1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Thị trường mở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp

30 1,4K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế - Quản lý
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Thị trường mở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp

Trang 1

1 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ 4

1 Khái niệm và vai trò của nghiệp vụ thị trường mở 4

1.1 Khái niệm thị trường mở 4

1.2 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở 4

1.3 Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở 5

1.3.1 Tác động về mặt lượng (Tác động vào cơ số tiền tệ) 5

1.3.2 Tác động về mặt giá ( tác động về mặt lãi suất) 5

1.4 Vai trò thị trường mở 6

2 Hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 7

2.1 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 7

2.1.1 Các loại giao dịch của thị trường mở 7

2.1.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở (Theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở) 7

2.2 Hàng hóa trên thị trường mở 9

2.3 Những chủ thể tham gia thị trường mở 10

3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 11

3.1 Phạm vi thành viên tham gia 11

3.2 Phạm vi hàng hoá 11

3.3 Giá và lãi suất 11

3.4 Phương thức giao dịch 12

3.5 Trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ 12

3.6 Công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán 12

4 Những ưu điểm và hạn chế 13

Trang 2

2 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

4.1 Ưu điểm 13

4.2 Hạn chế 13

PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 14

1 Tình hình thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở giai đoạn từ năm 2008 đến nay 14

2 Phân tích mức độ hiệu quả của việc thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở 17

1.1 Tác động đến lạm phát 17

1.2 Tác động đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng 19

1.3 Tác động đến lãi suất thị trường 23

1.4 Cơ chế thực hiện nghiệp vụ 24

3 Nhận xét chung 26

PHẦN III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 26

1 Tăng thêm số lượng thành viên tham gia vào thị trường mở 26

2 Tăng hàng hóa cho nghiệp vụ thị trường mở cà về số lượng lẫn chất lượng 27

3 Đa dạng hóa các phương thức giao dịch 27

4 Củng cố và thúc đẩy các mảng thị trường khác phát triển để làm cơ sở cho hoạt động thị trường mở 27

5 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng kết hợp với nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng 28

PHẦN IV: KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 3

3 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GTCG: Giấy tờ có giá

CSTT: Chính sách tiền tệ

NHTW: Ngân hàng trung ương

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHNN: Ngân hàng nhà nước

TCTD: Tổ chức tín dụng

TTM: Thị trường mở

Trang 4

4 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ

1 Khái niệm và vai trò của nghiệp vụ thị trường mở

1.1 Khái niệm thị trường mở

Thị trường mở là thị trường giao dịch các loại chứng khoán ngắn hạn và dài hạn Tùy vào mỗi nước mà các loại chứng khoán được giao dịch khác nhau về loại hình và thời hạn, đồng thời việc quyết định chủ thể tham gia rộng hơn bao gồm các tổ chức tín dụng, Doanh nghiệp và cá nhân…Còn ở các nước nghiệp vụ thị trường mở còn chưa phát triển thì chỉ có nghiệp vụ thị trường mở và các tổ chức tín dụng khác tham gia (vi dụ ở Việt Nam) Tùy vào điều kiện của mỗi nước mà chính phủ sẽ quy định khác nhau về hàng hóa, chủ thể tham gia, quy chế hoạt động của thị trường mở

1.2 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở

Theo nghĩa gốc thì cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở” chỉ các hoạt động giao dịch chứng khoán của các NHTW trên thị trường mở Thông qua hành vi mua , bán chứng khoán này, NHTW có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống Ngân hàng và gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó mà có thể ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng thông qua tác động cả về mặt lượng và về mặt giá Về lý thuyết, các chứng khoán là đối tượng giao dịch của NHTW, có thể là chứng khoán chính phủ, các chứng khoán được phát hành bởi các doanh nghiệp hoặc Ngân hàng gồm cả chứng khoán ngắn hạn và dài hạn Các chủ thể trong giao dịch Nghiệp vụ thị trường mở có thể là Ngân hàng, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính khác

Về mặt thực tế, Nghiệp vụ thị trường mở là hành vi giao dịch của NHTW trên thị trường mở Xét về hình thức thì thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán nợ ngắn và dài hạn Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi và công cụ giao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường mở ở các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giao dịch trên thị trường

