1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận: Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính

31 630 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thông Tin Bất Cân Xứng Và Cấu Trúc Tài Chính
Tác giả Nhóm 1
Người hướng dẫn TS. Diệp Gia Luật
Trường học Trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Doanh nghiệp
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 367,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận: Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính

Trang 2

Mục Lục

1 LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 2

1.1 Cấu Trúc Tài Chính 2

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp 2

1.1.2 Cấu trúc vốn tài sản kinh doanh 2

1.1.3 Cấu trúc nguồn vốn tài trợ hoạt động kinh doanh 3

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp: 4

1.3 Cấu trúc tài chính của một số quốc gia trên thế giới: 6

1.3.1 Các nước phát triển 7

1.3.2 Các nước đang phát triển: 9

2 THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 9

2.1 Khái niệm về thông tin bất cân xứng 9

2.2 Hậu quả của thông tin bất cân xứn g đến thị trường và cấu trúc tài chính: 10

2.3 Chi Phí Giao Dịch và Cấu Trúc Tài Chính 10

2.3.1 Khái niệm chi phí giao dịch: 10

2.3.2 Các hình thức của chi phí giao dịch: 11

2.3.3 Các yếu tố đến giá chi phí giao dịch: 12

2.3.4 Vai trò của chi phí giao dịch với cấu trúc tài chính: 13

2.3.5 Các biện pháp giảm chi phí giao dịch: 14

2.4 Lựa Chọn Đối Nghịch 15

2.4.1 Khái niệm lựa chọn đối nghịch 15

2.4.2 Sự hình thành lựa chọn đối nghịch: 15

2.4.3 Các công cụ giải quyết sự lựa chọn đối nghịch: 16

2.5 RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH: 20

2.5.1 Khái niệm: 20

2.5.2 Rủi ro đạo đức và cấu trúc tài chính: 20

2.5.3 Các biện pháp giải quyết vấn đề rủi ro đạo đức: 23

3 VÍ DỤ VỀ ẢNH HƯỜNG CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 25

3.1 Ví dụ về Công ty dược Viễn Đôn g 25

3.2 Đánh giá thiệt hại 27

KẾT LUẬN 30

4 ĐỌC THÊM : 31

4.1 TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG CIC ở Việt Nam (Credit Information Center)

Trang 3

1 LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH

1.1 Cấu Trúc Tài Chính

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một hỗn hợp nợ và vốn được sử dụng để

tài trợ cho các hoạt động của nó Cấu trúc này là một hỗn hợp trực tiếp ảnh hưởng

đến rủi ro và giá trị của doanh nghiệp Mối quan tâm chính cho người quản lý tài

chính của công ty là quyết định bao nhiêu tiền được vay và hỗn hợp tốt nhất của nợ

và vốn chủ sở hữu Người quản lý tài chính cũng phải tìm các nguồn ít tốn kém kinh

phí cho công ty để sử dụng

Cấu trúc tài chính được chia thành số lượng dòng tiền của công ty cho các chủ

nợ và số tiền cho các cổ đông Mỗi doanh nghiệp sẽ có một hỗn hợp khác nhau tùy

thuộc vào nhu cầu và chi phí của mình Vì vậy, mỗi công ty sẽ có tỷ lệ nợ trên vốn

chủ sở hữu của riêng nó Ví dụ, một công ty có thể phát hành trái phiếu và sử dụng

số tiền thu được để mua cổ phiếu hoặc có thể phát hành cổ phiếu và sử dụng số tiền

thu được để trả nợ

Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp có thể được xem xét ở 2 góc độ là

cấu trúc vốn tài sản kinh doanh và cấu trúc nguồn vốn tài trợ hoạt động kinh doanh

1.1.2 Cấu trúc vốn tài sản kinh doanh

Vốn tài sản kinh doanh là những phương tiện, tài s ản, các yếu tố vật chất mà

một doanh nghiệp phải có để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình

Cấu trúc vốn tài sản kinh doanh được thể hiện dưới nhiều hình thức vật chất

khác nhau, tùy theo công dụng tính năng và thời gian sử dụng Cấu trúc vốn tài s ản

kinh doanh tác động trực tiếp đến họat động kinh doanh, ảnh hưởng đển năng suất,

chi phí, giá thành các doanh nghiệp

Vốn tài s ản cấu trúc vừa là nhân tố đầu vào, vừa ảnh hưởng đến kết quả phân

phối thu nhập đầu ra của quá trình kinh doanh Chính trong quá trình đó, vốn tài s ản

là một nhân tố không thể thiếu được đối với hoạt động kinh doanh VỐn tài s ản sau

khi được đầu tư một thời gian thì được thu về để tiếp ứng cho chu lỳ kinh doanh tiếp

theo Vốn tài sản không thể bị mất đi mà vốn luôn phải được bảo toàn và phát triển;

