Mặt khác, liên kết kinh tế quốc tế cũng là một quá trình chủ quan bởi nó là kết quả của những hoạt động của các quốc gia trong việc phối hợp nền kinh tế của các quốc gia đó, làm cho các
Trang 1Khái niệm:
Liên kết kinh tế quốc tế hay còn gọi là nhất thể hoá kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó diễn ra quá trình xã hội hoá có tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất giữa các chủ thể kinh tế quốc tế Đó là sự thành lập một tổ hợp kinh tế quốc tế của một nhóm thành viên nhằm tăng cường phối hợp và điều chỉnh lợi ích giữa các bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các bên và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Quá trình liên kết kinh tế quốc tế đưa tới việc hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn với các mối quan hệ kinh tế quốc tế phức tạp và đa dạng
Các bên tham gia liên kết kinh tế quốc tế có thể là các quốc gia hoặc các tổ chức doanh nghiệp thuộc các nước khác nhau
Trang 2Như vậy liên kết kinh tế quốc tế là một quá trình khách quan bởi nó là kết quả của quá trình vận động mang tính quy luật, xuất phát từ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và quốc tế hoá đời sống kinh tế do tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật Mặt khác, liên kết kinh tế quốc tế cũng là một quá trình chủ quan bởi
nó là kết quả của những hoạt động của các quốc gia trong việc phối hợp nền kinh
tế của các quốc gia đó, làm cho các nền kinh tế thích ứng với nhau, dần dần hình thành một chỉnh thể kinh tế có cơ cấu tối ưu, có năng suất lao động cao
Về bản chất, liên kết kinh tế quốc tế là hình thức phát triển cao hơn về chất
của phân công lao động quốc tế với những đặc trưng cơ bản sau:
*Liên kết kinh tế quốc tế đưa tới sự gia tăng về số lượng và cường độ các mối quan hệ kinh tế quốc tế, gia tăng các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên và hình thành nên cơ cấu kinh tế mới trong quá trình liên kết Với hình thức liên kết kinh tế, các mối quan hệ kinh tế quốc tế sẽ có tính chất thường xuyên
ổn định và được chú ý củng cố để cho nó có thể phát triển lâu dài
*Liên kết kinh tế quốc tế bao trùm và liên quan đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế
*Liên kết kinh tế quốc tế là sự phối hợp mang tính chất liên quốc gia giữa những nhà nước độc lập có chủ quyền Bởi vậy nó thường chịu sự điều tiết của các chính sách kinh tế của các chính phủ Nói chung nền kinh tế giữa các quốc gia không có sự đồng nhất cả về trình độ phát triển cũng như về thể chế và kết cấu kinh tế xã hội Chính điều đó đưa đến chức năng điều chỉnh và làm xích lại gần nhau giữa các nền kinh tế quốc gia của liên kết kinh tế quốc tế Thông qua đó hình thành nên liên kết kinh tế quốc tế có tác dụng bổ sung và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển một cách thuận lợi hơn
Trang 3*Kết quả của quá trình liên kết kinh tế quốc tế lớn hơn, rõ ràng hơn và hình thành nên các tổ chức liên minh kinh tế quốc tế gắn kết các nước một cách chặt chẽ
*Trên thị trường thế giới đang diễn ra sự đấu tranh gay gắt giữa xu hướng tự
do hóa thương mại và xu hướng bảo hộ mậu dịch Các hình thức của chủ nghĩa mậu dịch mới ra đời và có nguy cơ gia tăng Các cuộc chiến tranh kinh tế giữa các trung tâm kinh tế lớn cũng có xu hướng mở rộng Trong điều kiện đó, liên kết kinh
tế quốc tế có vai trò như một giải pháp trung hòa để tạo nên các khu vực thị trường
tự do cho các thành viên Các liên kết kinh tế quốc tế trước hết hướng vào việc tạo lập thị trường quốc tế khu vực, dỡ bỏ dần các ngăn trở về hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các thành viên, tạo nên khuân khổ kinh tế và pháp lý phù hợp cho mậu dịch quốc tế gia tăng, củng cố và mở rộng quan hệ thị trường
*Liên kết kinh tế quốc tế luôn luôn là hành động tự giác của các thành viên nhằm thực hiện việc điều chỉnh có ý thức và phối hợp các chương trình phát triển kinh tế với những thoả thuận có đi có lại giữa các thành viên Nó là bước quá độ trong quá trình vận động của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa Trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển các liên kết kinh tế khu vực ( ví dụ như các khối
EU, NAFTA, ASEAN, APEC ) thể hiện cấp độ khu vực hóa nền kinh tế thế giới ngày càng gia tăng Các liên kết kinh tế này còn là khuôn khổ để cạnh tranh giữa các nhóm nước, bảo vệ và phục vụ cho lợi ích quốc gia và dân tộc
2 Mục đích của liên kết kinh tế quốc tế
Nền kinh tế quốc gia đang gia tăng liên kết ngày càng chặt chẽ hơn thông qua các hoạt động thương mại xuyên quốc gia, qua các dòng tài chính và dòng đầu
tư, còn người tiêu dùng ngày càng mua nhiều hơn hàng hóa nước ngoài Một biểu hiện đáng chú ý của động thái này là sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động của các tổ
Trang 4chức kinh tế quốc tế và khu vực hiện có cũng như đang hình thành với những cấu trúc, quy mô mà nhân loại chưa từng biết đến Xu thế toàn cầu hóa và liên kết kinh
tế quốc tế không cho phép bất cứ quốc gia nào có thể đứng đơn lẻ mà tồn tại và phát triển kinh tế được
Điều gì làm cho các quốc gia liên kết với nhau chặt chẽ đến như vậy? Đó là
do những mục tiêu chủ yếu của liên kết kinh tế quốc tế sau đây:
Trước hết, liên kết kinh tế quốc tế làm tăng năng suất lao động và tăng mức
sống của các quốc gia Bởi và một nền kinh tế được liên kết trên toàn cầu có thể dẫn tới sự phân công lao động tốt nhất giữa các quốc gia trên thế giới, cho phép các nước có mức thu nhập thấp, chuyên môn hóa công việc sử dụng lao động nhiều, còn những nước có thu nhập cao sẽ sử dụng lao động có hiệu quả hơn Nó còn cho phép các công ty khai thác lợi thế quy mô nhiều hơn nữa Nhờ có liên kết kinh tế quốc tế mà nguồn vốn có thể được chuyển tới bất kỳ nước nào có cơ hội đầu tư mang lại hiệu quả cao hơn chứ không chỉ bị mắc kẹt vào những dự án tài chính trong nước với mức thu nhập nghèo nàn Sự liên kết giữa các nước trong cùng một tiểu vùng hay trong khuôn khổ khu vực tạo điều kiện cho các nước thành viên phát huy những mặt mạnh của riêng mình, phát triển tối đa nội lực bổ sung lẫn nhau để phát triển và đưa cả khu vực phát triển tương đối đồng đều, tăng cường khả năng cạnh tranh và lợi thế không chỉ của mỗi thành viên mà của cả khu vực trong cuộc đua kinh tế, ngăn chặn những can thiệp từ bên ngoài và nâng cao tự cường dân tộc
Thứ hai, liên kết kinh tế quốc tế giúp cho việc tiết kiệm lao động xã hội
.Mục tiêu này được làm rõ thông qua việc tham gia vào khối liên kết kinh tế khu vực của các quốc gia Các khối liên kết kinh tế tạo ra một môi trường thương mại
ưu đãi trong khu vực dựa trên cơ sở loại trừ các rào chắn thuế quan và phi thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chu chuyển thương mại giữa các nước thành
Trang 5viên Gắn liền với biện pháp giảm tỷ suất thuế quan, các quốc gia còn cam kết dành cho nhau những ưu đãi trong buôn bán như ưu đãi về xuất xứ, về thủ tục hải quan, thống nhất về hệ thống điều hòa thuế quan HS, thống nhất về biểu mẫu kê khai hải quan, về công nhận chất lượng sản phẩm, xoá bỏ các hạn chế về số lượng Các biện pháp này góp phần hạ chi phí cho từng thành viên và sự lớn mạnh của cả cộng đồng
Ngoài ra, liên kết kinh tế quốc tế còn cho phép khai thác triệt để lợi thế so
sánh của các quốc gia, tạo khả năng đạt được quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất và sử dụng hợp lý hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên Việc thành lập các liên minh kinh tế hay liên minh thuế quan cũng tiết kiệm đáng kể các chi phí quản
lý do loại bỏ các biện pháp kiểm tra hành chính ở biên giới, các thủ tục hải quan
3 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế
Liên kết kinh tế được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau
3.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia, liên kết kinh tế quốc tế có thể chia thành liên kết nhỏ và liên kết lớn
Liên kết lớn (macro intergration): là hình thức liên kết mà chủ thể tham gia
là các nhà nước, các quốc gia trong đó các chính phủ ký kết với nhau các hiệp định
để tạo nên các khuôn khổ chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nhà nước
Tuỳ theo phương thức điều chỉnh của các liên kết quốc gia, người ta có thể phân chia thành liên kết giữa các nhà nước (Interstate) và liên kết siêu nhà nước (Superstar)
+ Liên kết giữa các nhà nước là loại hình liên kết mà cơ quan lãnh đạo là đại biểu của các nước thành viên tham gia với những quyền hạn chế Các quyết định
