ẢNH HƯỞNG CỦA VIÊC BỔ SUNG PROBIOTIC VÀ ENZYM TIÊU HÓA VÀO KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC CỦA ĂN LỢN THỊT GIAI ĐOẠN TỪ SAU CAI SỮA (21NGÀY) ĐÊN XUẤT CHUỒNG
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA VIÊC BỔ SUNG PROBIOTIC VÀ ENZYM TIÊU HÓA VÀO KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC CỦA ĂN LỢN THỊT GIAI ĐOẠN TỪ SAU CAI SỮA (21NGÀY) ĐÊN XUẤT CHUỒNG
Trần Quốc Việt*, Ninh Thị Len, Lê Văn Huyên và Bùi Thị Thu Huyền
Bộ môn Dinh dưỡng thức ăn và Đồng cỏ
*Tác giả liên hệ: Trần Quốc Việt – Bộ môn Dinh dưỡng thức ăn và đồng cỏ
Viện Chăn nuôi – Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội Tel: (04) 38.386.126/ 0982.011.584; Fax : (04) 38.389.775: Email: vietvcn@yahoo.com
ABSTRACT Effects of supplementation of probiotics and feed enzymes into diets on growth performance and feed
efficiency in pigs from weaning at 21 days of age to market weight
One hundred and eighty exotic pigs weaning at 21 days were used to examine efficiency of utilization of probiotics and feed enzymes in pig feeding Pigs were allotted into 6 groups according to randomized block design Pigs in group 1 were given basal diets (BD) with a feed enzyme (EV) (protease: 108 IU/g; amylase: 2209 IU/g; cellulase: 1116 IU/g; beta-glucanase: 200 IU/g; xylanase: 1000 IU/g) Pigs in group 2 were fed BD with a probiotic-enzyme preparation (PEV) (number and activation of enzyme in this product were the same as the EV Probiotic flora in PEV product were Bacillus subtilis, Saccharomyces boulardi, Enterococcus faecium, Pediococcus pentosaceus and Lactobacillus fermentum Concentration of these flora was 109\8 cfu/g) Pigs in group 3 were given BD with a feed enzyme preparation (KEZ) (KEMZYM® brand V Dry –a pproduct of Kemin company including protease: 900 IU/g; amylase: 270 IU/g; cellulase: 4139 IU/g; xylanase: 4205 IU/g) Pigs in group 4 were fed BD with a PEA product (a probiotic-enzyme product of Alltech company) with amylase (4400 IU/g); protease (264 IU/g) and cellulase (1100 IU/g) Probiotic flora in PEA product were Lactobacillus acidophilus; Enterococcus faecium and Saccharomyces cerevisiae Groups 5 was positive controled group within that BD with colistin at dose 100 ppm and group 6 was negative controled group without any antibiotic, enzymes and probiotic supplementation Supplemented doses of EV and PEV were 2.0 kg/tone and these of KEZ and PEA were 0.5 kg/tone Results showed that supplementation of feed enzymes (EV and KEZ) and probiotic-enzyme (PEV and PEA) resulted in increasing in digestibility of DM, OM, CP and CF of diet in young pigs Growth performance and feed efficiency in pigs fed basal diets supplemented with EV and PEV were higher than control groups from 5.2-8 8% and 7 1-9.3%, respectively
Key words: Pigs, weaning, probiotics, feed enzymes, digestibility, growth performance, feed efficiency
