Đề tài thuyết trình: Lý thuyết danh mục đầu tư
Trang 1ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ
Th ực hiện : Nhóm 03
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tp H CM, tháng 12/2012
Trang 2PHẦN I: RỦI RO VÀ TỈ SUẤT SINH LỢI
1 Tổng quan chung
Tron g suốt những th ập niên vừa qua, một thu ận lợi lớn nhất trong lĩnh vực đầu tư đã và đang được th ừa nhận rằng việc thiết lập một danh mục đầu tư tối ưu là một vấn đề không chỉ đơn giản là s ự kết hợp của nhiều đầu tư riêng lẻ mà còn có cả những đặc trưng rủi ro – tỷ suất sinh lợi mong đợi Đặc biệt, điều đó đã chỉ ra rằng chúng ta cần phải xem xét mối quan hệ giữa những phương thức đầu tư nếu chúng ta đang xây dựng một danh mục tối ưu mà danh mục đó sẽ đáp ứng những mục tiêu đầu tư của chúng ta Điều quan trọng
là sự th ừa nhận trong việc thiết lập danh mục đã được giải thích tron g lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư
nhất định là bao nhiêu Ngược lại, ta đề cập đến rủi ro khi có thể ước lượng được xác
suất xảy ra các tình huống khác nhau Ví dụ, lợi nhuận của một cửa hàng kem trong mùa
hè tới sẽ tùy th uộc vào việc thời tiết lúc đó sẽ như th ế nào Dựa vào số liệu lịch sử, ta có thể tính xác suất cho các khoảng nhiệt độ bình quân khác nhau vào mùa hè Trong tài chính, ta th ường cho rằng các hoạt động đầu tư là “rủi ro” vì có thể ước tính được xác suất xảy ra các tình huống khác nhau dựa vào số liệu lịch sử, giống như ví dụ về nhiệt
độ mùa hè Tuy nhiên, ta luôn cần lưu ý rằng ước lượng rủi ro dựa vào thông tin quá khứ có thể không đúng bởi vì các con số quá khứ có thể thay đổi trong tương lai
3 Phân loại rủi ro
Rủi ro có thể được loại bỏ hoàn to àn bằng đa dạng hóa gọi là rủi ro không hệ th ống hay còn gọi là rủi ro có thể đa dạng hóa được ( unsystematic risk)
Cũng có 1 vài rủi ro mà chúng ta không thể nào tránh được dù có đa dạng hóa thế nào
đi nữa Rủi ro như vậy gọi là rủi ro thị trường hay rủi ro hệ th ống hay ( systematic risk) Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro hệ th ống
Trang 3- Thay đổi trong lãi suất
- Thay đổi trong sức mua ( lạm phát)
- Những thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro không hệ th ống:
- Năng lực và ra quyết định
- Đình công
- Nguồn cung ứng vật liệu
- Những quy định của chính phủ về kiểm soát môi trường
- Những tác động của cạnh tranh nước ngoài
ý rằng chúng ta đang sẵn lòng trả chi phí biết trước cho chính sách bảo hiểm đã được thỏa
th uận ở hiện tại để trách những chi phí tiềm ẩn lớn hơn trong tương lai, chẳng hạn như chi phí cho một tai nạn xe hơi hay một bệnh nghiêm trọng nào đó Thêm một bằng chứng của
th ái độ rủi rolà s ự khác biệt trong lợi tức mong đợi (tỷ suất sinh lợi mong đợi) đối với các loại trái phiếu khác nhau, giả sử có sự khác biệt về mức độ rủi ro tín dụng Đặc biệt, lợi tức mong đợi trên trái phiếu chúng ta đang sở hữu tăng từ AAA đến AA đến A, và hơn thế nữa – điều đó chỉ ra rằng, nhà đầu tư luôn yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn để có thể chấp nhận một mức độ rủi ro cao hơn
Điều này không ám chỉ rằng mọi người đều từ chối rủi ro hay các nhà đầu tư hoàn toàn
từ chối rủi ro đối với tất cả các cam kết tài chính Và sự th ật là không một ai mua bảo hiểm cho tất cả mọi th ứ quanh mình Thậm chí một vài người không mua bảo hiểm cho bất kỳ điều gì, đó có th ể là một s ự lựa chọn hay bởi vì họ không có khả năng th eo đuổi nó Thêm vào đó, một vài cá nhân mua bảo hiểm liên quan đến một vài rủi ro như: tai nạn ô
tô hay bệnh tật, nhưng họ cũng mua vé số và chơi game, đánh bạc tại các casino, nơi được biết đến như những khoản sinh lợi mong đợi tiêu cực, chúng ta có th ể hiểu những sự tham gia đó là sự sẵn lòng chi trả cho tình trạng bị kích động bao hàm cả rủi ro Việc kết hợp
th ái độ ưa thích hay không ưa thích rủi ro có thể được giải th ích bởi thái độ quan tâm đến rủi ro phụ th uộc vào lượng tiền hiện có Friedman và Savage đã nghiên cứu và cho rằng đây là trường hợp con người thích mạo hiểm cho những khoản tiền nhỏ (như vé số) nhưng lại mua bảo hiểm để bảo vệ cho chính họ chống lại những thất tho át to lớn tiềm ẩn như
