1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở việt nam

39 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Kỹ thuật Quân sự
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo học tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 73,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chơng I Những vấn đề lý luận chung (1)
    • 1. Khái niệm (1)
    • 2. Đặc điểm (1)
    • 3. Các hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài (2)
      • 3.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (2)
      • 3.2. Doanh nghiệp liên doanh (2)
      • 3.3. Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài (3)
    • 4. Vai trò đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (4)
      • 4.1. Vai trò nớc đi đầu t (4)
      • 4.2. Vai trò nớc nhận đầu t (4)
        • 4.2.1. Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng (4)
        • 4.2.2. Chuyển giao công nghệ (5)
        • 4.2.3. Thúc đẩy tăng trởng kinh tế (5)
        • 4.2.4. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (5)
    • 1. Tính tất yếu khách quan của đầu t trực tiếp nớc ngoài (6)
    • 2. Các nhân tố ảnh hởng tới khả năng thu hút FDI (8)
      • 2.1. Chính sách của các quốc gia (8)
      • 2.2. Sự thích nghi của sản phẩm và công nghệ của chủ đầu t đối với thị trờng nội địa (10)
      • 2.3. Khả năng của công ty khi đầu t (11)
      • 2.4. Sức hấp dẫn của thị trờng nớc tiếp nhận đầu t (11)
  • Chơng II Thực trạng của thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam (0)
    • 1. Khái niệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá (13)
    • 2. Vài nét về sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam (14)
    • 1. Tình hình thu hút vốn FDI theo các hình thức đầu t (18)
    • 2. Tình hình thu hút vốn FDI theo các ngành, lĩnh vực (20)
    • 3. Tình hình thu hút vốn FDI theo các vùng lãnh thổ (22)
    • 1. Những kết quả đạt đợc (25)
    • 2. Những tồn tại và nguyên nhân.............................................................34 Chơng III - Một số giải pháp nhằm tăng cờng thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam. 36 (29)

Nội dung

Những vấn đề lý luận chung

Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức di chuyển vốn quốc tế, trong đó nhà đầu tư không chỉ sở hữu vốn mà còn trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn đó.

Quá trình đầu tư trực tiếp yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và chi nhánh ở nước ngoài, với quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ đóng góp của các bên Nếu doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, quyền quản lý sẽ hoàn toàn thuộc về chủ đầu tư nước ngoài, trong khi việc phân chia lợi nhuận và rủi ro sẽ dựa trên tỷ lệ đóng góp của mỗi bên.

Quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài thường liên quan đến việc chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ và các bản quyền khác, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư Đồng thời, nó cũng có tác động đáng kể đến quốc gia đầu tư.

Đặc điểm

Các nhà đầu tư nước ngoài cần phải đóng góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, theo quy định của luật đầu tư nước ngoài Tại Việt Nam, trong trường hợp liên doanh, tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài phải đạt ít nhất 30% vốn pháp định.

Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của các bên Trong doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh, quyền quản lý được xác định dựa trên tỷ lệ vốn góp Đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài sẽ có toàn quyền quản lý doanh nghiệp.

Ba là, lợi nhuận của nhà đầu t nớc ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và đợc phân chia theo tỷ lệ góp vốn.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được thực hiện bằng cách thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp hiện có, hoặc thông qua việc sát nhập các doanh nghiệp.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ liên quan đến việc di chuyển vốn mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả nhà đầu tư và bên nhận đầu tư Vốn FDI không chỉ là vốn ban đầu của nhà đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, mà còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án, cũng như vốn được trích từ lợi nhuận trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Sáu là, đầu t trực tiếp nớc ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.

Bên cạnh những đặc điểm trên, FDI còn có một số đặc điểm cơ bản sau:

FDI thường không bị ảnh hưởng nhiều bởi chính phủ, vì nó được thực hiện bởi các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp tư nhân Điều này có nghĩa là FDI ít phụ thuộc vào mối quan hệ giữa quốc gia của nhà đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư, so với các hình thức di chuyển vốn quốc tế khác.

FDI cung cấp nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà, giúp bổ sung đáng kể cho vốn đầu tư mà không lo ngại về việc phải trả nợ Với tính chất lâu dài, FDI khó có thể rút ra trong thời gian ngắn, mang lại sự ổn định cho nền kinh tế địa phương.

Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn liên quan chặt chẽ đến chủ đầu tư, trong đó quyền lợi và nghĩa vụ của họ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn Thành viên hội đồng quản trị và việc điều hành, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh cũng được xác định dựa trên tỷ lệ này, đảm bảo rằng lợi ích của chủ đầu tư gắn liền với lợi nhuận từ khoản đầu tư của họ.

Các hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài

3.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp tác kinh doanh dựa trên hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư cho phép các bên xác định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh mà không cần thành lập pháp nhân mới, nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Nội dung chính của hợp đồng, hợp tác kinh doanh là:

- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh.

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh.

- Đóng góp của các bên hợp doanh, việc phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng.

- Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nớc.

- Thời hạn thực hiện của hợp đồng.

- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh.

- Sửa đổi và chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhợng.

Hợp đồng này có hiệu lực ngay khi được Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép Trong quá trình kinh doanh, các bên hợp doanh sẽ thành lập ban điều phối để giám sát việc thực hiện hợp đồng, tuy nhiên, ban này không có tư cách đại diện pháp lý cho các bên Mỗi bên hợp doanh phải tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình trước pháp luật, và các nghĩa vụ như nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ tài chính khác của các bên là khác nhau.

Bên nước ngoài phải tuân theo luật đầu tư nước ngoài, trong khi bên Việt Nam phải tuân theo luật doanh nghiệp Việt Nam Trong quá trình hợp tác, các bên có quyền chuyển nhượng vốn, nhưng ưu tiên phải được dành cho đối tác đang hợp tác.

Doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam được hình thành dựa trên hợp đồng liên doanh giữa các bên Việt Nam và nước ngoài, nhằm mục đích đầu tư và kinh doanh trong nước.

Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam, được hình thành từ sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều bên, hoặc thông qua thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài.

Doanh nghiệp liên doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính, được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Vốn pháp định và vốn hợp đồng được đóng góp dựa trên thỏa thuận giữa các bên, do đó quyền lợi và trách nhiệm sẽ được phân chia theo tỷ lệ vốn góp Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bên liên doanh nước ngoài phải có mức đóng góp tối thiểu là 30% tổng vốn hợp đồng của doanh nghiệp.

Bên Việt Nam có thể góp vốn thông qua quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, tài nguyên, tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ, thiết bị máy móc, và nhà xưởng.