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong giai đoạn cai sữa, lợn con cùng một lúc chịu tác động bởi nhiều stress: Stress dinh dưỡng (do thay đổi thức ăn); stress sinh lý (do thay đổi môi trường sống và tập tính)…vv (Fraser và cs, 1998; Nabuurs, 1998; Cromwell, 2002; Kiarie và cs, 2007) Hậu quả là giảm sức tiêu thụ thức ăn, giảm chiều cao lông nhung, tăng độ sâu của hốc niêm mạc ruột, giảm hàm lượng và hoạt tính của các enzyme nội sinh, tăng nhiễm các vi sinh vật có hại dẫn đến làm mất cân bằng hệ vi sinh vật ruột, tăng tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ còi cọc và tỷ lệ chết dẫn đến những tổn thất lớn về năng suất và kính tế (Pluske và cs, 1995; Van Beers-Schreurs, 1996 và Pluske và cs, 1997)
Để khắc phục tình trạng này, phương pháp thường được sử dụng là bổ sung kháng sinh liều thấp trong thức ăn (Pluske và cs, 2002) Tuy nhiên, do sức ép ngày càng tăng của việc cấm sử dụng kháng sinh như chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cứu và sử dụng những chất thay thế đang là một đòi hỏi cấp bách (Cromwell, 2002) Những chất bổ sung thay thế được quan tâm nghiên cứu và sử dụng nhiều
là probiotic, prebiotic, các chất phytogenic Probiotic là chất bổ sung vi sinh vật sống có tác dụng làm tăng cường sức khoẻ vật chủ thông qua việc cải thiện sự cân bằng của hệ vi sinh vật ruột (Fuller,1989) Đồng thời với probiotic, các chế phẩm enzyme tiêu hóa cũng được sử dụng
Trang 2rất rộng rãi nhằm hỗ trợ các enzyme nội sinh và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn con và lợn thịt Những người chăn nuôi và sản xuất thức ăn chăn nuôi ở nước ta hiện nay đã quen thuộc với nhiều sản phẩm probiotic, và enzyme thương mại Tuy nhiên, giá cả và hiệu quả sinh học của các sản phẩm này cũng rất khác nhau Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng các chế phẩm probiotic và enzyme tiêu hóa (do viện Chăn nuôi phối hợp với Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà nội nghiên cứu, sản xuất) trong chăn nuôi lợn con và lợn thịt
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CỨU Vật liệu nghiên cứu
Chế phẩm sinh học: Bốn chế phẩm sinh học: Hai chế phẩm dạng bột EV và PEV (do viện
Chăn nuôi phối hợp với Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu, sản xuất) Trong đó EV là chế phẩm đa enzyme tiêu hóa và PEV (chế phẩm probiotic-enzyme); và hai chế phẩm dạng bột KEZ và PEA (KEZ là chế phẩm đa enzyme do hãng Kemin Singapore sản xuất và PEA là chế phẩm probiotic-enzyme do hãng Alltech của
Mỹ sản suất)
Bảng 1 Những thành phần có hoạt tính của các chế phẩm sinh học dùng trong thí nghiệm
Chế phẩm Thành phần có hoạt tính Đơn vị
Lactobacillus acidophilus
Enterococcus faecium
Saccharomyces cerevisiae
-
-
-
-
-
-
-
-
2,4 x 108 1,7 x 108 4,4 x 108
Bacillus subtilis
Saccharomyces boulardi
Enterococcus faecium
Pediococcus pentosaceus
Lactobacillus fermentum
Cfu/g Cfu/g Cfu/g Cfu/g Cfu/g
-
-
-
-
-
108
108
107
107
107
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
KEZ: Sản phẩm KEMZYM ® brand V Dry của hãng KEMIN; PEA: Sản phẩm LACTO-SAC của hãng Alltech Mỹ
Hiện cả hai sản phẩm KEZ và PEA đang được bán tại thị trường Việt Nam Những thành phần có hoạt tính của các chế phẩm này được trình bày ở Bảng 1
Gia súc thí nghiệm và khẩu phần cơ sở
Một trăm tám mươi (180) lợn con lai [(Yorkshire x Landrace) x Pidu] cai sữa 21 ngày tuổi đã được sử dụng Thời gian nuôi là 4 tháng (từ khi cai sữa 21 ngày đến khi xuất chuồng) Giai đoạn từ lợn con (7-20 kg), lợn được nuôi trong chuồng sàn nhựa Giai đoạn nuôi thịt (20 kg đến xuất chuồng), lợn được nuôi trong chuồng nền xi măng, thông thoáng tự nhiên
