Câu 1: Phân tích các mục tiêu của việc DH Tiếng Việt hiện nay ở Tiểu học để chỉ ra vai trò quan trọng của việc nghiên cứu Ngôn ngữ học trong nhà trường? Việc nghiên cứu của Ngôn ngữ học ở cả 2 trạng thái tĩnh và động có vai trò như thế nào đối với việc đổi mới dạy Tiếng Việt ở Tiểu học theo quan điểm giao tiếp hiện nay?
Trang 1Câu 1: Phân tích các mục tiêu của việc DH Tiếng Việt hiện nay ở Tiểu học để
chỉ ra vai trò quan trọng của việc nghiên cứu Ngôn ngữ học trong nhà trường? Việc nghiên cứu của Ngôn ngữ học ở cả 2 trạng thái tĩnh và động có vai trò như thế nào đối với việc đổi mới dạy Tiếng Việt ở Tiểu học theo quan điểm giao tiếphiện nay?
Trả lời
Ngôn ngữ - tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) là phương tiện giao tiếp quan trọng trong đời sống con người Kiến thức về Ngôn ngữ học được giảng dạy trong nhà trường từ cấp tiểuhọc đến bậc đại học như một môn học độc lập
- Trong nhà trường tiểu học, mục đích môn Tiếng Việt là phương tiện, công cụ
HS học tập, tư duy và giao tiếp của học sinh Mục tiêu của môn Tiếng Việt là: + Cung cấp những kiến thức về tiếng Việt Vận dụng sáng tạo thành tựu của Ngữ âm học Tiếng Việt, Từ vựng học tiếng Việt, Ngữ pháp học tiếng Việt và cách học tiếngViệt có chọn lọc để HS hiểu và s dụng tiếng Việt đạt hiêu quả cao nhất
+ Rèn luyện và nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở 4 phương diện: nghe - đọc - nói- viết HS hiểu và thực hiện nhuần nhuyễn chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Nghĩa là dạy và học tiếng Việt nhằm giúp HS sử dụng TV có hiệu quả trong hoạt động giao tiếp đa dạng,phong phú trong xã hội
+ Rèn luyện và nâng cao năng lực thẩm mĩ cho HS Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, nên học tiếng Việt giúp HS cảm thụ và chiếm lĩnh các tác phẩm văn học, bồi dưỡng HS năng lực thẩm định văn chương, nâng cao tình cảm yêu quý tiếng mẹ đẻ và văn học dân tộc
+ Dạy tiếng Việt trong nhà trường còn rèn luyện năng lực tư duy cho HS Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, gắn liền quá trình nhận thức và tư duy của con người
+ Dạy tiếng Việt nhằm giúp HS sử dụng tiếng Việt tốt trong cuộc sống, học tậpvàgiao tiếp xã hội Vì vậy, dạy học theo quan điểm giao tiếp trở thành một nguyên tắc chủ đạo trong đổi mới DH tiếng Việt hiện nay và là một nội dung trong Ngữ dụng học Theo quan điểm này, tiếng Việt tiểu học tăng cường dạy
HS sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, xây dựng hệ thống bài tập tiếng Việt hướng HS kĩ năng tạo lời nói vầ hiểu lời nói
Trang 2Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ loài người bao gồm ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp chung và ngôn ngữ riêng của một công đồng Ngôn ngữ tồn tại 2 trạng thái: trạng thái tĩnh và trang thái động.
- Ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh: Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị ngôn ngữ, các quan hệ cùng các quy tắc kết hợp Ngôn ngữ là tài sản chung của một xã hội, là kết quả của sự quy ước của cả cộng đồng ngôn ngữ Mỗi cá nhân
sử dụng theo cách riêng của mình trong tình huống giao tiếp cụ thể
- Ngôn ngữ ở trạng thái động: Là ngôn ngữ được sử dụng trong hoạt động hànhchức, thực hiện chức năng giao tiếp Ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp tồntại ở dạng động nên nó chịu sự chi phối nhiều yếu tố bên ngoài như: hoàn cảnh, nội dung, mục đích,nhân vật thời gian, không gian giao tiếp và có sự biến đổi, chuyển hóa so với chúng ở dạng tĩnh
Ngôn ngữ vừa tồn tại trong trạng thái tĩnh như một hệ thống – kết cấu tiềm ẩn trong năng lực ngôn ngữ của mỗi người, đồng thời nó cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ vừa là
phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ giao tiếp nên dạy tiếng Việt tiểu học là gắn với bản chất và chức năng của ngôn ngữ.Việc nghiên cứu ngôn ngữ ởtrạng thái động và trạng thái tĩnh có vai trò quan trọng trong nghiên cứu và giảng dạy Tiếng Việt thể hiện ở:
-Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là môn học dạy HS công cụ, phương tiện để các em giao tiếp, học tập và tư duy hàng
ngày.Tiếng Việt là môn học độc lập chiếm thời lượng nhiều nhất trong chương trình Tiểu học với nhiệm vụ cung cấp tri thức tiếng Việt góp phần phát triển xã hội và phát triển ngôn ngữ HS tiểu học nắm được hệ thống các đơn vị tiếng Việt
và quy tắc của chung giúp các em tạo ra những sản phẩm giao tiếp đa dạng phong phú góp phần đắc lực trong sự phát triển ngôn ngữ và tư duy ở các em.-Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là nguyên tắc phổ biến hiện nay ở bậc tiểu học nhằm chỉ rõ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ trong xã hội Theo quan điểm này là dạy học hướng vào việc phân tích quá trình tạo lời nói và lĩnh hội lời nói, phân tích các yếu tố liên quan đến tạo lời nói Mục đích cuối cùng học sinh sử dụng thuần thục 4 kĩ năng nghe– nói – đọc – viết tiếng Việt
Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt tiểu học thể hiện trong nội dung và
DH bộ môn
+Về nội dung: Đó là kiến thức về tiếng Việt nói chung bao gồm hệ thống các đơn vị tiếng Việt và quy tắc sử dụng tiếng Việt, ngôn ngữ trong hoạt động hành
Trang 3chức, các nhân tố trong hoạt động giao tiếp.Đặc biệt, quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt còn chú trọng đến cách sử dụng từ, câu trong giao tiếp Các
kĩ năng này thuộc về 2 quá trình của hoạt động giao tiếp là:
*Một là kĩ năng sản sinh ngôn bản dạng nói (phát âm, ngữ điệu, s dụng từ ngữ, nghi thức lời nói…) và dạng viết (dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, viết văn bản…)
*Hai là kĩ năng tiếp nhận và lĩnh hội văn bản chính là rèn kĩ năng đọc – hiểu văn bản, nghe và hiểu nội dung câu nói/bài nói
+Về phương pháp dạy – học:
*Khi dạy – học cần đặt ngôn ngữ và các yếu tố của nó trong hoạt động giao tiếp Trong dạy tiếng Việt vừa chú ý kiến thức về tiếng Việt vừa chú ý đến sử dụng kiến thức đó trong hoạt động giao tiếp và chỉ ra giá trị, hiệu quả của nó trong hoạt động giao tiếp
*Quán triệt quan điểm giao tiếp, sau khi dạy lí thuyết về tiếng Việt (từ ngữ, ngữ pháp) cần củng cố, mở rộng bằng các bài tập thực hành phong ph , đa dạng, đưa kiến thức vừa học vào tình huống giao tiếp mới nhằm củng cố khắc sâu kiếnthức cho các em, đồng thời rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt hướng học sinhvào các hoạt động sản sinh ngôn bản hay tiếp nhận ngôn bản
*Tăng cường hoạt động luyện tập – thực hành tiếng việt là yếu tố vận dụng
có hiệu quả quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt “
- Dạy tiếng Việt ở trường tiểu học cần chú ý nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liềnvới rèn luyện tư duy Dạy tiếng Việt chú trọng rèn luyện các thao tác của tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh…phát triển HS tư duy lô gic và các phẩm chất của tư duy (cụ thể,trừu tượng, ghi nhớ, suy luận, phán đoán…) Dạy tiếng Việt cho học sinh là phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn từ, dạy nghĩa từ, dạy cách
sử dụng từ không tách rời việc rèn luyện tư duy ở các em
Câu 2:
14.Quan điểm giao tiếp trong việc dạy – học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưng bản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng Vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, có chức năng cơ bản nhất là chức năng giao tiếp Ngôn ngữ vừa tồn tại trong trạng thái tĩnh như một hệ thống – kết cấu tiềm ẩn trong năng lực ngôn ngữ của mỗi người, đồng thời nó cần phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp, ngôn
Trang 4ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp chính là dạy về phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Quan điểm giao tiếp cũng phù hợp với mục tiêu của môn học: môn ngôn ngữ nóichung và phân môn TV nói riêng không phải chỉ có mục đích trang bị kiến thức khoa học về ngôn ngữ, về TV cho HS, mà điều quan trọng là rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng TV trong các hoạt động tư duy, giao tiếp Ngay trong lĩnh vực kiến thức thì môn ngôn ngữ cũng không phải chỉ cung cấp những kiến thức
có tính chất lí thuyết về cơ cấu tổ chức, về hệ thống ngôn ngữ, về nguồn gốc và
sự phát triển lịch sử, về loại hình các ngôn ngữ … mà còn không thể thiếu được những hiểu biết về quy tắc sử dụng, về các thao tác và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Do đó, quan điểm giao tiếp rất phù hợp với mục tiêu của môn học
Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học Về nội dung, phân môn TV tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để HS mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng TV trong giao tiếp Về phương pháp dạy học, các
kĩ năng được hình thành thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên
Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp thực chất là dạy học vì mục đích giao tiếp.Dạy về giao tiếp và dạy trong giao tiếp
15.Cơ sở và những yêu cầu phát triển tư duy cho học sinh qua môn tiếng Việt:-Ngôn ngữ và tư duy luôn có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ Thực tế cho thấy trẻ em có kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ thì những năng lực, phẩm chất tưduy của các em cũng được thể hiện rõ Ngược lại, trẻ em không có ngôn ngữ hoặc khả năng ngôn ngữ kém thì năng lực tư duy cũng hạn chế Tuy vậy, cần nhận thức rằng, ngôn ngữ và tư duy thống nhất chứ không đồng nhất
-Mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy cho thấy môn Tiếng Việt có nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh vì vậy phải thường xuyên luyện tập cho học sinh khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau Lời nói cần có nội dung, trong dạy học tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ hoặc ngược lại (giải nghĩa từ là đi từ ngôn ngữ đến tư duy; viết câu, dựng đoạn là đi từ tư duy đến ngôn ngữ).Phương pháp dạy học tiếng không dựa vào sự phát triển tương hỗ giữa lời nói và tư duy thì đó là phương pháp sai lầm vì vậy cần tuân thủ nguyên tắc phát triển tư duy cho học sinh với những yêu cầu:
Trang 5+ Phải chú ý rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy trong giờ dạy tiếng cho các em;
+ Phải làm cho học sinh thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ + Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói cần viết và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ
-Phát triển tư duy cho học sinh qua dạy học Tiếng Việt cần đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện các thao tác tư duy lôgich, hình thành các phẩm chất tư duy, góp phần hình thành tư duy hình tượng cho các em
+ Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgích, lí tính nên chúng ta phải rèn luyện các thao tác tư duy lôgích cho học sinh Chính trong các đơn vị và các dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát hoá, trừu tượng hoá