Bên liên doanh, có thể góp bằng tiền, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao

Hội đồng quản trị là cơ quan cao nhất của doanh nghiệp liên doanh, có quyền quyết định nguyên tắc và kế hoạch hoạt động Vai trò của nó tương tự như một cơ quan luật pháp, ban hành các định hướng cho doanh nghiệp Dưới hội đồng quản trị là ban điều hành, thực hiện các điều lệ và kế hoạch đã được phê duyệt Ban giám đốc chịu trách nhiệm và nghĩa vụ trước hội đồng quản trị cũng như pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là loại hình doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, hoàn toàn thuộc sở hữu của họ Những doanh nghiệp này tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có thể được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó phần vốn góp có thể đến từ một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài mà không cần sự hợp tác với bên Việt Nam.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, và là một pháp nhân chịu sự quản lý của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phải ưu tiên sử dụng lao động Việt Nam và nguyên, nhiên vật liệu trong nước Nếu trong nước không đáp ứng được nhu cầu, doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo bổ sung trong tương lai.

Ba hình thức chủ yếu của hợp đồng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các loại hình như BOT, BTO, BT Những hình thức này đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.

Vai trò đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4.1 Vai trò nớc đi đầu t.

Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ, đồng thời khai thác tài nguyên của nước nhận đầu tư Điều này cũng giúp các nước xuất khẩu vốn cải thiện khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế bằng cách giảm chi phí sản xuất.

Hiện nay, việc áp dụng hàng rào thuế quan và phi thuế quan để bảo vệ thị trường nội địa đã khiến đầu tư trực tiếp trở thành một phương thức hiệu quả cho các nước xuất khẩu Đầu tư trực tiếp giúp các quốc gia này thâm nhập vào thị trường nước nhận đầu tư, điều mà các biện pháp khác không thể thực hiện được.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ đi kèm với việc chuyển giao công nghệ mà còn giúp các nước xuất khẩu đầu tư cung cấp công nghệ "lỗi thời" cho các nước nhận, kéo dài vòng đời công nghệ Mặc dù FDI mang lại nhiều lợi ích cho nước xuất khẩu vốn, nhưng cũng có những tác động tiêu cực, như việc di chuyển vốn ra khỏi biên giới để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn trong nước, gây ảnh hưởng đến các nhà đầu tư.

Việc "quên" nghĩa vụ đầu tư trong nước có thể dẫn đến sự phát triển nguồn vốn và kinh tế bị ảnh hưởng Thêm vào đó, hiện tượng "chảy máu chất xám" có thể xảy ra khi đầu tư ở nước ngoài mang lại lợi ích cao hơn, khiến nhiều công trình nghiên cứu không được thực hiện trong nước Mặc dù đầu tư trực tiếp ở nước ngoài có thể mang lại lợi nhuận cao, nhưng mức độ rủi ro cũng không hề thấp Nếu tình hình chính trị tại nước sở tại không ổn định, như lật đổ chính trị hay thay đổi chính sách, nước xuất khẩu đầu tư có thể mất hoàn toàn vốn.

4.2 Vai trò nớc nhận đầu t.

4.2.1 Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng

Vốn đầu tư phát triển kinh tế bao gồm cả vốn trong nước và vốn ngoài nước Đối với các nước lạc hậu, nơi sản xuất còn ở trình độ thấp và nguồn vốn tích lũy trong nước hạn chế, vốn đầu tư trong nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển Mặc dù có nhiều tiềm năng về lao động và tài nguyên thiên nhiên, nhưng do cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, các nước này chưa thể khai thác hiệu quả Trong nhiều nước đang phát triển, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế, và một số nước thậm chí hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế.

Khi đầu tư vào một nước, nhà đầu tư không chỉ chuyển vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu (công nghệ cứng) cùng với vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuật, tri thức khoa học, bí quyết quản lý và năng lực tiếp cận thị trường (công nghệ mềm) Qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra nhanh chóng và thuận lợi cho cả nhà đầu tư và bên nhận đầu tư.

4.2.3 Thúc đẩy tăng tr ởng kinh tế

Các nước đang phát triển đang tận dụng vốn và kỹ thuật từ nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhằm thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói Thực tiễn cho thấy, những quốc gia áp dụng chiến lược kinh tế mở cửa và biết khai thác các yếu tố bên ngoài sẽ đạt được tăng trưởng kinh tế cao.

Xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển, có thể nhận thấy rằng mức tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với khối lượng vốn đầu tư nước ngoài được huy động và sử dụng.

2, sự tăng trởng kinh tế gắn liền với mức tăng trởng xuất khẩu.

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chứng minh vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước công nghiệp mới (NICs) Đầu tư này không chỉ là tiền đề mà còn là chỗ dựa vững chắc để khai thác tiềm năng to lớn trong nước, từ đó phát triển nền kinh tế một cách bền vững.

4.2.4 Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia tích cực vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nớc trên thế giới, đòi hỏi các quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nớc cho phù hợp sự phân công lao động quốc tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài. Ngợc lại thì chính đầu t trực tiếp nớc ngoài lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bởi vì: 1, Thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở nớc nhận đầu t.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, từ đó tăng năng suất lao động và tỷ trọng của các ngành này trong nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những ngành được phát triển nhờ đầu tư này, cũng có nhiều ngành khác có nguy cơ bị mai một và có thể dẫn đến việc bị xoá sổ.

Ngoài những tác động trên đây, đầu t trực tiếp nớc ngoài còn có một số tác động khác nh sau:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế và thu từ cho thuê đất Ngoài ra, nó cũng cải thiện cán cân thanh toán quốc tế cho các quốc gia nhận đầu tư, vì nhiều dự án đầu tư này tập trung vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu Sự đóng góp của vốn nước ngoài vào phát triển xuất khẩu là rất lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển.

II/ Thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.

Tính tất yếu khách quan của đầu t trực tiếp nớc ngoài

Trong lịch sử thế giới, đầu tư nước ngoài đã xuất hiện từ thời kỳ tiền tản Các công ty Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực này, đầu tư vốn vào các nước Châu Á để khai thác đồn điền Bên cạnh đó, ngành khai thác khoáng sản cũng phát triển nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc.

Vào thế kỷ XIX, sự tích tụ và tập trung vốn mạnh mẽ đã giúp các nước công nghiệp phát triển tích lũy khối lượng tài sản khổng lồ, tạo tiền đề cho việc xuất khẩu vốn Theo Lênin trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”, xuất khẩu đã trở thành đặc trưng cơ bản của sự phát triển kinh tế trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Khi quá trình tích tụ đạt đến một mức độ nhất định, nhu cầu đầu tư ra nước ngoài xuất hiện, hình thành quy mô sản xuất quốc tế Khi nền kinh tế các nước công nghiệp phát triển, đầu tư trong nước không còn mang lại lợi nhuận cao, buộc các nhà tư bản phải tìm kiếm cơ hội đầu tư ở các nước kém phát triển hơn, nơi có chi phí sản xuất thấp hơn Vào đầu thế kỷ XX, lợi nhuận từ đầu tư nước ngoài ước tính khoảng 5% mỗi năm, cao hơn so với đầu tư trong nước, nhờ vào giá đất đai thấp, tiền công rẻ và nguồn nguyên liệu dồi dào Điều này không chỉ giúp các công ty lớn thu được lợi nhuận cao mà còn củng cố vị thế độc quyền của họ.

