Tiểu luận: Sự phân cấp tài khóa và quy mô chính phủ một nghiên cứu thực nghiệm tại quốc gia châu Âu
Trang 1Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang1
Tiểu luận
SỰ PHÂN CẤP TÀI KHÓA VÀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ
MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI QUỐC GIA CHÂU ÂU
(Fiscal Decentralization and the size of Government
A European country empirical analysis)
Trang 2Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang2
Một số lý thuyết khác về hành vi của chính phủ đề xuất t rong các t ài liệu tài chính công t húc đẩy giả thuyết cho rằng ph ân cấp tài khó a có thể hạn chế quy mô của kh u vực công Oat es (1972) lập luận rằng chính quyền địa phương có thông t in về sở thích của người dân tốt hơn so với chính phủ liên bang và trung ương, có nghĩa là ph ân cấp trong việc cung cấp hàng hóa công cho công chúng sẽ hiệu quả hơn cung cấp tập trung T uy nh iên, ông cũng lưu ý rằng trong khi hàng hóa công đáp ứng t ốt hơn
nh u cầu của người dân (phù hợp với T iebout19 56), tăng nhu cầu t rong nước đối với các dịch vụ công
có thể làm tăng quy mô của khu vực công (Oates1985) Trong việc giới thiệu giả thuyết Leviat han nổi tiếng của họ, Brennan và Buchanan (1980 , p.185) thừa nhận rằng "tổng can thiệp của chính phủ trong nền kinh tế nên nhỏ hơn, các yếu tố khác không đổi, thì mức độ mà các loại thuế và chi phí được phân cấp lớn hơn" Chính phủ diễn tả kh i tối đa ho á nguồn thu, các tác giả, và các tài liệu t iếp theo về sự lựa chọn công, cho rằng, miễn là căn cứ tính thuế linh động, ph ân cấp tài khóa các cấp chính quyền tham gia vào cạnh tranh về thuế, do đó hạn chế sự độc quyền của Leviat han về thuế T uy nhiên, mô hình cho thấy khi một số cấp chính quyền độc lập định ra mức t huế của họ, trên cơ sở thuế chung (ví dụ, chia sẻ cơ sở thuế), kết hợp (t ổng hợp) thuế suất cân bằng của hai cấp chính quyền để tối đa hó a nguồn thu sẽ cao hơn so với nguồn thu tối đa hóa tỷ lệ thuế của chính phủ duy nhất (Flowers1988; Shughart
và T ollison 1991 ; Keen 1995; Wrede1996; Keen và Kotsogiannis2004) T hật vậy, kh ông có sự đồng thuận lý thuyết về mối quan hệ giữa phân cấp t ài kh óa và quy mô của khu vực nhà nước t ừ những người đặt câu hỏi về mô hình Leviat han cũng phác thảo cho thấy phân cấp có t hể kh ông dẫn đến một
1 World Development Report on Entering the 21st Century qu oted by Ebel and Yilmaz (200 2, p 3)
Trang 3Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang3
kh u vực công gọn gàng hơn, đó là hiệu ứng fly-paper (giấy bẫy ruồi) nổi tiếng và vấn đề hàng hóa t iêu dùng chung (để xem chi t iết hơn,x xem Jin và Zou20 02 , t rang 273-274)
T heo nghiên cứu thực nghiệm Oates (1972 , 1985 ), nhiều tài liệu đã cố gắng để kiểm tra tác động của việc phân cấp trên quy mô của chính phủ T uy nhiên, kết quả là khôn g t huyết phục (xem Feld et
al 200 3, một tài liệu nghiên cứu đầy đủ) Kết quả của tài liệu này cho thấy quy mô của chính phủ thường được đánh giá trên khía cạnh nguồn thu thuế ho ặc chi tiêu chính phủ, trong khi hầu hết các chỉ
số ph ân cấp tài kh óa có nguồn gốc từ T hống kê T ài chính của Chính phủ (GFS) do Quỹ T iền t ệ quốc
