1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng

72 897 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của Hai Loài Rầy Phấn Trắng
Tác giả Ngô Thị Như Hà
Người hướng dẫn Ks. Trần Văn Khải
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng

Trang 1

NGÔ THỊ NHƯ HÀ MSSV: DPN010710

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA

HAI LOÀI RẦY PHẤN TRẮNG Aleurodicus dispersus Russell

VÀ Bemisia tabaci Gennadius

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA

HAI LOÀI RẦY PHẤN TRẮNG

Aleurodicus dispersus Russell

VÀ Bemisia tabaci Gennadius

Do sinh viên: NGÔ THỊ NHƯ HÀ thực hiện và đề nạp

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt

Long Xuyên, ngày 30 tháng 5 năm 2005

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ks Trần Văn Khải

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên đề tài:

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA

HAI LOÀI RẦY PHẤN TRẮNG Aleurodicus dispersus Russell

VÀ Bemisia tabaci Gennadius

Do sinh viên: NGÔ THỊ NHƯ HÀ

Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày:……… ………

Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:………

Ý kiến của Hội đồng:……… ………

……… ………

……… ………

……… ………

……… ………

Long Xuyên, ngày 22 tháng 6 năm 2005 DUYỆT Chủ Tịch Hội đồng BAN CHỦ NHIỆM KHOA NN-TNTN

Trang 4

Nơi sinh: Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ.

Con Ông: NGÔ VĂN LUNG

  

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

* Kính dâng:

Cha mẹ lòng biết ơn chân thành và thiêng liêng nhất, người đã hết lòng nuôi dưỡng cho con nên người

* Mãi mãi ghi ơn:

Thầy Trần Văn Khải, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tất cả quý Thầy Cô trường Đại Học An Giang - những người đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Bạn Huỳnh Quang Huy, bạn Biện Thị Mỹ Duyên lớp DH2PN2 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Thân gửi về các bạn lớp DH2PN2 và tất cả các bạn sinh viên khoa Nông Nghiệp - Tài Nguyên Thiên Nhiên những lời chúc tốt đẹp và thành đạt nhất

Trang 6

NGÔ THỊ NHƯ HÀ

TÓM LƯỢC

Kết quả khảo sát trong phòng thí nghiệm tại Khoa Nông Nghiệp - Tài Nguyên Thiên Nhiên, trường Đại Học An Giang, ở nhiệt độ trung bình là 31,50C, ẩm độ không khí trung bình là 70%, ghi nhận như sau:

Loài Aleurodicus dispersus Russell

Ấu trùng rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell có 4 tuổi: tuổi

1 là 3,60 ngày; tuổi 2 là 3,52 ngày; tuổi 3 là 4,12 ngày; tuổi 4 là 8,66 ngày Thời gian ủ trứng là 6,54 ngày, tổng vòng đời là 27,94 ngày, tỷ lệ nở của trứng là 94% Cả thành trùng và ấu trùng đều cư trú ở mặt dưới của lá

Cơ thể ấu trùng tuổi 1 dài 0,33 mm, rộng 0,14 mm; tuổi 2 dài 0,54

mm, rộng 0,36 mm; tuổi 3 dài 1,06 mm, rộng 0,74 mm; tuổi 4 (nhộng) dài 1,74 mm, rộng 1,12 mm Trứng dài 0,28 mm, rộng 0,12 mm

Cơ thể thành trùng dài 2,49 mm, mắt màu nâu đen, râu dài 0,85 mm, vòi hình ống, dài 0,46 mm và chiều dài sải cánh là 3,62 mm

Ổ trứng có hình xoắn ốc, dài 13,2 mm, rộng 7,73 mm; số vòng trung bình trên ổ là 3,64 vòng; số trứng trung bình là 21 trứng/ổ

Loài Bemisia tabaci Gennadius

Cả thành trùng và ấu trùng đều cư trú ở mặt dưới của lá Ấu trùng

Bemisia tabaci Gennadius gồm 4 tuổi: tuổi 1 là 3,94 ngày; tuổi 2 là 2,66

ngày; tuổi 3 là 3,25 ngày; tuổi 4 là 5,92 ngày Thời gian ủ trứng là 6,52 ngày, tổng vòng đời là 23,8 ngày, trứng có tỷ lệ nở là 96,21%

Ngô Thị Như Hà, 2005 "Khảo sát một số đặc điểm sinh học, sinh thái của

hai loài rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell và Bemisia tabaci

Gennadius" Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Phát Triển Nông Thôn Khoa Nông Nghiệp - TNTN, trường Đại Học An Giang

Giáo viên hướng dẫn: Ks Trần Văn Khải.

Trang 7

Cơ thể ấu trùng tuổi 1 dài 0,30 mm, rộng 0,14 mm; tuổi 2 dài 0,40

mm, rộng 0,22 mm; tuổi 3 dài 0,51 mm, rộng 0,30 mm; tuổi 4 dài 0,77 mm, rộng 0,50 mm Trứng dài 0,19 mm, rộng 0,09 mm

Cơ thể thành trùng dài 1,01 mm, mắt màu đỏ nâu, râu dài 0,31 mm, vòi hình ống, dài 0,30 mm và chiều dài sải cánh là 2,02 mm

Trang 9

2.1 Một số đặc điểm chung của rầy phấn trắng 2

3.2.1 Khảo sát đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy phấn trắng trong

4.1 Một số đặc điểm sinh học, hình thái của rầy phấn trắng

Trang 10

trên ổ và đặc điểm hình thái của ổ trứng loài Aleurodicus dispersus

4.5 So sánh một số đặc điểm sinh học, sinh thái của hai loài rầy phấn

trắng Aleurodicus dispersus Russell và Bemisia tabaci Gennadius 37

1 Thời gian phát triển của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus

2 Kích thước của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell

3 Kích thước các bộ phận của cơ thể thành trùng rầy phấn trắng

4 Số lượng trứng trên ổ, kích thước ổ trứng và tỷ lệ trứng nở của

rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell 27

5 Thời gian phát triển của rầy phấn trắng Bemisia tabaci

6 Kích thước của rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius qua

7 Kích thước các bộ phận trên cơ thể thành trùng rầy phấn trắng

8 So sánh thời gian phát triển trung bình của hai loài rầy phấn

Trang 11

trắng Aleurodicus dispersus Russell và Bemisia tabaci

9 So sánh kích thước từng giai đoạn phát triển của Aleurodicus

Phụ chương 1: Tỷ lệ trứng nở của rầy phấn trắng Aleurodicus

dispersus Russell trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN -

Phụ chương 2: Kích thước của rầy phấn trắng Aleurodicus

dispersus Russell qua các giai đoạn trong điều kiện thí nghiệm

ở khoa NN - TNTN trường Đại Học An Giang pc-2Phụ chương 3: Chiều dài các bộ phận trên cơ thể thành trùng

rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell trong điều kiện

thí nghiệm ở khoa NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-3Phụ chương 4: Thời gian ủ trứng của rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell trong điều kiện thí nghiệm ở

khoa NN - TNTN, trường Đại Học An Giang pc-4Phụ chương 5: Thời gian tuổi 1 của ấu trùng rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell trong điều kiện thí nghiệm ở

khoa NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-5Phụ chương 6: Thời gian tuổi 2 của ấu trùng rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell trong điều kiện thí nghiệm ở

khoa NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-6Phụ chương 7: Thời gian tuổi 3 của ấu trùng rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell trong điều kiện thí nghiệm ở

khoa NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-7Phụ chương 8: Thời gian tuổi 4 của ấu trùng rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell trong điều kiện thí nghiệm ở

khoa NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-8

Phụ chương 9: Tỷ lệ trứng nở của rầy phấn trắng Bemisia

tabaci Gennadius trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN –

Phụ chương 10: Kích thước của rầy phấn trắng Bemisia tabaci

Gennadius qua các giai đoạn trong điều kiện thí nghiệm ở khoa

Trang 12

NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-10Phụ chương 11: Chiều dài các bộ phận trên cơ thể thành trùng

rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius trong điều kiện thí

nghiệm ở khoa NN – TNTN, trường Đại Học An Giang pc-11

Phụ chương 12: Thời gian ủ trứng của rầy phấn trắng Bemisia

tabaci Gennadius trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN –

Phụ chương 13: Thời gian tuổi 1 của rầy phấn trắng Bemisia

tabaci Gennadius trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN –

Phụ chương 14: Thời gian tuổi 2 của rầy phấn trắng Bemisia

tabaci Gennadius trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN –

Phụ chương 15: Thời gian tuổi 3 của rầy phấn trắng Bemisia

tabaci Gennadius trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN –

Phụ chương 16: Thời gian tuổi 4 của rầy phấn trắng Bemisia

tabaci Gennadius trong điều kiện thí nghiệm ở khoa NN –

DANH SÁCH HÌNH Hìn

1 Lồng lưới nhân nuôi thành trùng rầy phấn trắng làm nguồn 14

2 Quan sát hình thái của ấu trùng rầy phấn trắng dưới kính lúp 14

3 Vòng đời rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell 16

4 Sự biến đổi của trứng trong giai đoạn ủ trứng Aleurodicus

5 Ấu trùng tuổi 1 của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell 21

6 Sự biến đổi ở giai đoạn ấu trùng tuổi 2 của rầy phấn trắng

7 Ấu trùng tuổi 3 (A) và tuổi 4 (nhộng) (B) của Aleurodicus

Trang 13

11 Ổ trứng của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Rusell 27

12 Vòng đời của rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius 39

13 Sự biến đổi ở giai đoạn ấu trùng tuổi 2 của rầy phấn trắng

14 Sự biến đổi của ấu trùng tuổi 3 của rầy phấn trắng Bemisia

15 Nhộng (tuổi 4) (A) và vỏ nhộng (B) của rầy phấn trắng Bemisia

16 Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius đang vũ hóa 36

17 Thành trùng rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius 37

Chương 1 GIỚI THIỆU

  

1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay trong tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở An Giang cũng như trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, cơ cấu cây trồng ngày một đa dạng và số lượng côn trùng gây hại, bệnh hại cây trồng cũng ngày một

gia tăng Đặc biệt, sự xuất hiện của rầy phấn trắng (Homoptera, Aleyrodidae)

– côn trùng gây hại trên nhiều loại cây trồng trong địa bàn tỉnh, chúng ký sinh

ở mặt dưới của lá và chích hút dịch của cây trồng, đồng thời tiết mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng (nấm muội đen) phát triển làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây, từ đó làm giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến đời sống của nông dân trong vùng Mặt khác, chúng còn có khả năng truyền hơn 90 loại virus cho cây trồng

Trang 14

Trong khi đó, hầu hết nông dân trong địa bàn tỉnh chưa am hiểu nhiều

về khả năng gây hại của rầy phấn trắng cũng như đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của loài côn trùng này Chính vì thế chúng tôi quyết định thực

hiện đề tài: "Khảo sát một số đặc điểm sinh học, sinh thái của hai loài rầy

phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell và Bemisia tabaci Gennadius".

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell trên cây Ớt.

- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của rầy phấn trắng

Bemisia tabaci Gennadius trên cây Đậu nành.

- Giúp cho nông dân và cán bộ kỹ thuật nhận biết được đặc điểm hình thái của hai loài rầy này

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

  

2.1 Một số đặc điểm chung của rầy phấn trắng

2.1.1 Đặc điểm chung của rầy phấn trắng

Rầy phấn trắng thuộc bộ cánh đều (Homoptera), họ Aleyrodidae, cơ

thể nhỏ, dài khoảng 1 – 3 mm, gân cánh trước là gân đơn hoặc phân một nhánh Thành trùng là loài bướm nhỏ, cả con đực và cái đều có cánh, cánh được phủ một lớp bụi sáp trắng mịn Cả thành trùng và ấu trùng đều cư trú ở mặt dưới lá và chích hút nhựa lá (Gill, 1990 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004)

Berlinger (1986, do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004) cho rằng

sự biến thái của rầy phấn trắng có điểm khác với bộ Homoptera, giai đoạn mới nở (tuổi 1) thì hoạt động, nhưng tuổi 2, 3, 4 thì không hoạt động giống như vảy của rệp dính, cánh phát triển trong suốt giai đoạn biến thái sẽ lộ ra khi chúng vũ hoá thành con trưởng thành Berlinger (1986, do Nguyễn Thị

Mỹ Phụng, trích dẫn 2004) còn cho biết thêm rầy phấn trắng gây hại dưới 3

Trang 15

hình thức: trực tiếp, gián tiếp, và có vai trò như một vai trò vector truyền bệnh.