Theo Lênin, "xuất khẩu tư bản" là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản, cho phép các nước tư bản thực hiện việc bóc lột các nước lạc hậu, thường là thuộc địa của họ.

Lênin đã nhấn mạnh rằng trong việc thực hiện “chính sách kinh tế mới”, những người Cộng sản cần phải biết tận dụng các thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của Chủ nghĩa.

T bản thông qua hình thức “t bản nhà nớc” Theo quan điểm này nhiều nớc đã

Chấp nhận một phần sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản có thể giúp phát triển kinh tế nhanh hơn so với việc tự thân vận động hoặc vay vốn để mua công nghệ từ các nước phát triển Mức độ bóc lột của các nước tư bản phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và chính trị của quốc gia tiếp nhận đầu tư Trước đây, các nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ, nhưng hiện nay, các quốc gia tiếp nhận đầu tư đã trở thành các quốc gia độc lập, và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo pháp luật và quản lý của chính phủ sở tại cùng với thông lệ quốc tế Nếu các chính phủ sở tại quản lý vĩ mô hiệu quả, họ có thể hạn chế thiệt hại từ hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Để thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các quốc gia nhận đầu tư cần đáp ứng các điều kiện tối thiểu như cơ sở hạ tầng phát triển và các ngành dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất và đời sống Do đó, các nước phát triển thường ưu tiên đầu tư vào những quốc gia có nền kinh tế tương đối phát triển Ngược lại, khi đầu tư vào các quốc gia kém phát triển, các nhà đầu tư cũng phải dành một phần vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các dịch vụ cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất và cải thiện đời sống cho người nước ngoài sinh sống và làm việc tại đó.

Sau mỗi chu kỳ kinh tế, các nước công nghiệp phát triển thường rơi vào suy thoái, đòi hỏi phải đổi mới tài sản cố định để vượt qua khủng hoảng và phát triển Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép chuyển giao máy móc, thiết bị cũ sang các nước kém phát triển, giúp thu hồi một phần giá trị để bù đắp chi phí mua sắm mới Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã rút ngắn các chu kỳ kinh tế, làm cho nhu cầu đổi mới máy móc, thiết bị trở nên cấp bách hơn Hiện nay, các trung tâm kỹ thuật tiên tiến cần có thị trường tiêu thụ công nghệ loại hai để đảm bảo việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ liên tục.

Nguyên tắc lợi thế so sánh giúp các nhà đầu tư nước ngoài tận dụng ưu thế của từng quốc gia, mang lại lợi ích cho cả bên đầu tư và bên tiếp nhận Các công ty có lợi thế kỹ thuật có thể so sánh hiệu quả với các công ty con ở những vị trí khác nhau nhờ vào việc khai thác tối đa nguồn lực và cơ hội tại từng thị trường.

8 bản chuyển dịch cũng nh chuyển giao công nghệ sản xuất của nớc ngoài tới những nơi mà giá thành thấp.

Xu thế quốc tế hoá trong đời sống kinh tế xã hội đang gia tăng, dẫn đến sự hoà nhập của các quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu Chính sách biệt lập không còn khả thi vì nó cản trở sự phát triển xã hội Với những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, con người trên toàn thế giới ngày càng gần gũi hơn, buộc các quốc gia phải mở cửa Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một trong những hình thức kinh doanh quốc tế hiệu quả nhất hiện nay và đang trở nên phổ biến như một phương thức phát triển.

Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành phương thức huy động vốn hiệu quả nhất cho các quốc gia và vùng lãnh thổ, đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngân sách FDI giúp bù đắp thiếu hụt về vốn, công nghệ và lao động giữa các nước phát triển và đang phát triển Các nước đang phát triển có thể khai thác tiềm năng của mình tốt hơn nhờ vào nguồn vốn và công nghệ từ nước ngoài thông qua các hình thức như liên doanh và hợp tác đầu tư Đồng thời, các nước phát triển cũng thu được lợi nhuận cao hơn khi đầu tư vào những nơi có chi phí thấp Hơn nữa, FDI còn cải thiện mối quan hệ chính trị, thương mại, môi trường và văn hóa xã hội giữa các quốc gia, tạo ra tiếng nói chung giữa các cộng đồng Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Các nhân tố ảnh hởng tới khả năng thu hút FDI

Hiện nay, thị trường đầu tư quốc tế đang chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà đầu tư lớn và các quốc gia tiếp nhận đầu tư Dòng vốn đầu tư quốc tế chảy vào một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

2.1 Chính sách của các quốc gia. Đầu t quốc tế nói riêng và kinh doanh quốc tế nói chung có liên quan tới nhiều quốc gia tham gia vào quá trình di chuyển vốn quốc tế.

Chính sách của nước xuất khẩu vốn ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Để thúc đẩy xuất khẩu vốn, quốc gia cần tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn ra khỏi nước Quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và GDP trên đầu người lớn thường có xu hướng tích lũy vốn, dẫn đến việc chính phủ ban hành chính sách khuyến khích xuất khẩu vốn nhằm gia tăng thu nhập Ngược lại, nếu chính phủ ưu tiên thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sẽ có ít chính sách khuyến khích xuất khẩu vốn hơn Cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa cũng thúc đẩy chính phủ áp dụng chính sách khuyến khích xuất khẩu vốn để giảm bớt áp lực cạnh tranh Hơn nữa, chính sách xuất khẩu vốn còn phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị và ngoại giao với các quốc gia nhập khẩu Ví dụ, Nhật Bản đã có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ và khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Nhật Bản duy trì quan hệ ngoại giao thân thiện với các nước Đông Á và Đông Nam Á, nhờ vào sự tương đồng về văn hóa Điều này đã dẫn đến việc dòng vốn đầu tư của Nhật Bản vào các quốc gia này chiếm tỷ trọng lớn.

Chính sách của quốc gia nhập khẩu vốn có ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm các chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp, quản lý ngoại tệ, quy định kế toán và chính sách thương mại Chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, trong khi chính sách không hợp lý sẽ tạo ra rào cản lớn Quản lý ngoại tệ theo nguyên tắc thả nổi có thể khiến nhà đầu tư cảm thấy lo ngại, trong khi quản lý có điều tiết hoặc cố định sẽ tạo tâm lý yên tâm hơn Chính sách thương mại liên quan đến xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến các dự án FDI, với hạn ngạch xuất khẩu thấp và rào cản thương mại gây khó khăn cho hoạt động của các dự án này Ngoài ra, chính sách thuế và các chính sách vĩ mô khác cũng tác động đến dòng vốn FDI Do đó, cần có sự kết hợp hài hòa giữa các hoạt động quản lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút FDI, và gần đây, nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi thuận lợi.

Để thu hút FDI, Việt Nam cần cải thiện các chính sách thuế, quản lý hành chính, thương mại và quản lý ngoại hối Tuy nhiên, hiện tại, một số chính sách quản lý và điều tiết thị trường đang gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài Đặc biệt, quy định về chương trình nội địa hóa đối với các dự án công nghiệp nặng vẫn chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư từ nước ngoài.

