ngày xưa ông tôi nuôi nhiều ong; đằng sau nhà có hai dãy đõ ong mật Sau ngàyông tôi chết, cha và chú tôi còn nuôi một ít đõ, nhưng không “vượng” như xưa nữa Saunhà có hai đõ ong “sây” lắm Chiều lỡ buổi (khoảng 4 giờ chiều) thì ong bay ra họp đàntrước đõ, và tôi hay ra xem, nhiều khi bị ong đốt nhưng mê xem không thôi Buồn lắm,cái buồn xa côi vắng tạnh của chiều quê, của không gian mà tôi cảm nghe từ buổi ấy.Nhất là những lúc cả nhà đi vắng thì tôi buồn đến nỗi khóc một mình, nghe lòng bị éplại, như trời hạ thấp xuống Và bầy ong thì vù vù không thôi Buồn nhất là mấy lần ong

“trại”, nghĩa là một phần đàn ong rời xa, bỏ tổ nhà, mang theo một ong chúa Nếu ong

“trại” vào buổi trưa thì thường thường chú tôi biết được và hô lên cho cả xóm ném đấtvụn lên không, thế là cả bầy ong mệt lử phải đậu lại ở một cây nào đó hay trở về đõ Ongđậu lại trên cây, chú tôi hay người khác lại trèo lên bắt mang về đõ cũ hoặc cho vào một

đõ mới Nhưng đôi khi ong trại buổi chiều lỡ buổi vào một lúc chú tôi phải ra đồng càytra (cày ải)

(Thương nhớ bầy ong, trích Hồi kí Song đôi, Huy Cận)

Câu 1 Xác định ngôi kể của đoạn trích

Câu 2 Theo đoạn trích, thế nào là “ong trại”?

Câu 3a Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau:

“Nhất là những lúc cả nhà đi vắng thì tôi buồn đến nỗi khóc một mình, nghe lòng bị ép lại, như trời hạ thấp xuống”

Câu 3b Em có nhận xét gì về cách quan sát, cảm nhận thiên nhiên, loài vật của nhân vật

“tôi” qua đoạn trích trên?

(GV chọn 1 trong 2 câu 3a hoặc 3b)

Câu 4 Đặt mình vào hoàn cảnh em phải chia tay với một con vật nuôi, một đồ chơi hoặc

một vật dụng hết sức thân thiết với mình, lúc đó em có tâm trạng ra sao? Hãy chia sẻ

Trang 27

Câu 3a:

- Biện pháp so sánh: nghe lòng bị ép lại như trời hạ thấp xuống

- Tác dụng của các biện pháp tu từ:

+ Làm cho lời văn gợi hình ảnh, gợi cảm xúc hơn

+ Nhấn mạnh nỗi buồn mênh mông của nhân vật “tôi” trước sự quạnh quẽ của khungcảnh thiên nhiên buổi chiều, nhất là khi cả nhà đi vắng

+ Cho thấy tâm hồn nhạy cảm trước không gian của người viết

Câu 3b: Nhân vật “tôi” có cách quan sát tỉ mỉ, thể hiện những hiểu biết về đặc điểm

loài ong, cách cảm nhận về thiên nhiên, loài vật vô cùng tinh tế với tâm hồn nhạy cảm

Câu 4: HS thử đặt mình vào hoàn cảnh và chia sẻ về tâm trạng của bản thân khi chia

tay với một con vật nuôi/đồ chơi/đồ vật hết sức thân thuộc Có thể nêu:

- Đó là vật nuôi/đồ vật/đồ chơi gì?

- Lí do phải chia tay

- Cảm xúc sau chia tay: buồn, tiếc thương, hụt hẫng,

Đề bài 02: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

“Một lần, ở nhà một mình tôi thấy ong trại mà không thể làm gì được Tôi cũng némđất vụn lên không nhưng không ăn thua gì Ong vù vù lên cao, bay mau và mất hút trongchốc lát Tôi nhìn theo, buồn không nói được Cái buồn của đứa bé rộng lớn đến baonhiêu, các thi sĩ, văn nhân đã ai nói đến chưa? Nhìn ong trại đi, tưởng như một mảnhhồn của tôi đã san đi nơi khác Nơi xa xôi nào đó đã nhận một phần cốt tuỷ của linh hồnnhà tôi với bầy ong trại? Một thi sĩ phương Tây ngày trước đã nói đúng lắm: những vật