Trang 6của liên kết chỉ có tính chất tham khảo đối với chính phủ của các nước thành viên, còn quyết định cuối cùng là tùy thuộc vào các chính phủ
+ Liên kết siêu nhà nước là loại hình liên kết quốc tế mà cơ quan lãnh đạo chung là đại biểu của các nước thành viên có quyền rộng lớn hơn Các quyết định của liên kết có tính chất bắt buộc đối với các nước thành viên Trong liên kết siêu nhà nước, việc ra quyết định chung cho cả khối tuân theo nguyên tắc đa số và người ta dùng các biện pháp có hiệu lực để buộc các nước thành viên phải thi hành quyết định chung
Tùy theo mức độ liên kết lớn người ta còn có thể chia liên kết lớn thành ba cấp độ:
* Liên kết khu vực: Sự liên minh trong cùng một khu vực địa lý
Ví dụ: ASEAN, EU, NAFTA, MERCOSUR
* Liên kết kinh tế liên khu vực: Sự liên minh kinh tế ở những khu vực khác nhau Ví dụ : APEC, ASEM
* Liên kết kinh tế toàn cầu:WTO
Liên kết nhỏ(Micro intergration): Là loại hình liên kết mà chủ thể tham gia
là các công ty, tập đoàn trên cơ sở ký kết các hợp đồng hợp tác kinh doanh để hình thành nên các công ty quốc tế
Liên kết giữa các công ty được tiến hành ở các khâu khác nhau, thí dụ như liên kết trong quá trình nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, chê tạo sản phẩm, chi tiết sản phẩm, liên kết trong tiêu thụ sản phẩm, quảng cáo và thực hiện các dịch vụ khác
Các hình thức liên kết nhỏ
- Căn cứ vào nguồn để tạo vốn pháp định:
Trang 7+ Công ty đa quốc gia(Multinational Corporation - MNC): Là công ty độc quyền mà vốn sở hữu của công ty mẹ thuộc sở hữu của hai hay nhiều nước khác nhau, hoạt động được triển khai trên nhiều nước trên thế giới
Ví dụ: công ty Royal Dutch Shell (Anh- Hà lan), công ty Unilever
+ Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation-TNC): Là công ty mà vốn pháp định của công ty mẹ thuộc cùng một nước, còn đi vào hoạt động kinh doanh được triển khai ở nhiều nước bằng cách phụ thuộc các công ty xí nghiệp vào
nó Ví dụ: Công ty Ford
- Căn cứ vào phương thức hoạt động:
+ Cácten quốc tế: Là hình thức liên kết giữa các công ty xí nghiệp trong cùng một ngành trên cơ sở ký kết một hiệp định thống nhất về sản lượng sản xuất, giá cả và thị trường tiêu thụ, còn việc tổ chức sản xuất vẫn do các thành viên tự chủ Ví dụ: Tổ chức dầu mỏ OPEC
Thành công của các Cácten sẽ rất lớn khi nó đảm bảo kiểm soát được phần lớn sản lượng sản xuất của một ngành nào đó Khách hàng ít có khả năng từ bỏ mặt hàng do cácten sản xuất và sản phẩm thay thế khó có khả năng phát triển
+ Xanh đi ca quốc tế: Là hình thức liên minh trong đó các xí nghiệp trong cùng một ngành ký kết một hiệp định thoả thuận việc tiêu thụ sản phẩm do cùng một ban quản trị chung đảm nhận Các thành viên vẫn độc lập trong sản xuất
+ Tờ rớt quốc tế: Là hình thức công ty quốc tế bao gồm nhiều hãng, nhiều xí nghiệp trong cùng một ngành Tờ rớt thống nhất cả sản xuất và lưu thông vào trong tay một ban quản trị còn các thành viên thì vẫn trở thành cổ đông
Tờ rớt nội địa mua cổ phiếu của công ty nước ngoài, biến công ty nước ngoài trở thành công ty của mình và khống chế công ty nước ngoài bằng cách nắm độc quyền về cung cấp nguyên liệu
Trang 8+ Consortium: Là hình thức liên kết công trình xí nghiệp lớn gồm cả xanhđica, tờrớt thuộc các ngành khác nhau, có liên quan đến nhau về kinh tế và kỹ thuật
+ Cônglômêrat: Là hình thức liên kết đa ngành hình thành nên các tập đoàn khổng lồ bao gồm nhiều công ty, xí nghiệp thuộc các ngành khác nhau, bao gồm cả vận tải, thương nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm Mục đích của các Cônglômêrat là tập trung vốn, công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh, tránh bớt rủi ro và các ngành hỗ trợ cho nhau nâng cao hiệu quả sản xuất
3.2 Căn cứ vào đối tượng và mục đích của liên kết kinh tế quốc tế có thể phân chia liên kết thành các dạng: Khu mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và liên minh tiền tệ
3.2.1 Khu vực mậu dịch tự do(Free Trade Area- FTA)
Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hay nhiều nước nhằm mục đích tự do hoá việc buôn bán về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó (ngôn phẩm hoặc công nghệ phẩm) Biện pháp sử dụng là bãi miễn thành viên để hình thành một thị trường thống nhất nhưng mỗi nước thành viên vẫn thi hành chính sách ngoại thương độc lập đối với các nước ngoài liên minh Thí dụ khu vực mậu dịch tự do Châu Âu EFTA, khu vực tự do Bắc Mỹ NAFTA, khu vực tự do AFTA
Mục đích của khu vực mậu dịch tự do nhằm:
*Khuyến khích phát triển thương mại trong nội bộ khối, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
*Thu hút vốn đầu tư từ các nước bên ngoài khối cũng như trong nội bộ khối
3.2.2 Liên minh thuế quan (Custom union)
Đây là một liên minh quốc tế với nội dung bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các nước thành viên Tuy nhiên liên minh thuế quan có
Trang 9đặc điểm khác với khu vực mậu dịch tự do là đối với liên minh thuế quan người ta thiết lập một biểu thuế quan chung của các nước thành viên đối với phần còn lại của thế giới, tức là thực hiện chính sách cân đối mậu dịch với những nước không phải là thành viên đã trở thành một bộ phận trong chính sách mậu dịch nói chung với các nước bên ngoài liên minh
3.2.3 Thị trường chung (Common market)
Đây là một liên minh quốc tế áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong việc trao đổi thương mại nhưng nó đi xa thêm một bước là cho phép di chuyển cả tư bản và lao động tự do giữa các nước thành viên với nhau và
từ đó tạo điều kiện cho sự hình thành thị trường thống nhất theo nghĩa rộng Thí dụ khối Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) từ năm 1992 thuộc loại hình này
3.2.4 Liên minh kinh tế (Economic union )
Đây là một liên minh quốc tế với một bước phát triển cao hơn về sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ, sức lao động và tư bản một cách tự do giữa các nước thành viên Liên minh kinh tế được thực hiện thống nhất và hài hòa các chính sách kinh tế - tài chính - tiền tệ giữa các nước thành viên, bởi vậy nó là hình thức phát triển cao nhất của liên kết kinh tế quốc tế cho đến giai đoạn hiện nay Thí dụ khối đồng minh Benelux là một liên minh kinh tế giữa ba nước Bỉ, Hà lan, và Luycxămbua kể từ năm 1960 Liên minh Châu Âu EU (European union) từ năm
1994 cũng được coi là một liên minh kinh tế
3.2.5 Liên minh tiền tệ (Monetary union)
Đây là hình thức phát triển cao của liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên phải phối hợp chính sách tiền tệ với nhau và cùng thực hiện một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối Trong liên minh tiền tệ người ta thực hiện thống nhất các giao dịch tiền tệ giữa các thành viên, thống nhất về đồng tiền
Trang 10dự trữ và phát hành đồng tiền tập thể cho các nước trong liên minh Trong thực tế, liên minh tiền tệ là một loại hình gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức và hoạt động của chúng
4 Lợi ích của liên kết kinh tế quốc tế
Liên kết kinh tế quốc tế đưa lại những lợi ích kinh tế khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng
Một là: Tạo lập quan hệ mậu dịch giữa các nước, mở rộng khả năng xuất
nhập khẩu hàng hóa của các nước thành viên trong liên minh với các nước, các khu vực khác trên thế giới Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng kinh tế của các nước thành viên được khai thác một cách có hiệu quả Chính việc tạo lập mậu dịch
tự do hội nhập khu vực đã làm tăng thêm phúc lợi thông qua việc thay thế các ngành trước hết là công nghiệp của nước chủ nhà có chi phí cao bằng những ngành
có chi phí thấp hơn của những quốc gia nhận được sự ưu đãi Cũng trong điều kiện này lợi ích của người tiêu dùng được tăng lên nhờ hàng hóa của các nước thành viên đưa vào nước chủ nhà luôn nhận được sự ưu đãi Giá cả hàng hóa hạ xuống làm người dân ở nước chủ nhà có thể mua được khối lượng hàng hóa lớn hơn với mức chi phí thấp hơn
Hai là: Liên kết kinh tế quốc tế góp phần vào việc chuyển hướng mậu dịch
Sự chuyển hướng này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế quan vì khi
đó các điều kiện buôn bán giữa các nước thành viên trong liên minh sẽ trở nên thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn Ngay cả trong trường hợp một nước nào đó trong liên minh tiến hành nhập khẩu những sản phẩm của các quốc gia ngoài liên minh với giá thấp hơn nhưng nay được thay bằng việc nhập khẩu những sản phẩm cùng loại của các quốc gia trong liên minh mà giá lại cao hơn (do được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan)