đây chính là điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp thực hiện được quá trình tái sản

xuất đơn cũng như quá trình tái sản xuất mở rộng

Xét theo công dụng và đặc điểm luân chuyển giá trị, vốn tài s ản kinh doanh của

một doanh nghiệp bao gồm: vốn tài s ản cố định, vốn tài s ản lưu động

Trang 4

1.1.2.1 Vốn tài sản cố định

Vốn cố định của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài s ản cố

định (TSCĐ) phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các loại tài s ản

dùng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đựơc gọi là TSCĐ khi và chỉ khi

tài sản đó hội tụ đủ đồng thời hai điều kiện: có thời gian sử dụng dài (trên 1 năm),

có giá trị lớn (tùy theo giá trị đồng tiền để xác định)

Gồm hai loại: tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất

cụ thể, như công trình kiến trúc, trang thiết bị, phương tiện vận tải… Tài s ản cố định

vô hình là một dạng tài sản không có hình thái vật chất Loại tài s ản này gồm: bằng

phát minh sáng chế, chi phí đầu tư mua bản quyền, phần mềm vi tính, văn hóa doanh

nghiệp…

Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh và luân chuyển dần dần từng

phần vào trong giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mỗi chu kỳ kinh doanh Hay

nói cách khác, cứ sau mỗi chu lỳ kinh doanh, vốn cố định được tách thành hai phần:

một phần luân chuyển vào giá thành kinh doanh của chu kỳ kinh doanh này và phần

còn lại sẽ được “cố định” chờ để luân chuyển cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo

Cứ như thế cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng thì vốn cố định mới chấm dứt

một vòng tuần hoàn lưu chuyển giá trị

1.1.2.2 Vốn tài sản lưu đông

Vốn tài sản lưu động là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản lưu động của

doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó vào trong giá trị sản phẩm Vốn lưu

động đựơc thu hồi toàn bộ một lần, sau khi doanh nghiệp tiêu thụ các hàng hóa dịch

vụ và kết thúc vòng tuần hoàn lưu chuyển của vốn

1.1.3 Cấu trúc nguồn vốn tài trợ hoạt động kinh doanh

Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp là những nguồn lực tài

chính có trong nền kinh tế, được doanh nghiệp huy động, khai thác bằng nhiều

phương thức, cơ chế khác nhau, để đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh

doanh trước mắt và lâu dài

Như vậy, một cấu trúc nguồn vốn an toàn ổn định, hợp lý, linh hoạt sẽ mang lại

sự phát triển năng động và hiệu quả cho doanh nghiệp

Nguồn vốn tài trợ được phân loại dựa trên các căn cứ sau

 Căn cứ vào phạm vi tài trợ:

Trang 5

- Nguồn vốn bên trong: trích từ lợi nhuận có được từ kết quả kinh doanh của

doanh nghiệp

- Nguồn vốn bên ngoài” bao gồm nguồn vốn liên doanh, liên kết, phát hành

thêm cổ phiếu, trái phiếu, tính dụng ngân hàng

 Căn cứ theo thời gian tài trợ

- Nguồn vốn tài trợ ngắn hạn: tính dụng thương mại, các khoản chiếm dụng về

tiền lương, tiền thuế, tín dụng ngân hàng và các khoản phải trả…

- Nguồn vốn dài hạn: tín dụng ngân hàng dài hạn, phát hành trái phiếu, huy

động vốn góp cổ phần, liên doanh …

 Căn cứ vào tính chất sở hữu tài chính:

- Nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp: gồm vốn đóng góp ban đầu của chủ sở

hữu, nguồn vốn tài trợ từ lợi nhuận sau thuế, nguồn vốn bổ sung bằng cáchkết

nạp thêm các thành viên mới

- Nguồn vốn đi vay và chiếm dụng: gồm nguồn vốn tín dụng ngân hàng, tín

dụng thương mại, huy động bằng phát hành trái phiếu doanh nghiệp, các

nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp: tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền thuế chưa

nộp…

 Căn cứ vào hình thức huy động vốn:

- Nguồn vốn huy động dưới dạng tiền

- Nguồn vốn huy động dưới dạng tài s ản hữu hình như máy móc thiết bị, nhà

xưởng, mặt bằng Vốn góp dưới dạng tài sản vô hình như bằng pháp minh

sáng chế, kinh nghiệm

 Căn cứ vào tính pháp lý:

- Nguồn vốn huy động trên thị trường chính thức: nguồn lực tài chính được

huy động theo cơ chế, qui định cảu pháp lý, dưới s ự kiểm tra giám sát của cơ

quan chức năng

- Nguồn vốn huy động trên thị trường phi chính thức: như tín dụng nặng lãi,

đầu tư góp vốn với một pháp nhân không chính thức nhằm rửa tiền hoặc né

thuế

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

1.2.1 Hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (Return on As

sets-ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu (tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu) Theo lý

thuyết trật tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá

Trang 6

trị doanh nghiệp tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài Sự bất cân xứng về thông tin này dẫn

đến chi phí huy động vốn từ bên ngoài s ẽ cao hơn Vì thế, nhà quản trị có xu hướng

ưu tiên sử dụng các nguồn vốn nội tại trước, rồi mới đến các nguồn vốn vay mượn

bên ngoài Các nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang and Song (2002),

Braduri (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu quả kinh doanh

có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyên

(2006) trên các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh có

mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ nhưng không có ý nghĩa thống kê Ở các nước

đang phát triển, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, vấn đề

bất cân xứng về thông tin càng trầm trọng, vì thế các nhà quản lý có xu hướng giữ

lại lợi nhuận để tài trợ cho tài sản của mình, vì vậy, giả thiết đặt ra là: “Cấu trúc tài

chính tỉ lệ nghịch với hiệu quả kinh doanh.”

1.2.2 Qui mô của doanh nghiệp

Qui mô của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng số lượng nhân viên, tổng

tài sản, hay tổng doanh thu Ở Việt Nam, các doanh nghiệp niêm yết có qui mô lớn

thường là những doanh nghiệp do nhà nước nắm cổ phần chi phối, vì vậy những

doanh nghiệp này có nhiều cơ hội huy động các nguồn vốn từ bên ngoài hơn, nhất là

các tổ chức tín dụng thuộc sở hữu Nhà nước Do đó, giả thiết được đặt ra là: “Cấu

trúc tài chính tỉ lệ thuận với qui mô của doanh nghiệp.”

1.2.3 Rủi ro k inh doanh

Rủi ro kinh doanh thường được đo lường thông qua độ lệch chuẩn của lợi

nhuận, lợi nhuận trước thuế và lãi vay Khi rủi ro kinh doanh càng lớn, niềm tin của

các nhà đầu tư vào doanh nghiệp không cao, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn

từ bên ngoài thấp Vì vậy, giả thiết đặt ra là: “Cấu trúc tài chính có quan hệ tỉ lệ

nghịch với rủi ro kinh doanh.”

1.2.4 Cấu trúc tài sản

Cấu trúc tài s ản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỉ lệ TSCĐ trên tổng tài s ản

Về mặt lý thuyết, khi tỉ lệ tài sản cố định chiếm tỉ trọng lớn, doanh nghiệp có cơ hội

thế chấp các tài sản này để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài Tuy nhiên, Berger và

Urdell (1994) lại cho rằng doanh nghiệp có mối quan hệ thân thiết với các nhà tài trợ

vốn thì có thể vay mượn mà không cần phải cung cấp nhiều bằng chứng thế chấp

Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong điều kiện của Việt Nam Vì thế có thể giả

thiết là: “Cấu trúc tài chính có quan hệ tỉ lệ nghịch với cấu trúc tài sản.”

Trang 7

1.2.5 Tỷ suất lãi vay

Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Khánh Hóa khi thực hiện việc vay nợ,

doanh nghiệp quan tâm đến lãi suất vay nợ Khi lãi s uất vay nợ gia tăng thì khuynh

hướng sử dụng vốn vay nợ của các doanh nghiệp có chiều hướng giảm dần, tức là

làm hạn chế khả năng vay nợ của doanh nghiệp Từ đó chúng ta có giả thiết rằng:

“tỷ suất lãi vay có quan hệ ngược chiều với cấu trúc tài chính.”