vô tri vô giác đều có một linh hồn nó vương vấn với hồn ta và khiến ta yêu mến Cái tổong sau thềm nhà, cái giá đặt đõ ong, từng chậu nước con con ở chân giá xanh lè vì rêubám: bao nhiêu vật nhỏ nhẻ, vụn vặt mà đã gom góp cho tôi những cảm giác đầu tiên,những cái nhìn ngó đầu tiên vào ý nghĩa cuộc đời và vũ trụ Và ý thơ cuộc đời, ý thơ vũtrụ, cái xa xôi vắng vẻ sau này ám ảnh tôi, ngày thơ bé tôi đã nghe rồi, mỗi lần ong trại.Linh hồn của đất đá, có phải là một điều bịa đặt của bọn thi nhân đâu.”

(Thương nhớ bầy ong, trích Hồi kí Song đôi, Huy Cận)

Trang 28

Câu 1 Xác định các phương thức biểu đạt của đoạn trích

Câu 2 Nhân vật “tôi” đã mấy lần dùng từ “linh hồn” trong đoạn trích trên? Cách dùng

từ “linh hồn” ở đây có gì khác thường?

Câu 3 Em có nhận xét gì về tình cảm mà nhân vật “tôi” dành cho bầy ong?

Câu 4 Thông điệp ý nghĩa mà em rút ra từ đoạn trích trên Lí giải.

Gợi ý trả lời

Câu 1: Các phương thức biểu đạt : tự sự, miêu tả, biểu cảm.

Câu 2: Tác giả đã sử dụng 3 lần từ “linh hồn” Từ linh hồn được hiểu là phần tinh thần

sâu kín thiêng liêng nhất mang ại sức sống cho con người, sự vật Thế nhưng trong cảmnhận của nhân vật “tôi” thì những vật vô tri vô giác, nhỏ nhẹ, vụn vặt như cái tổ ong saunhà, cái giá đặt đõ ong, chậu nước con ở chân giá… đều có linh hồn khiến cho conngười phải nhớ nhung, yêu mến Ở đây người viết đã sử dụng biện pháp nhân hoá

Câu 3:

Nhân vật “tôi” có tình cảm yêu mến, gắn bó đặc biệt với bầy ong, khi chúng rời xa, cậucảm thấy buồn bã, trống trải như mất đi một phần mảnh hồn của mình

Câu 4: Thông điệp ý nghĩa với bản thân: Những vật vô tri vô giác quanh ta đều có một

linh hồn, nó vương vấn với hồn ta và khiến ta yêu mến Hãy yêu quý và trân trọng thiênnhiên quanh ta

Vì những điều xung quanh ta tuy gần gũi, quen thuộc nhưng đôi lúc ta không trân trọng.Những điều đó tuy bình dị nhưng đã gắn bó, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn ta từ thơ ấu,

do đó cần phải trân trọng và biết ơn, luôn hướng về

Ôn tập đọc kết nối chủ điềm:

ĐÁNH THỨC TRẦU (Trần Đăng Khoa)

I TÁC GIẢ TRẦN ĐĂNG KHOA

Sinh ngày: 24 tháng 4, 1958

- Quê quán: làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

- Là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam

- Trần Đăng Khoa sáng tác thơ chủ yếu ở giai đoạn thơ ấu, từng được coi là “thần đồng thơ trẻ” Nhiều tác phẩm của ông được đông đảo người đọc biết đến như: Từ góc sân

nhà em (1968); Góc sân và khoảng trời (tập thơ, 1968)

Trang 29

- Những nhân vật trong thơ Trần Đăng Khoa là những sự vật rất gần gũi hàng ngày như cây cối, con vật, góc sân, những trò chơi của trẻ em nông thôn…nên độc giả là thiếu nhirất yêu thích thơ của ông.

1 Xuất xứ: thuộc tập thơ “Góc sân và khoảng trời”

2 Thể thơ: 5 chữ

3 Bố cục: 2 phần:

- Khổ đầu: Lời hát của bà

- Còn lại: Lời trò chuyện của em bé với thiên nhiên

4 Đặc sắc nội dung và nghệ thuật

*Nghệ thuật:

- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị

- Giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ, thân mật

- Nghệ thuật nhân hóa

* Nội dung :

- Lời trò chuyện của cậu bé với trầu như một người bạn

- Thể hiện tình yêu với bà, với mẹ, yêu thiên nhiên, sự gắn bó và tôn trọng thiên nhiên

III ĐỊNH HƯỚNG PHÂN TÍCH VĂN BẢN

1 Dàn ý:

1.1 Nêu vấn đề:

- Giới thiệu tác giả Trần Đăng Khoa và tập thơ “Góc sân và khoảng trời”.

