Tuy nhiên,trong thực tế, giữa hau lĩnhvực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một gianh giới rõrệt.. Thanh toán phi ngoại thương Thang toán phi mậu dịch
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong tình hình mậu dịch thế giới tăng trưởng mạnh với hiện tượngtoàn cầu hóa thị trường, Việt Nam đang phát triển kinh tế thị trường, mởcửa, hợp tác và hội nhập Các hoạt động thương mại quốc tế đang ngàycàng xuất hiện nhiều hơn, liên quan mật thiết hơn tới mọi hoạt động kinhtế, xã hội Cùng với những thách thức đó là những cơ hội cho các doanhnghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam tham gia sâu rộng hơn ra thị trườngquốc tế Nền kinh tế Việt Nam đang mất cân đối giữa xuất khẩu và nhậpkhẩu với tình trạng nhập siêu liên tục trong thời gian dài và có xu hướngngày càng tăng Mục tiêu nâng cao hoạt động xuất khẩu hàng hóa của ViệtNam cả về chất và lượng, giảm dần tình trạng nhập siêu, tiến đến xuất siêu,hướng tới một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững Để thực hiện đượcnhững mục tiêu này, các hoạt động xuất nhập khẩu, mà cụ thể các hoạtđộng xuất khẩu cần có những công cụ hỗ trợ hiệu quả hơn: vận tải hànghóa, bảo hiểm hàng hóa, luật thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế, Đặcbiệt, nếu hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh chóng, an toàn, chínhxác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa ngườimua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả Có nhiều phương thứcthanh toán quốc tế: ứng trước, ghi sổ, chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứngtừ (L/C) đang được sử dụng Trong đó L/C đang ngày càng được sử dụngrộng rãi do những ưu điểm mang lại cho cả người xuất khẩu cũng nhưngười nhập khẩu Không thể phủ nhận những ưu điểm mà phương thứcgiao dịch L/C mang lại, tuy nhiên không ít doanh nghiệp xuất khẩu gặp rắcrối trong quá trình thực hiện nghiệp vụ L/C Tồn tại nhiều sai sót trong quátrình thực hiện, xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan mànguyên nhân sâu xa từ những sai sót trong việc lập bộ chứng từ thanh toántheo L/C Điều đó gây nên những chậm chễ, thiệt hại không đáng có đốivới doanh nghiệp mà điều này có thể khắc phục được
Trang 2Nhận thức được rõ tính cấp bách của vấn đề, sau một thời giannghiên cứu, tham khảo và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một sốbiện pháp ngăn ngừa sai sót trong bộ chứng từ giao dịch L/C qua đề tài:
"Những sai sót trong việc lập bộ chứng từ thanh toán theo L/C, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa"
Do thời gian nghiên cứu chưa được nhiều và trình độ bản thân cònhạn chế nên bài viết chắc chắn không tránh được những thiếu sót Em rấtmong được sự góp ý để bài viết hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Việt Hưng đã tận tình giúp đỡđể em hoàn thành bài đề án này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Vũ Hoàng Việt
Trang 3MỤC LỤC
I Lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế và giao dịch L/C 4
1 Thanh toán quốc tế 4
1.1 Cơ sở hình thành thanh toán quốc tế 4
1.2 Khái niệm thanh toán quốc tế 6
1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế 8
1.4 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế 9
1.5 Các phương thức thanh toán quốc tế 10
1.6 Các bên liên quan đến thanh toán quốc tế 11
2 Phương thức tín dụng chứng từ – L/C 14
2.1 Khái niệm 14
2.2 Đặc điểm của giao dịch L/C 15
2.3 Văn bản pháp lý điều chỉnh giao dịch L/C 17
2.4 Quy trình nghiệp vụ giao dịch L/C 17
II Những sai sót hay mắc phải của bộ chứng từ trong giao dịch L/C và nguyên nhân 20
1 Bộ chứng từ trong giao dịch L/C: 20
2 Những sai sót hay mắc phải của bộ chứng từ trong giao dịch L/C .21
3 Nguyên nhân dẫn đến chứng từ có sai sót: 21
III Biện pháp phòng ngừa 23
1 Khi ký kết hợp đồng ngoại thương 24
2 Tổ chức thực hiện giao dịch L/C tại doanh nghiệp 25
3 Nội dung kiểm tra L/C khi nhận được 28
KẾT LUẬN 30
Tài liệu tham khảo 31
Trang 4I Lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế và giao dịch L/C
1 Thanh toán quốc tế
1.1 Cơ sở hình thành thanh toán quốc tế
Thật hiếm hoi một quốc gia lại tự sản xuất mọi thứ mình cần Điều kiệntự nhiên, địa lý, trình độ phát triển và các yếu tố khác của một nước xácđịnh phạm vi và năng lực sản xuất của nước đó Điều này nói lên rằng cácquốc gia luôn phụ thuộc lẫn nhau về rất nhiều loại hàng hóa cần thiết chosản xuất, tiêu dùng