Trang 4hỏa hoạn hoặc tai nạn
Tron g khi có nhiều thái độ ứng xử khác nhau, thì giả định cơ bản của chúng ta cho rằng hầu hết các nhà đầu tư đều chuyển một khoản tiền lớn để phát triển danh mục đầu tư
mà vẫn từ chối rủi ro Vì vậy, chúng ta mong đợi một mối quan hệ đồng th uận giữa tỷ suất sinh lợi mong đợi và rủi ro mong đợi Đặc biệt, đây cũng là điều mà nhìn chung chúng ta luôn tìm kiếm tron g tương lai
5 Lợi nhuận, rủi ro và mức bù rủi ro
Một dự án đầu tư có chi phí 1 triệu đồng và chịu rủi ro như sau: sau một năm, nếu tình huống tốt xảy ra với xác suất 60%, dự án sẽ tạo nguồn thu ròng là 1,2 triệu đồng; còn nếu tình huống xấu xảy ra với xác suất 40%, dự án sẽ chỉ tạo ra 0,9 triệu đồng
Lợi nhuận của dự án trong tình huống tốt: πG = (1,2 – 1,0) = 0,2 tr.đ
Lợi nhuận của dự án trong tình huống xấu: πB = (0,9 – 1,0) = -0,1 tr.đ
Tiêu chí đầu tiên để nhà đầu tư đánh giá dự án này là lợi nhuận kỳ vọng, được tính như
s au:
E(π) = π = pGπG + pBπB = 0,6*(0,2) + 0,4*(-0,1) = 0,08 tr.đ
Tuy nhiên, nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến việc dự án cho lợi nhuận kỳ vọng là bao nhiêu, mà còn muốn tìm hiểu về mức độ rủi ro của nó Thước đo rủi ro của dự án là mức độ biến th iên của lợi nhuận so với giá trị kỳ vọng Đó là phương sai của lợi nhuận
Độ lệch chuẩn của lợi nhuận (σπ) bằng 0,147 tr.đ Liệu mức lợi nhuận kỳ vọng 80.000đ có đủ để chấp nhận mức rủi ro biểu th ị bởi độ lệch chuẩn 147.000 đ?
Để trả lời câu hỏi này, ta phải so sánh với những dự án khác
Giả sử thay vì đầu tư vào dự án trên, nhà đầu tư có thể gửi khoản tiền 1 triệu đồng vào một ngân hàng với lãi suất 5%/năm Đây là khoản đầu tư an to àn vì có bảo hiểm tiền gửi Lợi nhuận th u được là 50.000 đồng So sánh lợi nhuận kỳ vọng của hai dự án,
ta thấy khi chấp nhận dự án rủi ro, nhà đầu tư mong đợi được hưởng thêm một khoản lợi nhuận kỳ vọng là: 80.000 – 50.000 = 30.000 đồng so với trường hợp đầu tư vào dự án
an toàn Nói một cách khác, nhà đầu tư được hưởng một khoản bù rủi ro là 30.000 đồng khi đầu tư vào dự án rủi ro
Ta cũng có th ể tính giá trị kỳ vọng và phương sai cho suất sinh lợi của dự án như s au
Suất sinh lợi của dự án trong tình huống tốt: rG = (1,2 – 1,0)/1,0 = 20%
Suất sinh lợi của dự án trong tình huống xấu: rB = (0,9 – 1,0)/1,0 = -10%
Suất sinh lợi kỳ vọng:
Trang 5E(r) = r = pGrG + pBrB = 0,6*(20%) + 0,4*(-10%) = 8%
Phương sai của suất sinh lợi:
= 0,6*(20% – 8%)2 + 0,4*(-10% – 8%)2 = 2,16%
6 Rủi ro, suất sinh lợi và đường đẳng dụng
Việc nhà đầu tư yêu cầu một mức bù rủi ro dương tức là nhà đầu tư ngại rủi ro Còn nếu mức bù rủi ro bằng không, nhà đầu tư được gọi là trung tính về rủi ro; còn nếu mức bù rủi ro nhỏ hơn không (nhà đầu tư sẵn sàng bỏ tiền ra để được hưởng rủi ro), th ì nhà đầu tư được gọi là thích rủi ro Ta có thể th ấy trên thực tế hầu hết các nhà đầu tư ghét rủi ro
Như vậy, suất sinh lợi kỳ vọng càng cao th ì độ thỏa dụng của nhà đầu tư
càng lớn; nhưng phương sai (hay độ lệch chuẩn) của suất sinh lợi càng cao thì
độ thỏa dụng của nhà đầu tư càng nhỏ Ta có thể biểu diễn phương trình độ
thỏa dụng của nhà đầu tư
theo dạng thông dụng s au:
Hình 1 biểu diễn đường đẳng dụng của nhà đầu
tư trên trục tọa độ suất sinh lợi kỳ vọng và độ
lệch chuẩn Dọc th eo đường đẳng dụng U1, khi
độ lệch chuẩn tăng lên thì nhà đầu tư cũng
yêu cầu s uất sinh lợi kỳ vọng cao hơn để đảm
bảo độ thỏa dụng không đổi Lấy vi phân hai
dσ
∂U / ∂σ
∂U / ∂E(r) = Aσ (2)
Trang 6Đường đẳng dụng có dạng lõm th ông th ường: khi độ lệch chuẩn tăng thêm 1 đơn vị, rồi 1 đơn vị, thì để giữ độ thỏa dụng không đổi, nhà đầu tư yêu cầu mức tăng th êm của s uất sinh lợi kỳ vọng ngày một cao hơn Theo hướng tây-bắc, độ thỏa dụng của
nhà đầu tư sẽ tăng lên: U3 > U2 > U1
7 Những phương pháp ước lượng rủi ro
Bằng cách giả định tỷ suất sinh lợi được phân phối chuẩn, Mark owitz đã đo lường rủi ro thông qua phương sai hay độ lệch chuẩn