Khẩu phần cơ sở (KPCS) cho lợn thí nghiệm được phối chế từ các nguyên liệu: ngô, tấm gạo
tẻ, sắn, cám mỳ, khô dầu đậu tương, khô dầu dừa, bột sữa whey, bột thịt xương, các sản phẩm thay thế sữa, premix vitamin-khoáng và các axit amin tổng hợp (Bảng 2)
Trang 3Bảng 2 Khẩu phần cơ sở cho lợn thí nghiệm (%)
Lợn thịt
(7-20 kg) 20-50 kg 50 kg - XC
Bột protein đậu tương đậm đặc 50% Pr 5,00 0,00 0,00
Thành phần dinh dưỡng trong 1 kg
Giá đã bao gồm chất bổ sung (đ/kg)
Ghi chú: XC: xuất chuồng
Phương pháp bố trí thí nghiệm
Một trăm tám mươi lợn được phân ngẫu nhiên vào 6 lô, được thiết kế theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi lô 30 con được nuôi trong 3 ô chuồng, mỗi ô 10 con (đồng đều tính biệt), mỗi ô được coi như một lần lặp lại
Lô 1: Lợn được ăn KPCS có bổ sung chế phẩm EV
Lô 2: Lợn được ăn KPCS có bổ sung chế phẩm PEV
Trang 4Lô 3: Lợn được ăn KPCS có bổ sung chế phẩm KEZ
Lô 4: Lợn được ăn KPCS có bổ sung chế phẩm PEA
Lô 5: Lợn được ăn KPCS có bổ sung colistin 100 ppm (lô đối chứng tích cực - ĐC (+))
Lô 6: Lợn được ăn KPCS không bổ sung chế phẩm sinh học và kháng sinh (đối chứng tiêu cực - ĐC (-))
Mức bổ sung các chế phẩm của nước ngoài dựa vào mức khuyến cáo của nhà sản xuất (0,5 kg/tấn đối với KEZ và PEA) Mức bổ sung chế phẩm EV và EPV được tính toán dựa trên cơ
sở đảm bảo hàm lượng của các enzyme chủ yếu (xylanase và cellulase) tính bằng IU/kg thức
ăn tương đương với chế phẩm của nước ngoài (2,0 kg/tấn cho mỗi loại) Trong giai đoạn từ 45 đến 56 ngày tuổi, lợn ở các lô được ăn KPCS có bổ sung chất chỉ thị (Celite) với tỷ lệ 2% trong thời gian 12 ngày (7 ngày thích nghi và 5 ngày thu mẫu) để xác định tỷ lệ tiêu hóa (vật chất khô, chất hữu cơ, proitein thô và xơ thô) Trong suốt giai đoạn thí nghiệm, lợn ở các lô được ăn thức ăn dạng bột và được uống nước sạch tự do bằng vòi uống tự động Chế độ chăm sóc, vệ sinh phòng bệnh cho lợn ở các lô như nhau
Các chỉ tiêu theo dõi
Thức ăn cho vào và thức ăn thừa được cân và ghi chép hàng ngày để tính lượng thức ăn ăn vào và tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng Lợn ở các lô được cân vào các thời điểm lúc bắt đầu (21 ngày tuổi) và mỗi khi chuyển giai đoạn (20 kg; 55 kg và xuất chuồng (85-90 kg)
để khảo sát tốc độ sinh trưởng Tỷ lệ tiêu hóa tổng số một số chất dinh dưỡng của khẩu phần (vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô) Tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy (giai đoạn 21-35 ngày tuổi; 35-60 ngày tuổi) Tiêu chảy ở lợn con được phân thành hai mức độ: Tiêu chảy nhẹ (phân nhão, không thành khuôn) và tiêu chảy nặng (phân lỏng, nhiều nước) và được ghi chép hàng ngày để tính toán tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy
Xử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê ANOVA-GLM bằng phần mềm Minitab phiên bản 13.0 Các kết quả thí nghiệm trình bày trong các Bảng số liệu là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (SE) Student - T-Test được sử dụng để so sánh các giá trị trung bình với độ tin cậy 95% Các giá trị trung bình được coi là khác nhau có ý nghĩa thống kê khi giá trị P< 0,05
