THÀNH NGỮ BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC TRONG HÀNH CHỨC – MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỘC ĐÁO TRONG THÀNH NGỮ VIỆT NAM Lời mở đầu Trước khi đi vào bàn vấn đề chính, chúng tôi xin phép không bàn đến những vấn đề về khái niệm t[.]
Trang 1THÀNH NGỮ BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC TRONG HÀNH CHỨC – MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỘC ĐÁO TRONG THÀNH NGỮ VIỆT NAM
Lời mở đầu:
Trước khi đi vào bàn vấn đề chính, chúng tôi xin phép không bàn đến những vấn
đề về khái niệm thành ngữ hay những đặc trưng về cấu trúc ngữ pháp hay cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ, vì chúng tôi thấy rằng những vấn đề này đã đượ nghiên cứu và bàn luận rất nhiều và hẳn nhiên những người Việt có trình độ văn hóa phổ thông cũng đã có những hiểu biết căn bản Vân đề chính của bài báo này là bàn về những biến đổi cấu trúc rất phong phú và đa dạng của thành ngữ tiếng Việt trong hành chức Về lịch sử vấn đề này, chúng tôi cũng nhận thấy có một vài tác giả bàn đến ít nhiều Tác giả Nguyễn Đình Hiền, TÌM HIỂU THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN CỦA QUY LUẬT VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN (Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc,
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, Tập
34, Số 1 (2018) 91-105), bên cạnh những bàn luận về các hiện tượng ngữ nghĩa (từ
nguyên học) của từ ngữ, hình ảnh trong thành ngữ tiếng Việt, ông cũng dành một phần để bàn luận về những biến đổi cấu trúc trong thành ngữ tiếng Việt Trong phần mở đầu cuốn
TỪ ĐIỂN THÀNH NGỮ TỤC NGỮ VIỆT NAM TRONG HÀNH CHỨC, tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng có một phần nhỏ bàn về những hiện tượng biến đổi cấu trúc ngữ pháp
và những biến đổi cấu trúc ngữ nghĩa trong thành ngữ tiếng Việt khi hành chức Từ những nghiên cứu ban đầu ấy, đã cho chúng tôi ý tưởng và quyết định nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn về hiện tượng biến đổi cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt trong hành chức
Cơ sở ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã lấy cuốn TỪ ĐIỂN THÀNH NGỮ TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG HÀNH CHỨC của tác giả Đỗ Thị Kim Liên làm tài liệu khảo sát
Về cuốn TỪ ĐIỂN THÀNH NGỮ TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG HÀNH CHỨC của tác giả Đỗ Thị Kim Liên, đây là một cuốn từ điển thành ngữ tục ngữ thống kê thành ngữ Việt Nam được sử dụng trong các tác phẩm văn học của một số tác giả là nhà văn khu vực Nam Bộ như Ma Văn Kháng, v.v Chính vì cuốn từ điển thống kê thành ngữ trong các tác phẩm văn học nên bảo đảm được tính hành chức của thành ngữ, tính hệ thống và chặt chẽ vì thế cũng rất cao
Về phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đọc toàn bộ cuốn từ điển của tác giả Đỗ Thị Kim Liên, thống kê tất cả các đơn vị là thành ngữ, sau đó, chúng tôi có sự đối chiếu với thành ngữ trong từ điển thành ngữ tiếng Việt của tác giả GS Nguyễn Lân để xác minh cấu trúc gốc của thành ngữ từ đó chúng tôi tìm ra những thành ngữ mà trong quá trình
Trang 2hành chức có sự biến đổi về mặt cấu trúc Thông qua thống kê và so sánh, chúng tôi sắp xếp các thành ngữ có biến đổi về mặt cấu trúc thành các loại biến đổi khác nhau để tìm ra những đặc điểm, nguyên tắc và nguyên nhân biến đổi của các thành ngữ ấy
Những dạng biến đổi cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt trong hành chức.