tế (IMF), thì được xác định trên cơ sở một khía cạnh của phân cấp, có nghĩa là, các địa phương chia sẻ nguồn thu hoặc chi phí của chính phủ T uy nhiên, các chỉ số tài chính t hông t hường đánh giá quá cao mức độ ph ân cấp tài khó a ho ặc tự chủ tài chính t rong hầu hết các nước, nh ư vậy họ không có kiểm soát tài kh oản nắm giữ bởi chính quyền địa phương trên căn cứ tỷ lệ tính thuế (Stegarescu 2004) Phân cấp chi tiêu mà không giao quyền hạn về thu thuế địa phương tương ứng có t hể không tạo ra sự cạnh tranh thuế hạn chế hành vi của Leviat han Phân cấp tài khóa được t ài t rợ bởi nguồn chung, như là trợ cấp ho ặc chia sẻ nguồn thu được kiểm soát bởi T rung Ương (t ức là, sự mất cân bằng t heo chiều dọc),
có thể có ảnh hưởng ngược lại, bằng cách phá vỡ các liên kết giữa lợi ích được hưởng và các loại t huế
ph ải nộp Phân cấp có thể hạn chế hoặc tăng cường sự phát triển của chính phủ, tùy thuộc vào bản chất của việc ph ân cấp (Rodden 2003 ) Một vài t ài liệu dựa t rên t hông t in từ các nước OECD (200 1)-(Organizat ion of Economic Co-oporation and Development-T ổ chức hợp t ác và phát t riển kinh t ế), tính đến kiểm soát chính quyền địa phương trên căn cứ tính thuế ho ặc tỉ lệ trong các nước chuyển đổi Châu Âu (Ebel và Yilmaz 2002 ) và ở một số nước OECD (Rodden 2003 Meloche et al.2004) Nhiều nghiên cứu trong số những nghiên cứu này kết luận rằng quyền t ự chủ tài khóa dẫn đến các quốc gia
nh ỏ hơn trong kh i các kh oản trợ cấp có t ác động t ích cực đối với quy mô của khu vực công T uy
nh iên, Jin và Zou (200 2), trong một nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng t rên 32 quốc gia, cho thấy phân cấp tài khó a ảnh hưởng khác nhau đến quy mô của chính phủ, địa phương và cả hai
T heo tài liệu này, các bài báo hiện nay tập trung vào những ảnh hưởng của phân cấp t ài kh óa trên quy mô chính ph ủ sử dụng một dữ liệu bảng của các nước châu Âu Điều này tạo thành một đóng góp độc đáo cho sự hiểu biết về mối quan hệ giữa phân cấp t ài khóa và quy mô của chính phủ liên quan đến một số khía cạnh cụ thể T heo tác giả, đây là bài báo đầu tiên kết hợp chỉ báo của OECD phân cấp nguồn thu2 với thước đo của sự mất cân bằng theo chiều dọc, cho một mẫu gồm 15 quốc gia EU T ác giả sử dụng một mô hình dữ liệu bảng chịu t ác động về thời gian và không gian để đưa vào khoản chi tiêu chính phủ có thể thay đổi chậm theo thời gian và có t hể có một số mối t ương quan giữa chi t iêu
2
Tác giả sử dụng dữ li ệu của Stegarescu (2004) trong đó sử dụng các (1999) cách tiếp cận OECD tự chủ nguồn thu của chính quy ền địa phương Stegarescu mở rộng số lượng các quốc gia và mở rộng dữ li ệu để đạt được một bảng dữ liệu tập hợp đầy
đủ
Trang 4Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang4
công của các nước T ác giả ước tính cả các mối quan hệ dài hạn giữa phân cấp và chi tiêu công và một
mô hình sai số để phân biệt tác động ngắn hạn và dài hạn của phân cấp T heo tác giả, đây cũng là bài báo đầu tiên ph ân tích các tác động của ph ân cấp t rên t oàn bộ quy mô của chính phủ, quốc gia và địa
ph ương, bằng cách tách biệt các tác động dài hạn của việc phân cấp từ các động lực ngắn hạn Các đối
số liên quan phân cấp cho quy mô của chính phủ có t hể được hiểu t ốt nhất như đề cập đến điểm cân bằng dài hạn