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm sinh học vào khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sau cai sữa 21 ngày đến 20 kg
Tỷ lệ tiêu hóa thức ăn: Trình bày ở Bảng 3
Bảng 3 Ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm sinh học vào khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa
thức ăn ở lợn (%)
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
EV PEV KEZ PEA ĐC(+) ĐC(-)
Vật chất khô 88,8a 88,2ab 87,0ab 89,0a 88,7a 85,3b 0,70 0,011 Chất hữu cơ 85,7a 85,8a 85,0ab 85,6a 84,9ab 82,3b 0,60 0,007 Protein thô 86,3a 87,6b 86,7ab 87,4b 85,7a 82,8c 0,20 0,001
Xơ thô 69,0ab 70,6a 66,7ab 70,3a 66,4ab 62,8b 1,40 0,011
Ghi chú: Các số trong cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
Trang 5Bảng 3 cho thấy, so với lô đối chứng tiêu cực, tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô và xơ thô khẩu phần ở lợn được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung kháng sinh và các chế phẩm sinh học cao hơn khá rõ rệt Tuy nhiên, mức độ cải thiện tỷ lệ tiêu hóa của từng thành phần dinh dưỡng không giống nhau Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô ở nhóm lợn được ăn khẩu phần có bổ sung kháng sinh và các chế phẩm sinh học chỉ tăng từ 2,0-4,3% Tỷ lệ tiêu hóa protein thô khá hơn (từ 3,5 đến 6,0%) và đặc biệt tỷ lệ tiêu hóa xơ thô được cải thiện rõ rệt hơn cả (từ 5,73 đến 12,4%) Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô và xơ thô ở các nhóm lợn được ăn khẩu phần có bổ sung các chế phẩm PEV và PEA có cao hơn so với các lô được bổ sung các chế phẩm EV và KEZ, sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê Kết quả này cho thấy, bổ sung các chế phẩm đa enzyme và probiotic-enzyme đã nâng cao được tỷ lệ tiêu hóa thức ăn ở lợn, đặc biệt là tỷ lệ tiêu hóa xơ thô Kết quả này phù hợp với kết quả của Barrera và cs (2004) trên lợn khi bổ sung xylanase với liều 11000 IU/kg đã làm tăng
tỷ lệ tiêu hóa protein và axit amin hồi tràng Ji và cs (2008) khi khảo sát ảnh hưởng của việc
bổ sung hỗn hợp enzyme β-glucanase và protease đã cho thấy có sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu cơ và xơ thô khẩu phần
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy: trình bày ở Bảng 4
Bảng 4 Ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm sinh học trong khẩu phần
đến tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con từ sau cai sữa đến 20 kg (%)
Lô thí nghiệm
Tỷ lệ tiêu chảy trong 15 ngày đầu sau cai sữa (%) Tiêu chảy nhẹ 3,7a 3,7a 4,5ab 5,1ab 3,1a 7,2b 0,079 Tiêu chảy nặng 0,5ac 0,8abc 1,3ab 0,8abc 0,0c 2,1b 0,042
Tỷ lệ tiêu chảy trong 15 ngày cuối (%) Tiêu chảy nhẹ 6,7ab 8,5a 8,0a 6,9ab 3,8b 13,1c 0,001
Chung cả giai đoạn từ sau cai sữa đến 20 kg (%) Tiêu chảy nhẹ 5,2ab 6,1a 6,3a 6,0a 3,5b 10,1c 0,001 Tiêu chảy nặng 0,3ab 0,4ab 0,7a 0,4ab 0,0b 1,2c 0,014
Ghi chú: Các số trong cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
Bảng 4 cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cao nhất thấy ở lô lợn được ăn khẩu phần không bổ sung kháng sinh cũng như các chế phẩm sinh học và thấp nhất ở lô lợn con được ăn khẩu phần có bổ sung kháng sinh (colistin với liều 100 ppm), Trong số các lô lợn thí nghiệm được