- Giới thiệu văn bản “Đánh thức trầu”, khái quát giá trị văn bản

1.2 Giải quyết vấn đề

B1 Khái quát về văn bản

Trang 30

B2 Phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản

1.2.1 Lời hát của bà

- Lời của em bé với trầu qua cách xưng hô “tao”- “mày”

- Nghệ thuật: nhân hóa, điệp từ

=> Thể hiện sự thân mật, coi thiên nhiên như người bạn

1.2.2 Lời gọi trầu của cậu bé

a) Lời trò chuyện đánh thức trầu

- Cậu bé cất tiếng hỏi trầu: Đã ngủ rồi hả trầu?

Dường như biết trầu không trả lời nên cậu bé tự đáp luôn: Tao đã đi ngủ đâu/Mà trầu mày đã ngủ.

Câu hỏi tu từ

→ Cách xưng hô mộc mạc, gần gũi: tao – mày chứa đầy cảm xúc hồn nhiên, chân thành của đôi bạn “tao” – “trầu mày” (Tao không phải ai đâu: khẳng định sự gần gũi

với trầu)

- Lí do đánh thức trầu: Bà tao vừa đến đó/Muốn có mấy lá trầu

- Lời đánh thức: Trầu ơi hãy tỉnh lại/ Mở mắt xanh ra nào/Lá nào muốn cho tao/ Thì mày chìa ra nhé.

Cách xưng hô gần gũi và lời đánh thức trầu nhẹ nhàng, ba lần gọi dậy vì sợ trầu đãngủ say thể hiện tình cảm thân thiết của cậu bé với trầu giống như những người bạnđang nói chuyện cùng nhau

b) Tình cảm của nhà thơ với thiên nhiên.

- Mỗi khi muốn hái trầu vào ban đêm, cậu bé cùng bà và mẹ mình, phải gọi cho trầu

tỉnh ngủ rồi mới xin “hái vài lá” vì hái trầu đêm dễ làm trầu lụi nên phải đánh thức trầu, nói rõ lí do, phải hái rất nhẹ nhàng và chỉ hái vài lá đủ dùng

Cậu bé không những gắn bó mà còn trân trọng thiên nhiên

Trang 31

Những người dân quê đối xử với cây cối bình đẳng như với con người, có cảm xúc, suy nghĩ, tâm hồn giống như con người Bởi vì ruộng vườn, cây cối…là sản vật thấm đẫm mồ hôi, công sức của họ nên họ yêu thương, nâng niu, trân trọng thế giới xung quanh mình.

1.3 Đánh giá vấn đề

*Nghệ thuật:

- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị

- Giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ, thân mật

- Nghệ thuật nhân hóa

* Nội dung :

- Lời trò chuyện của cậu bé với trầu như một người bạn

- Thể hiện tình yêu với bà, với mẹ, yêu thiên nhiên, sự gắn bó và tôn trọng thiên

nhiên

2 Định hướng phân tích

Trần Đăng Khoa được nhiều người mệnh danh là "Thần đồng thơ trẻ" khi ông nổi tiếng sáng tác thơ từ khi mới 8 tuổi Thế giới nghệ thuật trong thơ Trần Đăng Khoa gắn liền với những sự vật rất gần gũi hàng ngày như cây cối, con vật, góc sân, những trò chơi của trẻ em nông thôn…nên độc giả là thiếu nhi rất yêu thích thơ của ông “Góc sân

và khoảng trời” là tập thơ của Trần Đăng Khoa được xuất bản lần đầu tiên năm 1968 khi tác giả mới 10 tuổi, đánh dấu tài năng thơ của cậu bé Khoa Tập thơ là những trang

ký ức, nhật ký của tác giả thời thơ ấu Văn bản “Đánh thức trầu” (1966) là một trong

những bài thơ tiêu biểu trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” Bài thơ ghi lại kỉ niệm đánh thức trầu của cậu bé Khoa, thể hiện tình yêu, sự gắn bó và tôn trọng thiên nhiên của trẻ thơ