1.2.6 Cơ hội tăng trưởng

Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Khánh hòa có tốc độ tăng trưởng càng

lớn có khuynh hướng sử dụng nợ cao hơn các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng

thấp Kết quả này phù hợp với thực tế hiện nay, khi mà các doanh nghiệp đứng trước

những cơ hội phát triển, hội nhập do xu hướng phát triển tích cực của nền kinh tế tạo

ra, sẽ thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn vốn vay nợ bên ngoài để đầu tư

khai thác cơ hội kinh doanh thuận lợi đó Trong trường hợp này, hiệu ứng đòn cân

nợ sẽ phát huy tác dụng tích cực làm tăng giá trị của doanh nghiệp Như vậy có thể

kết luận rằng: “Cơ hội tăng trưởng có quan hệ thuận chiều với cấu trúc tài

chính.”

1.3 Cấu trúc tài chính của một số quốc gia trên thế giới

Các quốc gia trên thế giới với hệ thống tài chính khá phức tạp về mặt cả về

mặt cấu trúc lẫn chức năng Với nhiều định chế khác nhau như: ngân hàng, công ty

bảo hiểm, quỹ tương hỗ, thị trường chứng khoán và trái phiếu v.v được chính phủ

điều tiết Hệ thống tài chính chuyển hàng tỷ đô la mỗi năm từ chủ thể tiết kiệm sang

chủ thể có cơ hội đầu tư Cấu trúc tài chính có thể được hiểu là cơ cấu của các kênh

trung chuyển vốn này, hay cũng có thể hiểu, đó là cơ cấu vốn trong các doanh

nghiệp Với tiếp cận đó, chúng ta cùng xét 4 nhóm chính trong cấu trúc vốn bên

ngoài của doanh nghiệp:

 Nợ ngân hàng chủ yếu gồm nợ từ các định chế nhận tiền gửi;

 Nợ phi ngân hàng chủ yếu gồm nợ từ các trung gian tài chính khác;

 Trái phiếu gồm các chứng khoán nợ dễ bán như trái phiếu doanh nghiệp và

thương phiếu

 Cổ phiểu gồm vốn chủ sở hữu mới phát hành (từ thị trường chứng khoán)

Trang 8

1.3.1 Các nước phát triển

Biểu đồ cấu trúc tài chính của các nước đang phát triển Căn cứ vào các biểu đồ sử dụng vốn bên ngoài của các nước Hoa Kỳ, Đức,

Nhật và Canada trong giai đoạn 1970-2000, có thể đưa ra một số nhận xét:

Cổ phiếu không phải là nguồn tài chính bên ngoài quan trọng nhất với

doanh nghiệp: giới truyền thông thường tập trung vào thị trường cổ phiếu Tuy

nhiên, thị trường cổ phiếu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong nguồn vốn bên ngoài với các

doanh nghiệp

Hoa Kỳ Đức Nhật Canada

Cổ phiếu 11% 8% 5% 12%

Trang 9

Phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải là nguồn tài trợ

chính cho hoạt động của doanh nghiệp: chứng khoán dễ bán, gồm cổ phiếu và trái

phiếu cung cấp ít hơn một nửa vốn bên ngoài để tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp

Việc phát hành chứng khoán không phải là nguồn tài chính quan trọng nhất Hai điều

này có thể được lý giải là do thông tin bất cân xứng – tình huống xảy ra đối với một

giao dịch, khi bên cầu vốn nắm rõ thông tin về mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lời của

dự án đầu tư hơn so với bên cung vốn, khiến cho bên cung vốn không sẵn lòng đầu

Hoa Kỳ Đức Nhật Canada

Chứng khoán 43% 15% 14% 27%

Tài chính gián tiếp - qua trung gian tài chính - quan trọng hơn tài chính trực

tiếp - doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp từ người cho vay trong thị trường tài

chính: từ năm 1970, chưa tới 5% trái phiếu doanh nghiệp và thương phiếu được phát

hành mới và ít hơn một phần ba cổ phiếu, được bán trực tiếp cho các hộ gia đình

Mỹ Phần còn lại được mua chủ yếu bởi các trung gian tài chính như công ty bảo

hiểm, quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ Những con số này cho thấy tài chính trực tiếp

chiếm chưa tới 10% trong nguồn tài trợ bên ngoài ở các doanh nghiệp Mỹ Ở các

quốc gia khác, chứng khoán là nguồn tài chính ít quan trọng hơn so với Mỹ, nên tài

chính trực tiếp còn kém quan trọng hơn tài chính gián tiếp nhiều

Trung gian tài chính 56% 86% 86% 74%

Các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng, là nguồn vốn bên ngoài quan

trọng nhất tài trợ cho các doanh nghiệp: nguồn vốn bên ngoài chủ yếu cho doanh

nghiệp bao gồm các khoản cho vay của ngân hàng và trung gian tài chính phi ngân

hàng như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, và các công ty tài chính Ở các nước công

nghiệp, các khoản vay ngân hàng là lớn nhất trong nguồn tài chính từ bên ngoài (hơn