2.1.2 Sự phân bố của rầy phấn trắng

2.1.2.1 Tình hình thế giới

Rầy phấn trắng có nguồn gốc từ Trung Mỹ và vịnh Caribe Ở một số vùng của Châu Mỹ, rầy phấn trắng được báo cáo xuất hiện ở các quốc gia, khu vực như: Bahamas, Barbados, Brazil, Canary Islands, Costa Rica, Cuba, Dominica, Ecuador, Haiti, Martinique, Peru, Philippines, Panama và Nam Florida, trên các đảo ở Thái Bình Dương, rầy phấn trắng tìm thấy ở các khu vực như: American Samoa, đảo Cook, Fiji, Hawaii, Kiribati, Majuro, đảo Mariana, Nauru, Palau, Pohnpei, Tokelau, Tonga và Tây Samoa (Waterhouse

và Norris, 1989) Tình hình rầy phấn trắng được báo cáo đầu tiên xuất hiện ở đảo Hawaii vào năm 1978 trên đảo Oahu và được báo cáo trên các đảo chính khác vào năm 1981 Loài này xuất hiện nhiều ở các vùng duyên hải và ở độ cao dưới 3048 mét (Martin and Ronald, 1993)

Đối với loài dịch hại này có ở rất nhiều nước như: Brazil, Canary Islands, Costa Rica, Cuba, Dominica, Ecuador, Haiti, Martinique, Peru, Philippines, Panama và nam Florida (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

2.1.2.2 Tình hình trong nước

Theo kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam 1997–1998 của Viện Bảo Vệ Thực Vật (1999) cho rằng:

Loài Aleurocanthus spiniferus (Quaintance) xuất hiện trên cam, quýt

ở các tỉnh như: Hà Tây, Hà Nam, Hoà Bình, Nghệ An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp, Long An Chúng xuất hiện vào tháng 3, 6,

7, 10

Loài Aleurocanthus woglumi Ashby xuất hiện trên cam, quýt ở các

tỉnh như: Hà Tây, Hưng Yên Chúng xuất hiện vào tháng 4 – 7, 9, 10

Loài Aleurocanthus sp xuất hiện trên cây nhãn, vải, ổi, nho ở Tiền

Giang và Ninh Thuận vào tháng 3, 4

Trang 16

Loài Dialeurodes citri (kuwayana) xuất hiện trên cây na ở Hà Nội và

Hà Tây vào các tháng 7, 9, 10

2.1.3 Ký chủ

Loài này có thể sống ký sinh trên 27 họ và trên 100 loại cây khác

nhau (Waterhouse và Norris, 1989) Theo Wen và ctv (1994 do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000) thì rầy phấn trắng Aleurodiscus dispersus là loài đa

ký chủ, rất phổ biến trên nhiều loại cây trồng khác nhau Tại Đài Loan, loài này được ghi nhận trên 144 loài ký chủ thuộc 64 họ Tại Indonesia, Kajita và

ctv., (1991) ghi nhận loài này gây hại trên 22 loại cây trồng thuộc 14 họ Theo

United States Department of Agriculture, Whitefly knowledgebase (1995a) thì cho rằng rầy phấn trắng hiện nay được biết chúng tấn công lên khoảng

500 loại cây trồng đại diện cho 74 họ Chúng đeo bám trên hầu hết các bộ phận của họ bầu bí, họ cà chua, họ bông, họ đậu Trên cây cảnh, rầy phấn trắng thường xuất hiện trên bông cúc, hoa xô đỏ, cây trạng nguyên, và nhiều cây cảnh khác Riêng cây trạng nguyên là ký chủ ưa thích nhất của rầy phấn trắng, vì thế chất lượng màu sắc của cây bị giảm mạnh đồng thời cũng gây thiệt hại nặng nề cho lá

Theo nghiên cứu gần đây của Huỳnh Thanh Lộc (2003) thì rầy phấn

trắng loài Aleurodicus dispersus Russell có phổ ký chủ rất rộng và mật độ

khá cao, khả năng gây hại lớn cho nhóm cây ăn trái (đặc biệt là ổi), nhóm cây công nghiệp (đặc biệt là bông vải, khoai mì), nhóm hoa kiểng – cây cảnh – cây che mát (đặc biệt là bàng, địa lan, sứ cùi, trạng nguyên), nhóm rau màu

(đặc biệt là cà chua, đậu nành, ớt) Đối với loài Bemisia tabaci Gennadius có

phổ ký chủ hẹp hơn, chỉ trên rau màu và một số ít cây thuộc nhóm cây công

nghiệp và loài Dialeurodes sp có phổ ký chủ chỉ trong nhóm cây có múi, đặc

biệt trên cam, chanh, quít mật số tương đối cao

2.1.4 Khả năng truyền bệnh

Theo Cohen và Berlinger (1986), Waterhouse và Norris (1989) thì ngoài sự gây hại trực tiếp trên các bộ phận của cây, loài này còn là tác nhân

Trang 17

truyền trên 40 loại bệnh virus cho cây trồng Tuy nhiên, Byrne (1990, do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004) thì cho rằng rầy phấn trắng có thể truyền hơn 70 bệnh virus trên cây trồng và cỏ dại

Ba loài rầy phấn trắng Bemisia tabaci, Trialeurodes vaporariorum và

T abutiloneus đều có thể truyền bệnh virus, trong đó B tabaci là quan trọng

nhất (Brunt, 1986 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004)

Khả năng truyền bệnh virus của B tabaci đã được ghi nhận được từ

thập niên 1930 ở Châu Phi và giữa thập niên 1940 ở Châu Mỹ, nhưng sự lây

lan, phân bố của B tabaci gia tăng có ý nghĩa trong thập niên 1990 (Brown,

1994 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004)

2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái và cách gây hại của một số loài rầy phấn trắng phổ biến

2.2.1 Loài Aleurodicus dispersus Russell

Theo Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000)

cho rằng ấu trùng và thành trùng đều tấn công ở mặt dưới của lá, do cấu trúc

ở mặt dưới lá có liên quan đến tính ưa thích ký chủ của loài rầy này

Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút dịch của lá cây, tiết mật ngọt làm cho nấm bồ hóng phát triển trên lá (Wijiesekera và Kudagamage, 1990)

Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000) ghi

nhận chúng gây hại chủ yếu trong mùa nắng

 Trứng

Trứng thường được đẻ ở mặt dưới của lá, ở góc phải đến gân lá Giai đoạn ủ trứng khoảng 9 – 11 ngày trong điều kiện nhà kính ở nhiệt độ từ 20 –

Trang 18

390C (Waterhouse và Norris, 1989) Tuy nhiên theo Wen và ctv (1994, do

Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000) cho rằng thời gian ủ trứng 6 – 7 ngày

Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003) thì thời gian ủ trứng ở nhiệt độ 28 - 330C, ẩm độ không khí 65 - 75% là 7 ngày (dao động từ

6 - 8 ngày)

 Ấu trùng

Theo Waterhouse và Norris (1989) thì rầy phấn trắng có 4 giai đoạn

ấu trùng Giai đoạn đầu tiên của ấu trùng đôi khi còn được gọi là “con rận”, là giai đoạn ấu trùng có chân bò và râu rõ rệt, giai đoạn đầu là giai đoạn duy nhất có khả năng di chuyển nhanh nhẹn Tất cả các giai đoạn ấu trùng khác thì chúng bất động

Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng ấu trùng tuổi 1 mới nở di động, sớm tìm nơi phù hợp ở mặt lá để sống cố định

Theo Waterhouse và Norris (1989) thì giai đoạn đầu tiên của ấu trùng khoảng 6 – 7 ngày, giai đoạn thứ hai là khoảng 4 – 5 ngày và giai đoạn thứ ba khoảng 5 – 7 ngày trong điều kiện nhà kính với nhiệt độ khoảng 20 - 390C

Huỳnh Thanh Lộc (2003) ghi nhận thời gian tuổi 1 kéo dài 4,2 ngày (dao động trong khoảng 3 – 5 ngày), tuổi 2 là 3,6 ngày (dao động trong khoảng 2 - 7 ngày), tuổi 3 là 3,4 ngày (dao động trong khoảng 3 - 7 ngày), tuổi 4 là 8,8 ngày (dao động trong khoảng 8 - 14 ngày) ở nhiệt độ 28 - 330C,

ẩm độ không khí 65 - 75%

 Nhộng

Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000) cho rằng

ấu trùng tuổi cuối được xem như giai đoạn “nhộng”, kéo dài khoảng 1 tuần

Waterhouse và Norris (1989) còn cho biết thêm giai đoạn nhộng khoảng 10 – 11 ngày trong điều kiện nhà kính ở nhiệt độ 20 – 390C

 Thành trùng

Thành trùng cái đẻ trứng ngay trong ngày vũ hóa và tiếp tục đẻ trứng trong suốt vòng đời của chúng (Waterhouse và Norris, 1989)

Trang 19

Nếu không giao phối con cái sẽ đẻ thế hệ con cháu là toàn con đực, nếu giao phối sẽ đẻ cả đực và cái Chúng hoạt động linh hoạt nhất trong một vài giờ buổi sáng Giao phối xảy ra trong khoảng thời gian buổi chiều (Waterhouse và Norris, 1989).

Thành trùng có thể sống đến 39 ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm (Waterhouse và Norris, 1989)

Theo Wijesekera và Kudagamage (1990) thì thành trùng có thời gian sống khoảng 2 tuần

Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003) thời gian sống ở điều kiện thí nghiệm đối với con đực là 2,8 ngày (dao động trong khoảng 2 – 8 ngày), con cái là 2,8 ngày (dao động trong khoảng 1 – 4 ngày)

2.2.1.2 Đặc điểm hình thái học

 Trứng

Con cái đẻ từ 14 – 26 trứng thành những vòng tròn xoắn ốc ngay trên biểu bì của mặt dưới lá (Wijiesekera và Kudagamage, 1990) Đây cũng là điểm đặc trưng để nhận dạng loài rầy này

Theo Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000) cho

rằng thành trùng đẻ trứng theo một vòng xoắn ốc ở mặt dưới lá và được che phủ bởi những lông sáp trắng mịn, trứng dài khoảng 0,5 mm

Ổ trứng gồm một hay nhiều trứng nhỏ, hình elip, vỏ bọc nhẵn, trứng màu vàng đến nâu vàng, cùng với nhiều chất sáp nhỏ, bám ở bề mặt của lá, thường là mặt dưới của lá cây, nó không theo một quy luật nào cả, sáp phủ theo đường, điển hình là tạo thành một mẫu hơi xoắn (Waterhouse và Norris, 1989)

Trang 20

và có dạng giống như rệp dính và thường được gọi là nhộng giả, ấu trùng tuổi này tiết ra chất sáp để che phủ cơ thể Giai đoạn ấu trùng không có cánh.

Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003), cơ thể ấu trùng tuổi 2

có chiều dài 0,6 mm, rộng 0,4 mm; tuổi 3 dài 1 mm, rộng 0,7 mm ; tuổi 4 dài 1,2 mm, rộng 0,9 mm

 Nhộng

Theo Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000)

cho rằng trên cơ thể ấu trùng tuổi cuối của rầy phấn trắng có những sợi sáp trắng dài

 Thành trùng

Thành trùng có màu trắng và có kích thước nhỏ, chiều dài khoảng 2 –

3 mm và có phủ một lớp sáp mịn trên cơ thể Chúng gần giống như loài bướm nhỏ, cả con đực và con cái đều có cánh Mắt có màu đỏ nâu hơi sậm Cánh của chúng trong suốt khi mới vũ hóa và sau khi vũ hoá một vài giờ thì phủ lên một lớp phấn trắng (Waterhouse và Norris, 1989)

Theo Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000),

cho rằng thành trùng có hai cặp cánh trắng dài khoảng 1,5 mm Râu đầu có 7 đốt

Thành trùng lúc mới nở, cánh chưa có lớp bụi phấn trắng, lớp bụi phấn trắng sớm được tiết ra trong một vài giờ sau đó từ các tuyến sáp của cánh và cơ thể Cơ thể thành trùng dài 2,8 mm, râu đầu có 7 đốt, khi đậu cánh dang rộng chỉ thấy cặp chân trước (Huỳnh Thanh Lộc, 2003)

2.2.1.3 Cách gây hại

Rầy phấn trắng có thể gây hại theo 3 cách sau: gây hại trực tiếp, gây hại gián tiếp và truyền bệnh virus (Berlinger, 1986 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004)

Gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch của lá cây non lúc giai đoạn ấu trùng tuổi 1 và giai đoạn thành trùng của rầy phấn trắng Điều này làm cho lá cây bị rụng sớm Cách gây hại trực tiếp, ngay cả khi sự phá hại ở

Trang 21

mức độ nặng, thường thì nó cũng không làm chết cây (Waterhouse và Norris, 1989).