Chính sách của các quốc gia trong việc di chuyển vốn quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn vào và ra của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Bên cạnh đó, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay, chính sách của các tổ chức, liên minh và liên kết cũng có tác động đáng kể đến hoạt động FDI.

2.2 Sự thích nghi của sản phẩm và công nghệ của chủ đầu t đối với thị trờng nội địa.

Mỗi quốc gia đều có sự khác biệt về văn hóa, kinh tế và khoa học công nghệ, dẫn đến nhu cầu sản phẩm khác nhau Sự khác biệt này ảnh hưởng đến chiến lược marketing của các doanh nghiệp quốc tế khi thâm nhập thị trường nước ngoài Họ có thể áp dụng hai chiến lược chính: chiến lược thích nghi hóa hoặc chiến lược tiêu chuẩn hóa sản phẩm Việc lựa chọn chiến lược phù hợp phụ thuộc vào từng thị trường, sản phẩm và khả năng của doanh nghiệp.

Khi đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nhà đầu tư cần nghiên cứu sự phù hợp của sản phẩm và công nghệ với thị trường địa phương Sự chuyển giao công nghệ là yếu tố quan trọng, và công nghệ phù hợp sẽ giúp các dự án đạt hiệu quả mong muốn Công nghệ cần tương thích với trình độ sản xuất tại nước sở tại, khai thác lợi thế thị trường và đáp ứng yêu cầu địa phương Một công nghệ hiện đại nhưng không phù hợp với thị trường nội địa sẽ không mang lại hiệu quả Sự phù hợp của sản phẩm và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào quốc gia Tại Việt Nam, hoạt động đầu tư gắn liền với chuyển giao công nghệ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Công nghệ từ những năm 60, 70 đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động, nhưng quá trình thẩm định công nghệ không tương xứng dẫn đến việc nhập khẩu công nghệ lạc hậu Các dự án FDI chủ yếu xuất khẩu sản phẩm nhờ giá lao động rẻ, nhưng để tiêu thụ trên thị trường nội địa, các nhà đầu tư cần thích nghi sản phẩm của mình.

2.3 Khả năng của công ty khi đầu t.

Để tham gia kinh doanh quốc tế hiệu quả, các công ty cần thực hiện phân tích kỹ lưỡng cả môi trường bên ngoài và bên trong Phân tích môi trường bên ngoài giúp xác định cơ hội và thách thức trong thị trường quốc tế, trong khi phân tích môi trường bên trong cho thấy điểm mạnh và điểm yếu của công ty Từ đó, doanh nghiệp có thể quyết định chiến lược kinh doanh và phương thức thâm nhập thị trường một cách hợp lý, tận dụng cơ hội và giảm thiểu thách thức.

Để đánh giá khả năng của công ty trong việc đầu tư ra nước ngoài, cần xem xét các yếu tố như nguồn lực, kinh nghiệm quản lý và các chức năng tác nghiệp Nguồn lực của công ty, bao gồm vốn và công nghệ, đóng vai trò quan trọng; một công ty có nguồn lực dồi dào và công nghệ đổi mới sẽ có lợi thế lớn trong việc mở rộng ra thị trường quốc tế Kinh nghiệm quản lý cũng là yếu tố quyết định, giúp công ty thích ứng với những thay đổi trong môi trường kinh doanh Các chức năng tác nghiệp như quản lý, marketing, quản trị nhân lực và kế toán tài chính sẽ hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của công ty trên thị trường địa phương, từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Khả năng của công ty sẽ xác định vị thế dẫn đầu của nó trên thị trường và quyết định lĩnh vực đầu tư nào mang lại lợi nhuận tối ưu dựa trên nguồn lực hiện có.

2.4 Sức hấp dẫn của thị trờng nớc tiếp nhận đầu t.

Một trong những mục đích chính của các nhà đầu tư khi đầu tư vào một quốc gia là khai thác lợi thế so sánh của thị trường nội địa Mỗi quốc gia có sức hấp dẫn khác nhau đối với các nhà đầu tư nước ngoài Thị trường hấp dẫn sẽ thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Khi phân tích sức hấp dẫn của thị trường địa phương, các nhà đầu tư thường chú ý đến nhiều yếu tố quan trọng.

Quy mô, cấu trúc và giới hạn của thị trường là những yếu tố quan trọng quyết định thành công của dự án FDI Quy mô thị trường ảnh hưởng đến lượng hàng hóa tiêu thụ và lợi nhuận dự kiến, trong khi cấu trúc thị trường xác định loại sản phẩm và phân khúc thị trường tiềm năng Hơn nữa, giới hạn của thị trường giúp nhà đầu tư xác định vị trí tối ưu cho dự án của mình Một thị trường rộng lớn sẽ mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển và lợi nhuận.

1 2 cấu trúc đa dạng, giới hạn lớn cho việc mở rông đầu t sẽ có sức cuốn hút lớn đối với các chủ đầu t nớc ngoài.

Luật pháp của nước sở tại và các rào cản thâm nhập thị trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc biệt là đầu tư trực tiếp Môi trường pháp lý quy định các lĩnh vực, hình thức và thời hạn đầu tư, yêu cầu các nhà đầu tư phải điều chỉnh dự án của mình theo các quy định bắt buộc Một môi trường pháp lý thuận lợi sẽ khuyến khích dòng vốn FDI, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia thị trường Tuy nhiên, các rào cản thâm nhập cũng là yếu tố quyết định khi các nhà đầu tư xem xét cơ hội đầu tư Một thị trường có tiềm năng lớn nhưng rào cản cao có thể dẫn đến lợi nhuận thấp, không hấp dẫn bằng thị trường có tiềm năng kém hơn nhưng rào cản thấp hơn.

Thực trạng của thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

Khái niệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trong lịch sử phát triển toàn cầu, quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HDH) của các quốc gia diễn ra vào những thời điểm và hoàn cảnh lịch sử, cũng như điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Vì vậy, quan niệm về CNH đã thay đổi theo từng giai đoạn, phản ánh tình hình và trình độ phát triển kinh tế xã hội của thời kỳ đó.

CNH là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp với năng suất và tăng trưởng thấp sang nền kinh tế công nghiệp có năng suất và tăng trưởng cao.

Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, quan niệm về công nghiệp hóa (CNH) đã có những thay đổi đáng kể CNH hiện nay được hiểu là quá trình mở rộng tiến bộ kỹ thuật, thay thế các phương pháp sản xuất thủ công trong hàng hóa và dịch vụ Khái niệm này nhấn mạnh vai trò quan trọng của tiến bộ khoa học và công nghệ trong việc nâng cao năng suất lao động.

UNIDO hiện nay định nghĩa CNH là quá trình phát triển kinh tế sử dụng nguồn lực quốc gia để xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành với công nghệ hiện đại Cơ cấu kinh tế này đặc trưng bởi tỷ trọng ngành công nghiệp chế tạo ngày càng gia tăng, đáp ứng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tiêu dùng, đồng thời đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và tiến bộ xã hội cho đất nước.