ăn KPCS có bổ sung các chế phẩm đa enzyme và probiotic-enzyme, tỷ lệ tiêu chảy dao động
từ 4,3 đến 5,9% (giai đoạn 15 ngày đầu) và từ 6,7 đến 8,5% ở giai đoạn 15 ngày cuối, Tuy nhiên, ở cả hai giai đoạn, sự khác biệt về tỷ lệ tiêu chảy của lợn con ở các lô được ăn khẩu
phần có bổ sung các chế phẩm sinh học khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05),
Bảng 4 còn cho thấy, bổ sung colistin và các chế phẩm đa enzyme, probiotic-enzyme đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con so với đối chứng Trong đó, bổ sung các chế phẩm đa enzyme và probiotic-enzyme đã làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con từ 39 đến 51,3%, Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những đáp ứng này là do việc bổ sung kháng sinh
Trang 6và các chế phẩm sinh học đã làm tăng tỷ lệ tiêu hóa một số thành phần dinh dưỡng của khẩu phần, đặc biệt là tỷ lệ tiêu hóa protein thô và xơ thô (Bảng 3)
Ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm sinh học vào KP đến tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng TĂ của lợn con giai đoạn từ sau cai sữa 21 ngày đến khi xuất chuồng,
Tốc độ sinh trưởng : được trình bày ở Bảng 5
Bảng 5 Ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm sinh học vào khẩu phần đến tốc độ sinh
trưởng của lợn qua các giai đoạn
Lô thí nghiệm
Khối lượng cơ thể (kg) Lúc BĐTN 7,46 7,40 7,31 7,43 7,40 7,41 0,15 0,989 Lúc KTGĐ1 20,7a 21,1a 20,1ab 20,8a 20,2ab 19,2b 0,31 0,001 Lúc KTGĐ2 57,6ad 58,5d 56,1ab 57,3ad 55,1b 53,4c 0,45 0,001 Lúc KTGĐ3 93,8ad 94,9d 91,9ab 93,6ad 90,0bc 87,8c 0,67 0,001
Tốc độ sinh trưởng (g/con/ngày)
GĐ từ 7-20kg 427a 440a 413ab 431a 414ab 380b 10,4 0,002
GĐ từ 20-50kg 738ab 749b 719bc 730bc 697ac 684c 11,4 0,001
GĐ từ 50kg-XC 806 808 796 806 775 764 18,3 0,406 Trung bình 685ad 694d 671ab 684ad 655bc 638c 5,4 0,001
Ghi chú: Các số trong cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
Bảng 5 cho thấy, tốc độ sinh trưởng của lợn trong giai đoạn sau cai sữa (từ 7 đến 20kg) và giai đoạn lợn choai (20-55 kg) bị ảnh hưởng rất rõ rệt bởi việc bổ sung các chế phẩm đa enzyme và chế phẩm probiotic-enzyme vào khẩu phần Tăng khối lượng bình quân ở giai đoạn sau cai sữa của lợn ở lô đối chứng tiêu cực chỉ đạt 380 g/con/ngày, thấp hơn so với các
lô được ăn khẩu phần có bổ sung các chế phẩm EV, PEV, KEZ và PEA từ 8,0 đến 13,6% Hiệu quả cải thiện tốc độ sinh trưởng rõ rệt nhất thấy ở nhóm lợn được ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm PEV (13,6%) Tương tự, ở giai đoạn từ 20 kg đến 55 kg, tốc độ sinh trưởng của các nhóm lợn được ăn khẩu phần có bổ sung các chế phẩm EV, PEV, KEZ và PEA cao hơn so với lợn ở lô đối chứng tiêu cực từ 5,1 đến 9,5%
Bảng 5 còn cho thấy, khi tuổi lợn càng tăng, hiệu quả của việc bổ sung các chế phẩm đa enzyme và probiotic-enzyme càng giảm Ở giai đoạn từ 55 kg đến khi xuất chuồng, tốc độ sinh trưởng của lợn ở các lô sai khác nhau không rõ rệt (P=0,406) Điều đó cho thấy, cùng một chế phẩm enzyme với thành phần và hoạt tính như nhau, nhưng hiệu quả tác động trên lợn không giống nhau qua các giai đoạn sinh trưởng