Thành ngữ vẫn được định nghĩa là một dạng cụm từ cố định – có ngữ nghĩa cố định và có cấu trúc ngữ pháp tương đối ổn định Tuy nhiên, trong thực tế hành chức, thành ngữ tiếng Việt đã có những biến đổi về cấu trúc vô cùng phong phúc, vừa tạo cho thành ngữ khả năng linh hoạt trong hành chức vừa phái sinh ra những sắc thái ngữ nghĩa mới
Qua quá trình nghiên cứu từ ngữ liệu thành ngữ trong cuốn từ điển THÀNH NGỮ TỤC NGỮ VIỆT NAM TRONG HÀNH CHỨC, chúng tôi đã thống kê được 782 đơn vị thành ngữ có những biến đổi về hình thái và cấu trúc Sự biến đổi hình thái và cấu trúc thành ngữ trong hành chức là rất đa dạng, tuy nhiên chúng tôi đã tổng hợp những thành ngữ có cùng đặc điểm biến đổi và từ đó sắp xếp vào ba loại biến đổi chính
Loại 1 Biến đổi hình thái, không biến đổi cấu trúc
Loại 2 Biến đổi thu hẹp cấu trúc thành ngữ
Loại 3 Biến đổi mở rộng cấu trúc thành ngữ
Trong mỗi loại biến thể trên lại có những nhóm, những dạng biến thể mà chúng tôi cần phải chia tách ra cho được chi tiết và cụ thể Những dạng/nhóm biến thể nhỏ ấy sẽ được chúng tôi trình bày chi tiết trong phần nội dung chính của bài nghiên cứu
Bảng 1 Bảng số liệu thống kê các loại thành ngữ biến đổi hình thái và cấu trúc
1 Biến đổi hình thái – không biến
đổi cấu trúc
Như vậy, qua thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng, tình hình chung trong thực hiện hành chức của thành ngữ Việt Nam là xú hướng mở rộng cấu trúc chiếm ưu thế tuyệt đối các biến đổi khác như biến đổi hình thái và biến đổi thu hẹp cấu trúc là không nhiều, không phải là xu thế chính
Dưới đây, chúng tôi xin đi vào chi tiết của từng loại biến đổi cấu trúc của thành ngữ tiếNg Việt trong hành chức
(1) Loại 1 Thành ngữ chỉ biến đổi hình thái – không biến đổi cấu trúc.
Trang 3Trước hết, chúng tôi gọi là biến đổi hình thái bởi vì những thành ngữ loại này chỉ có những thay đổi về mặt ngữ âm của một số từ/ yêu tố trong thành ngữ gốc, hoặc thay thế
từ yếu tố trong thành ngữ gốc bằng một từ/yesu tố khác theo tỉ lệ 1:1, mà không làm thay
đổ về quy mô cũng như cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ gốc
Để hiện tượng được rõ ràng và cụ thể, chúng tôi xin mô tả loại biến thể này qua bảng dưới đây:
Nhóm 1 Biến thể ngữ âm
(Bảng 1.1 Bảng phân tích khái quát các thành ngữ có biển thể ngữ âm)
STT Thành ngữ
gốc
Thành ngữ biến thể
Từ thay thế So sánh cấu trúc
1 Con trời con
phật
con giời con
phật
trời – giời
sự khác biệt ngữ
âm mang tính
phương ngữ
Không thay đổi cấu trúc tổng thể và kết cấu ngữ pháp
2 ăn nhờ ở đậu ăn nhờ ở đỗ đậu -> đỗ
biến đổi ngữ âm
do phương ngữ
Không thay đổi cấu trúc tổng thể và kết cấu ngữ pháp
3 Lặng như tờ Ắng như tờ lặng -> ắng
thay đổi về ngữ
âm -> cùng từ loại
Không thay đổi cấu trúc tổng thể và kết cấu ngữ pháp
4 Ăn cơm nhà
thổi tù và
hàng tổng
-> ăn cơm nhà lo chuyện thiên hạ
lo chuyện thiên
hạ -> thêm vào /
thay thế
Về đặc điểm các âm biến thể, chúng tôi nhận thấy có mấy lí do sau đây
Thứ nhất, các âm bị biến thể là do cách phát âm vùng miền loại biến âm này là phổ biến nhất
Thứ hai, loại biến âm do các âm có cách phát âm gần giống nhau và nghĩa cũng tương đương nhau, hoặc gần nhau
Trang 4Ví dụ: lụng bụng như ngậm hột thị -> ấp úng như ngậm hột thị.