Quá trình công nghiệp hóa (CNH) hiện nay nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ Hầu hết các quốc gia đang thực hiện CNH đều sử dụng thuật ngữ hiện đại hóa (HĐH) để mô tả quá trình này, trong đó Trung Quốc thường xuyên áp dụng thuật ngữ HĐH để chỉ giai đoạn CNH hiện tại.

Nhìn chung, có thể hiểu, trước hết, CNH là một giai đoạn tất yếu trong

Quá trình công nghiệp hóa (CNH) là một cuộc cách mạng về kinh tế - kỹ thuật, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động xã hội, đặc biệt trong ngành công nghiệp chế tạo Điều này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng mà còn làm thay đổi cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công nghiệp chế biến ngày càng cao CNH cũng thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sản xuất phù hợp với phương thức sản xuất công nghiệp, đồng thời chuyển biến hệ thống thể chế kinh tế dựa trên sự phân công lao động xã hội và quốc tế Tuy nhiên, quá trình này cũng gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường và văn hóa xã hội.

Đảng ta định nghĩa công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội Quá trình này chuyển từ việc sử dụng chủ yếu sức lao động thủ công sang việc áp dụng rộng rãi công nghệ, phương tiện và phương pháp hiện đại Điều này dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta cần kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp hoá và hiện đại hoá để phát triển bền vững Điều này không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn yêu cầu chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo công nghệ hiện đại Quá trình này bao gồm các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, đồng thời kết hợp giữa thủ công truyền thống và công nghệ hiện đại, nhằm nhanh chóng tiến vào hiện đại ở những khâu quan trọng.

Vài nét về sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam

*Tạo vốn cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá.

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cần thiết để phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi một lượng vốn lớn Việt Nam chủ yếu phát triển các ngành nông lâm ngư nghiệp và công nghiệp nhẹ, dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao và tích lũy vốn trong nước rất hạn chế Để đáp ứng nhu cầu vốn cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Việt Nam cần huy động nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài.

Nguồn vốn trong nước bao gồm nhân lực, tài sản cố định, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều loại vốn vô hình, hữu hình khác Đây là nguồn lực chủ yếu, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đòi hỏi các giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả.

Nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung sự thiếu hụt vốn trong nước, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá với xuất phát điểm thấp Tình trạng thiếu vốn cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá là rất nghiêm trọng, do tích luỹ trong nước còn nhỏ Nguồn vốn bên ngoài được thu hút qua nhiều hình thức như viện trợ nước ngoài, vốn vay ngắn hạn và dài hạn với lãi suất khác nhau, cũng như vốn đầu tư nước ngoài và các hoạt động sản xuất kinh doanh, liên doanh, liên kết.

Đào tạo nguồn nhân lực về kỹ thuật, khoa học và quản lý là yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế Để thành công trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Việt Nam cần một đội ngũ nhân lực không chỉ đông đảo mà còn có chất lượng cao, với trình độ chuyên môn và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của khoa học công nghệ hiện đại Đầu tư cho giáo dục và đào tạo cần được coi là quốc sách hàng đầu, với kế hoạch và quy hoạch rõ ràng nhằm đảm bảo sự phát triển hợp lý về cơ cấu, tốc độ và quy mô nguồn nhân lực trong từng giai đoạn.

Để đạt được công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, cần phải sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy khả năng và sự sáng tạo của từng cá nhân Điều này sẽ giúp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, từ đó đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa quốc gia.

* Xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ theo yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Khoa học và công nghệ đang phát triển nhanh chóng, trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu Chúng không chỉ là nền tảng quan trọng mà còn là động lực chính cho sự phát triển kinh tế của xã hội.

Khoa học công nghệ là động lực chính cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế Tiềm lực khoa học công nghệ phản ánh trí tuệ và sự sáng tạo của toàn dân tộc.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển, do đó, tiềm lực khoa học công nghệ còn hạn chế Để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ nhanh, cần xây dựng một tiềm lực khoa học công nghệ phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn trong quá trình này.

*Xây dựng một hệ thống hạ tầng kĩ thuật đồng bộ và tiên tiến.

Hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế quốc dân Một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và tiên tiến sẽ nâng cao hiệu quả và giảm chi phí trong các hoạt động kinh tế, từ đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật nhà nước đóng vai trò quan trọng, do đó cần có chính sách ưu tiên đầu tư và khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các hình thức đầu tư như FDI thông qua BOT, BTO, BT và nguồn ODA từ các tổ chức quốc tế cần được khai thác để phát triển hạ tầng cơ sở.

*Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên phong phú Do đó, việc khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên này là cần thiết để tối đa hóa lợi ích kinh tế, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

*Mở rộng quan hệ đối ngoại.

Xu thế toàn cầu hoá mang lại cơ hội phát triển kinh tế cho các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển Để thúc đẩy kinh tế, các quốc gia này không thể chỉ dựa vào nguồn lực nội địa mà cần khai thác nguồn lực từ nước ngoài Lịch sử đã chỉ ra rằng những nước phát triển thường có ngoại thương mạnh mẽ và thiết lập quan hệ hợp tác với các quốc gia khác, trong khi những nước tự cô lập sẽ dẫn đến sự tụt hậu.

Việt Nam cần mở rộng quan hệ đối ngoại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển công nghệ và nâng cao trình độ quản lý Điều này sẽ góp phần tăng cường xuất khẩu và là yếu tố quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

Để biến khả năng thành hiện thực, cần có đường lối kinh tế đối ngoại đúng đắn, đạt hiệu quả cao, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc, hướng tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.

Hệ thống pháp luật chi phối mọi hoạt động trong xã hội, bao gồm cả hoạt động kinh tế Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Để đạt được điều này, pháp luật cần phải đồng bộ, hợp lý và thống nhất với luật pháp quốc tế, đồng thời vừa thông thoáng vừa chặt chẽ, cho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động kinh tế mà pháp luật không cấm.

1 8 tạo ra sự ổn định về kinh tế, tăng cường lòng tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Tình hình thu hút vốn FDI theo các hình thức đầu t

Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu diễn ra qua hai hình thức: 100% vốn nước ngoài và liên doanh Trong đó, hình thức liên doanh chiếm 22,01% tổng số dự án và 37,6% tổng vốn đăng ký.

Tính đến nay, cả nước có 1.327 dự án với tổng vốn đầu tư lên tới 19,18 tỷ USD Trong đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm 74,69% số dự án và 51,04% tổng vốn đăng ký, tương ứng với 4.504 dự án và 26,04 tỷ USD Số liệu này được thể hiện rõ qua bảng thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988 đến 2005.