Kết quả là, một nước sẽ nhập khẩu những hàng hóa với giá rẻ, đồngthời xuất khẩu những hàng hóa có ưu thế về năng suất lao động, nhằm tậndụng những lợi thế so sánh (tuyệt đối và tương đối) trong ngoại thương Sự
di chuyển hàng hóa giữa các nước tạo nên hoạt động xuất nhập khẩu củamột quốc gia từ đó hình thành nên chuyên ngành: “Quan hệ kinh tế quốctế” và “Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương”
Hàng hóa xuất nhập khẩu được chuyên chở từ nước này sang nướckhác bằng các phương thức vận tải khác nhau như: Đường biển, Hàngkhông, Đường bộ, Đường sắt, Đường sông hoặc kết hợp hai hay nhiềuphương thức vận tải với nhau, từ đó hình thành nên chuyên ngành “Vận tảihàng hóa trong ngoại thương”
Nhìn chung, việc chuyên chở hàng hóa từ nước này sang nước khác cóthể gặp rủi ro bất trắc trong chuyên chở; do đó, để đảm bảo an toàn và tạosự ổn định trong kinh doanh cho nhà xuất nhập khẩu, thì hàng hóa xuấtnhập khẩu cần được bảo hiểm, từ đó hình thành nên chuyên ngành “Bảohiểm hàng hóa trong ngoại thương”
Thông thường một thương vụ được kết thúc bằng việc bên mua thanhtoán, nhận hàng, và bên bán giao hàng, nhận tiền theo các điều kiện quyđịnh trong hợp đồng mua bán Hai bên mua bán có thể thỏa thuận cácphương thức thanh toán như ứng trước, ghi sổ, chuyển tiền, nhờ thu hay tín
Trang 5dụng chứng từ, thông qua đó người mua trả tiển, còn người bán thu tiền.Thông thường, người mua và người bán không thanh toán trực tiếp chonhau, mà thông qua sự trợ giúp của ngân hàng, từ đó hình thành nênchuyên ngành “Kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế”.
Trong hoạt động ngoại thương, đối với nhà xuất khẩu, từ khi nhậnđược đơn đặt hàng đến khi nhận được tiền hàng xuất khẩu thường phải mấtmột thời gian khá dài, do đó, ngoài nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàngnhư thông báo L/C, mua bán ngoại tệ,… nhà xuất khẩu còn có nhu cầuđược tài trợ cho hoạt động xuất khẩu trước và sau khi giao hàng Chẳnghạn, trước khi giao hàng nhà xuất khẩu có nhu cầu vốn cho sản xuất, thumua hàng xuât khẩu, còn sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu có nhu cầu tàitrợ cho bộ chứng từ hàng xuất hay chiết khấu hối phiếu Tương tự, nhànhập khẩu sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương cũng có nhu cầu tài trợ,như tài trợ ký quĩ mở L/C, tài trợ trên cơ sở thế chấp bộ chứng từ và hànghóa nhập khẩu (tài trợ bắc cầu), bảo lãnh hối phiếu nhờ thu,… Từ đó hìnhthành nên chuyên ngành: “Tài trợ xuất nhập khẩu”
Vì tiền tệ sử dụng trong hợp đồng mua bán quốc tế có thể là đồngtiềncủa nước người mua, của nước người bán hoặc của nước thứ ba, từ đó hìnhthành nên “Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối” của các NHTM để giúpnhững nhà xuất nhập khẩu chuyển đổi tiền tệ nhằm thực hiện thương mạiquốc tế và phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Vì các hoạt động kinh tế đối ngoại nêu trên liên quan đến các bên ởcác nước có địa lý và tập quán khác nhau, nguồn luật điều chỉnh vừa mangtính đại phương vừ mang tính quốc tế, do đó các tranh chấp cũng thườngphát sinh, từ đó hình thành chuyên hành “Luật thương mại quốc tế”
Qua phân tích trên cho thấy, hoạt động thanh toán quốc tế được bắtnguồn từ hoạt động ngoại thương, và mục đích chính của hoạt động thanhtoán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa cácnước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả Hơn nữa, hoạt động ngoại
Trang 6thương và hoạt động thanh toán quốc tế liên quan và gắn liền với nhiều lĩnhvực hoạt động khác, mỗi lĩnh vực hoạt động là một mắt xích không thểthiếu trong một dây chuyền hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gianói riêng và trên quy mô toàn thế giới nói chung Tuy nhiên, thanh toánquốc tế là khâu có ý nghĩa cựa kỳ quan trọng và nhiều khi là khâu quyếtđịnh đến hiệu quả và tăng trưởng ngoại thương, bởi vì chỉ khi hoạt độngthanh toán an toàn và trôi chảy thì người bán mới thu được tiền và ngườimua mới trả được tiền và đây lại là cơ sở nền tảng bậc nhất khiến cho hoạtđộng xuất nhập khẩu tồn tại và phát triển.