Lặng như tờ -> ắng như tờ
Thứ ba, một số biến thể ngữ âm do sự thay thế từ thuần Việt thành Hán – Việt cùng nghĩa và ngược lại
Ví dụ: thả cọp về rừng -> thả hổ về rừng
Thứ tư, là loại biến thể ngữ âm do các từ đồng nghĩa, loại này chiếm số lượng rất
ít, do khi thống kê phần lớn biến thể loại này được xếp vào nhóm thay thế thành tố (từ/ ngữ trong thành ngữ gốc)
Ví dụ:
Rừng xanh, núi đỏ -> Rừng xanh, rú đỏ
Xét ở mặt cấu trúc, vì những sự biến đổi này chỉ xảy ra ở một từ nhất định cho nên cấu trúc thành ngữ gốc vẫn được bảo đảm như cũ Đồng thời chúng ta cũng nhận thấy không có bất cứ sự xáo trộn nào về trật tự các từ hay thành tố trong thành ngữ gốc Như vậy, một câu hỏi đặt ra là sự thay đổi như vậy có ý nghĩa gì cho thành ngữ trong hành chứ hay không? Chúng tôi thấy rằng, cũng như hiện tượng biến đổi ngữ âm của từ trong các phương ngữ khác nhau, việc thay đổi vỏ ngữ âm của một từ/ thành tố trong thành ngữ theo phương ngữ là điều hiển nhiên Bởi vì, cứ gặp từ đó thì người vùng/ miền nào sẽ phát âm theo đúng cách phát âm của vùng miền của mình mà không hề làm thay đổi bản chất chức năng hay ý nghĩa của thành ngữ Như vậy, việc biến đổi này giúp cho thành ngữ cũng trở nên linh hoạt trong hành chức Và rõ ràng, với tính chất này, thành ngữ sẽ được sử dụng rộng rãi và thuận tiện hơn, có đời sống phong phú hơn và từ đó càng có vai trò lớn hơn trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Nhóm 2 Thay thế thành tố
Bảng 1.2 Phân tích khái quát đặc điểm cấu trúc thành ngữ biến thể tháy đổi thành tố.
S
T
T
Thành ngữ
gốc
Thành ngữ biến thể
So sánh từ thay thế So sánh cấu trúc
1 Ăn bữa nay lo
bữa mai
Ăn bữa hôm lo
bữa mai
nay -> hôm:
Hai từ cùng từ loại ->
cùng là danh từ chỉ thời gian -> hai từ cùng từ loại, gần nghĩa
Số lượng từ không thay đổi -> không thay đổi cấu trúc tổng thể chỉ thay đổi về một từ
2 Ăn tàn phá Ăn hoang phá tàn -> hoang: Số lượng từ không
Trang 52
hại hại cùng từ loại (tính từ)
xuất phát từ từ ghép
“tan hoang/ hoang tàn”
thay đổi -> không thay đổi cấu trúc tổng thể chỉ thay đổi về một từ
3
3
Ăn no ngủ kĩ
-> Ăn no ngủ
kĩ ->
ăn no ngủ ấm
ăn ngon ngủ kĩ
kĩ -> ấm
no -> ngon
Cùng từ loại
Không thay đổi cấu trúc Không ảnh hưởng đến các kết cấu ngữ pháp Các từ trong cùng trục đối vị
Dạng biến thể thay thế từ/ thành tố trong thành ngữ gốc bằng một từ/ thành tố mới
để tạo ra thành ngữ mới về đại thể không làm thay đổi cấu trúc của thành ngữ Các từ/ thành tố tháy thế thường là những từ/ thành tố cùng loại (cùng trên một trục đối vị với từ/ thành tố được thay thế) Trên thực tế, các từ/ thành tố thay thế thường có liên hệ rất gần gũi với từ/ thành tố được thay thế Những từ/ thành tố này hầu hết đều cùng từ loại và trong cùng một trường nghĩa Xét các thành ngữ được thống kê trong bảng 1.2, ta thấy