Để bắt đầu, tất cả mọi định nghĩa rủi ro về cơ bản đều xuất phát từ phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi Sự phân phối này nói lên khả năng tỷ suất sinh lợi sẽ nằm giữa 1 và 1,01%, khả năng tỷ suất sinh lợi nằm giữa 1,01 và 1,02% Ví dụ hình 1.1 mô tả sự phân phối th ực nghiệm tỷ suất sinh lợi hàng th áng của quỹ Fidelity Magellan, trên cơ sở từ
th áng 1/1973 đến th áng 9/1994 Theo sự phân phối này thì 26% khả năng tỷ suất s inh lợi hàng tháng của quỹ Magellan nằm trong khoảng 2,5 đến 7,5%
Sự phân phối tỷ suất sinh lợi diễn tả những khả năng của tất cả các kết quả Đây là một kết quả phức tạp và đầy chi tiết Điều đó có th ể trả lời cho tất cả các câu hỏi về tỷ suất sinh lợi và xác suất Sự phân phối này có th ể là một dự báo hoặc một bảng tóm tắt tỷ suất sinh lợi đã xảy ra Về mặt khái niệm nó áp dụng cho mọi loại quỹ đầu tư: cổ phiếu, trái phiếu, hoặc những quỹ đầu tư khác Không may, xét về tổng th ể, sự phân phối tỷ suất sinh lợi quá phức tạp và chi tiết Vì vậy tất cả các sự lựa chọn phương pháp đo lường rủi ro của chúng ta sẽ cố gắng nắm bắt theo từng con số về những yếu tố cần thiết của rủi ro, điều này sẽ được trình bày một cách chi tiết hơn trong phân phối đầy đủ Do đơn giản hóa nên định nghĩa về rủi ro ít nhất cũng có một số th iếu sót Những phương pháp đo lường khác nhau cũng có những thiếu sót trên cơ sở những khó khăn của việc ước lượng chính xác Như chúng ta sẽ th ảo luận sau này, bằng cách giả định một phân phối chuẩn, chúng
ta có th ể tính toán tất cả các phương pháp đo lường rủi ro này bằng phương pháp tịnh tiến
to án họcgiá trị trung bình và phương sai Nhưng trước tiên chúng ta s ẽ th ảo luận về khả năng này mà không cần đến giả định đó
Trang 7th ấp nhất đến tỷ suất sinh lợi cao nhất, nghĩa là s ự không chắc chắn lớn hơn và rủi ro tù y
th uộc vào tỷ suất sinh lợi mong đợi tương lai
Thông thường những nhà đầu tư quan tâm đến độ lệch chuẩn như là khả năng dễ thay đổi Phương sai bằng bình phương độ lệch chuẩn Ví dụ th eo quỹ Magellan thì độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi hàng tháng là 6,3% và giá trị trung bình là 1,6% Nếu tỷ suất sinh lợi này được phân phối chuẩn thì 2/3 tỷ suất s inh lợi nằm trong khoảng 6,3% của giá trị trung bình, tức là nằm giữa khoảng –4,7% và 7,9% Thực ra 73% tỷ suất sinh lợi của quỹ Magellan nằm trong dãy đó, hơi gần với kết quả phân phối chuẩn Giá trị trung bình hàng năm của quỹ Magellan và độ lệch chuẩn tương ứng là 19,2% và 21,8% Khoảng 2/3 tỷ suất sinh lợi hàng năm của quỹ này nằm khoảng –2,6 đến 41% Khi độ lệch chuẩn giảm
th ì dãy tỷ suất s inh lợi sẽ hẹp lại
–25% –20% –15% –10% –5% 0% 5% 10% 15% 20% 5%
Trang 8 Độ lệch chuẩn đo lường sự k hông chắc chắn của tỷ suất sinh lợi
Harry Markowitz đã định nghĩa về rủi ro như là độ lệch chuẩn và độ lệch chuẩn là tiêu chuẩn mà các tổ chức đầu tư áp dụng phổ biến từ lúc đó Chúng ta s ẽ sử dụng độ lệch chuẩn trong cuốn sách này Vì nó dễ hiểu và khá rõ ràng tron g th ống kê Đặc biệt nó là một công cụ hữu hiệu để hình thành những danh mục đầu tư Chỉ cần biết độ lệch chuẩn
và tương quan giữa những tài sản thì chúng ta có thể tính toán được độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư Độ lệch chuẩn có khuynh hướng tương đối ổn định theo thời gian (đặc biệt khi so sánh với giá trị trung bình của tỷ suất s inh lợi và những thước đo quan trọng khác của sự phân phối) và những nhà kinh tế tài chính đã phát triển những công cụ rất mạnh để dự báo chính xác độ lệch chuẩn
Nhưng trước khi chúng ta thảo luận chi tiết về độ lệch chuẩn, chúng ta nên thảo luận một số định nghĩa th ay thế Quan điểm phê bình độ lệch chuẩn cho thấy độ lệch chuẩn là tiêu chuẩn đánh giá khả năng của tỷ suất s inh lợi cả trên và dưới giá trị trung bình Hầu hết các nhà đầu tư đều định nghĩa về rủi ro như sự liên quan tỷ suất s inh lợi thấp hoặc âm (mặc dù những nhà bán khống có quan điểm đối lập) Điều này đã làm phát s inh một tiêu chuẩn đánh giá rủi ro khác Bán phương sai hoặc rủi ro s ụt giá