Chẳng hạn, thị trường mở của Nhật Bản chỉ bao gồm các chứng khoán nợ ngắn hạn và những người tham gia chỉ gồm các tổ chức tín dụng Như vậy, ở Nhật thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ Ngược lại ở Mỹ hoặc Đức cho phép giao dịch cả các chứng khoán dài hạn trên thị trường mở Xét theo thời hạn của chứng khoán nợ thì thị trường mở ở những nước này bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụ thị trường mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn với cụm từ

“Nghiệp vụ thị trường mở” Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối tượng và các chr thể giao dịch của NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở sẽ quyết định khái niệm cụ thể

về thị trường mở ở từng nước

Trang 5

5 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

1.3 Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở

1.3.1 Tác động về mặt lượng (Tác động vào cơ số tiền tệ)

Hành vi mua, bán các chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng ngay

lập tức đến tình trạng dự trữ của các Ngân hàng thương mại (NHTM) thông qua ảnh

hưởng đến tiền gửi của các Ngân hàng thương mại tại NHTW, và tiền gửi khách hàng tại

NHTM từ đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng cho vay của NHTM khi đó nó sẽ tác động đến hệ

số nhân tiền và sẽ tác động đến mức cung tiền Bằng việc bán các chứng khoán, NHTW

có thể giảm bớt đi một khối lượng tiền dự trữ tương ứng (với điều kiện các nhân tố khác

không đổi) dù người mua là NHTM hay khách hàng của nó, số tiền thanh toán cho lượng

chứng khoán này được ghi nợ vào tài khoản của Ngân hàng tại NHTW Trong trường

hợp người mua là khách hàng của NHTM thì số tiền mua chứng khoán sẽ giảm số dư tiền

gửi của khách hàng đó tại NHTM Sự giảm xuống của dự trữ sẽ làm giảm khả năng cho

vay của hệ thống Ngân hàng và vì thế giảm khối lượng tiền cung ứng Hành vi mua

chứng khoán của NHTW sẽ có tác động ngược lại

1.3.2 Tác động về mặt giá ( tác động về mặt lãi suất)

Hoạt động mua bán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi

suất thị trường thông qua hai con đường:

 Thứ nhất, khi dự trữ của các Ngân hàng bị ảnh hưởng nó tác động đến cung cầu

vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng Cung – cầu tiền thay đổi sẽ dẫn đến lãi

suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này thông qua dự đoán của

thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất sẽ truyền tác động của nó đến các mức

lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tổng cầu của nền kinh tế và tốc độ tăng

trưởng kinh tế sẽ được quyết định tại một mức lãi suất được thị trường xác định

 Thứ hai, việc mua chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung -cầu về

các chứng khoán đó trên thị trường mở và do đó tác động đến giá cả của nó Khi chứng

khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của nó cũng thay đổi Nếu đó là những chứng khoán có giá

chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại

đến lãi suất thị trường, tổng cầu AD và sản lượng Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ

làm dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và ảnh

hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và làm tăng lãi

suất thị trường Bên cạnh đó, khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc làm tăng cung

tín phiếu dẫn đến giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời

Trang 6

6 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

trên tín phiếu theo hướng tăng lên dẫn đế n sự dịch chuyển vốn đầu tư sang tín phiếu Để cân bằng lãi suất và hạn chế đầu tư, lãi suất thị trường tăng lên

Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán tín phiếu kho bạc:

1.4 Vai trò thị trường mở

 Tạo sự sôi động cho thị trường tài chính., phát triển thị trường tiền tệ Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mở ra một kênh dẫn truyền vốn mới cho các tổ chức tín dụng Với sự tham gia của NHTW, thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá trở nên sôi động hơn

 Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường

 Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở giúp NHTW chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ thông qua mức cung tiền Khi NHTW thực hiện mua bán CK trên thị trường

mở sẽ tác động đến cơ số tiền, từ đó làm thay đổi cung tiền OMO có tính 2 chiều, NHTW có thể bơm tiền hoặc rút tiền trong lưu thông

 Nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng để điều chỉnh vốn khả dụng của Ngân hàng NHTW mua làm tăng cơ số tiền , đồng thời làm tăng cung tiền và tăng dự trữ của

hệ thống NHTM và ngược lại

Trang 7

7 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

 Bên cạnh đó, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở còn giúp NHTW đánh tín hiệu ra thị trường về điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai, định hướng và chỉ đạo lãi suất thị trường, qua đó có thể hạn chế những biến động của lãi suất

2 Hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở

2.1 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở

2.1.1 Các loại giao dịch của thị trường mở

a Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn):

Theo phương thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch Do vậy tác động của giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn

b Giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn):

Là việc thực hiện mua bán các giấy tờ có giá theo kỳ hạn Lúc này, NHTW kí 2 hợp đồng: hợp đồng mua và hợp đồng bán có kỳ hạn hoặc hợp đồng bán và hợp đồng mua có

Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong TTM do các lý do:

i Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng

ii Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn

iii Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT không hoàn hảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục

iv Làm giảm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW

2.1.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở (Theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở)

Trang 8

8 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất Tại mỗi phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng một

phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất

a Đấu thầu khối lượng:

- Ngân hàng Nhà nước thông báo cho các tổ chức tín dụng mức lãi suất đấu thầu

- Ngân hàng Nhà nước quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng giấy tờ

có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán trước mỗi phiên đấu thầu

- Tổ chức tín dụng đăng ký dự thầu khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua hoặc bán theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước thông báo

- Trường hợp tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng bằng hoặc thấp hơn khối lượng Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu bằng khối lượng của các tổ chức tín dụng đặt thầu và khối lượng trúng thầu của từng tổ chức tín dụng là khối lượng dự thầu của tổ chức tín dụng đó

- Trường hợp tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng vượt quá khối lượng Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán thì khối lượng giấy tờ có giá trúng thầu bằng khối lượng Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và khối lượng trúng thầu của từng tổ chức tín dụng được phân bổ theo tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng và được tính đến đơn vị đồng

- Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu, tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng vượt quá khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán, thì khối lượng giấy tờ có giá trúng thầu của các tổ chức tín dụng tại mức lãi suất trúng thầu được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các tổ chức dụng tại mức lãi suất trúng thầu và được tính đến đơn vị đồng

b Đấu thầu lãi suất:

- Ngân hàng Nhà nước quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng giấy tờ

có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán trước mỗi phiên đấu thầu;

- Tổ chức tín dụng đăng ký dự thầu theo các mức lãi suất (tối đa là 5 mức lãi suất dự thầu trong một đơn dự thầu) và khối lượng giấy tờ có giá cần mua, cần bán tương ứng với các mức lãi suất đó Lãi suất dự thầu được tính theo tỷ lệ năm và được làm tròn đến 2 con số sau dấu phẩy;

- Các đơn dự thầu của các tổ chức tín dụng được xếp theo thứ tự lãi suất dự thầu giảm dần trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá, hoặc lãi suất dự thầu tăng dần trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá;

- Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu thấp nhất (trường hợp Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá) hoặc lãi suất dự thầu cao nhất (trường hợp Ngân hàng Nhà nước bán giấy

tờ có giá) trong phạm vi lãi suất chỉ đạo của Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở mà

Trang 9

9 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

tại mức lãi suất đó đạt được khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán;

- Khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng là khối lượng của các mức dự thầu có lãi suất bằng và cao hơn mức lãi suất trúng thầu (trường hợp Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá) hoặc có lãi suất dự thầu bằng và thấp hơn lãi suất trúng thầu (trường hợp Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá);

- Ngân hàng Nhà nước quyết định và thông báo việc áp dụng phương thức xét thầu theo mức lãi suất thống nhất hoặc lãi suất riêng l trong từng thời kỳ

2.2 Hàng hóa trên thị trường mở

Các loại giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở phải có đủ các điều kiện sau đây:

 Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở;

 Được phát hành bằng đồng Việt Nam;

 Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán;

 Giấy tờ có giá được mua hẳn hoặc bán hẳn có thời hạn còn lại tối đa là ngày.Danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ

Những loại hàng hóa chủ yếu bao gồm:

 Tín phiếu kho bạc

Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính.Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng Đây là loại hàng hoá chủ yếu của TTM ở hầu hết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii) Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp của NHTW với mức độ và quy mô khác nhau