chẳng hạn thành ngữ: ăn tàn phá hại -> ăn hoang phá hại thì tàn và hoang là hai thành tố của một từ ghép đẳng lập tan hoang/ tàn hoang Như vậy, tàn và hoang hoàn toàn có thể
thay thế cho nhau trong cùng một vị trí và một vai trò ngữ pháp
Tương tự như vậy ta có các thành ngữ còn lại như: ăn no ngủ kỹ -> ăn ngon ngủ
kỹ Trong thành ngữ này, no và ngon đều là từ đơn tiết và đều là tính từ cho nên hoàn
toàn không làm thay đổi về cấu trúc của thành ngữ gốc Dù sau khi đã thay thế từ/ thành
tố mới cho thành ngữ thì ta vẫn có cấu trúc thành ngữ như ban đầu: [động từ + tính từ + động từ + tính từ ] và quy mô (số lượng thành tố) của thành ngữ cũng không thay đổi.
Mặt khác, xem xét các biến thể thành ngữ loại này, ta cũng nhận thấy một điều, việc thay thế từ/ thành tố trong thành ngữ gốc thông thường chỉ xảy ra ở từ/ thành tố phụ chứ không xảy ra ở từ/ thành tố chính Ta thấy, trong thành ngữ: ăn bữa nay, lo bữa mai
chẳng hạn Ý nghĩa cơ bản của thành ngữ là sự việc ăn, thế nên từ ăn có thể nói là không thể thay đổi được vì nếu thay đổi từ ăn sẽ chắc chắn làm thay đổi nghĩa cơ bản của thành
ngữ
Nhóm 3 Thay đổi trật tự thành tố
Bảng 1.3 Thành ngữ biến thể thay đổi trật tự thành tố
STT Thành ngữ gốc Thành ngữ biến dạng Loại công thức
Trang 62 Cao chạy xa bay Cao bay xa chạy AxBy -> AyBx
3 Con bế con bồng Con bồng con bế AxBy -> AyBx
4 Cùng trời cuối đất Cuối đất cùng trời AxBy -> ByAx
5 Chăn bông gối nệm Chăn gối nệm bông AxBy -> Abxy
Bảng 1.4 Các kiểu biến đổi cấu trúc:
Trên thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng, đây là loại thành ngữ có quy mô và sự ổn định nhất về mặt thành tố Nghĩa là số lượng các thành tố trong thành ngữ không có sự thay đổi trong các biến thể khi hành chứ Đây cũng là loại thành ngữ ít có sự thay đổi các thành tố trong cấu trúc và cũng ít bị chêm xen, hay tách thành nhiều vế Các thành tố - từ/ ngữ trong loại thành ngữ này có tính chất khái quát rất cao cho nên, dù có thay đổi trật tự các thành tố theo bất cứ cấu trúc nào thì nghĩa của thành ngữ cũng không thay đổi Tuy nhiên, việc thay đổi trật tự các thành tố trong thành ngữ một cách dễ dàng giúp cho thành ngữ một trở nên linh hoạt và phù hợp hơn với nhiều văn cản Và đôi khi nó giúp người sử dụng có thể cố tình tạo ra sự khác biệt trong hành văn của mình
(2) Loại 2 Thành ngữ biến đổi mở rộng cấu trúc thành ngữ gốc
Nhóm 1 thêm thành tố mới trong thành ngữ gốc
(Bảng 2.1 Bảng phân tích tổng quát thêm thành tố mới trong thành ngữ gốc)
ST
T
Thành ngữ
gốc
Thành ngữ biến thể
Loại từ và vị trí thêm
So sánh cấu trúc
1 an cư lạc
nghiệp ->
an cư mới
lạc nghiệp
“mới” -> chỉ kết quả -> giới từ
Thêm vào giữa hai
vế của thành ngữ
Thay đổi cấu trúc so với ban đầu Tăng số âm tiết trong thành ngữ mới biến thể Làm rõ cấu trúc chỉ kết quả “A thì “mới” B”
Trang 72 kẻ ăn ốc,
người đổ vỏ
-> ăn ốc đâu
mà đổ vỏ?