Bán phương sai tương tự với phương sai nhưng chỉ sử dụng tỷ suất sinh lợi dưới giá trị trung bìn h
Nếu như tỷ suất sinh lợi cân xứng, nghĩa là tỷ suất s inh lợi đó gần như bằng nhau và bằng x% trên hoặc dưới giá trị trung bình, thì bán phương sai chính xác bằng ½ phương sai Nhiều tác giả phân biệt định nghĩa về rủi ro sụt giá Một cách định nghĩa về rủi ro sụt giá là bằng căn bậc hai của bán phương sai, tương tự với mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn
và phương sai
Từ th áng 1/1973 đến tháng 9/1994, quỹ Magellan đã có bán phương sai thực hiện là 21,6 bằng 55% phương sai 39,5 Theo như hình 1.1 thì sự phân phối hơi lệch về bên trái (tỷ suất sinh lợi âm) hơn là lệch về bên phải (tỷ suất sinh lợi dương), và vì vậy bán phương sai hơi lệch hơn nửa của phương sai
Một biến thể của định nghĩa này là bán phương sai mục tiêu, là tổng quát hóa của bán phương sai được tập trung vào tỷ suất s inh lợi dưới mục tiêu, thay vì chỉ nằm dưới giá trị trung bình
Rủi ro sụt giá chỉ tập trung hoàn toàn vào tỷ suất sinh lợi k hông mong đợi
Rủi ro sụt giá chỉ tập trung hoàn toàn vào tỷ suất sinh lợi không mong đợi Tuy nhiên,
có nhiều vấn đề về rủi ro sụt giá Thứ nhất, định nghĩa về rủi ro s ụt giá không rõ ràng như định nghĩa về độ lệch chuẩn hoặc phương sai, và chúng cũng không có giá trị về mặt
th ống kê Thứ hai, xét về mặt tính toán nó chính là một thách thức cho việc xây dựng danh mục đầu tư quy mô lớn Bán phương sai kết hợp từ những tài sản cho đến danh mục đầu tư là rất khó thực hiện tốt Thứ ba, nếu tỷ suất sinh lợi đầu tư là tương đối cân xứng
th ì hầu hết các định nghĩa về rủi ro sụt giá đơn giản là tỷ lệ với độ lệch chuẩn hoặc
Trang 9phương sai vì th ế nó không chứa đựng th êm thông tin nào cả Tỷ suất s inh lợi năng động (liên quan đến danh mục chuẩn) sẽ đối xứng
Nếu tỷ suất s inh lợi đầu tư không cân xứng thì lại càng có nhiều vấn đề về dự báo rủi
ro s ụt giá Tính không cân xứng của tỷ suất sinh lợi không ổn định với thời gian và vì th ế rất khó dự báo Rủi ro sụt giá đã thực hiện có thể không phải là một dự báo tốt về rủi ro sụt giá trong tương lai
Hơn thế nữa, chúng ta ước lượng rủi ro s ụt giá với chỉ một nửa dữ liệu và vì thế chúng
ta đánh mất đi sự chính xác về mặt thống kê Vấn đề này càng nghiêm trọng hơn đối với bán phương sai mục tiêu, vì nó thường tập trung nhiều hơn vào những khả năng ở phần
“đuôi” của sự phân phối này
Khả năng thâm hụt là khả năng mà tỷ suất sinh lợi sẽ nằm dưới con số mục tiêu nào đó
Khả năng th âm hụt là một định nghĩa khác về rủi ro và là một định nghĩa có lẽ có liên quan đến một khái niệm th uộc về trực giác rủi ro là gì Ví dụ khả năng th ua lỗ của quỹ Magellan hàng tháng vượt quá 10% là 3,4%
Khả năng th âm hụt có th uận lợi là gần tương tự với định nghĩa theo trực giác về rủi ro Tuy nhiên nó phải đương đầu với những vấn đề như với rủi ro s ụt giá: sự mơ hồ, khó hiểu
về mặt thống kê, khó dự báo và phụ thuộc vào ý thích của nhà đầu tư cá nhân
Dự báo là một vấn đề đặc biệt gai góc và nổi bật khi mục tiêu thâm hụt trở nên thấp hơn Trong trường hợp cực đoan, dự báo khả năng đối với th âm hụt rất lớn nó bị ảnh hưởng bởi chỉ một hoặc hai quan sát
Tron g khi khả năng thâm hụt chọn một tỷ suất sinh lợi mục tiêu và tính xác suất tỷ suất sinh lợi th ấp hơn mức đó th ì giá trị có rủi ro chọn một xác suất mục tiêu, ví dụ: 1% hoặc 5% là khả năng tỷ suất s inh lợi th ấp nhất và chuyển xác suất này thành tỷ suất s inh lợi tương ứng Đối với quỹ Magellan, chỉ có ít nhất 1% của tất cả các tỷ suất sinh lợi vượt quá mức lỗ 20,8% Cứ 1000$ đầu tư của quỹ th ì giá trị có rủi ro là 208$
Giá trị có rủi ro tương đương với k hả năng thâm hụt
Giá trị có rủi ro quan hệ mật th iết với khả năng th âm hụt và cùng có những thuận lợi
và bất lợi
Phân phối chuẩn phù hợp với phần nào trong thảo luận về số liệu thống kê rủi ro? Phân phối chuẩn là giả th iết chuẩn về nghiên cứu đầu tư mang tính học thuật và là một phân phối xuyên suốt khoa học th ống kê Nó hoàn toàn được định nghĩa bằng giá trị trun g bình