Văn bản “Đánh thức trầu” được viết theo thể thơ 5 chữ ngắn gọn cùng lời thơ

mộc mạc, giản dị đã gợi lại kỉ niệm tuổi thơ của nhân vật trữ tình là một cậu bé Bố cục của bài thơ chia làm hai phần: Khổ đầu (phần in nghiêng) tác giả nhắc lại lời hát của bà;phần còn lại là lời đánh thức trầu của cậu bé

Trang 32

Mở đầu văn bản, nhân vật trữ tình nhắc lại lời hát của bà:

Trẩu trẩu trầu trầu Mày làm chúa tao Tao làm chúa mày Tao không hái ngày Thì tao hái đêm

(Câu hát của bà em)Biện pháp nhân hoá cùng với cách xưng hô ngang vai “tao”- “mày” đã thể hiện sự thân mật, coi thiên nhiên như người bạn của con người Lời hát nôm na như lời đồng dao gợi

ra cả một không khí thân mật của văn học dân gian, vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.Trong

ánh nhìn của cậu bé thì thiên nhiên và con người ngang hàng với nhau: “Mày làm chúa tao - Tao làm chúa mày” Điều đó khẳng định sự tôn trọng thiên nhiên của cậu bé.

Phần thứ hai của văn bản là lời gọi trầu của nhân vật trữ tình Nhân vật trữ

tình trong bài thơ là một cậu bé nơi làng quê, gắn bó với thiên nhiên bình dị từ nhỏ nên cậu thầm thì trò chuyện với trầu như với một người bạn:

Đã ngủ rồi hả trầu Tao đã đi ngủ đâu

Mà trầu mày đã ngủ

Bà tao vừa đến đó Muốn xin mấy lá trầu Tao không phải ai đâu Đánh thức mày để hái!

Mở đầu lời trò chuyện, cậu bé cất tiếng hỏi trầu: Đã ngủ rồi hả trầu? Dường như biết trầu không trả lời nên cậu bé tự đáp luôn: Tao đã đi ngủ đâu/Mà trầu mày đã ngủ Câu hỏi tu từ kết hợp với cách ách xưng hô mộc mạc, gần gũi tao – mày chứa đầy cảm xúc

hồn nhiên, chân thành của đôi bạn “tao” – “trầu mày” Cậu bé còn khẳng định lại lần

nữa sự gần gũi với trầu: “Tao không phải ai đâu - Đánh thức mày để hái!” Lí do mà cậu bé đánh thức trầu giữa đêm cũng thật đáng yêu và hợp lí: “Bà tao vừa đến đó - Muốn có mấy lá trầu” Hoá ra vì bà của cậu cần lá trầu, vì yêu bà mà cậu bé nhanh

nhảu đánh thức trầu để hái lá giúp bà

Trầu ơi, hãy tỉnh lại

Mở mắt xanh ra nào

Lá nào muốn cho tao

Trang 33

Thì mày chìa ra nhé Tay tao hái rất nhẹ Không làm mày đau đâu

Sau phần ướm hỏi là lời đánh thức trầu của cậu bé: “Trầu ơi hãy tỉnh lại/ Mở mắt xanh

ra nào/Lá nào muốn cho tao/ Thì mày chìa ra nhé” Cách xưng hô gần gũi và lời đánh

thức trầu nhẹ nhàng, ba lần gọi dậy vì sợ trầu đã ngủ say thể hiện tình cảm thân thiết của cậu bé với trầu giống như những người bạn đang nói chuyện cùng nhau Hình ảnh

ẩn dụ “mắt xanh” trong câu thơ gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh chiếc lá trầu Qua con mắt của trẻ thơ, những chiếc lá trầu xanh, nhọn như những đôi mắt xanh của cây

trầu bởi giữa mắt xanh và lá trầu có sự giống nhau về hình dáng, màu sắc Bằng biện

pháp ẩn dụ kết hợp với phép nhân hoá (lá trầu biết mở mắt), hình ảnh cây trầu được cảm nhận qua cái nhìn của nhân vật trữ tình thật sinh động và đáng yêu “cây trầu” giống như con người, cũng có mắt nhìn như con người khi ngủ nhắm mắt, tỉnh giấc thì

mở mắt Như vậy, khi “đánh thức trầu”, cậu bé dường như không chỉ tin rằng trầu có thể nghe được điều mình nói mà còn muốn trầu nhìn thấy mình nữa Lời thơ thủ thỉ

“Tay tao hái rất nhẹ/Không làm mày đau đâu” thể hiện tâm hồn trong sáng, đầy yêu

thương, gắn bó của cậu bé dành cho thiên nhiên

Đã dậy chưa hả trầu?