Tóm lại, cơ sở hình thành hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt độngngoại thương Ngày nay, nói đến hoạt động ngoại thương là nói đến thanhtoán quốc tế, và ngược lạ, nói đến thanh toán quốc tế thì chủ yếu là nói đếnngoại thương, nhưng hoạt động ngoại thương là hoạt động cơ sở, còn hoạtđộng thanh toán quốc tế là hoạt động phái sinh Vì hoạt động thanh toánquốc tế được thực hiện qua hệ thống ngân hàng, cho nên khi nói đến hoạtđộng thanh toán quốc tế là nói đến hoạt động thanh toán của ngân hàngthương mại, và không một ngân hàng thương mại nào lại không muốn pháttriển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, trong đó lấy hoạt động thanh toánquốc tế làm trọng tâm phát triển
1.2 Khái niệm thanh toán quốc tế
Quan hệ quốc tế giức các nước bao gồm nhiều lĩnh vực, như kinh tế,chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật, … trong đó quan hệ kinhtế (mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quanhệ khác tồn tại và phát triển Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫnđến những nhu cầu chi trả, thanh quan giữa các chủ thể ở các nước khácnhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó,ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh
Trang 7tế giức các tổ chức cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông quan quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vựchoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên,trong thực tế, giữa hau lĩnhvực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một gianh giới rõrệt Hơn nữa, do hoạt động thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sởngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt đong ngoại thương, chính vìvậy, trong các qui chế về thanh toán và thực tế tại các ngân hàng thươngmại, người ta thường phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vựcrõ ràng là: Thanh toán trong ngoại thương (hay gọi theo cách cũ là thanhtoán mậu dịch) và Thanh toán phi ngoại thương (tức thanh toán phi mậudịch)
Thanh toán quốc tế trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) là việcthực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩy và các dịch vụthương mại cung ứng cho nước ngoại theo giá cả thi trường quốc tế Cơ sởđể các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoạithương
Thanh toán phi ngoại thương (Thang toán phi mậu dịch) là việc thực hiệnthanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như cungứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động khôngmang tính chất thương mại
Nội thương và ngoại thương: Nhìn chung, hoạt động ngoại thương cómột số điểm khác cơ bản so với hoạt động nội thương, trong đó ngoạithương liên quan đến:
- Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau;
- Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là nội tệ hoặc ngoại tệvới một hoặc cả hai bên
Trang 8- Hàng hóa mua bán thường dịch chuyển qua biên giới giữa cácnước, đi từ nước người bán đến nước người mua
- Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứađựng yếu tố quốc tế
- Kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và cá chính sách hạn chế ngoại hối củachính phủ…
Ngày nay, do quá trình hợp tác kinh tế phát triển mạnh mẽ, các hìnhthức hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng đa dạng và phong phú đã trởthành các nhân tố làm thay đổi những đặc trưng của hoạt động ngoạithương cổ điển trước đây
1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế
Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc giađang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập;trong bối cảng đó, thanh toán quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinhtế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn vàthúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài,thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác Hoạt độngthanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tếquốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Đặc biệt,trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoạilên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trongchiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hànghóa, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.Nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoạikhó tồn tại và phát triển được Nếu hoạt động thanh toán quốc tế đượcnhanh chóng, an toàn chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thônghàng hóa – tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệuquả Về góc độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng và
Trang 9thể hiện chất lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tếvà tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp.