và độ lệch chuẩn Nhiều nghiên cứu đã cho th ấy rằng tỷ suất s inh lợi đầu tư không theo đúng với phân phối chuẩn, nhưng th ay vào đó chúng có những phân phối rộng hơn, tức là, khả năng của những kết quả đặc biệt đối với đầu tư thực lớn hơn một phân phối chuẩn thể hiện
Việc chọn lựa cách định nghĩa rủi ro thì tách biệt với việc chọn lựa cách thể hiện
về rủi ro
Trang 10Tất cả những định nghĩa về rủi ro ở trên đều đã cố gắng nắm bắt được rủi ro vốn có trong phân phối “th ực” của tỷ suất sinh lợi Một hướng tiếp cận khác sẽ giả sử tỷ suất sinh lợi được phân phối chuẩn Lúc đó giá trị trung bình và độ lệch chuẩn đúng với những con
số thống kê khác: rủi ro sụt giá, bán phương sai, khả năng th âm hụt và giá trị có rủi ro Một cách tiếp cận như vậy có lẽ đánh giá thiết th ực các số liệu định lượng mà các nhà đầu
tư cá nhân quan tâm nhất bằng cách sử dụng các ước lượng chính xác nhất và một s ố giả
th ích cá nhân hơn là s ự ảnh hưởng việc chọn lựa danh mục đầu tư
Mặc dù có nhiều phương pháp ước lượng rủi ro tiềm năng, chúng ta sẽ sử dụng phương sai hoặc độ lệch chuẩn của tỷ suất s inh lợi bởi vì (1) phương pháp ước lượng này là một phần trực giác, (2) nó là một phương pháp ước lượng rủi ro được nhận định đúng và rộng,
và (3) nó được dùng trong hầu hết lý th uyết mô hình định giá tài sản
8 Tỷ suất sinh lợi
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước
Các nhà đầu tư xem mỗi khoản đầu tư khác nhau được đại diện cho một s ự phân phối xác suất của tỷ suất s inh lợi mong đợi lên một vài thời kỳ nắm giữ
Các nhà đầu tư luôn tối đa hóa lợi ích mong đợi trong một thời kỳ nhất định
Các nhà đầu tư đánh giá rủi ro của danh mục dựa trên cơ sở phương sai của tỷ suất sinh lợi mong đợi
Các nhà đầu tư căn cứ trên những quyết định độc lập của tỷ suất sinh lợi và rủi ro mong đợi, vì vậy đường cong hữu dụng của họ là một phương trình của tỷ suất sinh lợi mong đợi và phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi
Với một mức độ rủi ro cho trước, các nhà đầu tư ưa thích tỷ suất sinh lợi cao hơn
là một tỷ suất sinh lợi thấp Tương tự, với một mức độ tỷ suất sinh lợi mong đợi
cho trước, các nhà đầu tư lại thích ít rủi ro hơn là nhiều rủi ro
Tỷ suất sinh lợi mong đợi đối với một khoản đầu tư cụ th ể được tính toán như trong bảng
3 Tỷ suất sinh lợi mong đợi đối với một tài sản rủi ro cụ thể với tập hợp tỷ suất s inh lợi tiềm năng và một giả định các khả năng bằng nhau được sử dụng trong ví dụ có thể là 11%
Tỷ suất sinh lợi mong đợi đối với một danh mục của những khoản đầu tư đơn giản là giá trị trung bình th eo tỷ trọng của tỷ suất s inh lợi mong đợi đối với những khoản đầu tư cụ
Trang 11th ể tron g danh mục Tỷ trọng này là sự cân đối tổng giá trị đối với các khoản đầu tư
Khả năng Tỷ suất sinh lợi (% ) Tỷ suất sinh lợi mong đợi
0,0200 0,0250 0,0300 0,0350 E(R) = 0,1100
Trang 12PHẦN II: ĐA DẠNG HÓA VÀ LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ
1 Khái niệm về đa dạng hóa danh mục đầu tư
Đa dạng hoá danh mục đầu tư là việc kết hợp đầu tư vào nhiều loại chứng khoán
mà các chứng khoán này không có tương quan cùng chiều với nhau một cách hoàn hảo, nhờ vậy biến động giảm lợi nhuận của chứng khoán này có thể được bù đắp bằng biến động tăng lợi nhuận của chứng khoán khác nhằm giảm bớt rủi ro khi đầu tư tài sản Ngoài ra người ta còn đa dạng hoá nhằm cắt giảm rủi ro bằng cách đầu tư vào th ị trường chứng khoán quốc tế thay vì chỉ tập trung đầu tư vào thị trường chứng khoán của một quốc gia nào đó
Đa dạng hóa danh mục đầu tư còn được hiểu là một khái niệm bỏ vốn đầu tư vào các chứng khoán có độ rủi ro khác nhau dựa trên những tỷ lệ đầu tư không giống nhau trên th ị trường, xây dựng lên một cơ cấu tài sản hợp lý để có thể phân tán rủi ro hay hạn chế tố i đa rủi ro đầu tư Đa dạng hoá danh mục đầu tư chứng khoán tuy không hoàn toàn xoá bỏ hết rủi ro, nhưng nó có th ể làm giảm bớt mức rủi ro theo một nguyên tắc đầu tư