Tao hái vài lá nhé Cho bà và cho mẹ Đừng lụi đi trầu ơi!

Theo quan niệm dân gian, mỗi khi muốn hái trầu vào ban đêm, cậu bé cùng bà và

mẹ mình phải gọi cho trầu tỉnh ngủ rồi mới xin “hái vài lá” vì hái trầu đêm dễ làm trầu lụi nên phải đánh thức trầu, nói rõ lí do, phải hái rất nhẹ nhàng và chỉ hái vài lá đủ dùng Cậu bé không những gắn bó mà còn trân trọng thiên nhiên.Những người dân quê đối xử với cây cối bình đẳng như với con người Với họ, cây cối có cảm xúc, suy nghĩ, tâm hồn giống như con người Bởi vì ruộng vườn, cây cối…là sản vật thấm đẫm mồ hôi, công sức của họ nên họ yêu thương, nâng niu, trân trọng thế giới xung quanh mình.Việc lặp lại các lời “đánh thức trầu” ở đầu mỗi đoạn thơ thể hiện tình thân thiết của cậu

bé với trầu giống như những người bạn đang nói chuyện cùng nhau

Bằng thể thơ 5 chữ ngắn gọn ; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị; giọng thơ nhẹ nhàng, thủthỉ, thân mật kết hợp với các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ,…, bài thơ “Đánh thức trầu” (Trần Đăng Khoa) đã kể lại lời trò chuyện đáng yêu của cậu bé với trầu như một người bạn Qua đó, người đọc thấy được tình yêu với bà, với mẹ, tình yêu thiên nhiên,

Trang 34

sự gắn bó và tôn trọng thiên nhiên của cậu bé Khoa Bài thơ cũng nhắc nhở mỗi người cần phải tôn trọng thiên nhiên bởi con người và thiên nhiên là những người bạn Muôn loài, dù là cỏ cây, hoa lá, động vật cũng đều có suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của riêng

nó Con người nên đối xử tôn trọng, bình đẳng, thân thiết và hoà mình cùng với muôn loài, vạn vật tự nhiên

Đọc văn bản “Đánh thức trầu” (Trần Đăng Khoa), người đọc thấy khá thú vị Hỉnh ảnh cây cối nơi làng quê cùng tâm hồn trong sáng, thơm thảo của chú bé Khoa đã

để thương, để nhớ nơi trái tim người đọc Thiên nhiên sẽ mãi là người bạn thân thiết củatuổi thơ mỗi người

III LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU

* GV hướng dẫn HS thực hành đề đọc hiểu văn bản đọc kết nối chủ điểm: “Đánh thức trầu” (Trần Đăng Khoa):

Đề bài :

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Trầu ơi, hãy tỉnh lại

Mở mắt xanh ra nào

Lá nào muốn cho taoThì mày chìa ra nhéTay tao hái rất nhẹKhông làm mày đau đâu

Đã dậy chưa hả trầu?

Tao hái vài lá nhéCho bà và cho mẹĐừng lụi đi trầu ơi!

(Trích “Đánh thức trầu”,Trần Đăng Khoa)

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.

Câu 2 Mục đích nhân vật trữ tình đánh thức trầu trước khi hái lá để làm gì?

Câu 3 Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:

“Trầu ơi, hãy tỉnh lại

Mở mắt xanh ra nào”

Trang 35

Câu 4 Qua đoạn trích, em hãy rút ra bài học về cách ứng xử với thiên nhiên và lí giải

+ Làm cho lời thơ thêm giàu hình ảnh, gợi cảm

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp sinh động của cây trầu qua lăng kính của nhân vật trữ tình

+ Thể hiện sự gắn bó, tình yêu thiên nhiên của nhân vật trữ tình

Câu 4 : HS rút ra bài học của bản thân Có thể nêu: Mỗi người cần phải tôn trọng thiên

nhiên bởi con người và thiên nhiên là những người bạn Muôn loài, dù là cỏ cây, hoa lá,động vật cũng đều có suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của riêng nó Con người nên đối

xử tôn trọng, bình đẳng, thân thiết và hoà mình cùng với muôn loài, vạn vật tự nhiên để tâm hồn mình thư thái, thấy yêu đời hơn