Trang 11Như vậy những tác động tích cực do thương mại đưa lại là sự kết hợp chặt chẽ những thay đổi cả trong lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng Đó là sự thay thế các ngành sản xuất của những nước đối tác trong liên minh (tác động về sản xuất) và
sự thay thế tiêu dùng hàng nội địa bằng hàng của nước đối tác (tác động tới tiêu dùng)
Ba là: Liên kết kinh tế quốc tế hướng tới việc tự do hoá thương mại, tạo
điều kiện cho mỗi quốc gia thành viên có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu vốn, công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến từ các quốc gia khác
Ngoài ra liên kết kinh tế quốc tế còn đạt được một số hiệu quả phúc lợi khác như: tiết kiệm chi phí quản lý do loại bỏ được các biện pháp kiểm tra tài chính ở biên giới, các thủ tục hải quan Các liên kết kinh tế quốc tế sẽ đạt được những thuận lợi lớn hơn trong các đàm phán thương mại quốc tế với phần còn lại của thế giới Bên cạnh những lợi ích trên cũng cần phải nhìn nhận những lợi ích mà một liên kết kinh tế đem lại trong trạng thái vận động của nó Đó là những lợi ích do việc thúc đẩy cạnh tranh trên quy mô quốc tế, tạo khả năng đạt được quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất, khuyến khích mở rộng đầu tư nước ngoài và cho phép sử dụng triệt để và hợp lý hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên
5 Tính tất yếu khách quan của liên kết kinh tế quốc tế
5.1 Liên kết kinh tế quốc tế là kết quả tất yếu của phân công lao động quốc tế dưới ảnh hưởng của cách mạng khoa học kỹ thuật
Phân công lao động quốc tế trong thế giới ngày nay đang diễn ra với một phạm vi ngày càng rộng, với một tốc độ ngày càng nhanh, nó xâm nhập vào hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế mỗi quốc gia và ngày càng đi vào chiều sâu do sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ Sự phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu, có nghĩa là đã chuyển mạnh từ việc phân công lao
Trang 12động theo ngành và theo sản phẩm đang phân công lao động theo chi tiêu sản phẩm và theo quy trình công nghệ điều này cho thấy sự khác biệt về điều kiện tự nhiên không còn đóng vai trò quyết định đối với phương hướng tham gia vào phân công lao động quốc tế, trái lại chính khả năng về công nghệ mới có vai trò quyết định
Sự phát triển của phân công lao động quốc tế cùng với những thành tựu mới của cách mạng khoa học và công nghệ đưa tới sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia Nhiều ngành công nghiệp truyền thống đang bước sang giai đoạn mãn chiều xế bóng (như luyện kim đen, chế tạo cơ khí thông thường, đóng tàu ) trong khi đó thì lại xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới như các ngành
kỹ thuật cao đòi hỏi phải có sự phối hợp, liên kết giữa nhiều quốc gia
Một đặc điểm nữa của phân công lao động quốc tế thúc đẩy sự hình thành các liên kết kinh tế quốc tế là sự xuất hiện và phát triển ngày càng nhanh các hình thức hợp tác về kinh tế, khoa học và công nghệ Nếu như trước đây, các quan hệ kinh tế quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế thể hiện tập trung ở hoạt động ngoại thương thì ngày nay các quan hệ kinh tế quốc tế đã vươn sang các lĩnh vực nghiên cứu, sáng chế, chuyển giao công nghệ, hợp tác đầu tư, hợp tác sản xuất Điều đó
có nghĩa là các quan hệ kinh tế quốc tế được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, nó mang nội dung toàn diện hơn và đòi hỏi sự hợp tác ở những khuôn khổ rộng hơn, ở cấp độ cao hơn
Dưới sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, cơ cấu ngành và cơ cấu địa lý trong phân công lao động quốc tế đang có sự dịch chuyển đáng kể và được chia thành 4 nhóm ngành sau:
- Nhóm ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ cao
- Nhóm ngành có hàm lượng vốn cao
Trang 13- Nhóm ngành có hàm lượng lao động sống cao
- Nhóm ngành có hàm lượng nguyên vật liệu cao
Tùy theo điều kiện kinh tế và trình độ phát triển khoa học công nghệ của mỗi nước mà người ta tiến hành chuyên môn hóa những ngành mà họ có ưu thế đòng thời hợp tác và trao đổi với nhau để đạt tới cơ cấu tối ưu trong việc tiêu dùng
và tích lũy Những nước phát triển cao và giầu có thường tập trung vào việc phát triển các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao và hàm lượng vốn cao Những nước có trình độ phát triển chưa cao và giầu tài nguyên khoáng sản thường tập trung vào việc phát triển các ngành có hàm lượng lao động sống cao và ngành
có hàm lượng nguyên vật liệu cao Cũng có trường hợp biết kết hợp khéo léo giữa nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài để phát triển một cánh tổng hợp và hài hòa các ngành khác nhau nhằm đạt tới tốc độ tăng trưởng cao và rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến
Mặt khác, sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi kết cấu đại
lý trong phân công lao động quốc tế Không phải những nước đang phát triển là nơi sản xuất ra nhiều nông sản phẩm với chất lượng cao Trái lại những nước công nghiệp tiên tiến lại là nơi sản xuất nông sản phẩm với chất lượng cao và giá thành
hạ Vì thế sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt và hình thành nên những hàng rào mậu dịch và phi mậu dịch, từ đó đặt ra yêu cầu cho việc hình thành các liên kết về thị trường theo khu vực để bảo vệ lợi ích cho mỗi bên
Sự phát triển của các công ty đa quốc gia và vai trò ngày càng lớn của nó trong phân công lao động quốc tế đã tác động mạnh đến việc hình thành và phát triển của liên kết kinh tế quốc tế Các công ty đa quốc gia không những nắm trong tay những nguồn vốn lớn, các công nghệ hiện đại, có trình độ quản lý tiên tiến mà
nó còn mang tính đa sở hữu và gây ảnh hưởng đến các chương trình phát triển đa
Trang 14quốc gia và liên quốc gia Hoạt động của các công ty đa quốc gia không những tạo tiền đề vật chất mà còn thúc đẩy về mặt tổ chức cho sự liên kết giữa các nước nhằm thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế
Cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật, phân công lao động quốc tế ngày càng hoàn thiện và tất yếu sẽ dẫn đến việc hình thành các liên kết kinh tế quốc tế - một hình thức phát triển chủ yếu trong xu thế toàn cầu hóa - khu vực hóa kinh tế hiện nay
5.2 Liên kết kinh tế quốc tế là kết quả của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế
Trong quá trình phát triển gần một trăm năm qua, kinh tế thế giới có những quy luật đặc thù của nó và dần dần xuất hiện một xu thế có tính chất toàn thể Đó chính là xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế Quốc tế hóa đời sống kinh tế chính là
sự dựa vào nhau để cùng tồn tại, sự xâm nhập vào nhau ngày càng sâu của kinh tế các nước trên thế giới Trong thế kỷ 20, quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới không ngừng được tăng lên và phạm vi ngày càng mở rộng, nội dung ngày càng sâu sắc Quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế khiến cho việc hợp tác và điều hòa kinh tế giữa các quốc gia, dẫn đến việc hình thành các liên kết kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất: Do sự phát triển quốc tế hóa về các mặt vốn, kỹ thuật, thị trường
tiêu thụ sản phẩm nên giữa các quốc gia đã tăng thêm tính dựa vào nhau Năng lực đơn độc điều hòa khống chế kinh tế của các nước ngày càng suy giảm Việc giải quyết các vấn đề kinh tế và đặt ra chính sách kinh tế của các nước ngày càng dựa vào sự hợp tác, liên kết giữa các quốc gia
Thứ hai: Sự phát triển về sản xuất và vốn quốc tế hóa đã liên kết hoạt động
kinh tế của các nước có nhiều kiểu sản xuất khác nhau và trình độ phát triển khác
Trang 15nhau Từ đó hình thành thể kết hợp cùng dựa vào nhau, cùng ràng buộc lẫn nhau
và cùng xâm nhập vào nhau một cách đan xen phức tạp Các nước có cùng lợi ích kinh tế và trình độ phát triển ngang nhau đã hợp tác với nhau và cao hơn là liên kết với nhau hình thành nên các liên minh kinh tế Chính các liên minh kinh tế đã giúp cho các nước này tìm thấy tiếng nói chung trong quá trình phát triển kinh tế và từng bước đưa nền kinh tế các quốc gia thành viên hòa nhập với nền kinh tế thế giới Vì thế, có thể nói quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế sẽ dẫn tới việc thành lập nên các liên kết kinh tế quốc tế đẻ điều chỉnh và khống chế kinh tế của từng nước
Thứ ba: theo với đà tăng cường xu thế tập đoàn hóa khu vực, sự liên kết