Gây hại trực tiếp cả thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa lá, làm cho lá rụng Tuy nhiên, việc gây hại trực tiếp, ngay cả mật số cao, vẫn không làm chết cây (Berlinger, 1986 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004)

Gây hại gián tiếp do sự bài tiết chất mật ngọt và lớp sáp trắng tạo môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển, làm đen bề mặt lá, giảm khả năng quang hợp và làm giảm giá trị thương phẩm của sản phẩm (Berlinger,

1986 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004)

Truyền bệnh virus rầy chích hút ở cây bệnh khảm do virus, sau đó bay sang chích hút ở cây khỏe thì sẽ truyền virus qua cây này, làm cho cây bị nhiễm virus với các triệu chứng thể hiện như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu năng suất trầm trọng (Ronald và Martin, 1992)

2.2.2 Loài Bemisia tabaci Gennadius

2.2.2.1 Đặc điểm sinh học

Nhiệt độ tối ưu cho rầy phấn trắng phát triển là từ 18 – 240C Vòng đời của rầy phấn trắng ở nhiệt độ phòng khoảng 25 ngày Ở nhiệt độ cao hơn thì phát triển nhanh hơn (18 ngày ở 810F) Nhưng mật số trứng thì giảm ở nhiệt độ trên 810F Nhiệt độ thấp có thể không giết chết một giai đoạn nào đó của rầy phấn trắng, chẳng hạn như giai đoạn trứng, tuy nhiên nhiệt độ dưới -100F sẽ giết chết thành trùng và giai đoạn còn non của rầy phấn trắng sau 24 giờ (1)

Tuổi thọ của rầy phấn trắng phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ cao con cái có thể sống từ 10 – 15 ngày, ở nhiệt độ thấp hơn chúng có thể sống đến 2 tháng (2)

http://ipmofalaska.homestead.com/files/whitflybulletin.html accessed 27/10/2004

2 Whiteflies, available from: http://www.granitehydro.com/learnxx/pests&diseases.html

accessed 12/10/2004

Trang 22

Rầy phấn trắng có 6 giai đoạn sống, trứng, 4 giai đoạn ấu trùng và giai đoạn trưởng thành Thời gian phát triển từ trứng đến thành trùng của loài côn trùng này có thể trong phạm vi từ 15 – 70 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ và

ký chủ Chúng xuất hiện và phát triển trong phạm vi nhiệt độ từ 10 – 320C, nhiệt độ tối ưu cho chúng phát triển là 270C (Ronald và Martin, 1992).

 Trứng

Theo Ronald và Martin (1992) cho rằng trứng thường được đẻ ở mặt

dưới của lá non, tầng trên của cây Con cái đẻ từ 28 – 300 trứng phụ thuộc vào nhiệt độ và cây ký chủ Ở nhiệt độ thấp thì gia tăng tỷ lệ tử vong Tuy nhiên, độ ẩm là nhân tố không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong và thời gian ấp trứng Ở 250C trứng sẽ nở sau 6 - 7 ngày (Heather, 2000)

 Ấu trùng

Ấu trùng ở giai đoạn đầu thường được gọi là “con rận” và các giai đoạn ấu trùng sau đó thường được nhắc đến như con nhộng Sau khi nở thì ấu trùng (ấu trùng tuổi 1) di chuyển với khoảng cách ngắn và định cư để ăn Thời gian để hoàn thành giai đoạn ấu trùng khoảng 2 - 4 tuần (Ronald và

Martin, 1992).

Bọ phấn non tuổi 1 bò chậm chạp trên mặt lá, từ cuối tuổi 1 sang tuổi

2 cho tới lúc trưởng thành, chúng sống cố định một chỗ Vòng đời của bọ phấn trắng khoảng 35 – 54 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ (nhiệt độ thích hợp từ 18 – 330C, độ ẩm từ 90 – 95%) (Phạm Thị Nhất, 2002)

Theo Salas và Mendoza (1995, do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn

2004) còn cho biết Bemisia tabaci trên cà chua trong điều kiện phòng thí

nghiệm ở nhiệt độ 250C và ẩm độ không khí 65% thì thời gian ủ trứng là 7,5

± 0,5 ngày, tuổi 1: 4 ± 1 ngày, tuổi 2: 2,7 ± 1,1 ngày, tuổi 3: 2,5 ± 0,7 ngày, tuổi 4 (nhộng): 5,8 ± 0,3 ngày, vòng đời từ trứng đến vũ hóa là 22,3 ngày Thành trùng sống 19 ± 5,8 ngày Trong điều kiện tối hảo thành trùng cái đẻ 194,9 ± 59,1 trứng, tỷ lệ trứng nở là 86,5% Tỷ lệ đực : cái là 1 : 2,7

 Nhộng

Trang 23

Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhộng và tuổi 4 là 2 giai đoạn riêng

biệt (Azab và ctv., 1971, EL-Helaly và ctv., 1971, Sharaf và Batta, 1985,

López-Avila, 1986 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004), nhưng các nhà nghiên cứu khác lại xem đó như là một giai đoạn chuyển đổi, tuổi 4 hay còn gọi là nhộng bởi vì khoảng thời gian của 2 giai đoạn này ngắn và khó phân

biệt khoảng 5,8 ± 0,3 ngày (Hussain, 1931; Gill, 1990; Bethke và ctv.,1991;

Byrne và Bellows, 1991 do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004) Trong

thời gian 4 - 6 ngày nhộng vũ hóa thành con trưởng thành (Bohmfalk và ctv.,

Chúng thường tìm đến vị trí cao nhất của cây Thành trùng cái đẻ trứng ở mặt dưới của lá non (3) Trong vòng 1 – 2 ngày sau khi vũ hóa con cái bắt đầu đẻ trứng, và có thể đẻ đến 500 trứng trong vòng đời của nó (3)

2.2.2.2 Đặc điểm hình thái học

 Trứng

Con cái đẻ trứng hình quả lê vào biểu bì của lá hay tế bào ở mặt dưới của lá Trứng bám chặt vào lá bằng một cái cuống Khi mới đẻ trứng có màu

trắng, và trở nên nâu khi sắp nở (Ronald và Martin, 1992) Trứng mới đẻ có

màu trắng, hình oval, đường kính khoảng 0,25 mm Sau 1 – 2 ngày chuyển sang màu nâu đến đen (3)

3Pests and diseases, available from: http://www.granitehydro.com/learnxx/pests&diseases.html accessed

12/10/2004.

3 Pests and diseases, available from: http://www.granitehydro.com/learnxx/pests&diseases.html accessed

12/10/2004.