(tính tới ngày 31/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực) cơ cấu đầu t trực tiếp nớc ngoài theo htđt 1988-2005

(tính tới ngày 30/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Hình thức đầu t Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện

Hợp đồng hợp tác kinh doanh 3.05% 8.17% 15.82% 21.63%

Công ty quản lý vốn 0.02% 0.11% 0.24% 0.02%

Nguồn: Cục Đầu t nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t

Hình thức đầu t Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện

100% vốn nớc ngoài 4,504 26,041,421,663 11,121,222,138 9,884,072,976 Liên doanh 1,327 19,180,914,141 7,425,928,291 11,145,954,535 Hợp đồng hợp tác kinh doanh 184 4,170,613,253 3,588,814,362 6,053,093,245 BOT 6 1,370,125,000 411,385,000 727,030,774 Công ty cổ phần 8 199,314,191 82,074,595 170,184,047 Công ty quản lý vốn 1 55,558,000 55,558,000 6,000,000

Tổng số 6,030 51,017,946,248 22,684,982,386 27,986,335,577 Nguồn: Cục Đầu t nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t

Theo thời gian, hình thức liên doanh đang giảm dần, trong khi hình thức 100% vốn nước ngoài ngày càng gia tăng cả về số lượng tuyệt đối lẫn tương đối Nhiều lý do đã được đưa ra để giải thích cho xu hướng này.

Trong giai đoạn đầu hoạt động, các nhà đầu tư thường gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm trong giao dịch và quan hệ Để giải quyết vấn đề này, nhiều nhà đầu tư lựa chọn hình thức liên doanh, trong đó bên nước chủ nhà hỗ trợ thủ tục pháp lý cho doanh nghiệp Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đã dần dần nắm vững và hiểu biết về pháp luật, chính sách, phong tục tập quán cũng như cách thức kinh doanh tại Việt Nam.

Do môi trờng tốt nên họ yên tâm thực hiện đầu t theo hình thức 100% vốn nứơc ngoài.

Một số ý kiến cho rằng việc chuyển sang 100% vốn nước ngoài xuất phát từ sự không cân bằng trong các liên doanh, với bên Việt Nam chủ yếu đóng góp cơ sở hạ tầng và đội ngũ quản lý hạn chế Điều này dẫn đến việc Việt Nam gặp khó khăn trong nhiều khía cạnh, trong khi các đối tác nước ngoài có tiềm lực mạnh và theo đuổi chiến lược kinh doanh toàn cầu, tạo ra sự khác biệt trong quan điểm và chiến lược kinh doanh.

Sau một thời gian dài sống trong chế độ bao cấp với tư duy bảo thủ và cực đoan, Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình quan trọng trong nhận thức về các quy luật kinh tế và định hướng phát triển đất nước Đường lối phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã được xác định là đúng đắn, thể hiện qua việc mở cửa trong nước và hợp tác quốc tế Chính sách này nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực hóa và quốc tế hóa nền kinh tế, điều mà Việt Nam không thể tách rời Đại hội Đảng VII đã khẳng định mong muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, hướng tới hòa bình, độc lập và phát triển.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là yếu tố then chốt cho sự thành công, thể hiện qua những kết quả đạt được.

Tình hình thu hút vốn FDI theo các ngành, lĩnh vực

FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam Trước đây, các nhà đầu tư chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khách sạn - du lịch, nhưng hiện nay, sự chú ý đã chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Tính đến ngày 31/12/1998, cả nước chỉ có 881 doanh nghiệp FDI trong ngành công nghiệp, nhưng con số này đã tăng lên 1.539 doanh nghiệp vào ngày 1/7/2002, trong đó có 1.137 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và 284 doanh nghiệp liên doanh với nhà nước Các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng và vốn đầu tư, tiếp theo là lĩnh vực khách sạn, du lịch và các dịch vụ khác Ngành nông lâm nghiệp có số dự án lớn nhưng vốn đầu tư thấp, cho thấy quy mô dự án ở lĩnh vực này tương đối nhỏ Hiện nay, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 67,21% về số dự án và 60,84% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong khi lĩnh vực dịch vụ chiếm 19,7% về số dự án và 31,76% về vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm 13,08% về số dự án và 7,4% về vốn đầu tư đăng ký.

(tính tới ngày 31/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

STT Chuyên ngành Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện

Nông-Lâm nghiệp 675 3,465,982,163 1,495,963,445 1,660,641,099 Thủy sản 114 308,896,180 135,177,381 155,476,089

GTVT-Bu điện 166 2,924,239,255 2,317,066,195 740,508,517 Khách sạn-Du lịch 164 2,864,268,774 1,247,538,654 2,342,005,454 Tài chính-Ngân hàng 60 788,150,000 738,895,000 642,870,077 Văn hóa-Ytế-Giáo dục 205 908,322,251 386,199,219 284,351,599

XD Khu đô thị mới 4 2,551,674,000 700,683,000 51,294,598

XD Văn phòng-Căn hộ 112 3,936,781,068 1,378,567,108 1,779,776,677

XD hạ tầng KCX-KCN 21 1,025,599,546 382,669,597 526,521,777 Dịch vụ khác 456 1,203,067,394 546,921,672 354,438,395

Tổng số 6,030 51,017,946,248 22,684,982,386 27,986,335,577 Nguồn: Cục Đầu t nơc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t

Cơ cấu đầu t trực tiếp nớc ngoàI theo ngành 1988-2005

(tính tới ngày 20/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

STT Chuyên ngành Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện

Văn hóa-Ytế-Giáo dục 3.40% 1.78% 1.70% 1.02%

XD Khu đô thị mới 0.07% 5.00% 3.09% 0.18%

XD Văn phòng-Căn hộ 1.86% 7.72% 6.08% 6.36%

XD hạ tầng KCX-KCN 0.35% 2.01% 1.69% 1.88%

Nguồn: Cục Đầu t nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t

Theo bảng số liệu, vốn đầu tư FDI chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp Ngoài ra, nguồn vốn này cũng đóng góp một phần quan trọng cho nông-lâm nghiệp, mặc dù số vốn còn hạn chế Tuy nhiên, đây là nguồn lực thiết yếu để thúc đẩy sự phát triển của nông-lâm nghiệp tại Việt Nam.

Cơ cấu FDI vào Việt Nam theo ngành cho thấy rằng trong thời gian qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tập trung vào các ngành có lợi thế so sánh, đặc biệt là những ngành phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu và có khả năng cạnh tranh trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay.

Tình hình thu hút vốn FDI theo các vùng lãnh thổ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách khuyến khích FDI vào các khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, thực tế cho thấy các nhà đầu tư vẫn ưu tiên đầu tư vào những vùng có điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và giao thông thuận lợi, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm Điều này được minh chứng qua bảng số liệu về FDI theo địa phương từ năm 1988 đến 2005.

(tính tới ngày 31/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

STT Địa phơng Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện

2 4 cơ cấu đầu t trực tiếp nớc ngoài theo địa phơng 1988-2005

(tính tới ngày 20/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

STT Địa phơng Số dự án TVĐT Vốn pháp định Đầu t thực hiện

Nguồn: Cục Đầu t nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t

Dữ liệu cho thấy sự mất cân đối rõ rệt giữa các vùng và địa phương Các thành phố lớn với điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi trong các vùng kinh tế trọng điểm vẫn dẫn đầu trong việc thu hút FDI.

- Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 31% về số dự án, 23,99% về tổng vốn đầu t, 25,84%về vốn pháp định và 21,64% về đầu t thực hiện

- Hà Nội chiếm 10,85% về số dự án, 18,27% về tổng vốn đầu t , 17,65% về vốn pháp định và 12,16% về đầu t thực hiện

- Đồng Nai chiếm 11,61% về số dự án, 16,65% về tổng vốn đầu t, 14,75% về vốn pháp định và 13,73% về đầu t thực hiện

- Bình Dơng chiếm 17,96% về số dự án, 9,86% về tổng vốn đầu t, 9,32% về vốn pháp định và 6,65% về đầu t thực hiện

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước và Long An, đóng góp 58,2% tổng vốn đầu tư đăng ký và 49,6% vốn thực hiện của cả nước Trong khi đó, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, với các tỉnh như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hà Tây và Bắc Ninh, chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư đăng ký và 28,7% vốn thực hiện.

Đến nay, các dự án đầu tư vào khu công nghiệp và khu chế xuất (không bao gồm các dự án xây dựng hạ tầng) vẫn còn hiệu lực, chiếm 33,8% tổng số dự án và 35,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trên toàn quốc.

Dữ liệu cho thấy rằng việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo từng vùng lãnh thổ và kết hợp hoạt động này với khai thác tiềm năng trong nước vẫn chưa đạt hiệu quả cao Đây là vấn đề cần được chú ý và quan tâm trong thời gian tới.

III/ Đánh giá chung về tình hình thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam.

Những kết quả đạt đợc

FDI đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá tại Việt Nam, với vốn đầu tư thực hiện ngày càng tăng Sự gia tăng này đã mang lại những kết quả đáng kể, góp phần vào những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.

Thứ nhất FDI đóng góp một lượng lớn vốn thiếu hụt cho CNH-HĐH ở Việt Nam

Việt Nam, với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, đang đối mặt với thách thức trong việc tích luỹ vốn cho nền kinh tế Sự cần thiết cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi một lượng lớn vốn, trong khi nguồn cung vốn trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu này.

FDI là một giải pháp quan trọng cho vấn đề thiếu vốn của nền kinh tế Việt Nam, với tổng vốn cấp mới và tăng vốn FDI đạt 58.645 tỷ USD từ năm 1988 đến 2004 Trong giai đoạn 2001-2004, FDI đạt 12.69 tỷ USD, trong khi giai đoạn 1991-1996 ghi nhận mức cao nhất là 28.802 tỷ USD Mặc dù con số này không lớn so với FDI toàn cầu, nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư của Việt Nam, chiếm khoảng 16.4% tổng vốn huy động trong giai đoạn 2001-2005.

Thứ hai FDI góp phần tăng tích luỹ cho CNH-HĐH của VN

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao, góp phần đáng kể vào tích lũy và mở rộng sản xuất của nền kinh tế Việt Nam Từ năm 2001 đến 2004, giá trị sản xuất của khu vực FDI trong GDP tăng từ 13.76% lên 15.17%, cho thấy sự đóng góp quan trọng của FDI vào tăng trưởng GDP Tốc độ tăng trưởng của khu vực này luôn vượt trội hơn so với nền kinh tế chung, với mức đóng góp 11.3% vào tốc độ tăng trưởng GDP năm 2001, tăng lên 16.1% vào năm 2004 Điều này phản ánh thực tế rằng khu vực FDI sở hữu nhiều vốn, công nghệ hiện đại, và đội ngũ quản lý cũng như nhân công được đào tạo bài bản, dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các ngành khác.

Thứ ba, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp đáng kể vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, với tỷ trọng vốn đầu tư cho ngành công nghiệp ngày càng tăng FDI chiếm khoảng 36.2% giá trị sản lượng công nghiệp năm 2004, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp với mức tăng trưởng trên 20% mỗi năm Hiện nay, khu vực có vốn FDI chiếm 100% trong các ngành như khai thác dầu thô, sản xuất ô tô, máy giặt, tủ lạnh, và thiết bị văn phòng Ngoài ra, FDI cũng chiếm tỷ lệ lớn trong sản xuất các sản phẩm như cán thép (60%), xi măng (28%), máy móc thiết bị điện, điện tử (33%), dụng cụ y tế chính xác (76%), sợi các loại (55%), vải (30%), da giày (49%), sản phẩm may (18%), và thực phẩm đồ uống (25%).

Bảng số liệu thể hiện cơ cấu và tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế, 2001-2004

Cơ cấu GDP( giá hiện hành) 100 100 100 100

Kinh tế ngoài quốc doanh 47.84 47.86 46.45 45.61 Kinh tế có vốn dầu tư nước ngoài 13.76 13.76 14.47 15.17 Nhịp độ tăng GDP( giá so sánh) 6.89 7.04 7.34 7.69

Kinh tế ngoài quốc doanh 6.36 7.04 6.36 6.84

Kinh tế có vốn dầu tư nước ngoài 7.21 7.16 10.52 11.09

Số liệu về vốn FDI thực hiện giai đoạn 2001-2004

Công nghiệp 1,905,905,537 2,131,832,403 2,286,309,054 2,449,604,963 Nông nghiệp 228,594,522 176,183,781 122,262,064 126,618,985 Dịch vụ 295,499,941 282,983,816 242,428,883 274,381,467

Cơ cấu FDI đầu tư thực hiện vào các ngành từ năm 2001- 2004

Thứ tư FDI tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập cho lao dộng VN

Trong 4 năm từ 2001 - 2004 có khoảng 8000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động tạo thêm 8 vạn chỗ làm đưa tổng số lao động làm việc trực tiếp cho khu vực này là 72 vạn người Ngoài ra, tính đến hết

2004, khu vực này còn thu hút hơn 1 triệu lao động gián tiếp, góp phần nâng

Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) cao gấp 1.75-2 lần so với doanh nghiệp Nhà nước và 2.8-3.9 lần so với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tiền lương được xác định qua thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể Các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt giữa khu vực có vốn FDI và các khu vực khác bao gồm vốn đầu tư trên lao động, trình độ công nghệ, quản lý, marketing và chất lượng lao động, với các chỉ số này thường cao hơn ở doanh nghiệp FDI Mức lương của các loại lao động phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, ngành nghề và đối tác đầu tư, trong đó chênh lệch tiền lương giữa lao động quản lý và nhân viên tại doanh nghiệp FDI là cao nhất, với mức chênh lệch trong lĩnh vực thương mại lên tới 4.78 lần.