Đầu tiên, tác giả xác nhận mức độ cao duy trì trong chi t iêu công ở các nước châu Âu Có sự tương tác về mức chi t iêu công giữa các cấp và chính phủ ở 15 quốc gia EU T ác giả cũng t hấy rằng
ph ân cấp ảnh hưởng đến toàn bộ, cả quy mô địa phương và chính phủ cũng như tác động của phân cấp trên quy mô của mỗi cấp chính quyền phụ thuộc vào bản chất của sự chuyển giao quyền lực Về lâu dài, chúng ta thấy rằng quyền tự chủ thuế của chính quyền địa phương tăng nhiều hơn thì tương ứng là việc giảm của chính phủ, dẫn đến chính phủ tổng hợp lớn hơn T ác giả cũng thấy rằng sự mất cân bằng theo chiều dọc có xu hướng làm tăng quy mô của các địa phương, chính phủ và t oàn bộ quốc gia Bài viết này được cấu trúc như sau Phần tiếp theo là tóm tắt các nghiên cứu t hực nghiệm T rong mục 3, tác giả trình bày các đặc điểm kỹ thuật t hực nghiệm và dữ liệu Các kết quả được t rình bày trong mục 4 và 5 Phần cuối cùng là kết luận
2 TỔ NG Q UAN C ÁC NGHIÊN C ỨU TRƯỚ C ĐÂY
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về ph ân quyền và quy mô chính phủ được kiểm định bởi Bren-Nan và giả thuyết Buchanan Leviat han (xem Feld et al 200 3, tóm tắt lý t huyết hoàn chỉnh)
T rong bài báo này, tác giả chỉ thảo luận các kiểm định về các cấp độ quốc gia Đầu t iên, Oat es (1972 ,t rang 20 9-213 ) đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm của giả thuyết phân cấp trên hơn 57 quốc gia Ông đã sử dụng tỷ trọng nguồn thu thuế trong t hu nhập quốc gia như đại diện cho quy mô của chính
ph ủ, trong kh i tỷ lệ nguồn thu thuế của chính phủ trung ương t rên t ổng nguồn t hu thuế được sử dụng
để đo lường quyền lực của CP trung ương Ông ta thu được một mối quan hệ tiêu cực giữa chỉ số
quyền lực của CP trung ương với quy mô chính phủ, nhưng kết quả dường như không có nhiều ý nghĩa kh i ôn g kiểm soát thu nhập Edhaie (1994) chỉ trích nghiên cứu của Oat es, cho rằng mối quan hệ giữa nguồn thu thuế và chi tiêu nên được xem xét đồng thời trong quá trình phân cấp Ông t hấy rằng, trong một mẫu của 30 quốc gia năm 1987 và 1977 , sự phân cấp đồng t hời của t huế Chính phủ và quyền hạn chi tiêu có xu hướng làm giảm quy mô ở khu vực công T hế nhưng, một số nghiên cứu t ìm thấy một tác động tích cực đáng kể về mặt t hống kê của quy mô chính phủ : nghiên cứu của Stein (199 9) cho 19 quốc gia châu Mỹ La tinh t ừ năm 1990 đến năm 1995, và Heil (1991) nghiên cứu 22 quốc gia OECD và 39 quốc gia của IMF
Trang 5Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang5
Một số nghiên cứu cho rằng ph ân cấp tài khóa có t hể hạn chế hoặc t ăng cường sự phát t riển của chính phủ, tùy thuộc vào loại ph ân cấp Phân cấp chi tiêu mà không đi kèm với sức mạnh thu thuế của địa phương sẽ kh ôn g tạo ra thuế cạnh tranh –kiềm chế hành vi của Leviathan Và phân cấp được t ài trợ bởi nguồn phổ biến, chẳng hạn như trợ cấp hoặc chia sẻ thu nhập được kiểm soát bởi t rung ương,
có thể có ảnh hưởng ngược lại bằng cách phá vỡ các liên kết giữa thuế phải nộp và lợi ích được huỏng Hơn nữa, theo mô hình Brennan và Leviathan Buchanan, hệ thống các khoản trợ cấp có t hể được hiểu
nh ư là một hình thức t hỏa t huận thôn g đồng giữa các chính quyền địa phương để ph á vỡ những t ác động hạn chế của phân cấp tài kh óa ( Feld et al 200 3) JinandZou(2002), dựa t rên IMF GFS (T hống