Trang 24

Trứng hình bầu dục có cuống, dài khoảng 0,18 – 0,20 mm, vỏ mỏng, mới đẻ có màu trong suốt, sau một ngày đêm chuyển sang màu vàng sáp, dần dần chuyển sang màu nâu xám (Phạm Thị Nhất, 2002) Theo Heather (2000) cho rằng trứng có chiều dài khoảng 0,21 mm, rộng khoảng 0,96 mm

 Ấu trùng

Ấu trùng thì rất dễ nhận thấy, chúng có kích thước 0,3 – 0,7 mm, mới

nở thì di chuyển nhưng chúng trở nên bất động một vài giờ sau đó, ở thời điểm này chúng bắt đầu chích hút Chúng có hình oval và nhiều sáp ở giai đoạn này

Bọ phấn non có màu vàng nhạt, hình oval, mới nở đã có chân bò dưới mặt lá, kích thước bọ phấn non dài khoảng 0,7 – 0,9 mm, rộng 0,5 – 0,6 mm

Bọ phấn non có 3 tuổi, ở tuổi cuối cùng chuyển sang nhộng (Phạm Thị Nhất, 2002)

 Nhộng

Nhộng của bọ phấn là nhộng giả, hình bầu dục màu sáng, có lông ở hai bên sườn có thể nhìn thấy mắt đỏ của con trưởng thành qua tấm lưng trong suốt của nó (Phạm Thị Nhất, 2002) Ở giai đoạn nhộng, hai mắt màu đỏ của chúng đủ lớn để chúng ta nhận thấy được Nhộng có màu trắng đục, phủ nhiều sáp và mật ngọt (3) Nhộng hình oval, màu vàng sáng và trở nên sậm hơn khi sắp vũ hóa Cả hai mặt của nhộng ở giai đoạn sớm đều có điểm màu cam và sẽ biến mất khi sắp vũ hóa, vỏ nhộng màu trắng, không có các tua sáp xung quanh nhộng (United States Department of Agriculture, whitefly knowledgebase, 1995b)

 Thành trùng

Thành trùng dài khoảng 1 mm, có hai cặp cánh trắng và cơ thể màu vàng sáng () Rầy phấn trắng trưởng thành có màu vàng nhạt, thân, cánh được phủ một lớp phấn màu trắng nên được gọi là bọ phấn trắng, chân dài và mảnh Bọ phấn rất nhỏ, con đực dài khoảng 1 mm, cánh trải rộng khoảng 1,5 mm; con cái dài khoảng 1,4 mm, cánh trải rộng gần 2 mm (Phạm Thị Nhất, 2000)

2.2.2.3 Cách gây hại

Bọ phấn trắng là loài đa ký chủ hại nhiều loại cây, nhưng hại mạnh nhất là cây họ cà, bầu bí, đậu đỗ Bọ phấn trắng chích hút dịch cây, nhất là

Trang 25

ngọn và phần non ở phía dưới của thân cây Cây có nhiều bọ phấn thường yếu và có thể héo, chuyển màu vàng, nếu mật độ cao trong thời gian dài cây

sẽ chết Tác hại chủ yếu của bọ phấn trắng là môi giới truyền bệnh virus xoắn

lá cà chua, khoai tây Tỷ lệ bệnh xoắn lá trên ruộng cà chua tăng dần cùng lượng bọ phấn (Phạm Thị Nhất, 2002)

Rầy phấn trắng có khả năng tiết mật ngọt bằng cách thải ra những nhựa cây không tiêu hóa được và đây là nguyên nhân để nấm muội đen phát triển Nấm muội đen thì không có hại cho lá cây, nhưng có thể chúng là màng chắn gây khó khăn cho sự quang hợp của cây, và mất đi vẻ thẩm mỹ (1)

Theo Mound (1965, do Nguyễn Thị Mỹ Phụng, trích dẫn 2004) còn cho biết cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa cây làm chết mô thực vật do kim chích và tiết nước bọt Mật số rầy phấn trắng cao làm cho cây bị suy yếu như rụng lá và giảm sự sinh trưởng

Truyền bệnh virus: rầy chích hút ở cây bệnh khảm do virus, sau

đó bay sang chích hút ở cây khỏe thì sẽ truyền virus qua cây này, làm cho cây bị bệnh khảm với các triệu chứng thể hiện như: chùn đọt, ngừng sinh trưởng, cây yếu, thất thu năng suất trầm trọng (Martin và Ronald, 1992)

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 26

- Máy đếm đơn, máy ảnh kỹ thuật số

- Trồng cây con (Đậu Nành, Ớt) 1,5 đến 2 tháng tuổi.

- Nhân nuôi thành trùng rầy phấn trắng trong lồng lưới để làm nguồn.

- Đặt chậu Đậu Nành hoặc chậu Ớt vào lồng lưới, sau một đêm, lấy

chậu cây con ra đếm và đánh dấu thứ tự các ổ trứng đã chọn, quan sát hàng ngày ghi nhận thời gian nở trứng, thời gian phát triển mỗi tuổi, từng giai đoạn

từ trứng đến thành trùng

3.2.2 Phương pháp tiến hành

- Tìm và tham khảo tài liệu, thu thập số liệu thứ cấp.

- Trồng cây Ớt, Đậu Nành trong chậu sành

- Tiến hành thu mẫu nuôi để làm nguồn.

- Nhân nuôi thành trùng và tiến hành khảo sát.

- Ghi nhận chỉ tiêu.

- Xử lý số liệu

- Viết báo cáo

Trang 27

Hình 1: Lồng lưới nhân nuôi thành trùng rầy phấn trắng làm nguồn

Trang 28

Hình 2: Quan sát hình thái của ấu trùng rầy phấn trắng dưới kính lúp

3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

Quan sát, theo dõi mỗi ngày để ghi nhận:

- Màu sắc, hình dạng bên ngoài và đo kích thước của từng giai đoạn

Trang 29

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

  

4.1 Một số đặc điểm sinh học, hình thái của rầy phấn trắng Aleurodicus

dispersus Russell

Thí nghiệm được thực hiện ở khoa Nông Nghiệp - Tài Nguyên Thiên

Nhiên, trường Đại Học An Giang, trong điều kiện nhiệt độ trung bình là

31,50C, ẩm độ không khí trung bình là 70% Theo kết quả khảo sát trong quá

trình thí nghiệm, ghi nhận được kết quả như sau:

Tuổi 4

Thành trùng

Trang 30

Thành trùng đẻ trứng ở mặt dưới của lá cây ký chủ, một đầu của trứng dính chặt vào biểu bì của lá, ở mật số cao thành trùng đẻ trứng cả mặt trên của lá Trứng được đẻ theo hình xoắn ốc trên biểu bì của lá và phủ lên đó một lớp sáp trắng mịn