Tóm lại, hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò quan trọng đối với pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia; được thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:
- Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế nhưmột tổng thể
- Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và giántiếp
- Thúc đẩy và mở rộng hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốctế
- Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác
- Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế
1.4 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế
Để điều chỉnh các quan hệ trong nước, mỗi nước phải xây dựng chomình một hệ thống pháp luật riêng phù hợp với thể chế chính trị, xã hội, tậpquán và trình độ phát triển; chính vì vậy, luật pháp giữa các nước thườngkhác nhau Tuy nhiên, khi tham gia các hoạt động quốc tế, cá nước đềubình đẳng với nhau, nên không thể dùng luật pháp của một nước nào đó ápđặt buộc nước khác phải theo Để giải quyết vấn đề mâu thuẫn luật phápgiữa các nước trong quan hệ quốc tế, người ta đã xây dựng một hệ thốngluật pháp thống nhất mang tính quốc tế để điều chỉnh các hoạt động quốctế, trong đó có hoạt động thanh toán quốc tế
Một thực tế là, mỗi hoạt động của các thể nhân hay pháp nhân đềuđồng thời chịu sự điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật khác nhau, trong đó cónguồn luật chung và nguồn luật chuyên ngành (luật riêng hay luật đặc thù).Sau đây là những văn bản chủ yếu điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tếtheo tính chất pháp lý giảm dần:
a Luật và công ước quốc tế:
Trang 10- Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (Unitednations convention on contracts for the international sale of goods – WienConvention 1980)
- Công ước Geneve 1930 về luật thống nhất hối phiếu (Uniform Lawfor Bill of Exchange – ULB 1930)
- Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế(International Bill of Exchange and International Promissory Note – UNconvention 1980)
- Công ước Geneve 1931 về Séc quốc tế (Geneve conventions forCheck 1931)
- Các nguồn luật và Công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm
- Các hiệp định song phương và đa phương…
b Các nguồn luật quốc gia:
- Bộ luật dân sự
- Luật thương mại
- Luật ngoại hối
- Luật các công cụ chuyển nhượng
- Luật Thanh toán quốc tế…
c Thông lệ và tập quán quốc tế:
- Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UniformCustoms and Pratice for Documentary Credit – UCP)
- Qui tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection – gọitắt là URC)
- Qui tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng (The Uniform Rulesfor Bank-to-Bank Reimbursement under Documentary credit – URR)
- Điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms –INCOTERMS)
1.5 Các phương thức thanh toán quốc tế
Trang 11Khái niệm: Phương thức thanh toán quốc tế trong ngoại thương làtoàn bộ quá trình, điều kiện quy định để người mua trả tiền và nhận hàng,còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thươngthông qua hệ thống ngân hàng phục vụ.