kinh tế giữa các tập đoàn trở thành một hình thức mới có hiệu quả Các tập đoàn kinh tế khu vực được tổ chức bởi các nước quan hệ cùng chung một lợi ích, thường thông qua sự hiệp thương nội bộ mà đạt được sự nhất trí về một số chính sách như : thuế quan, tỷ suất hối đoái, vốn lưu động rồi trên cơ sở đó lại tiến hành liên minh với các nước khác hoặc tập đoàn khác Như vậy sự hợp tác giữa các nước với nhau vốn rất phức tạp thì đã có thể dần dần đơn giản hóa thành sự hợp tác giữa mấy tập đoàn kinh tế chủ yếu, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự hợp tác về kinh tế
và chính sách giữa các nước trong phạm vi quốc tế
Thứ tư: Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế còn dẫn tới một yêu cầu
khách quan là cần phải tiến hành chuyên môn hoá giữa các quốc gia nhằm đạt tới quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất Chính dung lượng thị trường thế giới đòi hỏi mỗi quốc gia phải biết tập trung vào một số ngành và sản phẩm nhất định mà
họ có lợi thế để đạt quy mô sản xuất tối ưu Các quốc gia không chỉ trao đổi sản phẩm hoàn thiện mà còn trao đổi từng bộ phận sản phẩm với nhau, tạo nên loại hàng hóa mà các bộ phận được sản xuất từ nhiều nước Tính thống nhất của nền kinh tế thế giới làm cho toàn bộ quá trình sản xuất như một „dây chuyền quốc tế ”
Trang 16cả về phạm vi và quy mô Vì thế các liên kết kinh tế quốc tế ra đời nhằm đáp ứng nhu càu liên kết với nhau để cùng phát triển của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể thấy rằng ngày nay xu thế hoà bình hợp tác liên kết cùng phát triển là xu thế chủ đạo, là đòi hỏi bức xúc của các quốc gia dân tộc, trở thành một yêu cầu khách quan không thể thiếu được của mỗi
quốc gia
II Xu hướng vận động của liên kết kinh tế quốc tế
Những năm gần đây, chúng ta đã được chứng kiến sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của quá trình liên kết khu vực, liên kết toàn cầu về kinh tế Các mối liên kết kinh tế diễn ra ở nhiều cấp độ, từ tay đôi, tay ba, đến tam giác, tứ giác phát triển như sự hình thành ở khu vực Đông Nam á, Đông âu, Trung á cho đến các tổ chức hợp tác tiểu khu vực và tiểu vùng như khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên minh Châu âu EU, Hiệp ước các thị trường chung Nam Mỹ MERCOSUR Sự hợp tác giữa các nước trong cùng một tiểu vùng hay trong khuôn khổ khu vực tạo điều kiện cho các nước thành viên phát huy những mặt mạnh của mình, phát triển tối đa nội lực, bổ xung lẫn nhau đẻ phát triển và đưa cả khu vực phát triển tương đối đồng đều, tăng cường khả năng cạnh tranh và lợi thế của cả khu vực
Từ liên kết châu lục, các nước nhanh chóng tiến lên các hình thức hợp tác liên châu lục như APEC (giữa Châu á - Châu Mỹ - Nam Thái Bình Dương), Chương trình phát triển xuyên Đại tây dương( giữa Châu Âu với Châu Mỹ), Hội nghị thượng đỉnh á - Âu, Tổ chức hợp tác phát triển 14 nước ven Ân Độ Dương Cuối cùng là tổ chức thương mại thế giới được xem như một liên hợp
Trang 17quốc về kinh tế với 132 thành viên, sắp tới sẽ là 150 thành viên, chiếm hầu hết 100% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thế giới
Từ thực tiễn hoạt động của các tổ chức kinh tế, các thể chế hợp tác đa phương, chúng ta có thể thấy xu hướng vận động của liên kết kinh tế quốc tế sẽ chi phối sự phát triển đời sống kinh tế thế giới theo các hướng sau: Xu hướng mở rộng liên kết khu vực, Xu hướng tăng cường liên kết liên khu vực, Xu hướng toàn cầu hoá và xu hướng sáp nhập các TNCs
1 Xu hướng mở rộng liên kết khu vực
Xu hướng mở rộng liên kết khu vực được thực hiện theo hai hướng: Mở rộng không gian liên kết và mở rộng nội dung liên kết
Mở rộng không gian liên kết bằng việc gia tăng số lượng thành viên
Do nhịp độ phát triển nhanh chóng của quá trình thị trường toàn cầu hoá là một trong những phương diện cơ bản, xu thế mở rộng số lượng thành viên của các
tổ chức hợp tác kinh tế khu vực không còn đóng kín với số lượng thành viên ban đầu
Liên minh Châu âu - EU là một ví dụ tiêu biểu cho xu hướng mở rộng liên kết khu vực EU không chỉ dành riêng cho các nước Tây Âu Cộng đồng kinh tế Châu Âu - EEC bắt đầu với 6 thành viên (Pháp, Đức, Bỉ, Hà lan, Luycxămbua và Italia) đã “mở cửa “ lần thứ nhất với việc gia nhập của ba nước Tây Bắc Âu(Anh, Đan mạch, Ailen) ngày 1/1/1973 và sau đó lại” mở cửa “lần hai đón thêm ba nước Nam Âu: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, lần ba là Phần Lan, Thuỵ điển” EU bước vào thời kỳ gồm 15 thành viên, là bước tiến quan trọng trong tiến trình hoà nhập Châu Âu
Việc mở rộng EU sang phía Đông đang có nhiều hứa hẹn nhờ quyết định chuyển từ ý tưởng muốn kết nạp “cả gói” sang việc xét từng ứng cử viên một EU
Trang 18đã đàm phán với Ba lan, Sec, Hungary, Slovakia, Estonia, Sip, Latvia, Litva, Rumani, Bungary, Slovenia, và Manta vào cuối năm 2000
ở Châu Mỹ, khối buôn bán Nam Mỹ MERCOSUR cũng đang tích cực lưu tâm đến việc kết nạp các nước khác thuộc khu vực Châu Mỹ để tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ khổng lồ FTAA vào năm 2005
Liên kết kinh tế khu vực cũng đang được mở rộng ở các phần còn lại của thế giới Xu hướng khu vực hoá đang nở rộ ở khắp nơi, khắp các châu lục
Mở rộng nội dung liên kết
Liên kết khu vực trong những năm gần đây không chỉ đánh dấu bởi sự mở rộng về số lượng các thành viên mà còn bởi sự hợp tác ngày càng toàn diện giữa các nước thành viên Sự ra đời của đồng tiền chung châu Âu-Euro vào ngày 1-1-
1999 đánh dấu một bước phát triển mới vượt bậc về liên kết kinh tế ở khu vực này, bước chuyển từ thị trường chung sang liên minh kinh tế tiền tệ Việc các nước EU
từ bỏ chủ quyền tiền tệ để tham gia EMU là một quá trình phức tạp và chưa từng
có tiền lệ trong lịch sử, là minh chứng rõ ràng của xu hướng hợp tác liên kết kinh
tế mở rộng cả về nội dung
Tự do hoá thương mại là nội dung chính mà các liên kết đề cập đến ở Châu Phi, Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi(ECOWAS) nằm trong khu vực nghèo nhất thế giới, gồm 16 nước thành viên trong đó có Nigeria, Ghana, Mali, Senegal đã thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000 và liên minh kinh tế toàn diện vào năm 2005 Một cuộc điều tra gần đây của ECOWAS cho thấy 45% khối lượng hành hoá các nước này nhập từ châu Âu và châu Mỹ từ trước đến nay có thể được tạo ra trong cộng đồng Mạng lưới ống dẫn khí đốt giá rẻ nhưng chất lượng cao của Nigeria hoàn thành năm 1998 sẽ đi qua tất cả các nước Tây Phi Tổng thống Ghana J.Rollingos, chủ tịch hiện tại của ECOWAS nói: “Đây là thí dụ
Trang 19tốt nhất cho thấy chúng ta có thể tiến xa trong quá trình hợp nhất Chúng ta đã thành công trong lĩnh vực năng lượng vậy tại sao chúng ta không hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác? ”
Cũng ở lục địa đen, 12 nước thành viên Cộng đồng phát triển phía Nam châu Phi (SADC) đã kí nghị định thư hồi tháng 6 năm 1996 thành lập khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm các khoản thuế trong thời hạn tối đa 8 năm
ở Châu Mỹ, tổ chức hiệp ước Ăngđanh, gồm 5 nước quanh dãy núi Ăngđanh
là Bôlivia, Côlômbia, Ecuađo, Pêru, Venezuela, đang thúc đẩy liên minh hải quan
5 nước nhằm xác định mức thuế thích hợp cho các mặt hàng của các nước thứ ba
Trong phạm vi toàn Châu Mỹ, tháng 12/1994, 34 nhà lãnh đạo các quốc gia khu vực này( trừ Cuba) đã kí kết hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do Châu
Mỹ (FTAA) và phấn đấu hình thành vào năm 2005
ở Châu á, trong những năm vừa qua xu hướng hợp tác tiểu khu vực phát triển mạnh Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga kí kết hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông bắc á hồi tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở khu vực này Tại khu vực Nam á, 7 nước trong tổ chức SAARC - Hiệp hội các quốc gia Nam á
vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ, Pakistan đã đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cường buôn bán và hợp tác khu vực trong các liên doanh đầu tư và kỹ thuật với hy vọng thành lập một khu vực buôn bán giống như ASEAN
Rõ ràng, mở rộng liên kết khu vực đã, đang và sẽ là một xu hướng chủ đạo trong quá trình vận động của liên kết kinh tế quốc tế
Trang 202 Xu hướng tăng cường liên kết giữa các khu vực
Xu hướng toàn cầu hoá phát triển sâu rộng ở nhiều cấp độ khác nhau, làm tăng mối liên kết giữa các thực thể khác nhau trên thế giới, bao gồm không những mối quan hệ giữa các cá nhân, công ty, quốc gia mà còn giữa các khu vực với nhau Trong bối cảnh đó, hợp tác liên khu vực đang trở thành một xu thế lớn trên thế giới