Theo Officer (2000), hiệu quả của enzyme thức ăn khi bổ sung vào khẩu phần cho vật nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ngoài các yếu tố thuộc về enzyme (chủng loại và hoạt tính) thì sự tương thích giữa các enzyme với thành phần khẩu phần và tuổi vật nuôi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Bảng 5 còn chứng tỏ rằng, khi lợn đạt khối lượng từ 55 kg trở lên, hiệu quả tác động đối với sinh trưởng của các enzyme amylase, protease, xylanase, β-glucanase và ngay cả khi phối hợp với probiotic đa chủng khi được bổ sung vào thức ăn cũng mờ nhạt, lý do là ở độ tuổi này hàm lượng và hoạt tính của các enzyme nội sinh trong đường tiêu hóa của lợn đã đủ mạnh để tiêu hóa được các thành phần dinh dưỡng của KPCS Tuy nhiên, trong cả giai đoạn thí nghiệm
Trang 7(từ cai sữa đến khi xuất chuồng) tốc độ sinh trưởng của lợn ở các lô được ăn khẩu phần có bổ sung các chế phẩm EV, PEV, KEZ và PEA đều cao hơn so với lô đối chứng tiêu cực lần lượt: 7,4; 8,8; 5,2; 7,2% và những sai khác này có ý nghĩa thống kê (P=0,001)
Bảng 6 là kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm
Bảng 6 Ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm sinh học vào khẩu phần
đến hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn
Lô thí nghiệm
Thức ăn ăn vào (g/con/ngày)
GĐ 20-50kg 1906 1904 1908 1901 1888 1976 57 0,903
GĐ 50kg-XC 2181 2290 2187 2181 2188 2190 93 0,950 Trung bình 1674 1711 1678 1673 1671 1715 30 0,793
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)
GĐ 7-20kg 1,32a 1,28a 1,38ab 1,31a 1,38ab 1,60b 0,05 0,007
GĐ 20-50kg 2,59a 2,54a 2,65ab 2,61ab 2,70ab 2,90b 0,07 0,027
GĐ 50kg-XC 2,71 2,84 2,75 2,70 2,82 2,86 0,06 0,285 Trung bình 2,44a 2,47a 2,50a 2,45a 2,55ab 2,69b 0,04 0,005
Chi phí thức ăn ăn/kg tăng khối lượng (1000 đ/kg)
GĐ 7-20kg 11,2a 10,9a 11,6ab 11,1a 11,5ab 13,3b 0,411 0,013
GĐ 20-55kg 14,5 14,4 14,8 14,6 15,1 15,9 0,365 0,092
GĐ 50kg-XC 13,8 14,6 13,9 13,8 14,2 14,3 0,304 0,378 Trung bình 13,7a 13,9ab 13,9ab 13,7a 14,2ab 14,8b 0,209 0,023
Ghi chú: Các số trong cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
Kết quả Bảng 6 cho thấy, bổ sung các chế phẩm đa enzyme và probiotic-enzyme vào khẩu phần không làm tăng khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng (P>0,05)
Hiệu quả chuyển hóa thức ăn được cải thiện rõ rệt khi lợn được ăn khẩu phần có bổ sung kháng sinh và các chế phẩm sinh học so với đối chứng tiêu cực Tuy nhiên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê này chỉ thấy ở giai đoạn từ sau cai sữa đến 55 kg Ở giai đoạn vỗ béo (từ 55 kg đến xuất chuồng) sự sai khác về mức tiêu tốn thức ăn của lợn ở các lô thí nghiệm là không rõ rệt (P=0,285) Khi tính chung cho toàn bộ giai đoạn thí nghiệm, mức độ cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn (được tính bằng mức giảm tiêu tốn thức ăn so với lô đối chứng tiêu cực) ở các lô lợn được ăn KPCS có bổ sung các chế phẩm EV, PEV, KEZ và PEA lần lượt là: 9,29; 8,18; 7,06 và 8,9%
Hiệu quả thức ăn còn được biểu thị bằng mức chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng Việc bổ sung các chế phẩm sinh học chỉ thực sự đem lại hiệu quả khi chi phí sử dụng các chế phẩm này bằng tiền tính trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn so với lô đối chứng Số liệu ở Bảng 6 cho thấy, chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn (tính chung cho toàn bộ giai đoạn thí nghiệm) ở lô đối chứng tiêu cực là 14,8 nghìn đồng, mức chi phí này ở các lô có bổ sung chế phẩm EV, PEV, KEZ và PEA thấp hơn từ 6,1 đến 7,4% và sự sai khác này có ý nghĩa thống