Nội dung phương thức thanh toán chính là các điều kiện quy địnhtrong hợp đồng thương mại, theo đó, người mua trả tiền và nhận hàng, cònngười bán thì giao hàng và thu tiền Việc giao, nhận hàng và thu, chi tiềnthường không diễn ra đồng thời, mà là một quá trình; quá trình này kết thúckhi người mua đã trả tiền và nhận được hàng, còn người bán thì đã giaohàng và nhận được tiền Trong thực tế, điều kiện quy định để các bên giaonhận hàng hóa và chi trả tiền là rất đa dạng, do đó tồn tại nhiều phươngthức thanh toán quốc tế khác nhau, trong đó mỗi phương thức đều có ưunhược điểm nhất định thể hiện thành mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụgiữa người xuất khẩu và người nhập khẩu Tuy nhiên, việc lựa chọnphương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người nhập khẩu làmua được hàng hóa đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn Việc lựa chọnphương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên xuất khẩu và nhậpkhẩu bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng ngoại thương
Các phương thức thanh toán chủ yếu hiện nay bao gồm:
- Phương thức ứng trước (Advanced payment)
- Phương thức ghi sổ (Open account)
- Phương thức chuyển tiền (Remittance)
- Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
- Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit)
1.6 Các bên liên quan đến thanh toán quốc tế
a Người mua, người bán và các đại lý
Người mua – The Buyer (Nhà nhập khẩu) là người có nhu cầu hàng
hóa, liên hệ với người bán để đặt đơn mua những hàng hóa theo yêu cầu (số
Trang 12lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả, …) và chuyển hàng hóa vào trongnước (nhập khẩu)
Người bán – The Seller (nhà xuất khẩu) là người có hàng hóa (tự sản
xuất hoặc khai thác ra), liện hệ với người mua để thỏa thuận các điều kiệnvề hợp đồng mua bán và chuyển hàng hóa ra nước ngoài (xuất khẩu).Thông thường người bán là người lập hóa đơn thương mại và ký phát hốiphiếu
Người sản xuất hàng hóa – Manufacturer: Là người trực tiếp sản
xuất hay làm ra hàng hóa nhưng không phải là người xuất khẩu Thôngthường, người sản xuất phát hành phiếu đóng gói, phiếu phân loại và bản
kê chi tiết; trong một số trường hợp, người sản xuất còn phát hành giấychứng nhận xuất xứ hàng hóa, giấy chứng nhận chất lượng, số lượng
Các đại lý – Agents: Nhìn chung, người mua thường có đại lý của
mình đặt tại nước xuất khẩu, và ngược lại, người bán có đại lý của mìnhcủa mình đặt tại nước người nhập khẩu Các đại lý như vậy là cần thiết bởivì khoảng cách giữa các nước thường rất xa; hơn nữa, các đại lý này có thểchă sóc khách hàng và xử lý các tính huống một cách trực tiếp, cụ thể vànhanh chóng
b Các ngân hàng
Ngân hàng của nhà nhập khẩu:
- Tư vấn về những nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài
- Thấu hiểu những nhu cầu của nhà nhập khẩu và sẵn sàng tư vấn đểnhà nhập khẩu bảo vệ tốt nhất lợi ích của mình
- Kiểm tra bộ chứng từ thanh toán hàng nhập
- Nhận tiền từ nhà nhập khẩu thanh toán cho bộ chứng từ
- Thực hiện chuyển tiền cho người xuất khẩu
- Tài trợ cho nhà nhập khẩu thực hiện thương mại quốc tế
Ngân hàng của nhà xuất khẩu:
- Tư vấn về những nhà nhập khẩu hàng hóa nước ngoài
Trang 13- Thấu hiểu những nhu cầu của nhà xuất khẩu và sẵn sàng tư vấn đểnhà xuất khẩu bảo vệ tốt nhất lợi ích của mình.