* APEC thực chất là cầu nối giữa hai khu vực Đông á và Bắc Mỹ
* Khu vực tự do thương mại Châu Mỹ(AFTAA) mà Mỹ đề nghị là cầu nối giữa Bắc mỹ với Trung và Nam Mỹ
* Khu vực tự do thương mại xuyên Đại tây dương (TAFTA) mà Canađa đề nghị là cầu nối Bắc Mỹ với Châu Âu
*Diễn đàn hợp tác Đông á - Mỹ la tinh được thành lập nhằm tăng cường đối thoại và hợp tác giữa hai khu vực này
*ASEM ra đời năm 1996 để liên kết Đông á với Châu âu Đây là một sự kiện quốc tế quan trọng, mở ra một kỷ nguyên hợp tác phát triển mới giữa hai lục địa lớn chiếm gần 3/4 số dân toàn cầu Sự kiện này có ý nghĩa khép kín cạnh thứ
ba của tam giác liên kết kinh tế liên lục địa trên thế giới mà hai cạnh khác đã có từ trước là Diễn đàn kinh tế Châu á - Thái bình dương và khu vực mậu dịch tự do xuyên Đại tây dương TAFTA
3 Xu hướng đẩy mạnh toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình liên kết hợp nhất các nền kinh tế quốc gia
vào nền kinh tế thế giới trên các lĩnh vực thương mại, tài chính, thông tin, và sản xuất công nghiệp, với trình độ phát triển cao đẫn đến sự hình thành các hệ thống sản xuất, phân phối, hệ thống tài chính toàn cầu, các mạng lưới thông tin liên lạc
và hệ thống giao thông vận tải toàn cầu, trong đó các liên minh chiến lược của các
Trang 21công ty xuyên quốc gia, các hệ thống tư nhân toàn cầu và các trung tâm kinh tế quốc tế đóng vai trò nòng cốt Toàn cầu hoá kinh tế là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế - bước phát triển tất yếu khách quan được quyết định bởi sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới Cho đến nay, toàn cầu hoá đã, đang và sẽ lôi kéo tất cả các nước, kể cả những nước chậm phát triển nhất, vào quỹ đạo của mình như một tất yếu lịch sử Nó đang thiết lập những nguyên tắc mới của cuộc chơi chung cho tất cả các nước mà không phân biệt lớn, nhỏ, phát triển hay kém phát triển
4 Xu hướng sáp nhập các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
(Nguồn: Securities Data, Finantial Times)
Trang 22Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế , quá trình sáp nhập các công
ty xuyên quốc gia (TNCs) đã diễn ra một cách mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế thế giới Trong năm 1998, toàn thế giới có 25,729 vụ sáp nhập; mức giao dịch của các xí nghiệp sáp nhập là 1940 tỷ USD, tăng 32% so với năm 1995 Làn sóng sáp nhập hầu như đụng chạm đến tất cả các ngành Sau đây là bảng thống kê 10 vụ sáp nhập tiêu biểu trong năm 1998
Chúng ta có thể thấy một điều chắc chắn rằng liên kết kinh tế quốc tế và hội nhập quốc tế sẽ là xu hướng vận động chính của nền kinh tế thế giới trong thế kỷ mới này Tuy nhiên,quá trình này lại có những ảnh hưởng không giống nhau đối với các nước khác nhau đặc biệt là giữa các nước phát triển và các nước đang phát
triển Chương sau đây sẽ nghiên cứu xu hướng liên kết kinh tế quốc tế của các nước Đông và Đông Nam á
Trang 23Chương II:
Liên kết kinh tế quốc tế trong nội bộ khối các nước Đông và Đông Nam á
và xu hướng vận động của liên kết kinh tế quốc tế tại khu vực này
I Tăng cường liên kết nội bộ khối các nước Đông và Đông Nam á
1 Xu hướng liên kết kinh tế quốc tế ở các nước Đông và Đông Nam á
1.1 Hiệp hội các nước Đông Nam á
Khối liên kết kinh tế này được thành lập năm 1967 trên cơ sở hiệp ước Bali gồm 5 nước là Inđônêxia, Thái lan, Singapore, Malayxia,và Philippin Sau đó Brunây tham gia Mục tiêu hoạt động của hiệp hội này là “thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá của các nước thành viên, xây dựng hoà bình và ổn định ở vùng Đông Nam á”
Cơ cấu tổ chức của Asean gồm:
Uỷ ban thường trực điều hành công việc hàng ngày giữa các kỳ hội nghị hàng năm của các nước thành viên do các bộ trưởng ngoại giao hợp thành Trụ sở chính đóng ở Bangkok
Hội nghị hàng năm giữa các bộ trưởng ngoại giao của các nước thành viên là
cơ quan cao nhất của Hiệp hội
Ban thư ký do tổng thư ký chủ trì là cơ quan hoạt động hàng ngày Trụ sở chính đóng tại Giacacta Chín Uỷ ban chuyên môn về các lĩnh vực lương thực và nông nghiệp, thương mại và công nghiệp, giao thông vận tải, khoa học văn hoá và các vấn đề khác Có hai cơ quan là Uỷ ban thường trực ở giơnevơ và Brussel để
mở rộng và cải thiện điều kiện thương mại với các nước thánh viên của tổ chức GATT và với EC
Trang 24Ban đầu là hiệp hội chính trị nhưng ASEAN ngày càng hoạt động theo hướng hình thành một thị trường chung giữa các nước thành viên Nền kinh tế các nước ASEAN đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong khoảng 20 năm gần đây và ngày càng chứng tỏ một sự năng động diệu kỳ trong việc tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi thương mại quốc tế
Ngày nay để đáp ứng với nhu cầu hoà nhập vào tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nội dung của liên kết kinh tế quốc tế của các nước Đông và Đông Nam á đang được mở rộng cả về các lĩnh vực khác và cả về số lượng các thành viên
1.2 Xu hướng hợp tác kinh tế ASEAN:
Một trong những mục đích chính của hợp tác kinh tế trong một khu vực là tạo điều kiện cho quá trình phân chia lao động giữa các nước thành viên để đạt được những thành tựu trong thương mại ASEAN đã tỏ rõ các nỗ lực của mình trong việc tăng cường liên kết kinh tế quốc tế bằng một quá trình hoạt động đầy năng động
Hiệp định thương mại ưu đãi ASEAN (PTA)
PTA được bắt đầu từ năm1997 Các mức ưu đãi thuế quan được mở rộng trên phạm vi từng sản phẩm thông qua các đề nghị tự nguyện và thương thuyết Tuy nhiên, quá trình này diễn ra khá chậm và thiếu hiệu quả Năm 1980, người ta đưa ra cách tiếp cận toàn diện Theo hiệp định, các mức ưu đãi sẽ được áp dụng đối với những mặt hàng dưới một mức trần giá trị nhập khẩu nhất định Mức ưu đãi ngoại biên( MOP ) cũng được tăng từ 10% đến mức tối thiểu là 20-25% vào năm 1981 và sau đó lên đến 40% và cao hơn nữa Tháng 5/1984, tổng số các mặt hàng hưởng mức ưu đãi thuế quan lên tới hơn 18000 (1985) Tuy nhiên, có một điểm bất cập trong cách tiếp cận toàn diện này Tiềm năng của nó bị phủ nhận bởi
Trang 25nhiều loại danh mục loại trừ quốc gia mở rộng Năm 1982, một cuộc thẩm tra về các dòng thương mại trong năm 1981 được hưởng khoảng 9.000 ưu đãi đã cho thấy rằng chúng chỉ chiếm khoảng 2% trong nền thương mại giữa các nước ASEAN(1985)
Có nhiều yếu tố cản trở quá trình tự do hoá thương mại rộng rãi và hiệu quả hơn Một trong các yếu tố đó là các quốc gia thành viên có cơ cấu công nghiệp giống nhau, do vậy các nước này sản xuất hay dự định sản xuất ra các mặt hàng giống nhau Nói cách khác, các nước ASEAN có một lực lượng bổ xung kinh tế khá hạn chế Bản chất phi bổ xung này lại được củng cố thêm nhờ chính sách thay thế nhập khẩu của một số nước ASEAN Tuy nhiên, cần phải chỉ ra rằng một trong những hiệu ứng tích cực của sự giống nhau này trong cơ cấu kinh tế của ASEAN là các nước thành viên cùng quan tâm tham gia vào những phương thức chung nhằm tiếp cận các vấn đề kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, thay đổi trong nhận thức về các thành tựu hợp tác khu vực cũng cản trở quá trình tự do hoá thương mại của ASEAN.Vấn đề này lại càng trở nên tệ hại hơn do những khác biệt trong mức thuế quan của các nước thành viên So với một nước có mức thuế quan thấp, sự sụt giảm cùng một tỷ phần thuế quan nhất định ở một nước có mức thuế quan cao được coi là một bước suy thoái trầm trọng hơn Khi các mức ưu đãi được áp dụng theo PTA được đa phương hoá trên cơ sở “ tối huệ quốc” đối với các nước thành viên, những nước có mức thuế cao sẽ do dự khi hạ bớt mức thuế quan do sự nhân nhượng không thoả đáng giữa các nước có mức thuế thấp với nhau Trên thực tế, các cuộc thương thuyết thực thụ cũng gặp những khó khăn nghiêm trọng do các vấn đề chính trị luôn được ưu tiên hàng đầu khi nước nào cũng phải lo bảo vệ chủ quyền của mình
Những bất đồng trong nhận thức về thành quả hợp tác khu vực giữa các nước thành viên ASEAN cũng nảy sinh do các mặt hàng cơ bản chiếm một tỷ
Trang 26trọng lớn trong tổng số hàng hoá xuất khẩu của các nước ASEAN(trừ Singapore) Giả sử rằng các nước này chỉ có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ đối với các mặt hàng