 Tín phiếu NHTW

Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công cụ cho TTM Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng

 Trái phiếu Chính phủ - Chính quyền địa phương

Trang 10

10 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

Trái phiếu chính phủ là chứng khoán nợ dài hạn được Nhà nước phát hành nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách Mặc dù là chứng khoán dài hạn nhưng được sử dụng phổ biến trong nghiệp vụ thị trường mở vì tính an toàn, ổn định và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp đến giá cả trên thị trường tài chính

Tương tự trái phiếu CP nhưng trái phiếu của chính quyền địa phương khác về thời hạn

và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do các chính quyền địa

phương lớn phát hành

 Chứng chỉ tiền gửi

Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định Chứng chỉ tiền gửi được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn

Như vậy, hàng hóa trên thị trường mở ngày càng có xu hướng đa dạng hóa:

- Một là do cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng trở nên gay gắt, đặc biệt dưới ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa các hoạt động tài chính

- Hai là sự tiến bộ nhanh chóng của hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng

2.3 Những chủ thể tham gia thị trường mở

- Những chủ thể tham gia thị trường mở gồm có NHTW, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thuận mua vừa bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu

và các giấy tờ có giá khác

- NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại TTM và tần suất sử dụng TTM NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mục tiêu xác định của

là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ

Trang 11

11 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ

3.1 Phạm vi thành viên tham gia

- Thứ nhất, về lý thuyết, Ngân hàng trung ương muốn can thiệp trực tiếp vào lượng tiền cung ứng bao gồm cả tiền mặt và tiền gửi thì thành viên tham gia mua bán trong trường hợp này được mở rộng không những chỉ gồm tổ chức tín dụng mà còn cả các tổ chức khác, thậm chí có thể cả các cá nhân, miễn là họ có tiền mặt và tiền gửi

- Thứ hai, nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động theo hướng đa năng như hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì phạm vi thành viên tham gia

mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ

- Thứ ba, khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán Những cá nhân không có séc hoặc tiền trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng trung ương thì không thể tham gia mua bán được trên nghiệp vụ thị trường mở, nếu tổ chức tín dụng không có mạng kết nối với Ngân hàng trung ương trong điều kiện giao dịch trên mạng thì cũng không thể trở thành thành viên

3.2 Phạm vi hàng hoá

Mọi tài sản có thể mua hoặc bán trên thị trường vì chúng đều là những tài sản thế chấp Nhưng tài sản thế chấp nghiệp vụ thị trường mở phải là tài sản có khả năng thanh khoản cao, đảm bảo quản lý dễ dàng, đồng thời đáp ứng yêu cầu điều hành nghiệp vụ này nhanh nhạy, chính xác và đạt được ý mong muốn, đó chính là các giấy tờ có giá Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: Các công cụ được sử dụng để giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở hiện nay là các tín phiếu kho bạc nhà nước, tín phiếu ngân hàng nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác

3.3 Giá và lãi suất

- Giá và lãi suất bao gồm giá mua, giá bán trên nghiệp vụ thị trường mở, các căn cứ để xác định giá, quan hệ giữa giá và lãi suất, phương thức đấu thầu

- Giá và lãi suất là hai đại lượng ngược chiều nhau Khi mua giấy tờ có giá, người mua cần mua với loại có giá thấp, tức lãi suất cao, còn khi bán thì người bán muốn bán với giá cao, tức lãi suất thấp

- Giá của giấy tờ có giá hay lãi suất giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường nói chung Vì vậy, lãi suất cũng là một mục tiêu mà Ngân hàng trung ương cần quan tâm khi quyết định phương thức đấu thầu trên nghiệp vụ thị trường mở

Trang 12

12 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

- Đấu thầu lãi suất hay đấu thầu khối lượng trên nghiệp vụ thị trường mở tùy vào mục tiêu của Ngân hàng trung ương Lãi suất chỉ đạo đối với đấu thầu khối lượng và lãi suất trúng thầu đối với đấu thầu lãi suất là cơ sở để tính giá của giấy tờ có giá