“đâu mà” -> xen giữa 2 vế của thành ngữ
Thay đổi từ cấu trúc khảng định sang cấu trúc phủ định
3 Ăn thủng nồi
trôi rế
ăn thì thủng
nồi trôi rế
“thì” -> giới từ thêm
vào ngay sau động từ chính của thành ngữ
Thay đổi cấu trúc và kết cấu ngữ pháp
Qua bảng trên ta thấy, nhóm biến thể này chủ yếu thêm các hư từ Do có sự gia tăng
số lượng thành tố nên nhóm biến thể này làm thay đổi cấu trúc tổng thể và liên kết ngữ pháp trong thành ngữ Tất nhiên có tạo ra những sự thay đổi về sắc thái ý nghĩa
Các loại từ thường được sử dụng để thêm vào trong nhóm biến thể này cũng rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên, chủ yếu là các hư từ, các trợ từ tình thái làm bổ nghĩa cho các danh từ, động từ hay/hoặc tính từ chính
Dạng 2 Biến thể Chêm xen thành tố/từ/cụm từ mới trong thành ngữ gốc
(Bảng 2.2 Biến thể Chêm xen thành tố/từ/cụm mới trong thành ngữ gốc)
STT Thành ngữ gốc Thành ngữ biến dạng Đặc điểm từ ngữ được
chêm xen
1 Ba hồn chín vía
Ba hồn còn đó nhưng chín phách không đâu
chêm xen những cụm từ có nghĩa tình thái
2 Bắt cá hai tay Hai tay bắt được hai con cá chêm xen cụm từ bổ nghĩa -> nhấn mạnh
3 Cá lớn nuốt cá bé Cá bé phải để cá lớn nuốt cụm từ chỉ tình thái
4 Vừa đánh trống vừa ăn cướp Đánh trống để cho nó ăn cướp chêm cụm từ nhấn mạnh
5 Đỏ mặt tía tai Đỏ tía mặt tía tai xen thêm tính từ
Qua thống kê và phân tích, chúng tôi thấy rằng, loại thành ngữ biến thể theo cách chêm xen từ ngữ mới vào cấu trúc thành ngữ gốc có số lượng không nhiều tuy nhiên loại biến thể này mang lại cho thành ngữ mới những tính năng và ý nghĩa rất thiết thực
Về đặc điểm của loại biến thể chêm xen này chúng tôi thấy có một số đặc điểm như sau
Thứ nhất, về đặc điểm từ, ngữ được dùng để chêm xen: thường là những tính từ, có tác dụng bổ nghĩa cho danh từ hoặc cụm danh từ trong thành ngữ gốc Ngoài ra còn chêm xen, danh từ chỉ lượng, danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ loại có tính chất cụ thể hóa cụm danh từ hoặc danh từ chủ ngữ và đồng thời có ý nhấn mạnh tính cụ thể của sự vật, sự việc được nói đến trong thành ngữ Bên cạnh đó, cũng có nhiều thành ngữ chêm xem những
từ, ngữ chỉ tình thái, thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói về sự vật, sự việc trong
Trang 8văn bản Ngoài ra cũng phải kể đến những từ, ngữ là tính từ, các từ chỉ mức độ bổ ngữ cho tính từ cũng được thêm vào cấu trúc thành ngữ gốc để tọa ra thành ngữ mới – biến thể
Nhìn chung, những từ, cụm từ được thêm vào thành ngữ gốc để tạo ra biến thể là rất phong phú, đa dạng Các từ ngữ, thêm vào đôi khi là chủ thể phát ngôn như “tôi” để nhấn mạnh đến sự tác động của sự việc hoặc cụ thể hóa chủ thể của sự việc được nhắc đến trong thành ngữ
Thứ hai, xét về mặt cấu trúc, biến thể thành ngữ dạng này hầu hết đều có sự thay đổi về cấu trúc Có hai dạng thay đổi cấu trúc:
Dạng 1: Thay đổi quy mô nhưng không phá vỡ cấu trúc cơ bản hai vế của thành ngữ
Dạng 2: thay đổi quy mô thành ngữ đồng thời phá vỡ cấu trúc, phá vỡ sự cân bằng hai vế của thành ngữ
Dạng 3 Tách thành ngữ thành nhiều vế
(Bảng 2.3 Tách thành ngữ thành nhiều vế)
STT Thành ngữ gốc Thành ngữ biến
dạng
Đặc điểm kết hợp mới.