cơ bản, một nước thành viên có thể chỉ bán cho các nước thành viên khác những mặt hàng mà nước đó sẵn sàng bán cho các nước ngoài khu vực Đồng thời việc phân bố công nghiệp chế tạo và các hoạt động phụ trợ có thể bị địa phưng hoá trong phạm vi một nước thành viên, và từ đó nảy sinh hiện tượng “phân cực” Một nước thành viên công nghiệp hoá ít hơn có thể cho rằng, thay vì nhập khẩu từ bên ngoài, khi mua hàng của một nước công nghiệp hoá cao hơn, nước này sẽ mất đi khoản doanh thu bằng với mức thuế đánh vào hàng chế tạo bên ngoài
Kế hoạch về các dự án công nghiệp ASEAN (AIP)
Khái niệm về dự án công nghiệp ASEAN (AIP) lần đầu tiên được đề xuất vàonăm 1973 trong một nghiên cứu của Liên hợp quốc (Liên Hợp Quốc, 1974) và chính thức được chấp nhận vào năm1976 Trong số 5 thành viên của ASEAN, mỗi nước được phân một dự án công nghiệp hàng đầu, bên cạnh một số dự án hạng hai khác Các dự án công nghiệp hàng đầu gồm Dự án Urea ASEAN ở Indonesia và Malaisia, Dự án Tro muối- Sôđa đá ASEAN ở Thái lan, Dự án Phân bón Phosphate ASEAN ở Philippines và Dự án động cơ Diesel ở Singapore Trong từng trường hợp, nước chủ nhà đều đảm nhận 60% cổ phần, phần còn lại chia đều cho cả bốn nước kia Các dự án AIP được hưởng mức ưu đãi tiếp thị trên toàn ASEAN, trong đó có thể bao gồm cả việc mua hàng đảm bảo theo thoả thuận từ trước
Tiến triển của các dự án AIP cũng chịu ảnh hưởng bất lợi của những bất đồng trong triết lý kinh tế Một vấn đề nan giải là bản chất và phạm vi của việc hỗ trợ thi trường dành cho các dự án AIP Singapore là một điển hình Dựa vào kinh nghiệm của mình về thị trường tự do và kinh tế mở cửa, Singapore quan niệm rằng những cản trở đối với quá trình tham gia và hạn chế cạnh tranh chỉ khiến công việc
Trang 27càng trở nên kém hiệu quả Do vậy, nước này không hề mặn mà với bất cứ hình thức mang tính độc quyền nào Quan điểm của các nước ASEAN về sự cân bằng giữa bảo hộ và cạnh tranh quốc tế cũng khác nhau
Một lĩnh vực nữa cũng gây nhiều tranh cãi là liệu có nên tính chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng vào chi phí dự án hay không Vấn đề giá cả sản phẩm trong tương lai cũng thu hút sự chú ý của các nhà đàm phán ASEAN Giá cả các sản phẩm ASEAN cũng cần phải được thống nhất bởi vì các đối tác khác buộc phải tạo điều kiện tiếp cận thị trường bên cạnh việc tạo ra hình thức mua hàng đảm bảo
Kế hoạch bổ sung công nghiệp ASEAN (AIC)
Năm 1981, kế hoạch AIC được phát động trên nguyên tắc góp chung nguồn lực và chia sẻ thị trường Dự án đầu tiên của kế hoạch là dự án sản xuất “ ô tô ASEAN ” Lý do cơ bản của dự án này là nhằm xây dựng hiệu quả kinh tế nhờ quy
mô thông qua việc phân chia các giai đoạn sản xuất khác nhau của các ngành công nghiệp liên kết theo chiều dọc của các nước ASEAN Nhưng sau đó do thiết bị sản xuất ở từng nước ASEAN lại không tương thích với nhau(Rao, 1996), nên kế hoạch AIP bị thay thế bởi kế hoạch Bổ sung từ Nhãn hiệu tới Nhãn hiệu(BBC) Kế hoạch này khích lệ một số công ty đa quốc gia thuộc các ngành công nghiệp tự động chuyển thiết bị sản xuất của mình tới các trung tâm ASEAN có mức chi phí thấp hơn và tận dụng yếu tố tương hỗ của kế hoạch Nhờ đó, các nước có thể trao đổi bộ phận máy móc với nhau Kế hoạch BBc nhờ đó thành công hơn trừ việc Indonesia không tham gia đã làm giảm mức thu tiềm năng từ hiệu quả kinh tế nhờ quy mô
Kế hoạch liên doanh công nghiệp ASEAN(AIJV)
Được đưa ra năm 1983, kế hoạch AIJV nhằm mục đích khuyến khích đầu tư nội bộ ASEAN từ phía các nhà đầu tư tư nhân Kế hoạch này được thực hiện ở bất
Trang 28cứ quy mô nào miễn là có ít nhất sự tham gia của 2 nước thành viên ASEAN Liên doanh với đối tác nước ngoài được khuyến khích Sự ưu đãi cơ bản dành cho các
dự án AIJV là mức thuế được hạ thấp xuống Các nước thành viên tham gia kế hoạch chỉ phải đóng một mức thuế quan bằng 10% mức bình thường đối với những hàng hoá sản xuất theo các dự án AIJV
Kế hoạch hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)
Dựa trên kế hoạch Thuế quan ưu đãi có hiệu quả chung(CEPT) áp dụng cho Khu vực Thương mại Tự do ASEAN, Kế hoạch AICO nhằm đẩy mạnh đầu tư của các ngành công nghiệp dựa vào công nghệ Khi được thông qua Thoả hiệp AICO, các công ty sẽ được hưởng mức thuế quan ưu đãi từ 0-5%
Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA)
Vấn đề AFTA được nêu ra tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 tổ chức năm 1992 ở Bangkok Khu vực thương mại tự do này bao trùm tất cả mọi sản phẩm chế tạo và sản phẩm nông nghiệp, dù cho thời gian biểu xoá bỏ hạn chế định lượng cũng như các rào cản phi thuế quan khác không hề giống nhau Có bốn loại sản phẩm, mỗi loại chịu một mức thuế quan khác nhau
Danh mục toàn bộ - Sản phẩm có tên trong Danh mục toàn bộ là những sản phẩm đã trực tiếp trải qua quá trình tự do hoá nhờ việc giảm bớt thuế quan CEPT, xoá bỏ hạn chế định lượng cũng như các rào cản thương mại khác Mức thuế quan đối với các sản phẩm này cần được hạ xuống mức tối đa là 0-5% vào năm 2002 Các thành viên mới của ASEAN cũng phải hoàn thành chỉ tiêu này vào năm 2006( đối với Việt nam), 2008(Lào và Myanmar), 2010 ( Campuchia)
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) - Sản phẩm có tên trong danh mục TEL sẽ tạm thời không phải chịu ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong một thời gian Kể từ 1/1/1996, các khoản thanh toán thường niên của các sản phẩm có
Trang 29tên trong TEL được chuyển sang danh mục toàn bộ Đến tháng 2/2000, trong TEL chỉ còn lại 9.977 dòng thuế quan, chiếm 15,5% tổng số dòng thuế quan của ASEAN
Danh mục nhạy cảm - Danh mục này bao gồm các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến Trong danh mục này, cam kết giảm thuế quan xuống còn 0 -55
và xoá bỏ hạn chế định lượng cũng như các rào cản phi thuế quan khác được nới rộng tới năm 2010 Thời gian thực hiện cam kết đối với thành viên mới của ASEAN là 2013 (Việt nam), 2015 (Lào và Myanmar), 2017(Campuchia) Đến tháng 2/2000, trong danh mục nhạy cảm có 410 dòng thuế quan, chiếm 0,64% tổng dòng thuế quan của ASEAN
Danh mục ngoại lệ chung(GE) - Các sản phẩm có tên trong GE loại trừ vĩnh viễn khỏi khu vực thương mại vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức chung, đời sống và sức khoẻ cây cỏ, muông thú, con người, cũng như các điều khoản về giá trị khảo cổ, lịch sử và nghệ thuật Đến tháng 2/2000, trong danh mục GE có 909 dòng thuế quan, chiếm tới 1,4% tổng dòng thuế quan của ASEAN
Bảng 2 Tỷ lệ thuế quan CEPT trung bình dự kiến theo từng nước (%)
Trang 30Singapore 0,00 0,00 0,00 0,00
Nguồn: ASEAN, Báo cáo thường niên 1999-2000
#: Mức thuế quan CEPT khu vực được tính bình quân dựa trên cơ sở số đường thuế quan trong danh mục toàn bộ của năm 1999
Việc xây dựng một khu vực thương mại tự do trong nội bộ ASEAN đã trở nên dễ dàng hơn, một phần nhờ chiến lược phát triển hướng ngoại của các nước thành viên thực hiện vào những năm 1980 với mức thuế quan thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác Đặc biệt, nước có thị trường lớn nhất và khép kín nhất trong khu vực là Indonesia đã thực hiện tự do hoá thương mại mạnh mẽ Quá trình cắt giảm và cuối cùng cắt bỏ thuế quan càng thực hiện tốt thì tiến độ tạo lập khu vực thương mại tự do càng thuận lợi hơn
Tuy nhiên, chính những thay đổi trên trường thương mại quốc tế mới là nhân tố thúc đẩy các nước ASEAN tiến nhanh trên con đường tự do hoá môi trường thương mại và kinh tế của mình Đầu tiên, việc thành lập Thị trường chung Châu Âu và tiếp theo là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã làm ASEAN lo ngại về chủ nghĩa bảo hộ thương mại chống lại hàng hoá xuất khẩu của ASEAN sang các khối kinh tế khu vực này Thứ hai, người ta cho rằng Liên Xô tan rã và Đông âu sụp đổ sẽ khiến cho đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Tây Âu và Bắc Mỹ vào Đông á chuyển sang các nước xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng lại nền kinh tế quan liêu thành thị trường tự do Thứ ba, Trung Quốc quyết định chọn
và xây dựng một số thành phố duyên hải thành các đặc khu kinh tế, ấn Độ nỗ lực thận trọng mà chắc chắn khi xoá bỏ chế định và tự do hoá nền kinh tế, Việt nam
Trang 31khôi phục quan hệ với Mỹ là những điều kiện thúc đẩy việc kiểm tra sức cạnh tranh và sức hấp dẫn của toàn ASEAN trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu để giành được tiền vốn từ các nhà đầu tư
Nhìn chung, ASEAN đã hướng quan hệ thương mại của mình tới các nước bên ngoài nhiều hơn là chỉ trong nội bộ khu vực Thương mại nội bộ ASEAN - 6, chủ yếu được thực hiện giữa Singapore và Malaysia, tăng 6 lần từ 24 tỷ đô la Mỹ trong năm1985 lên tới 143 tỷ đô la Mỹ trong năm 1997 Mặc dù chiếm 18% tổng thương mại năm 1985 và 20% tổng thương mại năm1997, thương mại nội bộ ASEAN - 6 vấn thấp so với Liên minh Châu Âu Để thực hiện thành công AFTA,