"không nên để tất cả trứng vào cùng một rổ"
Cụ thể hơn, giả sử bạn đang xem xét đầu tư vào một đảo quốc, ở đó có hai mùa mưa và nắng, và có hai công ty hoạt động: một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh áo
đi mưa và một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh kem chống nắng Hệ số tương quan lợi nhuận của hai công ty này là r1,2 = - 1, vì sáu tháng mùa nắng công ty sản xuất kem chống nắng th u được lợi nhuận cao trong khi công ty sản xuất áo đi mưa không có lợi nhuận Ngược lại, sáu tháng mùa mưa, công ty sản xuất áo đi mưa thu được lợi nhuận cao trong khi công ty sản xuất kem chống nắng không có lợi nhuận Là nhà đầu tư khôn ngoan, th ay vì dồn to àn bộ vốn đầu tư vào một trong hai công ty, bạn nên đầu tư vào một danh mục gồm 50% cổ phiếu công ty sản xuất kem chống nắng và 50% cổ phiếu công ty sản xuất áo đi mưa Như vậy, quanh năm dù mùa mưa hay mùa nắng bạn đều có cơ hội kiếm được lợi nhuận từ danh mục đầu tư trên
2 Lý thuyết về danh mục đầu tư
Một danh mục đầu tư tốt nhất là danh mục tối ưu về mặt số lượng và chủng loại chứng khoán, tức là danh mục có kỳ vọng lợi nhuận cao nhất Nhà đầu tư cần nghiên cứu các loại chứng khoán khác nhau, so sán h kỳ vọng lợi nhuận và chọn loại chứng khoán có
kỳ vọng lợi nhuận cao nhất Điều này phụ thuộc vào nhận định riêng của nhà đầu tư, đòi hỏi nhà đầu tư phải luôn động não, khả năng tư duy, ý chí và bản lĩnh khi phân tích và đưa ra quyết định
2.1 Xác định đường tập hợp các cơ hội đầu tư vào các tài sản rủi ro
Tài sản phi rủi ro là những tài sản có độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi nhuận bằng 0 Thường
là tín phiếu kho bạc hay tín phiếu do chính phủ phát hành
Tài sản rủi ro: 1, 2, …, N
Tài sản i có suất sinh lợi kỳ vọng: r i
Suất sinh lợi của tài sản i có phương sai: ii = i2
Trang 13 Đồng phương sai (tích sai) giữa suất sinh lợi của tài sản i và j: ij
Tỷ lệ đầu tư vào các tài sản: w1, w2, …, w N
2 1
N
N N
2 22
21
1 12
2 1
r w
2 1
N
N N
2 22
21
1 12
2 1
W 1 1
0 R 1 ΔW W
T T
P
r L L L
Trang 14Từ (4), ta có các tỷ trọng tài sản tối ưu:
)
(
1)(
)
(
R Δ R 1
Δ
R
R Δ 1 1
Δ
1
-1 T -1
T
-1 T -1
A P
Phương trình phương sai của suất s inh lợi danh mục đầu tư:
A P2 2 P
(8)
0.100.120.140.160.180.20
(1/A)1/2 B/A
Trang 152.2 Xây dựng danh mục đầu tư với các tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro
Tài sản phi rủi ro có suất s inh lợi r f Tỷ lệ đầu tư vào tài sản phi rủi ro: w0
Tỷ lệ đầu tư vào các tài sản rủi ro: w1, w2, …, w N
r r
f f
f P
Trang 16Thế (13) và (14) rồi rút gọn, ta được:
C Br Ar
r r
f f
f P
2.3 Xác định danh mục đầu tư tiếp xúc T
T vừa nằm trên CML vừa nằm trên IOS T không chứa tài sản phi rủi ro nên ta có
Br C
Ar B
r r
2.4 Danh mục tối ưu
Nhà đầu tư s ẽ chọn danh mục đầu tư tối ưu bằng cách đầu tư một phần tiền vào
danh mục tiếp xúc T và phần còn lại vào tài sản phi rủi ro tùy theo sở thích của mình về
sự đánh đổi giữa suất s inh lợi kỳ vọng và rủi ro
Trang 17tư
Trang 182.5 Cách xác định lợi nhuận và rủi ro danh mục đầu tư trên thực tế
Phần trên đây đã khuyên nhà đầu tư nên đầu tư vào danh mục đầu tư Thế nhưng khi đầu tư danh mục đầu tư gồm nhiều chứng khoán thì làm thế nào để xác định tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu tư Các phần trước đã trình bày qua cách xác định tỷ suất lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tư Tuy nhiên, đấy chỉ mới dừng lại ở mức độ lý thuyết
Thực tế không như vậy Nhà đầu tư không được cho sẵn dữ liệu để thay vào công
th ức Muốn có dữ liệu họ phải thu thập Thế nhưng nhà đầu tư chỉ thu thập được dữ liệu nào được công bố mà thôi Trên thị trường, nhà nhà đầu tư chỉ thu thập được thông tin quá khứ về giá của chứng khoán hàng ngày sau khi đã khớp lệnh chứ không thể thu
th ập được tỷ suất lợi nhuận của chứng khoán, cũng không ai cho nhà đầu tư biết độ lệch chuẩn và hệ số tương quan lợi nhuận giữa hai chứng khoán là bao nhiêu Vậy làm thế nào
để tính được tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư?
*Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư
RP =W 1 *R 1 + W 2 *R 2
Phương sai lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư
Độ lệch chuẩn lợI nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư
Trong đó:
W: tỷ trọng đầu tư của danh mục
R1: tỷ suất lợi nhuận trung bình của cổ phiếu 1
R2: tỷ suất lợi nhuận trung bình của cổ phiếu 2
3 Một số cách đa dạng hoá danh mục đầu tư
Đa dạng hoá chứng khoán: Nếu đầu tư tất cả vốn vào một loại cổ phiếu, mà tình hình kinh doanh của công ty đó không được tốt, thậm chí đi đến phá sản thì nhà đầu tư không những không thu được cổ tức, mà còn bị mất cả vốn Vậy nên, đầu tư vào nhiều loại chứng khoán, cho dù có một vài loại chứng khoán trong số đó gặp rủi ro thì vẫn có
th ể thu được lợi từ những chứng khoán khác để bù đắp thiệt hại
Đa dạng hóa tổ chức phát hành: Nếu danh mục đầu tư chỉ bao gồm toàn bộ trái phiếu chính phủ th ì nhà đầu tư không cần phải đa dạng hoá chủ thể phát hành, bởi vì trái phiếu chính phủ gần như không có rủi ro Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư mua trái phiếu công
ty, trái phiếu địa phương hoặc cổ phiếu thì việc đa dạng hoá chủ thể phát hành là một vấn
đề cần được cân nhắc, bởi các loại chứng khoán này luôn tiềm ẩn một số rủi ro nhất định Ngoài ra, có thể đa dạng hoá theo lĩnh vực kinh doanh, nguồn thu hoặc đa dạng hoá
Trang 19th eo vị trí địa lý
4 Lợi ích của đa dạng hóa danh mục đầu tư
Một là mở rộn g phạm vi đầu tư vào nhiều công ty, nhiều lĩnh vực không có nhiều
sự liên kết với nhau, nhà đầu tư có thể kiềm chế bớt sự biến động giá cả với danh mục của mình do thực tế, rất hiếm khi xảy ra trường hợp: tất cả các ngành đi lên hay đi xuống với cùng một tốc độ và trong cùng một thời kỳ Do đó, đa dạng hóa s ẽ đảm bảo sự hoạt động ổn định hơn, ít rủi ro hơn cho nhà đầu tư
Hai là đa dạng hóa hầu như luôn luôn có lợi cho nhà đầu tư không ưa mạo hiểm do
nó giảm rủi ro trừ khi lợi tức của những chứng khoán diễn biến theo nhau một cach hoàn hảo (rất hiếm xảy ra)
Ba là những lợi tức của hai chứng khoán càng không đi kèm với nhau nhiều thì lợi ích của việc đa dạng hóa càng nhiều hơn (giảm rủi ro)
5 Hạn chế của đa dạng hóa danh mục đầu tư
Đa dạng hoá danh mục đầu tư tùy thuộc vào khả năng tài chính của mỗi nhà đầu
tư Nếu khả năng tài chính hạn chế, nhà đầu tư chỉ nên tập trung vào một vài loại chứng khoán để vòng quay của đồng vốn linh hoạt hơn
Cho dù danh mục đầu tư được đa dạng hóa đến đâu th ì cũng không thể loại bỏ hoàn to àn nguy cơ rủi ro Nhà đầu tư có thể giảm th iểu được rủi ro gắn liền với các chứng khoán đơn lẻ (rủi ro không có tính hệ th ống), thế nhưng luôn có rủi ro thuộc về bản chất của th ị trường (rủi ro hệ th ống) Rủi ro này có thể ảnh hưởng đến hầu hết chứng khoán và sự đa dạng dù ở mức độ nào cũng không thể ngăn chặn được chúng
Nhiều nhà đầu tư có quan điểm sai lầm rằng, rủi ro tỷ lệ nghịch với số lượng cổ phiếu th êm vào danh mục đầu tư, trong khi trên thực tế điều này không hề đúng Có những nghiên cứu cho thấy, nhà đầu tư chỉ có thể giảm rủi ro đến một điểm nhất định mà tại đó, việc đa dạng hoá hơn nữa không đem lại lợi ích gì
Trang 20PHẦN III: CUNG CẦU & ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TÀI CHÍNH
I Cung cầu tài sản tài chính
1 Khái niệm tài s ản tài chính
Tài sản tà i chín h (công cụ tà i chính) thuộc loại tài sản vô hình Lợi ích trong tương lai của
tài sản này là quyền được hưởng các khoản tiền lãi, hay lợi nhuận tron g tương lai
Những người đồng ý th ực hiện việc thanh to án các dòng tiền đó tron g tương lai được gọi
là người phát hành tài sản tài chính; những người sở hữu tài sản tài chính được gọi là nhà đầu tư Người phát hành có th ể là chính phủ, các tổ chức tài chính hay các doanh nghiệp Người sở hữu tài sản tài chính có thể là tổ chức hay cá nhân
Tài sản tài chín h được chia thành 2 loại: công cụ nợ và công cụ vốn
- Công cụ nợ ( dept intrument): là loại tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ
nó quyền được hưởng dòng tiền cố định được ấn định trước
Ví dụ: Trái phiếu chính phủ, Kho bạc, các khoản cho vay, … Hay nói một cách khác, các công cụ nợ có các khoản lợi tức cố định
- Công cụ vốn: là loại công cụ mà buộc người phát hành phải trả cho người nắm giữ
nó một số tiền dựa vào kết quả đầu tư (nếu có) sau khi đã thực hiện xong các nghĩa