Theo kết quả bảng 1, quan sát, theo dõi trên 319 cá thể ghi nhận được

thời gian ủ trứng trung bình của loài Aleurodicus dispersus Russell là 6,54

ngày, dao động từ 5 – 8 ngày, kết quả cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng thời gian ủ trứng là 7 ngày, dao động

từ 6 - 8 ngày và của Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn

2000) cho rằng thời gian ủ trứng là 6 - 7 ngày, theo Waterhouse và Norris (1989) thì ở nhiệt độ 20 - 390C, thời gian ủ trứng là 9 - 11 ngày

Bảng 1: Thời gian phát triển của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus

Russell qua các giai đoạn

Rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell có 4 giai đoạn, giai

đoạn ấu trùng tuổi cuối được xem như giai đoạn “nhộng”, ấu trùng tuổi 1 có khả năng di chuyển được và hoạt động rất linh hoạt, 3 giai đoạn tiếp theo chúng “bất động” Kết quả này phù hợp với ghi nhận của Waterhouse và Norris (1989) cho rằng rầy phấn trắng có 4 giai đoạn ấu trùng, giai đoạn đầu

là giai đoạn duy nhất có khả năng di chuyển nhanh nhẹn Tất cả các giai đoạn

ấu trùng khác thì chúng bất động

* Tuổi 1

Trang 31

Ấu trùng tuổi 1 mới nở, di chuyển nhanh nhẹn, chúng thường di chuyển đến những gân lá trong ổ trứng của chúng và những vùng lân cận để thuận tiện cho việc chích hút Tuy nhiên, trong giai đoạn này chúng không di chuyển đến những nơi quá xa ổ trứng (không di chuyển xa ổ trứng quá 1cm).

Quan sát 310 cá thể thì thời gian trung bình của tuổi 1 là 3,6 ngày, dao động từ 3 - 5 ngày (bảng 1) Kết quả này tương đối phù hợp với ghi nhận của Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng thời gian tuổi 1 là 4,2 ngày (dao động từ 3

- 5 ngày)

* Tuổi 2

Quan sát, theo dõi trên 264 cá thể ghi nhận ấu trùng tuổi 2 sống cố định, thời gian trung bình của tuổi 2 là 3,52 ngày, dao động từ 2 - 7 ngày (bảng 1), theo Waterhouse và Norris (1989) thì thời gian tuổi 2 ở nhiệt độ từ

20 - 390C là 4 - 5 ngày

* Tuổi 3

Ấu trùng tuổi 3 sống cố định, quan sát trên 230 cá thể thì thời gian trung bình của tuổi 3 là 4,12 ngày, dao động trong khoảng 3 - 7 ngày (bảng 1) Theo Huỳnh Thanh Lộc (2003), quan sát trên 69 cá thể thì thời gian tuổi 3

là 3,4 ngày, dao động trong khoảng 3 - 7 ngày So với kết quả của Huỳnh Thanh Lộc (2003), thì thời gian trung bình của tuổi 2 (quan sát trên 230 cá thể) cao hơn 0,72 ngày, nhưng khoảng thời gian dao động của tuổi 2, khi quan sát trên 69 cá thể (Huỳnh Thanh Lộc, 2003) và khi quan sát trên 230 cá thể thì trùng khớp với nhau là 3 - 7 ngày

* Tuổi 4

Ấu trùng tuổi 4, sống cố định và theo kết quả bảng 1, quan sát trên 183

cá thể thì thời gian trung bình của tuổi 4 là 8,66 ngày, dao động từ 7 - 14 ngày Kết quả này tương đối phù hợp với nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003), quan sát trên 55 cá thể cho rằng thời gian của tuổi 4 là 8,8 ngày, dao động trong khoảng 8 - 14 ngày

 Thành trùng

Trang 32

Qua kết quả theo dõi, quan sát trong suốt quá trình thí nghiệm thấy rằng thành trùng sống ở mặt dưới của lá cây Kết quả này cũng phù hợp với

ghi nhận của Wen và ctv (1994, do Nguyễn Thị Thu Cúc, trích dẫn 2000) cho rằng ấu trùng và thành trùng đều tấn công ở mặt dưới của lá, do cấu trúc

ở mặt dưới lá có liên quan đến tính ưa thích ký chủ của loài rầy này

Thành trùng sau khi vũ hóa 1,5 ngày, dao động từ 1 - 2 ngày, bắt đầu

đẻ trứng trở lại (bảng 1) Kết quả này phù hợp với ghi nhận của Huỳnh Thanh Lộc (2003), cho rằng thời gian từ vũ hóa đến đẻ trứng là 1,5 ngày, dao động

từ 1 - 2 ngày và cũng tương đối phù hợp với nghiên cứu của Waterhouse và Norris (1989), cho rằng thành trùng cái đẻ trứng ngay trong ngày vũ hóa và tiếp tục đẻ trứng trong suốt vòng đời của chúng

Tổng vòng đời của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell là

27,94 ngày, dao động trong khoảng 21 - 41 ngày (bảng 1) Kết quả này tương đối phù hợp với kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng thời gian từ trứng đến vũ hóa là 28,5 ngày, dao động trong khoảng 23 - 43 ngày

4.1.2 Đặc điểm hình thái học

 Trứng

Trứng mới đẻ có màu trắng đục (hình 4A), sau một thời gian sẽ chuyển sang màu vàng nhạt và dần dần chuyển sang màu vàng nâu khi sắp

nở Trứng có hình dạng gần giống hình elip, được phủ một lớp sáp trắng mịn,

vỏ nhẵn Kết quả này phù hợp với ghi nhận của Waterhouse và Norris (1989) cho rằng trứng hình elip, vỏ bọc nhẵn, trứng màu vàng đến nâu vàng, cùng với nhiều chất sáp nhỏ, bám ở bề mặt của lá, thường là mặt dưới của lá

Theo kết quả bảng 2, quan sát, đo kích thước trên 40 trứng ghi nhận được kết quả như sau: trứng dài 0,28 mm, (dao động từ 0,25 - 0,33 mm), rộng 0,12 mm (dao động từ 0,10 - 0,15 mm), theo Huỳnh Thanh Lộc (2003) thì trứng dài 0,2 mm, rộng 0,08 mm

Trang 33

Trong giai đoạn ủ trứng, nhận thấy một vệt màu vàng cam, gần giống hình elip, nằm khoảng 2/3 chiều dài của quả trứng (hình 4B) Khi trứng sắp

nở vệt màu vàng cam này càng lớn Trước khi trứng nở khoảng 1 ngày, chúng

ta thấy rõ được 2 mắt của ấu trùng tuổi 1 (hình 4C)