- Khi dự báo cho thấy vốn khả dụng thay đổi thất thường do nhiều nguyên nhân như: thời

vụ, thiên tai hoặc dự đoán tình hình khó chính xác…Để hạn chế các sai sót trong việc cung ứng tiền, phương thức giao dịch sẽ là phương thức mua, bán có kỳ hạn gọi là hợp đồng mua lại

3.5 Trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương là người đề ra và vận hành chính sách tiền tệ Để kiểm soát được lượng cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, Ngân hàng trung ương không những chỉ sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở mà còn sử dụng tổng hợp các công cụ khác của chính sách tiền tệ như: tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng, tỷ giá hối đoái Trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo sự linh hoạt, hài hòa, chủ động trong việc sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất

3.6 Công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán

Việc kết nối theo một chương trình phần mềm hiện đại trong nội bộ Ngân hàng trung ương, giữa trưởng ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở, các ủy viên và người trực tiếp điều hành sàn giao dịch, giữa Ngân hàng trung ương với các ngân hàng thành viên, đảm bảo thực hiện các công đoạn giao dịch từ khi công nhận thành viên, đăng ký chữ ký điện

tử, thông báo mời thầu, đăng ký giấy tờ có giá, tạo lập và ký hợp đồng mua lại, đến khâu thanh toán chuyển tiền và làm các loại thông báo, báo cáo… được thuận tiện Có thể nói việc hiện đại hóa hệ thống thanh tóan và mạng lưới thông tin trong ngành ngân hàng không những giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện và phát triển nghiệp vụ thị trường mở thành công

Trang 13

13 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

4 Những ưu điểm và hạn chế

4.1 Ưu điểm

- Ngân hàng trung ương có thể hoàn toàn chủ động kiểm soát được khối lượng giao dịch trong khi điều này không thể có ở các công cụ khác Ví dụ, trong nghiệp vụ chiết khấu, Ngân hàng trung ương có thể sử dụng lãi suất chiết khấu để điều tiết và khuyến khích các ngân hàng thương mại vay vốn nhưng trên thực tế Ngân hàng trung ương chỉ thông báo

lãi suất chiết khấu mà không kiểm soát trực tiếp khối lượng cho vay chiết khấu

- Nghiệp vụ thị trường mở có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào Khi có yêu cầu thay đổi

về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức nhỏ thế nào thì nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứng khoán Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ quy mô lớn, Ngân hàng trung ương cũng có đủ khả năng thực hiện được thông qua việc mua hoặc bán một khối lượng lớn tương ứng các

chứng khoán

- Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều Nếu Ngân hàng trung ương có mắc phải sai sót nào đó trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, thì có thể ngay lập tức sửa chữa sai sót đó Ví dụ, khi Ngân hàng trung ương nhận thấy lãi suất trên thị trường tiền tệ (lái suất ngắn hạn) hiện đang quá thấp do vừa qua Ngân hàng trung ương đã thực hiện mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa nó bằng cách bán

ngay các giấy tờ có giá cho các ngân hàng

- Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao Giao dịch trên thị trường mở hầu như không gặp rủi ro, xét trên góc độ của các Ngân hàng trung ương lẫn các Ngân hàng thương mại bởi vì, cơ sở đảm bảo cho các giao dịch thị trường mở đều là những giấy tờ

có giá, có tính thanh khoản cao, không có rủi ro tài chính

- Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng, không vấp phải sự chậm trễ của các thủ tục hành chính Khi Ngân hàng trung ương quyết định muốn thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, Ngân hàng trung ương chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán (trên thị trường tiền tệ) và sau đó việc mua bán sẽ được thực hiện ngay

4.2 Hạn chế

- Khả năng phát huy hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở không chỉ phụ thuộc vào Ngân hàng trung ương mà còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và các quyết định của các ngân hàng thương mại Do đó để công cụ này phát huy hiệu quả thì quốc gia đó phải có thị trường tài chính phát triển, hàng hóa của thị trường (các giấy tờ có giá ngắn hạn) phải phong phú và đa dạng

Trang 14

14 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

- Ngân hàng trung ương phải có khả năng dự báo được vốn khả dụng của toàn hệ thống

để can thiệp mua bán, có như vậy việc can thiệp mới có ý nghĩa lớn trong việc tác động đến lượng tiền trung ương