kê T ài chính Chính phủ ) dữ liệu của 17 nước công nghiệp và 15 nước đang phát triển, thấy rằng phân cấp chi tiêu và sự mất cân bằng t heo chiều dọc làm t ăng quy mô của t ổng khu vực công, trong khi nguồn thu từ phân cấp tạo ra kết quả ngược lại Họ cũng cho t hấy phân cấp t ài khóa có những ảnh hưởng kh ác nh au đối với quy mô của chính quyền địa phương, trung ương và toàn quốc gia Phân cấp nguồn thu được cho rằng để tăng quy mô ở chính quyền địa phương thì giảm ở chính quyền trung ương ít hơn, dẫn đến làm quy mô ở toàn quốc gia nhỏ hơn Ebel và Yilmaz (2002) và Fiva (2006) sử dụng chỉ số mới của phân cấp tài khó a dựa trên ph ân loại các nước OECD (1999), nó cung cấp t hêm thôn g tin về nguồn t hu thuế và về chia sẻ quyền lực, qua đó chính quyền địa phương có quyền kiểm soát đáng kể Ebel và Yilmaz (200 2) thấy rằng quyền t ự chủ thuế địa phương có t ác động t iêu cực đáng kể đến quy mô của khu vực công trong 10 quốc gia chuyển tiếp cho giai đoạn 1997-1999, t rong
kh i sử dụng dữ liệu trên 18 quốc gia OECD, Fiva (2006) cho thấy rằng quyền tự chủ thuế địa phương
là vấn đề cho cả quy mô tổng thể và thành phần của chi tiêu chính phủ Một mô hình ước tí nh sai số
EC M cho một dữ liệu bảng, được th iết lập từ 59 quốc gia từ năm 1978 và n ăm 199 7, Rodden (
20 03 ) thấy rằng phân cấp được đo lường bằng nguồn thu của địa phương, có tác động tiê u cực
đế n phát tri ển của ch ính phủ, trong khi phân cấp tài khóa được đo bằng ch uyển giao liên C hính phủ, thì có tương quan tí ch cực với sự tăng trưởng của khu vực cô ng Cuối cùng, Ashwort h et al
(200 8) sử dụng dữ liệu bảng để ph ân biệt những ảnh hưởng dài hạn và ngắn hạn của việc phân cấp Kết quả cho thấy sự gia t ăng số lượng nguồn t hu do chính phủ địa phương dẫn đến một sự sụp đổ dài hạn trong quy mô của Chính phủ (ví dụ , t ổng chi tiêu công), trong khi các kho ản t rợ cấp có t ác dụng ngược lại
3 PHƯƠ NG PHÁP NGHIÊN C ỨU
T rong bài báo này, tác giả kiểm tra xem phân cấp t ài khóa có ảnh hưởng đến quy mô của chính
ph ủ ở Các nước châu Âu Các đặc điểm chung của mô hình t hực nghiệm là:
Trang 6Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang6
Với i ∈ [1, 15] (nghiên cứu 15 nước) và t ∈ [1, 33] (t rong 33 năm), và GOVSIZE là biến phụ thuộc, quy mô chính phủ, DEC là những chỉ số phân cấp, X là một vect or của các biến kiểm soát, ηi là một nước ảnh hưởng ổn định, ηt là một hiệu ứng cố định t rong t hời gian t rước đó và ε là sai số
3.1 Q uy trì nh k inh tế lượng
T ừ khi tác giả muốn kiểm tra sự tồn tại của những tương t ác chi t iêu giữa các quốc gia châu Âu ở cấp độ bang và liên bang, chúng t a cần phải xem xét sự phụ thuộc không gian trong một dữ liệu bảng
T ác giả chọn hai hệ thống tỷ trọng: một hệ thống tỷ trọng phân chia dựa trên khoảng cách địa lý3 W Dist
và một hệ thống cung cấp tỷ trọng tương tự đến tất cả các nước (W NW) Tất cả các yếu tố trong ma t rận được chuẩn hóa để tổng các yếu tố trong mỗi hàng có tổng = 1 Nếu mỗi quốc gia phản ứng với sự lựa chọn chi tiêu của quốc gia khác, thì sau đó quyết định chi tiêu của nước láng giềng là nội sinh và tương quan với sai số ( ε )(->>tức là quyết định chi t iêu của nước láng giềng là biến nội sinh phụ thuộc vào quyết định chi tiêu của QG khác) T ác giả chọn sử dụng phương pháp tiếp cận các biến công cụ (