Dao động Trung bình Dao động Trung bình

Trang 34

Hình 5: Ấu trùng tuổi 1 của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell

Theo kết quả quan sát ở bảng 2 ghi nhận được cơ thể ấu trùng tuổi 1 dài 0,33 mm (dao động từ 0,28 - 0,35 mm), rộng 0,14 mm (dao động từ 0,10 - 0,16 mm), theo Huỳnh Thanh Lộc (2003) thì cơ thể ấu trùng tuổi 1 dài 0,25

mm, rộng 0,1 mm

Trang 35

* Tuổi 2

Cơ thể ấu trùng tuổi 2 có hình bầu dục, theo thời gian ở giữa mặt lưng của ấu trùng tuổi 2 dần dần xuất hiện 2 vệt màu vàng cam đối xứng nhau, đồng thời những sợi lông tơ trên cơ thể và xung quanh rìa của cơ thể xuất hiện ngày càng nhiều hơn (hình 6) Tuy nhiên, trong giai đoạn tuổi 2 trên cơ thể ấu trùng chỉ được phủ một ít lớp sáp trắng

Theo kết quả quan sát ở bảng 2 ghi nhận: cơ thể ấu trùng tuổi 2 dài 0,54 mm (dao động từ 0,38 - 0,68 mm), rộng 0,36 mm (dao động từ 0,30 - 0,44 mm) Kết quả này tương đối phù hợp với ghi nhận của Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng cơ thể ấu trùng tuổi 2 có chiều dài 0,6 mm, rộng 0,4

mm

vệt màu cam

Hình 6: Sự biến đổi ở giai đoạn ấu trùng tuổi 2 của rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus Russell

* Tuổi 3

Cơ thể ấu trùng tuổi 3 được phủ đầy lớp sáp trắng, các sợi lông tơ trên

cơ thể kéo dài ra thêm Trên cơ thể dần dần xuất hiện hình chữ V, màu vàng nâu, nơi này không có lớp sáp trắng phủ lên, vì thế khi quan sát dưới kính lúp cầm tay chúng ta thấy rõ một lỗ tròn (lỗ vasiform) (hình 7A) Kết quả này

Trang 36

phù hợp với ghi nhận của Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng cơ thể ấu trùng tuổi 3 được phủ sáp, các sợi lông sáp kéo dài, nơi chữ V nhìn thấy rõ lỗ vasiform

Hình 7: Ấu trùng tuổi 3 (A) và tuổi 4 (nhộng) (B) của Aleurodicus

dispersus Russell

Cơ thể ấu trùng tuổi 3 có hình bầu dục, dài khoảng 1,06 mm (dao động

từ 0,70 - 1,63 mm), rộng 0,74 mm (dao động từ 0,41 - 1,21 mm) (bảng 2) Kết quả này tương đối phù hợp với ghi nhận của Huỳnh Thanh Lộc (2003) cho rằng cơ thể ấu trùng tuổi 3 dài 1 mm, rộng 0,7 mm

* Tuổi 4

Cơ thể ấu trùng tuổi 4 hình bầu dục, cơ thể phủ rất nhiều sáp trắng, các sợi lông tơ trên cơ thể to và dài, nơi chữ V càng lớn, màu vàng nâu, không phủ lớp sáp trắng và càng thấy rõ lỗ vasiform Phía đầu cơ thể gần nơi chữ V thấy rõ 2 sợi sáp trắng, dài, hình ống Hai sợi sáp này cong về hai phía đối xứng nhau qua trục của cơ thể ấu trùng (hình 7B) Khi sắp vũ hóa những sợi lông tơ trên cơ thể càng nhiều và càng dài thêm (hình 8)

AB

Ngày đăng: 28/01/2013, 15:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lồng lưới nhân nuôi thành trùng rầy phấn trắng làm nguồn - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 1 Lồng lưới nhân nuôi thành trùng rầy phấn trắng làm nguồn (Trang 27)
Hình 3: Vòng đời rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 3 Vòng đời rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell (Trang 29)
Hình 4: Sự biến đổi của trứng trong giai đoạn ủ trứng Aleurodicus dispersus - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 4 Sự biến đổi của trứng trong giai đoạn ủ trứng Aleurodicus dispersus (Trang 33)
Hình 5: Ấu trùng tuổi 1 của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 5 Ấu trùng tuổi 1 của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell (Trang 34)
Hình 6: Sự biến đổi ở giai đoạn ấu trùng tuổi 2 của rầy phấn trắng - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 6 Sự biến đổi ở giai đoạn ấu trùng tuổi 2 của rầy phấn trắng (Trang 35)
Hình 7:  Ấu trùng tuổi 3 (A) và tuổi 4 (nhộng) (B) của  Aleurodicus - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 7 Ấu trùng tuổi 3 (A) và tuổi 4 (nhộng) (B) của Aleurodicus (Trang 36)
Hình 8:  Ấu trùng tuổi 4 (nhộng) loài  Aleurodicus dispersus  Russell - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 8 Ấu trùng tuổi 4 (nhộng) loài Aleurodicus dispersus Russell (Trang 37)
Hình 9:  Thành trùng rầy phấn trắng  Aleurodicus dispersus  Russell mới vũ - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 9 Thành trùng rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell mới vũ (Trang 39)
Hình 10: Bộ phận sinh dục của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 10 Bộ phận sinh dục của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Russell (Trang 39)
Hình 11: Ổ trứng của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Rusell - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 11 Ổ trứng của rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus Rusell (Trang 41)
Hình 12: Vòng đời của rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 12 Vòng đời của rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius (Trang 43)
Hình 15: Nhộng (tuổi 4) (A) và vỏ nhộng (B) của rầy phấn trắng  Bemisia - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 15 Nhộng (tuổi 4) (A) và vỏ nhộng (B) của rầy phấn trắng Bemisia (Trang 49)
Hình 16: Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius đang vũ hóa - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 16 Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius đang vũ hóa (Trang 50)
Hình 17: Thành trùng rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
Hình 17 Thành trùng rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius (Trang 51)
Bảng   9:   So   sánh   kích   thước   từng   giai   đoạn   phát   triển   của   Aleurodicus - Khảo Sát Một Số Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của 2 Loài Rầy Phấn Trắng
ng 9: So sánh kích thước từng giai đoạn phát triển của Aleurodicus (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w