sự phụ thuộc lẫn nhau và quá trình hợp tác kinh tế cần phải được đẩy mạnh hơn nữa
Trang 32ASEAN 53.027 9.977 410 909 64.323
Nguồn: ASEAN , Báo cáo thường niên, 1999-2000
Hiện nay, đặc điểm cơ bản của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế của ASEAN chính là việc tái phân bố và hợp lý hoá hoạt động sản xuất theo giá trị hàng hoá từ các nước ASEAN phát triển sang các nước ASEAN kém phát triển hơn Mô hình phát triển kinh tế “ngỗng bay” của Kojima(1986) dường như đang mở ra một bối cảnh Đông á rộng lớn hơn, bắt đầu từ Nhật bản tới các nền kinh tế công nghiệp hoá mới(NIE) và xuống các nước ASEAN ( Kojima, 1981: 1-10) Vấn đề then chốt của
mô hình “ngỗng bay” là nền kinh tế của các quốc gia khi ngừng nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài, thường là dưới hình thức di chuyển các nhà máy chế tạo, sẽ dễ cất cánh và bay nhẹ nhàng hơn với hình chữ V như đàn ngỗng di cư Lúc đó sẽ nảy sinh câu hỏi tại sao một số nước như Bắc Triều Tiên và Mông cổ ở Đông Bắc á hay Campuchia và Lào ở Đông Nam á lại không bị ảnh hưởng bởi mô hình “ngỗng bay”? hay nói cách khác là các nước đang phát triển phải chấp nhận những chính sách nội sinh nào để được gia nhập câu lạc bộ “ngỗng bay”? Tiếp nữa, tại sao một vài con ngỗng có khả năng bay nhanh trong khi các con khác lại không thể bay nhanh bằng? Cuối cùng đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vào không phải chỉ từ Nhật bản
mà còn từ Mỹ và Tây âu và gần đây là từ bốn nền kinh tế công nghiệp hoá mới ở Châu á
Một trong những lợi ích phụ tích cực do AFTA mang lại là dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào khu vực sẽ lớn hơn Theo Menon (1995), loại hình thương mại nội bộ ASEAN hiện nay là loại hình thương mại nội bộ công nghiệp mà trong
đó, các công ty đa quốc gia (MNC) theo đuổi loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tìm kiếm hiệu quả (hay còn gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa vào các yếu tố)
Trang 33Loại hình đầu tư này bị đánh bạt đi bởi giả thiết cho rằng các yếu tố sản xuất ở ASEAN có những phẩm chất vượt trội hơn hẳn những yếu tố của riêng một nước chủ nhà Dòng luân chuyển hàng hoá tự do hơn sẽ khuyến khích sự phân công lao động trong khu vực, nơi quá trình hội nhập theo chiều dọc của quá trình sản xuất diễn ra khắp ASEAN tuỳ theo lợi thế cạnh tranh của từng nước thành viên Trong khía cạnh này, mọi thứ vẫn đang phát triển tích cực Do vậy Singapore và Malaysia chuẩn bị sẵn những biện pháp kích thích tài chính để khuyến khích các công ty đa quốc gia thiết lập trụ sở hoạt động với ASEAN ở Singapore và với Châu á - Thái Bình Dương ở Kuala Lumpur Nước cờ chiến thuật này được tung ra nhằm khai thác hiện tượng trên trong môi trường sản xuất thương mại quốc tế mới bằng cách nối liền với chuỗi hoạt động sản xuất giá trị gia tăng toàn cầu của các công ty đa quốc gia Các nhà đầu tư nước ngoài có thể tiếp cận tài chính và vận tải chất lượng cao hơn, sẵn có ở các nước phát triển Đồng thời, họ giảm thiểu chi phí sản xuất của mình bằng cách xây dựng phương tiện sản xuất ở những nước dư thừa lao động và đất đai Hơn thế nữa kinh tế các nước ASEAN tăng trưởng mạnh trong suốt hai thập kỷ qua đã làm cho nhu cầu về hàng tiêu dùng và dịch vụ ở các nước này tăng cao Các nhà đầu tư chắc chắn sẽ muốn khai thác thị trường mới mẻ mà rộng lớn nảy trong bối cảnh mở cửa và giảm bớt thuế quan như hiện nay
Tuy nhiên, người ta vẫn chưa biết chắc rằng thông qua AFTA, liệu ASEAN
có khả năng thu hút đầu tư nhờ xoá bỏ thuế hay không ( Athukorala và Menon, 1996) Thứ nhất là các nước ASEAN đã nhiều lần đơn phương hạ thấp hàng rào thuế quan.Thứ hai, người ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến sự tồn tại của các hàng rào phi thuế quan ở biên giới (bao gồm chính sách đầu tư, phối hợp sản phẩm với kỹ thuật, hợp tác và tư vấn kinh tế vĩ mô) vốn đòi hỏi phải được chú ý Bất chấp thị trường AFTA rộng lớn hơn và hấp dẫn, sức lôi cuốn của một dòng đầu tư trực tiếp
Trang 34nước ngoài nhiều hơn sẽ khiến cho nhà đầu tư linh động chuyển sang thực hiện chuyên môn hoá theo ngành dọc (thương mại dựa vào phân công lao động)
Mặc dù vậy, AFTA không phải là không bị ảnh hưởng bởi cú sốc của sự điều chỉnh Do sự thống trị của cơ quan nhà nước độc quyền bảo hộ và các doanh nghiệp tư nhân liên kết chặt chẽ với nhau trong nền kinh tế, mối quan hệ về khả năng thích nghi của Indonesia sẽ cản trở tổng thể quá trình tự do hoá thương mại Mối quan ngại này cũng thấy rõ tại các thành viên mới của ASEAN đang làm quen với khái niệm môi trường thị trường tự do Để tồn tại trong môi trường các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các doanh nghiệp tư nhân trong nước cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp quốc doanh của các nước này có thể sẽ phải thu hẹp lại nếu không sát nhập thành một tổng công ty hay tư nhân hoá
ASEAN cần chú ý tới những cảm nhận về chênh lệch lợi nhuận giữa các nước thành viên của khu vực thương mại tự do Nếu ASEAN quyết định không chấp nhận chủ nghĩa khu vực mở cửa, cho phép các nước nằm ngoài khu vực có cơ hội trở thành thành viên ASEAN, thì sự chênh lệch này sẽ bất lợi cho triển vọng tăng trưởng kinh tế của ASEAN trong tương lai Một khi đã cân đối được chính sách, và luật lệ, nền thương mại nội bộ khu vực lớn mạnh sẽ được coi là bước đệm ngăn ngừa chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang ngày càng tăng Bên cạnh đó, thu nhập cũng có khả năng tăng cao do AFTA đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nếu không họ có thể đầu tư vào các khu vực khác trên thế giới
2 Những vấn đề của các nước Đông và Đông Nam á trong quá trình liên kết kinh tế quốc tế
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế khu vực và quốc tế đã đặt kinh tế các nước ASEAN đứng trước những thách thức lớn không dễ vượt qua Đó là: Quá trình toàn cầu hoá
Trang 35kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế Đó là: sự hình thành
và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới, đặc biệt như EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá ASEAN khi thâm nhập thị trường này Đó là: Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của Việt nam và Trung Quốc, Nga và các nước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực
2.1 Gia tăng sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế
Những khó khăn phức tạp của các nước Đông và Đông Nam á trong quá trình liên kết kinh tế quốc tế chủ yếu đều bắt nguồn từ khoảng cách khá xa về trình
độ phát triển kinh tế của các nước này so với các nước phát triển khác Mặc dù kinh tế của các nước khu vực này trong những năm qua đã có sự tăng trưởng với tốc độ khá cao nhưng đại bộ phận các quốc gia này vẫn còn một khoảng cách khá
xa mới đuổi kịp các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Theo “ Báo cáo tình hình phát triển của thế giới năm 1997 “ của Ngân hàng thế giới thì các nước phát triển chỉ chiếm 12,95% dân số thế giới nhưng chiếm tới 77,08% tổng sản phẩm thế giới Hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển nắm trong tay 3/4 sức sản xuất của toàn thế giới, 3/4 kim ngạch mậu dịch quốc tế, là nơi đầu tư và thu hút chủ yếu các luồng vốn FDI ( trong 827 tỷ USD tổng vốn FDI của thế giới, các nước này chiếm khoảng 609 tỷ USD Năm 1999, FDI vào EU gần 300 tỷ USD, vào
Mỹ gần 200 tỷ USD) Các nước này sở hữu 49 các TNCs lớn nhất thế giới trong đó đứng đầu là General Motor (Mỹ) có tổng số vốn là 304 tỷ USD; nắm giữ hầu hết
Trang 36các công nghệ hiện đại nhất, các phát minh, sáng chế, bí quyết Các thiết chế kinh
tế quốc tế như WTO, IMF, WB đều nằm dưới sự chi phối của các nước lớn
Trong khi đó, các nước đang phát triển chiếm trên 80% dân số thế giới nhưng lại chỉ chiếm 20,1% tổng sản phẩm thế giới Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao (sấp sỉ 2% mỗi năm), dân số đông và tăng nhanh nên thu nhập bình quân / đầu người ở các nước này thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Khoảng cách giầu nghèo ngày càng tăng lên (năm 1970, ước tính thu nhập quốc dân/ đầu người của Việt nam bằng 1/35 Nhật Bản, thì nay đã là 1/100.) Theo các nhà phân tích kinh tế thì trong những thập kỷ gần đây, một số nước Đông Nam á tuy đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao (trên dưới 10%), nhưng sự tăng trưởng đó chưa thực sự bền vững Do đó, chỉ cần có một biến cố kinh tế xảy ra là nền kinh tế lại rơi vào tình trạng suy thoái Ví dụ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Châu á -Thái bình dương năm 1997 đã làm cho mức tăng trưởng của nhiều nước trong khu vực này bị giảm sút nghiêm trọng