IV )4, đó là việc sử dụng trung bình có trọng số biến ngoại sinh của các nước láng giềng hoặc các biến kiểm soát,( WX ), như là những công cụ ( Kelejian và Robinson năm 1993; Kelejian và Prucha 1998) Hơn nữa, vì có sự tồn tại của những khoản chi tiêu, nó có thể thích hợp để ước t ính hệ thống GMM ( Veiga và Veiga 2007) (Biến nội sinh là biến phụ thuộc, biến ngoại sinh là biến độc lập)
Có hoặc không có sự phụ thuộc không gian, tác giả sử dụng các ước lượng hệ thống GMM được phát triển bởi Blundell và Bond ( 1998)5 T ính hợp lý của các công cụ được sử dụng t rong các ước lượng hồi quy là sử dụng hai số liệu t hống kê khác nhau T hử nghiệm Sargan ( hoặc t hử nghiệm hạn chế overident ifying) xem xét giả thuyết cho rằng các biến công cụ không liên quan đến một số thiết lập của phần dư Thứ hai, thử nghiệm được đề xuất bởi Arellano và Bond ( 1991) T hử nghiệm này xem xét các giả thuyết rằng các số dư t ừ phương t rình ước lượng sai phân đầu t iên không chịu tương quan bậc hai (second-oder correlat ed) Một N nhỏ ( như t rong t rường hợp của tác giả ) giới hạn số lượng các biến công cụ có thể được sử dụng cho các ước t ính, mà cũng có t hể có hậu quả cho các thuộc tính của các ước lượng T uy nhiên, Sot o (2007), phân tích hiệu suất của hệ thống GMM, khi số
5
Blu nd ell và trái phiếu (1998) cho thấy ước lượng GMM mở rộng của họ được ưa chuộng của Arellano và trái phiếu (1991) nếu biến phụ th uộc và / hoặc các bi ến độc lập được liên tục
Trang 7Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang7
lượng các đơn vị của bảng dữ liệu tiêu biểu là nhỏ, t hì sử dụng giả định Monte Carlo Ông t a chỉ ra rằng số lượng các đơn vị liên quan là nh ỏ thì ảnh hưởng khôn g quan t rọng đến đặc t ính phác t hảo trước đó trong hệ thống ước lượng GMM
Cuối cùng, cho bộ dữ liệu với một số lượng nhỏ các quan sát t rong bảng dữ liệu t iêu biểu khô ng
ph ụ thuộc vào vị trí địa lý, ước lượng Least square dummy variable correct ed (LSDVC) được phát triển bởi Kiviet (199 5), có thể được sử dụng kể từ khi nó sửa chữa cho vài kh uynh hướng và tương đối hiệu quả
Bước thứ 2, nếu nh ư chuỗi thời gian chi phối bảng dữ liệu t iêu biểu, tác giả cần t hực hiện t rên chuỗi dữ liệu gốc, kiểm tra phần nhập dữ liệu và ước lượng mô hình hiệu chình sai số (see Sect 15)
3.2 Dữ liệ u
T ác giả ước lượng mô hình (1) bằng cách sử dụng dữ liệu hàng năm của các nước t hành viên của liên minh Châu Âu, tác giả có bảng dữ liệu tiêu biểu của 15 nước thành viên t rong vòng 33 năm (197 2-20 04 ) Bảng 1 t óm tắt báo cáo t hống kê và nguồn dữ liệu trong bài nghiên cứu này
3.2.1 Q uy mô ch ính ph ủ
T ác giả ph ân tích 3 biến phụ thuộc khác nhau T rong khi, Fiva (2006) nghiên cứu về quy mô và thành phần của tổng chi tiêu chính phủ (khoản chi an sinh xã hội và t iêu dùng của chính phủ), tác giả điều tra nghiên cứu quy mô các khu vực công khác nhau của chính phủ Biến phụ thuộc đầu t iên là quy mô chi tiêu của chính ph ủ, là t ổng chi t iêu khu vực công( tính bằng % t rên GDP) Bởi vì tác giả muốn nghiên cứu sự ph ân cấp ảnh hưởng đến quy mô chính quyền địa phương và chính phủ trung ương như thế nào T ác giả sử dụng tổng chi tiêu công của chính quyền địa phương ( t ính bằng % trên GDP) và t ổng chi t iêu của chính phủ quốc gia ( tính bằng % t rên GDP)