70% ở Đức, Nhật Bản và hơn 50% ở Canada) Như vậy ngân hàng ở các nước này có

vai trò quan trọng nhất trong việc tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp (các nước mà

Trang 10

việc thu thập thông tin về các công ty tư nhân khó khăn, thì thị trường chứng khoán

ít có vai trò quan trọng hơn trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng)

Nợ ngân hàng 18% 76% 78% 56%

1.3.2 Các nước đang phát triển

Hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò chi phối trên thị trường tài chính Thị

trường cổ phiếu đã được chú ý phát triển trong thời gian gần đây, tuy nhiên, ở một

số nước, qui mô thị trường cổ phiếu vẫn rất hạn chế Mức độ vốn hoá trên thị trường

cổ phiếu (của các công ty niêm yết) ở Indonesia 2008 là 19,3%; Phillipin là 31%,

Thái lan là 37,7%, con số này ở Việt Nam năm 2008 là 10,6% GDP, năm 2009 là

38% Thêm vào đó là tính thiếu ổn định cả về qui mô và về chỉ số giá của các thị trường này, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng chưa phát

triển.

2 THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH

2.1 Khái niệm về thông tin bất cân xứng

Thông tin bất cân xứng là mức độ thông tin không phản ánh kịp thời, chính

xác, đầy đủ về thị trường và diễn biến của nó Theo nghĩa hẹp nó hàm ý có sự khác

biệt đáng kể về khối lượng và chất lượng thông tin đã được tích lũy đến thời điểm

xác định giữa các đối tượng liên quan (các đối tượng cùng giải quyết một vấn đề,

cùng tham gia một thị trường) Nghĩa là, một bên giao dịch có các thông tin liên

quan trong khi bên kia không có hoặc không có đầy đủ

Thông tin bất cân xứng xảy ra có thể do nguồn thông tin khác nhau, thời điểm

nhận tin khác nhau và trình độ nhận thức, ứng xử với thông tin khác nhau Nguyên

nhân là do những hạn chế của thị trường làm cho tốc độ truyền tin chậm, khả năng

tiếp nhận và xử lý thông tin kém Ngược lại, thông tin bất cân xứng là nguyên nhân

dẫn đến thị trường kém hiệu quả

Thông tin bất cân xứng vừa là khách quan vừa là chủ quan Tính khách quan là do

cấp độ hiệu quả của thị trường gây ra những hạn chế về truyền tải và cập nhật thông

tin vào trong giá cả Tính chủ quan là do sự thiếu nỗ lực cũng như chưa quan tâm

đầu tư tìm kiếm khai thác thông tin của các đối tượng là cá nhân, tổ chức, doanh

nghiệp tham gia thị trường

Trang 11

2.2 Hậu quả của thông tin bất cân xứng đến thị trường và cấu trúc tài chính

Sự bất cân xứng thông tin là nguyên nhân chính khiến thị trường hoạt động

không hiệu quả Khi đó một bên có đầy đủ thông tin trong khi một bên lại thiếu hụt

thông tin, do đó giá sẵn lòng mua sẽ không phản ánh đúng giá trị của đối tượng được

giao dịch

Hậu quả của nó là chỉ những hàng hóa kém phẩm chất là đươc bán ra trên thị

trường Tất nhiên một khi một bên đã nhận thấy đươc giá trị thật của hàng hóa thì

anh sẽ không mua nó, thị trường lao động trì trệ, vốn đổ vào những sản phẩm kém

hiệu quả

Sự hiện diện của vấn đề bất cân xứng thông tin khiến thị trường chứng khoán

như thị trường cổ phiếu và giấy tờ có giá hoạt động không hiệu quả trong việc

chuyển vốn từ người tiết kiệm đến người đi vay làm những doanh nghiệp làm ăn

hiệu quả không thể huy động đươc vốn đúng với giá trị thực của doanh nghiệp Một

thị trường mà mức độ bất cân xứng thông tin càng nghiêm trọng thì doanh nghiệp

càng khó huy động vốn từ thị trường chứng khoán

2.3 Chi Phí Giao Dịch và Cấu Trúc Tài Chính

2.3.1 Khái niệm chi phí giao dịch

Theo Ronald Coase - năm 1937 trong bài viết “Bản chất của doanh nghiệp,

ông đã cho rằng “… các lý thuyết kinh tế nhấn mạnh đến vai trò hiệu quả của cơ chế

thị trường cạnh tranh, nhưng tại sao quá nhiều hoạt động kinh tế lại diễn ra ngoài

phạm vi của hệ thống giá của thị trường…” Coase kết luận rằng: “Phải tồn tại một

chi phí trên thị trường mà chỉ có cơ cấu doanh nghiệp có thể thể tiết kiệm được”