Ôn tập đọc mở rộng thể loại:

MỘT NĂM Ở TIỂU HỌC (Nguyễn Hiến Lê)

I TÁC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ

- Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984)

- Nguyễn Hiến Lê là học giả, nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và

hoạt động văn hóa độc lập Việt Nam, có 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật

Trang 36

thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du

ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế

+ P2: Những kỉ niệm của một năm ở tiểu học

+ P3: Những suy ngẫm của tác giả ở hiện tại

3 Đặc điểm của thể loại hồi kí được thể hiện trong văn bản “Một năm ở Tiểu học”:

- Văn bản kể lại chuỗi sự việc mà tác giả là người kể Đó là những sự việc có thật

diễn ra tại quá khứ gắn với quãng đời học sinh của nhân vật “tôi”

- Nhân vật xưng “tôi”, người kể chuyện ngôi thứ nhất , là hình ảnh của tác giả trong tácphẩm và là hình bóng của tác giả Nguyễn Hiến Lê ngoài đời

- Văn bản có sự kết hợp giữa kể chuyện với miêu tả và biểu cảm

4 Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản

Trang 37

1 Dàn ý:

1.1 Nêu vấn đề:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Hiến Lê và tập Hồi kí Nguyễn Hiến Lê.

- Giới thiệu văn bản Một năm ở Tiểu học, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ

thuật…

1.2 Giải quyết vấn đề

B1 Khái quát về văn bản

B2 Phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản

1.2.1 Hình ảnh mẹ trong hồi ức

- Chi tiết:

+ Đi từ sáng sớm, tối mịt mới về

+ Không biết chữ

+ Đầu năm đưa tiền mua sách vở, cuối năm hỏi có được lên lớp không

+ Mẹ có có ruột tượng dài, đựng xu đồng và trinh

- NT: kể kết hợp với tả

=> Hình ảnh người mẹ ít học, lam lũ, vất vả

1.2.2 Những kỉ niệm của một năm ở Tiểu học

- Chuỗi sự việc diễn ra trong một năm:

+ Khi cha mất: bỏ bê việc học hành trọn một niên khóa vì không ai thúc giục

+ Vẫn đến trường đều đặn nhưng thường đi sớm về muộn

+ La cà cùng bạn bè tìm cỏ gà, bắt dế, hóng gió, nhìn tàu, nói chuyện láo cùng nhau,chơi hú tìm…

+ Ngày nghỉ: chỉ có mặt ở nhà trong bữa cơm, thời gian còn lại lang thang cùng bạn

bè hàng xóm với những thú chơi dân dã…một cách vui vẻ

Trang 38

+ Mùa đông không ra đường chơi được thì ở nhà đọc truyện Tàu cho cả nhà nghe,đọc hết cuốn này thì chạy đi đổi cuốn khác.

Cách kể chuyện rất hấp dẫn, lôi cuốn của người kể chuyện – nhân vật “tôi”

Đó là những sự việc có thật diễn ra tại quá khứ gắn với quãng đời học sinh của nhân vật “tôi”.

1.2.3 Những suy ngẫm hiện tại

- Cái mất : bỏ phí cả năm không tập trung cho việc học hành

→ đáng tiếc (tự nhận).

- Cái được: sự vui vẻ, thoải mái cả thể xác lẫn tinh thần Tự thấy mình sống nhanhnhẹn hơn, sống giản dị, tự nhiên hơn, hiểu và đồng cảm với những người bạn dân dãhơn