Trang 8Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang8
Tất cả các bi ến đều tính % trên GDP ngoại trừ GDP bình qu ân đầu người và mật độ dân số Tổng các bi ến quan sát là
49 5 biến TDE C là thuế tự thu của chính qu yền địa phương trên tổng nguồn thu của chính phủ VI các kh oản chuy ển giao của li ên chí nh phủ cho chí nh quyền địa phươn g, AME CO cơ sở dữ li ệu kin h tế vĩ mô hàng năm của Ủy ban châu Âu,
3.2.2 Ph ân cấp tài k hóa
Rất khó để xác định và đo lường mức độ phân cấp vì bản thân khái niệm của nó rất rộng, và cũng phức tạp về các chỉ số định lượng và định tính (Ngân hàng T hế giới 2004) T hật vậy, phân cấp bao gồm các lĩnh vực như chính trị, hành chính và ngân sách T uy nhiên, các biện pháp thông t hường về mức độ phân cấp tài khóa được sử dụng t rong các tài liệu liên quan đến nguồn thu chính quyền địa phương (hoặc chi tiêu) để hợp nhất nguồn thu chung của Chính phủ (chi t iêu), như bắt nguồn từ IMF GFS T uy nhiên, các chỉ số tài khóa chung có xu hướng đánh giá quá cao mức độ phân cấp tài khóa, đặc biệt là ở các quốc gia liên bang so với các nước đơn nhất, vì họ không cung cấp bất kỳ thông tin về
tỷ lệ mà chính quyền địa phương có quyền kiểm soát đáng kể Do đó, họ xuyên tạc mức độ thực t ế của phân cấp tài khóa ở một số nước (như Áo và Đức) và ra sai lệch trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm (Stegarescu 2004) T heo nghiên cứu gần đây về chủ đề này, tác giả sử dụng hai chỉ số đại diện cho các khía cạnh khác nhau của phân cấp Để kiểm tra giả thuyết cho rằng quyền tự chủ tài khóa dẫn đến một quy mô nhà nước nhỏ hơn, đầu tiên tác giả sử dụng đo lường phân cấp nguồn thu dựa t rên một khung phân tích được cung cấp bởi các nước OECD (1999), trong đó phân loại thuế theo mức độ quyết định của địa phương T ác giả cũng bao gồm đo lường sự mất cân bằng theo chiều dọc, có nghĩa là, mức độ
mà chính quyền địa phương dựa vào thu ngân sách trung ương để hỗ trợ cho chi tiêu của họ Sự mất cân bằng theo chiều dọc (sự giảm chi t iêu ở cấp trung ương và tăng chi t iêu ở cấp địa phương) có khả
Trang 9Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang9
năng làm tăng kích thước của khu vực công khi trách nhiệm chi t iêu của chính quyền địa phương không phù hợp với sức mạnh tăng nguồn thu của họ
T ác giả sử dụng hai đo lường sau đây:
1 Một th ước đo về phân cấp ngu ồn th u (TDe c) giải t hích sự chủ động về thuế của chính quyền địa phương trong trường hợp chính quyền địa phương có quyền kiểm soát thuế trên tổng số hoặc một phần đáng kể Sau khi phân loại trong OECD (1999), đây là trường hợp nếu chính quyền địa phương xác định thuế suất và căn cứ tính t huế hoặc nếu chính quyền địa phương chỉ quyết định mức thuế suất hoặc nếu chính quyền địa phương chỉ xác định cơ sở thuế (xem ví dụ, Ebel và Yilmaz 2002; Stegarescu 2004) Lưu ý rằng chỉ số này không mở rộng phân tích cho tất cả các nguồn thu công nào,
bỏ qua, ví dụ như, nguồn thu không phải thuế, như phí sử dụng hoặc thặng dư hoạt động của các doanh nghiệp, và nguồn thu vốn mà cũng có t hể được phân loại như nguồn thu riêng
2 Mất cân bằng th eo chiều dọc (VI) được đo bằng chuyển giao liên chính phủ như một phần
của chi tiêu địa phương.6
Cũng lưu ý rằng hệ số tương quan đơn giản của hai chỉ số phân cấp là không đáng kể vì vậy chúng