vụ đối với công cụ nợ (equity instrument) Công cụ vốn thường th ấy nhất là cổ phiếu phổ th ông (cổ phiếu thường)
Việc đầu tư vào công cụ tài chính bị ảnh hưởng bởi những rủi ro sau đây:
- Rủi ro lạm phát (purchas ing risk, inflation risk): rủi ro liên quan đến sự trượt giá (mất giá) của cash flow kỳ vọng
- Rủi ro tín dụng (credit risk) hay rủi ro sai hẹn (default risk): là rủi ro mà người phát hành hay người mượn trể hạn giao ước
- Rủi ro tỷ giá (foreign-exchange risk): là loại rủi ro xảy ra khi có sự chuyển đổi giá cả
sẽ làm th ay đổi một cách bất lợi, kết quả là làm giảm số tiền được nhận
Tài sản tài chín h có 2 chức năng k inh tế chủ yếu:
- Là công cụ để chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi đến những người cần vốn để đầu tư vào tài sản hữu hình
- Bằng một phương th ức chuyển vốn nào đó từ người có vốn sang người cần vốn đã làm phân bổ lại những rủi ro không th ể tránh khỏi do dòng tiền mà tài sản hữu hình tạo ra giữa người gọi vốn và người cung cấp vốn
Như vậy, tài sản tài chính là việc giữ một giá trị, cho phép nhận một khoản tiền (hoặc có tính th anh khoản như tiền) trong tương lai, hoặc khi kỳ hạn chấm dứt, hoặc khi bán lại tài sản đó cho bên thứ 3 một cách trực tiếp hay thông qua trung gian Tài sản tài chính vừa chứa đựng tính rủi ro nhưng cũng vừa hứa hẹn một khoản lợi nhuận, một khả năng sinh lợi hay một giá trị th ặng dư Hoạt động quản lý danh mục tài sản tài chính nhằm cân bằng giữa rủi ro và s inh lợi
Trang 21Tuy nhiên, tính thanh khoản và chuyển đổi của tài sản tài chính còn phụ thuộc vào sự tồn tại của thị trường mà ở đó người ta có th ể trao đổi, mua bán
2 Thị trường tài chính
2.1 Khái niệm
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các tài sản tài chính
• Đối tượng của thị trường tài chín h: là những nguồn cung cầu về vốn tron g xã hội của
các chủ thể kinh tế như Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các định chế tài chính trun g gian và công chúng
• Công cụ của th ị trường tài chính: đây là nguồn sống cho hoạt động của thị trường, bao
gồm: công trái nhà nước, chứng khoán do doanh nghiệp phát hành, trái phiếu công ty, trái phiếu của các định chế tài chính trung gian và các loại giấy tờ có giá khác: séc, kỳ phiếu,
• Chủ th ể của th ị trường tài chính: đây là những pháp nhần và th ể nhân đại diện cho
những nguồn cung và cầu về vốn tham gia trên thị trường tài chính
2.2 Vai trò thị trường tài chính
Thị trường tài chính có 3 chức năng kinh tế cơ bản sau:
Thứ nhất, hình thành giá các tài sản tài chính Thông qua tác động qua lại giữa những người mua và những người bán, giá của tài sản tài chính (chứng khoán) được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định Yếu tố
th úc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà các nhà đầu tư yêu cầu; và với đặc điểm này của thị trường tài chính đã phát tín hiệu cho biết vốn tron g nền kinh tế cần được phân bổ như th ế nào giữa các tài sản tài chính Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá
Thứ hai, cung cấp một cơ chế để cho các nhà đầu tư bán một tài sản tài chính Với đặc tính này, thị trường tài chính là th ị trường tạo ra tính thanh khoản Thiếu tính th anh khoản, các nhà đầu tư phải nắm giữ tài sản tài chính cho đến khi nào đáo hạn, hoặc đối với cổ phiếu cho khi nào công ty tự nguyện thu hồi hoặc nếu không tự nguyện thì phải chờ th anh lý tài sản Mặc dù tất cả các th ị trường tài chính đều có tính thanh khoản, nhưng mức độ thanh khoản sẽ là khác nhau giữa chúng
Thứ ba, giảm bớt chi phí tìm kiếm và chi phí th ông tin Để các giao dịch có thể được diễn
ra thì n hững người mua và người bán phải tìm được nhau Họ phải mất rất nhiều tiền và
th ời gian cho việc tìm kiếm này, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của họ Chi phí đó là chi phí tìm kiếm Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư họ cần có các thông tin về giá trị đầu
tư như khối lượng và tính chắc chắn của dòng tiền kỳ vọng Thị trường tài chính nhờ có tính trung lập này - là nơi để người mua, người bán đến đó tìm gặp nhau, là nơi cung cấp các thông tin một cách công khai và đầy đủ - nên có khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch lớn vì th ế nó cho phép giảm đến mức thấp nhất những khoản chi phí trên