kê (P = 0,023)
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Trang 8Kết luận
Bổ sung các chế phẩm sinh học (EV, PEV, KEZ và PEA) đã làm tăng tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô của khẩu phần và làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sau cai sữa đến 20 kg từ 39,0 đến 51,3%
Bổ sung chế phẩm đa enzyme (EV) (gồm: α-Amylase (2209 IU/g); Protease (108 IU/g); Cellulase (1116 IU/g); β-Glucanase (200 BGX/g); Xylanase (1000 IU/g) và chế phẩm
probiotic-enzyme (PEV) (gồm: Bacillus subtilis (H4); Saccharomyces boulardi (SB);
Enterococcus faecium (6H2); Pediococcus pentosaceus (D7); Lactobacillus fermentum (NC1)
với mật độ 108 cfu/g và các enzyme tiêu hóa với chủng loại và hoạt tính enzyme như trên vào thức ăn đã cải thiện được tốc độ sinh trưởng của lợn từ 5,2 đến 8,8% (đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa đến 20 kg, mức độ cải thiện đạt 13,6%), giảm tiêu tốn thức ăn từ 7,1% đến 9,3%; giảm chi phí thức ăn từ 6,1% đến 7,4%
Đề nghị
Đề nghị cho được sản xuất thử chế phẩm EV và PEV để ứng dụng trong sản xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Barrera M., Cervantes M., Sauer.W C., Araiza A B., Torrentera N and M Cervantes (2004) Ileal amino acid digestibility and performance of growing pigs wheat-based diets supplemented with xylanase J Anim Sci 2004 82: pp.1997–2003
Cromwell G L (2002) Why and how antibiotics are used in swine production Anim Biotechnol 13: pp.7–27 Fraser D., B.N Milligan., E.A Pajor., P.A Philips., A.A Taylor and D.M Weary (1998) Behavioural perspectives on weaning in domestic pigs In: Pig Science J Wiseman M.A Varley and J.P Chadwick (eds.) Nottingham University Press Nottingham UK pp 121-138
Fuller R (1989) Probiotics in man and animals J Appl Bacteriol; 66 pp.131-139
Ji F Casper., D P Brown., P K Spangler., D A Haydon., K D and J E Pettigrew (2008) Effects of dietary supplementation of an enzyme blend on the ileal and fecal digestibility of nutrients in growing pigs J Anim Sci 2008 86: pp.1533–1543
Kiarie E., C.M Nyachoti., B A Slominski and G Blank (2007) Growth performance gastrointestinal microbial activity and nutrient digestibility in early-weaned pigs fed diets containing flaxseed and carbohydrase enzyme J Anim Sci 2007 85: pp.2982–2993
Nabuurs M.J.A (1998) Weaning piglets as a model for studying pathophysiology of diarrhoea Vet Quarterly
20 Supplement 3:42-45 SooBo Shim 2005 Effects of prebiotics probiotics and synbiotics in the diet
of young pigs Ph.D Thesis Animal Nutrition Group Wageningen Institute of Animal Sciences Wageningen University and Research Centre Wageningen The Netherlands
Officer D.I (2000) Feed Enzymes Farm Animal Metabolism and Nutrition Edited by D’ Millo J.P.F CAB International 2000 www.carbi.org
Pluske J R., D W Pethick., D E Hopwood and D J Hampson (2002) Nutritional influences on some major enteric bacterial diseases of pigs Nutr Res Rev 15: pp.333–371
*Người phản biện: PGS,TS Bùi Quang Tuấn (ĐHNN HN); TS, Đinh Văn Tuyền