ta có thể bao gồm chúng lại với nhau trong phương trình tính toán Phù hợp với Jin và Zou (2002), tác giả chọn không đưa các chỉ số phân cấp thuế và phân cấp chi tiêu cùng một lúc, bởi vì các chỉ số phân cấp chi tiêu chuẩn (tỷ lệ chi tiêu công địa phương trong tổng chi tiêu công) có liên quan với các chỉ số phân cấp khác
3.2.3 Biế n k iể m soát
T ác giả bao gồm trong mô hình một số biến kiểm soát, phản ánh tác động của sự khác biệt về các yếu t ố kinh tế và nhân khẩu học được nhóm trong vect or X trong (1) Sau khi nghiên cứu t hực nghiệm, tác giả nhận thấy một số biến giải thích có thể ảnh hưởng đến nhu cầu chi t iêu công Đầu t iên là GDP bình quân đầu người (GDPCAP) Biến nguồn lực kinh tế này có t hể được sử dụng như thước đo của
thu nhập quốc gia T ập dữ liệu thứ hai bao gồm các biến nhân khẩu-xã hội, chẳng hạn như tỷ lệ thất
6
Tuy nhiên , bi ện pháp này không phân bi ệt giữa đi ều kiện & mục đích chu yển giao chung Tài trợ mục đích chun g có thể được sử dụng như là nguồn thu riên g, nh ưng có thể được phân bổ dựa trên các tiêu chí khách quan ho ặc theo quyết định của chí nh quyền trung ươn g Các khoản tài trợ cụ thể, mặt khác, được sử dụng cho các mục đích chi tiêu nh ất định và có thể có
đi ều kiện qu a chí nh quyền địa phươn g
Trang 10Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang10
nghiệp (UNEMP), mật độ dân số (DENS), và tỷ lệ dân số ngoài 65 tuổi trong dân số (P P65) Các biến này có thể được coi là chỉ số về nhu cầu chi tiêu và có t hể biểu hiện một dấu hiệu t ích cực Các biến PP65 được thiết kế để nắm bắt được nhu cầu chính t rị cho các dịch vụ xã hội của các t hành viên lớn tuổi của công chúng Phân khúc này của dân số tạo t hành một nhóm lợi ích với quyền lực chính t rị ngày càng tăng, và PP65 là dự kiến sẽ tác động tích cực đến qui mô thực chính phủ
Sau Persson et al (2005), tác giả đã cố gắng bao gồm một số biến chính trị nh ư sự kiểm soát (định hướng chính trị, hệ thống đa nguyên, ph ân mảnh bên) Không có biến chính trị nào là quan t rọng T ác giả quyết định kh ông bao gồm chúng trong các hồi quy cơ sở để hạn chế số lượng biến dụng cụ Mức độ mà một nền kinh tế mở cửa cho thương mại nước ngoài (OPEN) có t hể sẽ có ảnh hưởng đến quy mô của chính phủ T ỷ lệ phần trăm của GDP trong thương mại nước ngoài càng lớn, thu nhập trong nước càng khô ng ổn định và không chắc chắn, và nhận thức về điều đó sự bất an lớn hơn dẫn đến sự ph ụ thuộc lớn của cộng đồng vào chính phủ, làm t ăng quy mô của chính phủ (Rodrik, 1998)
T ừ một quan điểm lựa chọn công truyền t hống, mở cửa gây nên cạnh t ranh nước ngoài và làm t ăng
kh ó kh ăn về kh ả năng của chính phủ đến thuế liên quan đến các nước láng giềng (Ferris và West
19 96 ) Điều này sau đó làm giảm đi chứ khô ng phải là làm t ăng tỷ lệ mà chính phủ có t hể mở rộng
T ác giả bao gồm một biến cho ph ần lực lượng lao động được tự làm việc (SELF) Vì nó có t hể dễ dàng hơn cho lực lượng lao động tự làm việc che giấu thu nhập (Kau và Rubin 1981), một phần lớn hơn của người lao động t ự do dự kiến sẽ tăng tương đối việc trốn thuế và có tác động tiêu cực đến quy
mô chính phủ (Backhaus& Wagner 20 04 )