- Kiểm tra bộ chứng từ thanh toán hàng xuất
- Tổ chức thanh toán cho bộ chứng từ
- Nhận tiền thanh toán trên danh nghĩa người xuất khẩu
- Tài trợ cho nhà xuất khẩu thực hiện thực hiện thương mại quốc tế
c Người chuyên chở:
Hàng hóa có thể được chuyên chở giữa các quốc gia bằng các phươngthức vận tải khác nhau Sử dung phương thức vận tải nào phụ thuộc chủyếu vào vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của tuyến đường và thỏa thuận giữangười mua và người bán Trong thương mại quốc tế, người chuyên chở cóthể là:
- Công ty vận tải biển (Shipping company)
- Hãng vận tải hàng không (Airlines)
- Công ty vận tải đường bộ (Trucking company)
- Hãng vận tải đường sắt (Railways)
- Công ty vận tải đường sông (Barges/inland waterways)
- Bưu điện (Post ofices)
- Chuyển phát (Couriers)
d Công ty bảo hiểm(Insurance Company):
Công ty bảo hiểm bảo hiểm cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển từnước này sang nước khác Theo thỏa thuận, người mua bảo hiểm có thể lànhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu Các loại rủi ro được bảo hiểm là theothỏa thuận giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm Công ty bảohiểm phát hành các chứng từ bảo hiểm hàng hóa như: Bảo hiểm đơn(Insurance Policy); Giấy chứng nhận bảo hiểm (Insurance Certificate); Tờkhai bảo hiểm bao (Declaration under an open cover)
e Chính phủ và các tổ chức thương mại:
Trang 14Nước người nhập khẩu có thể áp dụng những hạn chế nhập khẩu một sốloại hàng hóa nhất định, do đó, người nhập khẩu phải xin giấy phép nhậpkhẩu đối với loại hành hóa này Những nước hạn chế về nguồn ngoại hối cóthể ưu tiên thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu bằng loại ngoại tệ có sẵn,hoặc phải được phép của cơ quan quản lý ngoại hối mới được mua vàchuyển ngoại tệ ra nước ngoài Hiện nay, với những lý do khác nhau, hầuhết các các nước đều yêu cầu giấy phép nhập khẩu đối với một số loại hànghóa nhất định.
Nước người xuất khẩu có thể áp dụng cơ chế cấp phép đối với một sốhàng hóa xuất khẩu nhất định nhằm bảo đảm rằng hàng hóa được định giáđúng Hệ thống cấp phép xuất khẩu còn cho phép theo dõi và kiểm soátnguồn thu từ xuất khẩu của quốc gia
Hải quan và các cơ quan chức năng tiến hành làm thủ tục thông quan,thu thuế xuất nhập khẩu cho ngân sách nhà nước và phát hành hóa đơn hảiquan Nghĩa vụ phải trả thế và mức thuế đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩuphụ thuộc vào loại hàng hóa và hiệp định giữa các chính phủ
2 Phương thức tín dụng chứng từ – L/C
2.1 Khái niệm
Điều 2, UCP 600, tín dụng chứng từ định nghĩa như sau: “Creditmeans any arrangement, however named or described, that is irrevocableand thereby constitues a definite undertaking of the issuing bank to honour
a complying presentation”
“Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc
mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang củangân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”
So với các phương thức thanh toán khác, thanh toán bằng L/C có ưu điểm ởchỗ:
- Đối với nhà xuất khẩu: Được NH phát hành L/C bảo đảm thanhtoán chắc chắn nếu xuất trình được bộ chứng từ xuất khẩu phù hợp
Trang 15- Đối với nhà nhập khẩu: Được NH phát hành L/C đảm bảo khôngphải trả tiền chừng nào chưa nhận được bộ chứng từ nhập khẩu phù hợp.Phương thức L/C đã dung hòa được lợi ích và rủi ro giữa nhà xuất khẩu vànhập khẩu, đây là ưu điểm vượt trội của phương thức này.
2.2 Đặc điểm của giao dịch L/C
a L/C là hợp đồng kinh tế hai bên:
L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NH phát hành vànhà xuất khẩu Mọi yêu cầu và chỉ thị của nhà nhập khẩu đã do NH pháthành đại diện, do đó tiếng nói chính thức của nhà nhập khẩu không đượcthể hiện trong L/C
b L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa:
Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồngngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thànhnên giao dịch L/C Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đếnhoặc bị rằng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫnchiếu nào đến hợp đồng
Như vậy, L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợpđồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lậpvới hợp đồng này Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhân,thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương haykhông, cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liênquan đến L/C
Một số nhà nhập khẩu không hiểu hoặc làm ngơ quy tắc này, khi gặprủi ro trong giao dịch hợp đồng cơ sở đã quay sang khiếu nại hay ngăn cảnviệc ngân hàng thanh toán bộ chứng từ xuất trình phù hợp Điều này làkhông được phép
Trong thực tế, một số nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C như là công cụdự phòng để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc bổ sung những điều khoản màhợp đồng thương mại còn sót hay bị hớ; ngoài ra, còn để đính chính, sửa