- Khi Ngân hàng trung ương mua bán làm tác động đến lượng tiền trung ương, từ đó sẽ ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Để tránh ảnh hưởng này thì Ngân hàng trung ương phải có các giải pháp xử lý phù hợp, đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải nhạy cảm và linh hoạt trong việc phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ

 Tại các nước phát triển, nghiệp vụ thị trường mở được giao dịch hàng ngày Đó là nơi để các Ngân hàng thương mại tìm kiếm nguồn vốn bổ sung cho việc thiếu hụt khả năng thanh toán, Ngân hàng thương mại có thể đem bán lại các giấy tờ có giá mà mình sở hữu hoặc vay có thế chấp các giấy tờ có giá đó đối với Ngân hàng trung ương Thị trường

mở cũng là nơi các Ngân hàng thương mại có thể đầu tư vốn tạm thời tồn đọng của mình Khi Ngân hàng thương mại tạm thời có khoản vốn ngắn hạn chưa cho vay khách hàng được, Ngân hàng thương mại có thể mua các giấy tờ có giá đó do Ngân hàng trung ương bán ra Đó là một hành động đầu tư với một khoản lợi nhuận chắc chắn Thông qua các hoạt động mua và bán ở thị trường mở, Ngân hàng trung ương điều hành việc cung ứng tiền và lãi suất ngắn hạn

PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

1 Tình hình thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, từ năm 2 3, Sở Giao dịch đã được Thống đốc NHNN giao Chủ đầu tư Dự án “Trang thiết bị máy móc, nối mạng và thiết kế phần mềm nghiệp vụ thị trường tiền tệ và lưu ký GTCG tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước - Giai đoạn I” do Quỹ Hỗ trợ Pháp và Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ (gọi tắt là Dự án AFD)

Đến tháng 11 2 7, chương trình chính thức được đưa vào sử dụng, cho phép các giao dịch thị trường tiền tệ nói chung và các giao dịch nghiệp vụ TTM nói riêng được kết nối trực tiếp giữa NHNN và các thành viên, nhanh chóng và hiệu quả, tạo điều kiện cho NHNN thực hiện nghiệp vụ TTM một cách kịp thời, thể hiện ở kết quả hoạt động trong 5 năm qua, từ năm 2 8 đến 2012

Trang 15

15 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết

Năm 2008: nghiệp vụ TTM được điều hành khá linh hoạt, kết hợp với các công cụ

CSTT khác để điều tiết vốn khả dụng cho các TCTD ở mức hợp lí, góp phần ổn định thị trường tiền tệ Các nghiệp vụ TTM được thực hiện hàng ngày, chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu khối lượng, công bố lãi suất nhằm ổn định thị trường

Trong 7 tháng đầu năm, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN kỳ hạn 182

và 364 ngày, với lãi suất phổ biến tương ứng lần lượt là 7,5 năm và 7,75 năm Đồng thời, để hỗ trợ vốn ngắn hạn cho các TCTD, NHNN đã thực hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn ngắn (7, 14, 21 và 28 ngày); khối lượng chào mua hàng ngày được xác định dựa trên nhu cầu vốn thanh toán và tình hình thị trường tiền tệ

Từ tháng 8 2 8, trước tín hiệu khả quan về kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới lỏng CSTT để thúc đẩy phát triển sản xuất NHNN tiếp tục thự hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá kỳ hạn 7 – 14 ngày với khối lượng và lãi suất phù hợp với các loại lãi suất thời điểm đó

Về hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc: cả năm có 31 đợt đấu thầu tín phiếu được tổ chức Giá trị trúng thầu là 20.730 tỷ đồng, đạt 78% khối lượng chào thầu

và gần gấn đôi giá trị trúng thầu năm 2 7 Lãi suất trúng thầu giảm mạnh từ 15,7% xuống 8,38%

Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN năm 2008

Năm 2009: nghiệp vụ TTM được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu

vốn của các TCTD Các giao dịch nghiệp vụthịtrường mở được thực hiện hàng ngày, chủyếu là các giao dịch mua giấy tờcó giá với kỳhạn ngắn (7, 14 ngày)

Ngày đăng: 04/06/2014, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w