Ngành Kinh tế học chi phí giao dịch cũng bắt đầu từ công trình này và một số bài

viết sau đó đã đưa ông đến giải thưởng Nobel năm 1991 về “khám phá và làm rõ tầm

quan trọng của chi phí giao dịch và quyền sở hữu trong các cấu trúc tổ chức và cách

vận hành của thị trường” Theo Oliver Eaton Williamson (University of California,

Berkeley), chi phí giao dịch bao gồm thời gian và chi phí đàm phán, soạn thảo, và

thực thi các giao dịch hay hợp đồng Chi phí này gia tăng khi đối tác trong giao dịch

hành động cơ hội, nghĩa là thu lợi cá nhân từ chi phí của người khác Vì vậy chi phí

giao dịch sẽ bao gồm hậu quả của những hành vi cơ hội, sự yếu kém của người ra

quyết định cũng như là chi phí ngăn ngừa hành vi này

Tóm lại, Chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến tiền và thời gian để thực

hiện giao dịch tài chính như là: chi phí nghiên cứu thị trường, hoa hồng cho người

môi giới, chi phí quản lý, chi phí thông tin… Thông thường, chi phí giao dịch xảy ra

trong điều kiện một khi giao kèo đã thực hiện, các đối tác phụ thuộc vào nhau, nỗ

Trang 12

lực các bên nhằm mang lại lợi ích cho chính mình, và không có khả năng lường

trước những ràng buộc hợp đồng hiệu quả để tính đến tất cả các tình huống bất

thường có thể xảy ra Mỗi giao dịch này cũng làm tăng chi phí như đàm phán thêm,

trì hoãn hoặc ngưng trệ sản xuất Từ đó, các nhà kinh tế học xem các chi phí tổ chức

và thực hiện các trao đổi là chi phí giao dịch

Ví dụ: Giả sử bạn có $ 5.000 bạn muốn đầu tư, và bạn nghĩ về việc đầu tư vào

thị trường chứng khoán Bởi vì bạn chỉ có $ 5,000, bạn có thể chỉ mua một số lượng

nhỏ cổ phiếu Thậm chí nếu bạn sử dụng giao dịch trực tuyến, số lượng cổ phiếu bạn

mua là quá nhỏ mà hoa hồng cho nhà môi giới chiếm một tỷ lệ lớn so với giá cổ

phiếu bạn mua Nếu thay vào đó bạn quyết định mua một trái phiếu, vấn đề thậm chí

còn tồi tệ hơn, vì mệnh giá nhỏ nhất đối với một số trái phiếu bạn có thể muốn mua

là lớn hơn $10.000, và bạn không có nhiều tiền để đầu tư Bạn đang thất vọng và

nhận ra bạn sẽ không thể sử dụng các thị trường tài chính để kiếm được lợi nhuận

Bạn có thể tự an ủi rằng bạn không phải người duy nhất bị cản trở bởi các chi phí

giao dịch cao Đây là một thực tế: Chỉ có khoảng một nửa số hộ gia đình Mỹ sở hữu

chứng khoán Bạn cũng phải đối mặt với một vấn đề khác vì chi phí giao dịch Bởi

vì bạn chỉ có một lượng nhỏ vốn có sẵn, bạn sẽ hạn chế số lượng các khoản đầu tư

bởi vì một số lượng lớn các giao dịch nhỏ sẽ dẫn đến chi phí giao dịch rất cao Nghĩa

là, bạn phải đặt tất cả trứng vào một giỏ, và không có khả năng đa dạng hóa đầu tư

làm bạn gặp rất nhiều rủi ro

2.3.2 Các hình thức của chi phí giao dịch:

Một cuộc trao đổi thông thường gồm có 3 bước:

- Bước 1: Phải tìm được đối tác trao đổi Hoặc tìm ai đó muốn mua những thứ

bạn muốn bán Hoặc bán những thứ bạn đang tìm mua

- Bước 2: Các đối tác trao đổi phải đi đến một thoả thuận Thoả thuận đạt

được thông qua những thương lượng thành công, có thể bao gồm cả việc soạn thảo

bản hợp đồng

- Bước 3: Thực thi thoả thuận đã được đặt ra Thực thi thoả thuận bao gồm cả

việc giám sát thực hiện của các bên và trừng phạt đối với vi phạm hợp đồng

Vì một cuộc trao đổi gồm có 3 bước nên có thể chia ba bước nói trên của một vụ trao

đổi là 3 hình thức chi phí giao dịch tương ứng:

 Chi phí tìm kiếm

 Chi phí mặc cả

 Chi phí thực thi

Trang 13

2.3.3 Các yếu tố đến giá chi phí giao dịch

Một cuộc trao đổi chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Những yếu tố này

quyết định chi phí của một cuộc trao đổi cao hay thấp

Một câu hỏi đặt ra là khi nào thì chi phí giao dịch cao và khi nào chi phí giao dịch

thấp?

Để kết luận được điều này thì phải xét vấn đề bằng cách xét ba thành phần chi

phí của một cuộc trao đổi:

- Xét chi phí tìm kiếm: Chi phí tìm kiếm có khuynh hướng cao đối với hàng

hoá hay dịch vụ độc đáo, và thấp đối với hàng hoá hay dịch vụ đã được chuẩn hoá

- Xét chi phí mặc cả:

Chi phí này thấp: đổi đơn giản, thông tin công khai

Chi phí này cao: cuộc trao đổi phức tạp, thông tin về các giá trị và giải pháp

có tính riêng tư Chi phí trao đổi thấp khi họ làm việc trực tiếp, ở gần nhau và ngược

lại Những trường hợp thoả thuận liên quan đến 3 bên hay nhiều hơn 3 bên thường

tốn kém hơn, đặc biệt khi họ ở xa nhau Cuối cùng, các bên muốn soạn thảo hợp

đồng, và điều này cũng tốn kém bởi vì nó phải dự kiến nhiều yếu tố bất ngờ có thể

phát sinh làm thay đổi giá trị trong thoả thuận

- Xét chi phí thực thi: Nó phát sinh khi một hợp đồng cần thời gian để hoàn

thành Một hợp đồng không cần thờigian để hoàn thành thì cũng không có chi phí

thực thi Thí dụ một cuộc trao đổi tức thì, trong đó tôi đưa cho bạn một đô la và bạn

trao cho tôi một quả dưa hấu Đối với nhữngvụ giao dịch phức tạp, thì việc giám sát

hành vi và trừng phạt những vi phạm hợp đồng đòi hỏi phải tốn kém Nói chung, chi

phí thực thi là thấp khi dễ nhận biết những vi phạm hợp đồng và ít tốn kém khi áp

dụng biện pháp trừng phạt

Chi phí giao dịch bao gồm thời gian và chi phí đàm phán, soạn thảo, và thực

thi các giao dịch hay hợp đồng Chi phí này gia tăng khi đối tác trong giao dịch

hành động cơ hội, nghĩa là thu lợi cá nhân từ chi phí của người khác Vì vậy chi phí

giao dịch sẽ bao gồm hậu quả của những hành vi cơ hội, sự yếu kém của người ra

quyết định cũng như là chi phí ngăn ngừa hành vi này Quá trình trao đổi thông

thường phát sinh chi phí, nhờ một người làm việc nhà cũng phát sinh nhiều chi phí

liên quan, từ việc hỏi thăm người quen, đăng báo hoặc đến các trung tâm giới thiệu

việc làm, các chi phí này trong một số trường hợp có thể bỏ qua, điều gì sẽ xảy ra

nếu như người làm này hành động cơ hội? Một số trường hợp khác các chi phí này

lại rất lớn, người ra quyết định sẽ phải thận trọng hơn Chi phí giao dịch lúc này

đóng vai trò như là một loại thuế cho giao dịch Phạm vi của các chi phí này bao

Trang 14

gồm tìm kiếm thông tin, đàm phán, giao kết và thực thi hợp đồng, kiểm soát thành

quả… các chi phí này không trực tiếp phát sinh trong quá trình sản xuất

Bảng 1 Tóm lược các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch

Chi phí tìm kiếm Hàng hóa, dịch vụ được

Không có điều xảy ra bất

Chi phí thực thi

Chi phí giám sát thấp Chi phí giám sát cao

Xử phạt ít tốn kém Xử phạt tốn kém

2.3.4 Vai trò của chi phí giao dịch với cấu trúc tài chính

Do chi phí giao dịch lớn nên nhiều người có số tiền nhỏ,mà số tiền nhỏ lại

mua được rất ít cổ phiếu đồng thời chi phí để có thể mua những cổ phiếu đó lại rất

lớn Hoặc do mệnh giá trái phiếu thường lớn nên với s ố tiền nhỏ không thể mua nổi