- Nuối tiếc một năm thơ ấu khi học tiểu học

Trang 39

Ai cũng sẽ trải qua quãng thời thơ ấu để rồi khi nhìn lại có rất nhiều kỉ niệm vui nhưng cũng có những kỉ niệm buồn để khi nhớ lại, lòng ta lại bồi hồi ngẫm nghĩ Văn

bản “Một năm ở Tiểu học” (trích Hồi kí Nguyễn Hiến Lê) đã ghi lại những kỉ niệm

tuổi thơ một năm thời tiểu học vừa vô tư, vừa hồn nhiên, tinh nghịch của tác giả

Nguyễn Hiến Lê Đó là những trải nghiệm sẽ theo tác giả đi suốt cuộc đời

Hồi kí Nguyễn Hiến Lê là tập hồi ký theo dòng sự kiện với hầu hết là thông tin bàn

về cuộc đời và tác phẩm của chính nhà văn nhưng khi đọc lại rất văn chương, mượt màdưới ngòi bút tài tình của tác giả Văn bản “”Một năm ở Tiểu học” (trích chương IV

của Hồi kí Nguyễn Hiến Lê) được viết theo ngôi kể thứ nhất, kể lại những sự việc có

thật gắn với quãng đời ấu thơ của tác giả khi đó còn là một cậu bé học Tiểu học Nhânvật “tôi” xuất thân trong gia đình trung lưu, có bố là nhà Nho, mẹ buồn bán Tuy giacảnh không quá dư dả nhưng cậu đưoNhững kỉ niệm trẻ thơ như những đốm sáng lunglinh toả sáng trong tâm hồn tác giả Bố cục văn bản chia làm 3 phần: phần một tác giảnhớ về hình ảnh người mẹ trong kí ức; phần hai kể lại những kỉ niệm của một năm ởtiểu học, cuối cùng là những suy ngẫm của tác giả ở hiện tại ở phần cuối văn bản

Mở đầu văn bản, kỉ niệm thơ ấu của nhân vật “tôi” hiện ra gắn với kí ức về người mẹ Hình ảnh người mẹ tác giả hiện lên qua một loạt những chi tiết gắn với năm đầu tiểu học của “tôi” Người mẹ đi từ sáng sớm, tối mịt mới về; không biết chữ nên

không thể kiểm soát việc học của con Do tất tả công việc cả ngày để mưu sinh nên sự

quan tâm việc học của con chỉ dừng lại việc đầu năm đưa tiền mua sách vở, cuối năm

hỏi có được lên lớp không Mẹ có ruột tượng dài, mỗi tối thu tiền về thì ruột tượng đựng xu đồng và trinh, phồng trước bụng… Đó chỉ là một vài kí ức về người mẹ hiện lên trong kí ức của cậu bé mới vào Tiểu học Qua những chi tiết kể chuyện kết hợp với miêu tả khiến người đọc hình dung và ấn tượng với hình ảnh một người mẹ ít học, lam

lũ, vất vả, tất tả ngược xuôi để lo hết gánh nặng mưu sinh cho cả gia đình Qua những chi tiết chân thực về mẹ, người đọc cũng thấy được tình cảm mà cậu bé dành cho mẹ qua những quan sát tỉ mỉ của mình

Phần tiếp theo của văn bản, nhân vật “tôi” nhớ và kể lại những kỉ niệm của một năm ở Tiểu học Kí ức của cậu bé hiện về như một thước phim quay chậm, ở đó cậu

được sống lại những hồi ức tuổi thơ bên những người bạn con nhà bình dân Những kí

ức trẻ thơ cứ sáng rõ như ánh trăng rằm vằng vặc Nhân vật “tôi” nhớ lại quãng thờigian ba mới mất, lúc đó còn là một cậu bé vô âu vô lo nên khi không có ai đốc thúc,nhắc nhở, cậu đã bỏ bê việc học của mình suốt một năm học Cậu không bỏ học nhưngdành phần lớn thời gian sau giờ học để cùng bạn bè la cà tìm cỏ gà, bắt dế, hóng gió,

Ngày đăng: 02/08/2023, 06:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh ẩn dụ giúp cho 2 câu thơ thêm sinh động, gợi hình gợi cảm hơn. - Bài 5. Ôn Tập Trò Chuyện Cùng Thiên Nhiên (2).Docx
nh ảnh ẩn dụ giúp cho 2 câu thơ thêm sinh động, gợi hình gợi cảm hơn (Trang 43)
Bảng gợi ý sửa chữa - Bài 5. Ôn Tập Trò Chuyện Cùng Thiên Nhiên (2).Docx
Bảng g ợi ý sửa chữa (Trang 50)
Hình ảnh con chào mào được nhà thơ khắc họa ở ba câu thơ đầu: - Bài 5. Ôn Tập Trò Chuyện Cùng Thiên Nhiên (2).Docx
nh ảnh con chào mào được nhà thơ khắc họa ở ba câu thơ đầu: (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w