Cuối cùng, để giải t hích các yếu tố được ph ổ biến đến tất cả các nước, chúng t a cần phải bao gồm thời gian danh nghĩa T uy nhiên, thời gian danh nghĩa khô ng thể được bao gồm trong các hồi quy năng động cùng với chi t iêu công trung bình khôn g tỷ trọng của các quốc gia cạnh t ranh (xem, ví dụ, các cuộc biểu tình của Devereux et al (2008, p 1224) Do đó tác giả sử dụng một xu hướng thời gian bậc hai Hệ số trên biến này cho t hấy một xu hướng phi tuyến tính trong các dữ liệu theo t hời gian
4 NỘ I DUNG VÀ C ÁC KẾT Q UẢ NGHIÊN C ỨU
4.1 Ảnh hưởng của phân cấp tài khóa lên ch i ti êu công
T ác giả điều tra mối liên hệ giữa phân cấp t ài khóa và ba loại quy mô chính phủ - toàn quốc gia, trung ương và địa phương T ác giả ước tính (1) có tính đến các giá trị trễ của biến phụ thuộc (β ≠0) và biến ph ụ thuộc trễ về kh ôn g gian trong dự toán chi t iêu công hợp nhất và quốc gia (α ≠ 0) Cột 1-6 trong Bảng 2 báo cáo kết quả ước lượng của mô hình năng động này cho mỗi cấp độ của chi tiêu chính
ph ủ (toàn quốc gia, trung ương và địa phương) T ác giả ước t ính ước lượng mở rộng GMM theo đề
Trang 11Phân cấp tài khóa và quy mô Chính phủ-Nhóm 8 Trang11
nghị của Blundell và Bond (1998 ) Giá trị xác suất cao tương ứng cho kiểm định của Sargan và Arellano-Bond kh ông tạo ra câu hỏi về tính hợp lệ cho các kết quả của bất kỳ hàm hồi quy Với Chi tiêu chính quyền địa phương (kh ông có các biến phụ thuộc khôn g gian), chúng ta có một mẫu nhỏ, nên Kiviet đề nghị dùng ph ương pháp LSDVC
Đầu tiên, nh ư Bảng 2 cho thấy, biến nội sinh trễ (GOVSIZEit -1) luôn luôn là quan t rọng và có dấu hiệu t ích cực trong tất cả các thôn g số kỹ thuật Kết quả này khẳng định cả hai đều thống nhất các đặc điểm kỹ thuật tự hồi quy trong công thức (1) và giả thuyết cho rằng chi tiêu chính phủ có t hể thay đổi một cách chậm chạp theo thời gian T ác giả cũng tìm thấy một hệ số tích cực và có ý nghĩa đáng kể gắn liền với bình quân gia quyền chi tiêu công của các quốc gia cạnh t ranh, sử dụng 2 hệ thống t ỷ trọng của tác giả Sự tồn t ại của chi t iêu phụ thuộc lẫn nhau là phù hợp với các kết quả trên chi t iêu công tổng hợp thu được bởi Redoano (200 7) dựa trên một bộ dữ liệu của 15 nước EU (cộng với T hụy
Sĩ và Na Uy) cho giai đoạn 19 70-1999 Một lời giải thích cho chi tiêu phụ thuộc lẫn nhau này có thể là
sự tồn tại của một xu hướng trí tuệ chung mà đưa đến chi t iêu công theo cùng một hướng Một sự giải thích khác có thể dựa trên tiêu chuẩn đánh giá sự cạnh t ranh giữa các chính phủ Chính phủ tính đến
nh ững sự lựa chọn chi t iêu của các nước láng giềng, được các cử tri biết đến nhiều nhất, và dễ dàng hơn so với các lựa chọn chi tiêu của mình Một lời giải thích thứ ba được đề xuất bởi Feld et al (200 3): các nước khô ng cạnh tranh t rực t iếp về chi t iêu công, nhưng sự cạnh t ranh thuế suất có t ác động đến nguồn thu t huế và trong chi t iêu công
Kết quả quan t rọng nhất trong bảng 2 là các ước lượng t ham số cho hai chỉ số phân cấp của tác giả T heo dự kiến, phân cấp nguồn thu có thể tăng qui mô của chính quyền địa phương và giảm qui mô của chính ph ủ trung ương T uy nh iên, qui mô của các chính ph ủ hợp nhất không t hu nhỏ: kết quả này cho thấy rằng ph ân cấp nguồn thu tăng kích t hước của chính quyền địa phương đến một mức độ lớn hơn là nó làm giảm qui mô của chính phủ trung ương
BẢNG 2