Nên những người có số tiền nhỏ không dám tham gia thị trường tài chính

Những người có tiền lớn muốn tham gia thi trường tài chính cũng gặp khó khăn vì

nếu danh mục đầu tư lớn thì sẽ làm chi phí giao dịch tăng lên Nên với s ố tiền không

đủ lớn thì sẽ có danh mục đầu tư hạn chế,điều này làm cho những nhà đầu tư nhỏ

phải đối diện với rủi ro thực sự

Trang 15

Chính vì thế vai trò của những trung tâm tài chính là tiết kiệm chi phí giao

dịch Các trung gian tài chính có thể giảm đáng kể chi phí giao dịch bởi vì họ đã

phát triển các hoạt động chuyên nghiệp để giảm thiểu chi phí

Với quy mô lớn, trung gian tài chính có thể sử dụng ưu thế tiết kiệm từ quy

mô – giảm chi phí giao dịch trên mỗi đồng tiền giao dịch do quy mô lớn của mỗi hợp

đồng Ví dụ, ngân hàng có đội ngũ chuyên gia của mình lập hợp đồng cho vay với

chi phí rẻ hơn

2.3.5 Các biện pháp giảm chi phí giao dịch

Các biện pháp được đưa ra bao gồm:

- Giảm thông tin bất cân xứng, cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư

- Thành lập các công ty tài chính

- Cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch cao

Trong đó có một số vấn đề cần phải giải quyết khi thực hiện các biện pháp này:

- Làm thế nào tổ chức trung gian tài chính giảm chi phí giao dịch? Do những

vấn đề gây ra bởi các chi phí giao khiến người tiết kiệm nhỏ bị cản trở tham gia thị

trường tài chính và không thể được hưởng lợi từ chúng May mắn thay, các trung

gian tài chính, một phần quan trọng của cấu trúc tài chính, đã phát triển để giảm chi

phí giao dịch và cho phép người tiết kiệm nhỏ và khách hàng vay để được hưởng lợi

từ sự tồn tại thị trường tài chính

- Lợi thế kinh tế theo quy mô: Một giải pháp cho vấn đề của chi phí giao dịch

cao là gộp các quỹ của nhiều nhà đầu tư với nhau để họ có thể tận dụng quy mô kinh

tế, giảm chi phí giao dịch cho mỗi đồng đô la đầu tư khi quy mô của giao dịch tăng

lên Gộp các quỹ của nhà đầu tư với nhau làm giảm chi phí giao dịch cho mỗi nhà

đầu tư cá nhân Quy mô kinh tế tồn tại bởi vì tổng chi phí thực hiện một giao dịch

trong thị trường tài chính tăng không đáng kể khi quy mô giao dịch tăng lên

Ví dụ, chi phí giao dịch mua 10,000 cổ phiếu cũng không lớn hơn nhiều so

với chi phí một giao dịch mua 50 cổ phiếu Sự hiện diện của lợi thế kinh tế theo quy

mô trong thị trường tài chính giúp giải thích lý do tại sao những trung gian tài chính

phát triển và đã trở thành một phần quan trọng của cấu trúc tài chính Ví dụ rõ ràng

nhất của một trung gian tài chính phát sinh vì lợi thế kinh tế theo quy mô là quỹ

tương hỗ Quỹ tương hỗ là một trung gian tài chính, bán cổ phần cho các cá nhân và

sau đó đầu tư tiền vào trái phiếu hoặc cổ phiếu Bởi vì nó mua khối lượng lớn cổ

phiếu, trái phiếu, một quỹ tương hỗ có thể tận dụng lợi thế chi phí giao dịch thấp

hơn Các khoản tiết kiệm chi phí sau đó được chuyển cho các nhà đầu tư cá nhân sau

khi các quỹ tương hỗ thực hiện cắt giảm chi phí quản lý để quản lý tài khoản của họ

Ngày đăng: 05/06/2014, 00:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Tóm lược các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch - tiểu luận: Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính
Bảng 1 Tóm lược các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí giao dịch (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w