“ Làn nước của toàn cầu hoá đẩy tất cả thuyền lên, đưa một số thuyền lớn lên cao và bỏ lại hoặc nhấn chìm những thuyền nhỏ ” Đó là hình ảnh minh hoạ cho thách thức mà các nước Đông Nam á gặp phải do sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế trong quá trình toàn cầu hoá
2.2 Hệ thống ngân hàng yếu kém, thô sơ và thiếu linh hoạt
Các nhà kinh tế học cho rằng nợ khó đòi hay các khoản cho vay tồi ở các nước Đông và Đông Nam á luôn ở mức nguy hiểm, nguyên nhân là do sự yếu kém của hệ thống kiểm tra, giám sát các hoạt động ngân hàng Sự yếu kém đó lại bắt nguồn từ: thứ nhất, sự không ràng trong các quy chế quản lý ngân hàng; thứ hai, sự quản lý điều hành thường bị chi phối bởi các yếu tố chính trị; thứ ba, sự yếu kém
Trang 37trong việc kiểm toán và phân loại các khoản cho vay; và thứ tư, các ngân hàng thiếu quyền tự chủ trong việc ra quyết định kinh doanh
Việt nam là một trong những bằng chứng cho những phân tích nói trên Vào thời điểm tháng 7/1998, 15% tổng số cho vay của Việt nam được xếp vào loại quá hạn Và cũng trong năm 1998, các xí nghiệp quốc doanh chiếm tới 35,1% tổng số
nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại
2.3 Sự bất cập của nền kinh tế chưa hoạt động theo cơ chế thị trường
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với những yếu kém của nó như sức cạnh tranh kém, cơ chế “ xin cho ” chưa được khắc phục, thủ tục hành chính rườm rà, tệ tham nhũng lộng hành, khu vực nhà nước làm ăn thua lỗ cùng với tư duy kinh tế lạc hậu tỏ ra không thể tồn tại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Vì thế các nước Đông và Đông nam á phải biết làm gì để khắc phục khó khăn mang tính chất nền tảng là phải nhanh chóng chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường
2.4 Lợi thế so sánh giảm dần và cơ cấu kinh tế chưa hợp lý
Do trình độ phát triển thấp, máy móc thiết bị lạc hậu, thiếu vốn nên sản phẩm xuất khẩu của các nước này chủ yếu là dạng thô và sơ chế làm giá trị xuất khẩu giảm đi từ 5 đến 10 lần Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động thấp sẽ mất dần đi do sự phát triển của kỹ thuật sử dụng công nghệ cao tiết kiệm lao động, sự lớn mạnh của nền kinh tế tri thức trong đó sở hữu trí tuệ mới là sở hữu mang lại sự giầu có của các nước phát triển
2.5 Đối đầu với vấn đề cạnh tranh gay gắt
Cạnh tranh là vấn đề luôn đi đôi với quá trình hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế Trước bối cảnh liên kết kinh tế quốc tế ngày càng ở mức độ cao, thì các nước Đông và Đông Nam á đứng trước một thực trạng khách quan là khả năng
Trang 38cạnh tranh kém hơn nhiều so với các nước phát triển trên thế giới Các mặt hàng nguyên liệu và nông sản thực phẩm bị giảm giá khiến cho thương mại bị thâm hụt Các mặt hàng mang lại lợi nhuận lớn cho các nước này vẫn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử ghê gớm Khoảng 1/5 số hàng xuất khẩu dệt may vào các nước công nghiệp chịu mức thuế hơn 15% Các nước công nghiệp phát triển yêu cầu các nước này mở rộng thị trường nhưng họ áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch khắt khe Điều này làm sâu hơn hố sâu ngăn cánh giữa những nước giầu với nước nghèo
Tóm lại, để đối mặt với một loạt các vấn đề như đã nêu ở trên, các nước Đông và Đông Nam á nhất thiết cần phải liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một sức mạnh tổng hợp để có thể vững bước tham gia vào quá trình liên kết kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá thương mại của thế giới
II Xu hướng mở rộng phạm vi liên kết của các nước Đông và Đông Nam á ra ngoài khối
Ngoài các kế hoạch giảm thuế để đẩy nhanh tiến trình liên kết và hợp tác khu vực, các nước ASEAN còn thoả thuận mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài như Nhật bản, Hàn quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ
Đặc biệt trong năm 2000 ba sự kiện nổi bật liên quan đến hợp tác nội bộ ASEAN và giữa ASEAN với các nước bên ngoài khu vực
Thứ nhất là Hội nghị ASEM3 tổ chức tại Xơun( Hàn quốc) trong 2 ngày
20,21 tháng 10 năm 2000 bao gồm 10 nước Châu á và 15 nước Châu âu Tại Hội nghị ASEM3 đã thảo luận 15 dự án hợp tác giữa 2 Châu lục á - Âu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh Trong bản tuyên bố chung Xơun, các nước đã nhất trí về chương trình hợp tác và liên kết, trong đó đáng chú ý nhất là các bên đã
Trang 39thông qua giải pháp về cơ chế hợp tác giữa hai bên, đặc biệt là các cơ chế có liên quan đến kinh tế, thương mại, tài chính
Thứ hai là hội nghị cấp cao APEC tổ chức tại thủ đô Banda(Xêri)
Bêgaoan(Brunei) tháng 12 năm 2000 Tại Hội nghị các nước thành viên APEC lần này đã khẳng định cam kết Bôgô về hệ thống thương mại và xây dựng kế hoạch cho chương trình thương mại điện tử
Thứ ba là Hội nghị thượng đỉnh không chính thức của 10 nước ASEAN và 3
quốc gia đối thoại(Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc) tổ chức tại Singapore từ 22 đến 25/11/2000 Tại hội nghị các nước thành viên và các bên đối thoại đã thảo luận, xem xét các vấn đề quan trọng như: Tiến trình thực hiện AFTA; Mở rộng thương mại tự do ASEAN theo công thức ASEAN + 1, ASEAN + 3; Kế hoạch phối hợp xây dựng hệ thống tin học nối mạng giữa các nước thành viên
Khu vực Đông Nam á đang được xem như là một khu vực thống nhất hơn với sự tồn tại của ASEAN vào thời kỳ sau chiến tranh lạnh Những nền kinh tế này
đã hoạt động tốt cho việc giành lấy sự tăng trưởng kinh tế mạnh trước khủng hoảng Tuy nhiên, thách thức của Trung Quốc đối với khu vực trở nên rõ nét khi tầm quan trọng của Trung Quốc tăng lên về thương mại và đầu tư trong toàn cầu hoá kinh tế thế giới
1 Quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc trong một nền kinh tế thế giới hội nhập
1.1 Sự thay đổi không gian liên kết kinh tế ASEAN và Trung Quốc
Quan hệ kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc phát triển rực rỡ trong suốt thập kỷ 90 Sự mở cửa về thương mại và FDI đã có kết quả tích cực về tăng trưởng
và sự hội nhập với nền kinh tế thế giới Các nước ASEAN đã có mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% trong thập kỷ 90 cho tới trước khủng hoảng tài chính năm
Trang 401997 Mức tăng trưởng này cũng bao gồm cả những thành viên mới của ASEAN (Which are known ASEAN CLMV- Cambodia, Laos, Myanma and Vietnam) Mặt khác với nước có mức tăng trưởng trung bình tới 10% trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã trở thành nước có tăng trưởng GDP thực cao nhất thế giới ( International Monetary Fund World Economic Outlook database). Điều này rõ ràng đã làm cho Trung Quốc trở thành một lực lượng nổi bật trong nền kinh tế toàn cầu
ASEAN có mức độ mở cửa cao bao gồm cả về xuất khẩu và nhập khẩu, khoảng 135% so với GDP năm 2000 Với mức độ mở cửa cao như vậy, xuất khẩu của ASEAN đã tăng hơn gấp đôi hơn thập kỷ qua, từ 162,9 tỷ USD năm 1991 lên tới 358,3 tỷ USD năm 1999 Sự hội nhập với nền kinh tế thế giới đã được biểu hiện bằng mức độ mở cửa cao khoảng 41% năm2000 Trong cùng thời kỳ, xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng khoảng 3 lần, từ 71,9 tỷ USD năm1991 lên tới 195,2 tỷ USD năm 1999
Một khía cạnh khác về sự tăng trưởng nhanh của ASEAN và Trung Quốc là tầm quan trọng của FDI thu hút được cùng với nguồn công nghệ và kinh nghiệm quản lý (See UNCTAD, World Investment Report 1998) Dòng FDI chảy vào ASEAN đã tăng hơn gấp đôi trong khoảng 1990 và 1997 Mức cao nhất là năm 1996 với tổng giá trị là 29,6 tỷ USD nhưng vẫn kém xa so với năm 1990 là năm FDI đã ở mức cao nhất khi so sánh nguồn FDI với các nước đang phát triển Dòng FDI vào ASEAN được tập trung vào những lĩnh vực tái tạo sự hấp dẫn của nơi này nhờ chế
độ hội nhập khu vực bên cạnh những sáng kiến chính sách của mỗi quốc gia
Còn đối với Trung Quốc, FDI đã tăng hơn 10 lần, từ 3,5 tỷ USD năm 1990 hay khoảng 10% của tổng FDI vào những nước đang phát triển lên tới 40,8 tỷ USD hay khoảng 17% tổng FDI vào các nước đang phát triển Theo báo cáo đầu tư thế giới mới nhất năm 2001 thì Hồng kông vượt Trung Hoa đại lục với tư cách là nơi nhận FDI riêng lẻ lớn nhất Châu á với 64 tỷ USD, và cũng đứng đầu trong việc đưa