1
Kẻ ăn ốc người
đổ vỏ
Ăn ốc để anh phải
đổ vỏ
Sử sụng vế chỉ sự việc “ăn ốc … đổ vỏ” đưa vào phát ngôn cụ thể để thêm chủ thể của sự việc, cụ thể hóa sự việc với đối tượng
2 Ăn vụng khéo
chùi mép
Ăn vụng còn đánh trống khua chiêng
Lấy vế 1 “ăn vụng”, phát triển thành một thành ngữ mới
3 Ăn vụng không
biết chùi mép
Chú mèo chùi mồm
sau khi ăn vụng
Lấy vế “chùi mép” – “chùi mồm” để diễn tả một tình huống cụ thể
4
Bám lấy phao
Như người rơi
xuống nước bám lấy một cái phao
Cả thành ngữ gốc trở thành một vế trong thành ngữ mới, diễn tả một sự việc cụ thể
5 Bán trôn nuôi
miệng
Bán miệng dưới nuôi miệng trên
Lấy vế “miệng” -ẩn dụ, diễn tả cụ thể bản chất của sự việc
Ở dạng biến thể này, các thành ngữ gốc được sử dụng một cách hết sức linh hoạt Người dùng có thể chỉ lấy một vế của thành ngữ rồi thêm ngững từ ngữ theo ý riêng của mình để tạo ra những nét nghĩa mới Người nói có thể lấy bất cứ vế nào của thành ngữ để kết hợp với phát ngôn của mình, chỉ cần nó hợp lí về mặt ngữ pháp và có thể giúp người nói thể hiện rõ được tư tưởng, tình cảm của mình là đều được chấp nhận
Trang 9Xét về mặt cấu trúc, các thành ngữ biến thể mới tạo ra có cấu trúc cũng rất đa dạng Có thành ngữ thì tăng lên về quy mô và tất nhiên hoàn toàn phá vỡ cấu trúc ban đầu của thành ngữ gốc Có thành ngữ (số ít) lại giảm về quy mô – dung lượng – so với thành ngữ gốc Sự tăng lên hay giảm đi về quy mô cũng không hề bị quy định, ràng buộc bởi bất cứ quy tắc, quy định nào
Có thể nói việc sử dụng các vế, các phần của thành ngữ để tạo ra các phát ngôn mới đã đem đến một khả năng vô cùng linh hoạt cho hành chức của thành ngữ
Loại 3 Thu hẹp cấu trúc thành ngữ
Thu hẹp thành ngữ ở đây hiểu theo nghĩa là sự cắt giảm các yếu tố trong cấu trúc tổng thể của thành ngữ gốc
Bảng 2.13 Bảng phân tích tổng hợp biến thể thu hẹp cấu trúc thành ngữ
ST
T
Thành ngữ gốc Thành ngữ biến dạng Yếu tố bị lược bỏ
2 Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay Cà cuống chết vẫn còn cay Thành phần bổ ngữ
4 Cá nằm trên thớt Đặt đầu lên thớt Danh từ chính
Qua thống kê, phân tích khái quát, chúng tôi thấy, trong tiếng Việt có nhiều trường hợp làm biến thể hình thức cấu trúc của thành ngữ Thành ngữ gốc ở dạng đầy đủ thành
phần cấu tạo vốn có được rút gọn lại (treo đầu dê bán thịt chó -> treo dê bán chó “Hai
vầng nhật nguyệt chói lòa đâu dung lũ treo dê bán chó” – NĐC, VTNSCG);
lợn lành chữa thành lợn què -> lợn lành thành lợn què.; lúng búng như ngậm hột thị -> như ngậm hột thị.