Thứ năm FDI thúc đẩy xuất nhập khẩu

Trong 4 năm từ 2001-2004, tổng doanh thu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 56.8 tỷ USD trong đó giá trị xuất khẩu là 21.8 tỷ USD ( chiếm 38.3% tổng doanh thu của khu vực FDI), chiếm trên 30% tổng giá trị xuất khẩu cả nước Có thể nói rõ hơn, xuất khẩu FDI chiếm 84 % giá trị xuất khẩu hàng điện tử, 42% giá trị xuất khẩu giầy dép, 25 % giá trị xuất khẩu may mặc. Đây là một con số hợp lý vì khu vực FDI có lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến do đó tiên phong phát triển và xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng kĩ thuật cao góp phần nâng cao khả năng xuất khẩu của VN do xuất khẩu mặt hàng có lợi thế so sánh động Tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp này trong tổng doanh thu của chúng là khoảng 50%.

Trong giai đoạn 2001-2004, tổng giá trị nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 29,4 tỷ USD, chủ yếu tập trung vào máy móc, thiết bị, vật tư và nguyên phụ liệu Những mặt hàng này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành doanh nghiệp và sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu cũng như tiêu dùng nội địa.

FDI không chỉ mở rộng thị trường cho các quốc gia mà còn thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ như khách sạn, du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, tư vấn pháp lý và công nghệ.

Những tồn tại và nguyên nhân 34 Chơng III - Một số giải pháp nhằm tăng cờng thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam 36

Vốn đầu tư đăng ký đã tăng nhưng vẫn ở mức thấp, với 3,61 tỷ USD vào năm 2004, chỉ đạt khoảng 40% so với năm 1996 Mặc dù vốn đầu tư thực hiện có xu hướng tăng qua các năm, tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại giảm dần Cụ thể, tỷ trọng này giảm từ 25% trong giai đoạn 1991 - 1996 xuống 24% trong giai đoạn 1996 - 2000 và chỉ còn 17,09% vào năm 2004.

Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) hiện đang tồn tại một số bất hợp lý, đặc biệt trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Mặc dù có những chính sách ưu đãi, nhưng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn thấp và tỷ trọng vốn ĐTNN đăng ký liên tục giảm ĐTNN chủ yếu tập trung vào các địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi tác động đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long vẫn rất hạn chế.

Đầu tư từ các nước phát triển như Nhật Bản, EU và Mỹ, vốn có thế mạnh về công nghệ, đang tăng chậm và chưa có sự chuyển biến đáng kể trong những năm gần đây Mặc dù Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ đã thúc đẩy mạnh mẽ kim ngạch buôn bán giữa hai nước, nhưng đầu tư từ Hoa Kỳ vẫn chưa đạt được mức kỳ vọng.

Kì vào Việt Nam chưa có chuyển biến đáng kể

Việc cung cấp nguyên phụ liệu và phụ tùng từ các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế, dẫn đến giảm khả năng tham gia vào chương trình nội địa hóa và xuất khẩu Sự liên kết giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực trong nước hiện vẫn còn lỏng lẻo.

Khả năng góp vốn của Việt Nam còn hạn chế, với phần lớn các liên doanh chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước, chiếm khoảng 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh Việt Nam chủ yếu góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, dẫn đến tỷ trọng góp vốn không đáng kể.

3 0 vẫn còn thiếu cơ chế huy động nguồn lực khác nhau để góp vốn liên doanh với nước ngoài.

Chủ trương phân cấp và uỷ quyền cấp giấy phép đầu tư cho các địa phương đã thúc đẩy tính năng động và sáng tạo trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Điều này giúp các địa phương xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh và phù hợp với thực tế Tuy nhiên, việc phân công quản lý ĐTNN cũng đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút đầu tư, gây thiệt hại cho phía Việt Nam.

- Tỷ lệ dự án đổ bể, phải giải thể trước thời hạn khá cao, một số dự án quy mô lớn chậm triển khai.

Chơng III - Một số giải pháp nhằm tăng cờng thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam.

I/ Định hớng và nhu cầu thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.

1 Đ ịnh hớng cần đạt đợc trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nớc ta trong giai đoạn tới

Để đạt được thành công trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH), cần chuẩn bị những tiền đề quan trọng nhằm nâng cao lợi thế so sánh của đất nước, bao gồm cả lợi thế so sánh tĩnh và động.

Việt Nam mới hoàn thành xong giai đoạn đầu của quá trình CNH- HĐH Thu nhập bình quân đầu người của VN khoảng trên dưới 400

Mức thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam hiện nay khá thấp so với tiêu chuẩn toàn cầu, với hơn 50% thu nhập của người dân dành cho nhu cầu tối thiểu về ăn uống Điều này lý giải tại sao nông nghiệp vẫn là ngành được khuyến khích và hỗ trợ phát triển Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới ấm áp và độ ẩm dồi dào, có lợi thế lớn trong việc phát triển nông lâm nghiệp Hệ thống sông ngòi dày đặc cũng tạo điều kiện lý tưởng cho việc nuôi trồng thủy sản và hải sản.

Trình độ công nghệ của Việt Nam còn thấp, dẫn đến việc chưa thể phát triển các ngành sản xuất cung cấp đầu vào cho công nghệ cao, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ví dụ, trong sản xuất vô tuyến, Việt Nam chỉ dừng lại ở việc lắp ráp linh kiện nhập khẩu, chưa đủ khả năng sản xuất linh kiện đầu vào cho ngành công nghiệp ti vi Hiện tại, Việt Nam chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản, và nông lâm ngư nghiệp, những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh.

GDP của Việt Nam chủ yếu đến từ nông nghiệp và công nghiệp nhẹ phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu Tuy nhiên, hiệu quả của các ngành này không cao, dẫn đến tích lũy kinh tế thấp Do đó, Việt Nam hiện chưa đủ khả năng phát triển các ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao, vốn đòi hỏi đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn dài.

Cơ cấu kinh tế của Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: nhu cầu trong nước còn hạn chế, trình độ phát triển của các ngành công nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho các ngành khác còn thấp, và mức tích lũy còn nhỏ.

Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhằm phát triển kinh tế, tăng tích lũy và thu nhập, đồng thời kích cầu tiêu dùng trong nước Quốc gia cũng chú trọng học hỏi và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bước đầu phát triển một số ngành công nghiệp non trẻ.

Bởi vậy, CNH - HDH của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:

Hội nhập và tham gia hiệu quả vào ASEAN, APEC và WTO là những bước quan trọng để phát triển Đồng thời, việc khai thác hiệu quả các tổ chức tài chính quốc tế cũng đóng vai trò then chốt trong quá trình này.

Nâng cấp và mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng là cần thiết, đặc biệt cho các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu và vùng xa Điều này sẽ cải thiện các tuyến đường liên thông với khu vực và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế và xã hội.

Hiện đại hóa khu vực nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản là yếu tố quan trọng để thúc đẩy xuất khẩu nông sản, từ đó tạo ra sức mua và tích lũy cho khu vực nông thôn.

Ngày đăng: 01/08/2023, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu thể hiện cơ cấu và tốc độ tăng trưởng - Thực trạng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở việt nam
Bảng s ố liệu thể hiện cơ cấu và tốc độ tăng trưởng (Trang 27)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w