Ba bảy hai mươi mốt ngày -> ba bảy hăm mốt ngày
-> có xu hướng lược bớt một hoặc vài yếu tố trong thành ngữ gốc Những yếu tố bị lược đi thường là hư từ, không thay đổi ý nghĩa của thành ngữ gốc Đôi khi là các nói rút
gọn mang tính vùng miền – phương ngữ Hai mươi mốt ngày (cách nói trong ngôn ngữ phổ thông); hăm mốt (các nói rút gọn hăm có nghĩa là hai mươi, cũng như băm là ba
mươi)
-> cách thu hẹp thành ngữ như vậy tạo cho thành ngữ có cấu trúc ngắn gọn, súc tích, dễ nói, dễ nhớ và mang sắc thái dân gian nhiều hơn
Trang 10Các yếu tố thường được tỉnh lược – rút gọn trong thành ngữ
Thành tố của thành ngữ được rút gọn có thể là vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ dưới đây chúng tôi xin trình bày chi tiết một số loại phổ biến như sau:
Nhóm 1: Rút gọn động ngữ, ví dụ: chạy như ma đuổi -> như ma đuổi
ST
T
Thành ngữ gốc Thành ngữ biến thể So sánh cấu trúc
1 Lòng như lửa đốt Như lửa đốt Thu hẹp quy mo và cấu trúc
2 Lấm lét như rắn
mồng năm Như rắn mồng năm
Thu hẹp quy mo và cấu trúc
3 Quay như chong
Thu hẹp quy mo và cấu trúc
Nhóm 2: Rút gọn tính ngữ, ví dụ: đẹp như tiên -> như tiên
ST
T
Thành ngữ gốc Thành ngữ biến thể So sánh cấu trúc
1 Vui như hội Như mở hội Thu hẹp quy mô và cấu trúc
2 Vắng như chùa bà
Thu hẹp quy mô và cấu trúc
Nhóm 3: Rút gọn giới ngữ, ví dụ: đen như thui - > đen thui
Stt Thành ngữ gốc Thành ngữ biến thể So sánh cấu trúc
1 Mặt rỗ như tổ ong
Thu hẹp quy mô và cấu trúc
2 Cắn răng mà chịu Cắn răng chịu Thu hẹp quy mô và cấu trúc
Nhóm 4: Rút gọn danh ngữ, ví dụ: đầu đội trời chân đạp đất -> đội trời đạp đất
Stt Thành ngữ gốc Thành ngữ biến thể So sánh cấu trúc
1 Ngàn cân treo sợi tóc Như treo sợi tóc Thu hẹp quy mô và cấu trúc
2 Lòng như lửa đốt Như lửa đốt Thu hẹp quy mô và cấu trúc
Ý nghĩa của việc tạo biến thể
Có thể thấy biến thể của thành ngữ tiếng Việt trong hành chức rất phong phú và đa dạng Đây là một hiện tượng phổ biến đã diễn ra trong quá trình hành chức của thành ngữ Có lẽ, cũng như bất cứ yếu tố nào trong hệ thống ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng, việc các yếu tố ngôn ngữ liên tục có sự biến đổi là một quy luật khách quan của ngôn ngữ học