VD:khi chúng ta nói “danh từ” nghĩa là không phải nói đến một danh từ cụ thể nào cả mà nói đến tất cả các danh từ trong sự đối chiếu với động từ, tính từ
Để rèn luyện tư duy lôgích cho học sinh, phải đặc biệt quan tâm những lỗi về câu do diễn đạt thiếu lôgích
VD: “Mắt đăm đăm nhìn ra cửa bể, ta thấy Kiều nghĩ tới tương lai tối tăm, mùmịt của mình”
“Anh Hai bị thương hai vết, một vết ở đùi và một vết ở Khe Sanh”
“Nước giếng này rất trong, pha trà rất ngon mà lại gần nhà”
=>Đây là những trường hợp không tương hợp về ý giữa các thành phần câu + Ngoài việc rèn luyện thao tác tư duy lôgích cho học sinh, trong giờ TiếngViệt, chúng ta cần hình thành và phát triển các phẩm chất tư duy cho các em Muốn vậy, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nắm được các vấn đề cần nói và viết, biết thể hiện nội dung các vấn đề đó bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau.Cần xây dựng các đề bài kiểm tra phù hợp với trình độ tư duy của họcsinh Ngoài ra, cần rèn cho học sinh nói/viết từ một ý bằng nhiều cách khác nhau, cần biết sử dụng các dạng ngôn ngữ nói/viết cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
+ Môn Tiếng Việt cũng có nhiều lợi thế để hình thành tư duy hình tượng cho học sinh vì chữ viết được xem là một biểu tượng Học chữ là một trong những con đường để hình thành biểu tượng Việc tích hợp dạy Văn qua môn Tiếng Việt được xem là một biện pháp để hình thành và phát triển tư duy hình tượng văn học cho các em
Trang 63.Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, được con người hay động vật sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau, cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như vậy.Ngôn ngữ do cá nhân tiến hành có thể
có những xu hướng, mục đích khác nhau nhằm truyền đạt một thông báo mới, những tri thức mới, giải quyết một nhiệm vụ tư duy mới Ngôn ngữ của mỗi cá nhân phát triển cùng với năng lực nhận thức của cá nhân đó và bao giờ cũng mang dấu ấn của những đặc điểm tâm lý riêng Song ngôn ngữ của mỗi cá nhân không chỉ phản ánh nghĩa của các từ mà còn phản ánh cả thái độ của bản thân đối với đối tượng của ngôn ngữ và đối với người đang giao tiếp.Vì thế ngôn ngữđặc trưng cho từng người.Nhưng đó chỉ là những biến thể của ngôn ngữ toàn dân,là cái riêng trong quan hệ với cái chung có tính quy luật Nếu không có ngôn ngữ chung để thống nhất thì ta không thể giao tiếp với nhau được, nếu không có ngôn ngữ chung thì không có lời nói cá nhân và như thế con người sẽ không thể giao tiếp nhằm trao đổi thông tin, tình cảm… để xây dựng một cộng đồng, một quốc gia vững mạnh
Vậy nên quan điểm của Sakhomanop là quan điểm sai lầm
Câu 4: Hãy tóm tắt nội dung giả thuyết về nguồn gốc Môn – Khmer của tiếng
Việt Việc tìm hiểu nguồn gốc của tiếng Việt theo giả thuyết này có những mặt mạnh nào?
Trả lời
Dựa vào những cứ liệu mới ,nhiều nhà nghiên cứu lịch sử và ngôn ngữ đã đưa ra
1 giả thuyết có nhiều sức thuyết phục:Tiếng Việt bắt nguồn từ một ngữ hệ lớn sinh thành trong khung cảnh Đông Nam Á tiền sử mà địa bàn của nó là bao trùm
cả một vùng rộng lớn ,từ bờ sông Dương Tử cho tới vùng Atsam ,vùng núi cao nguyên này thuộc về đất Thái Lan ,Lào,Việt Nam,Campuchia,…về phía nam thì lan tỏa tới các bán đảo và đảo giáp Châu Đại Dương Trong nhiều thiên niên
kỉ ,qua sự tiếp xúc với các ngôn ngữ thuộc loại hình khác ,ngữ hệ nà đã phân chia thành một số dòng,trong đó có dòng Môn-Khomer phân bố ở Nam Đông Dương và phụ cận ở vùng núi Bắc Đông Dương Hai ngôn ngữ Môn và khomer được nêu làm tiểu biểu cho dòng vì hai ngôn ngữ đó sớm có chữ viết ,những tộcngười nói hai ngôn ngữ này đã xây dựng những nền văn hóa khá phát
triển Tiếng Việt từ chỗ là một ngôn ngữ thuộc dòng Môn –Khomer đã chuyển thành Chi Việt Mường chung hoặc Tiếng Việt cổ và cuối cùng tách thành Tiếng Việt và Tiếng Mường Qúa trình chuyển biển đã để lại nhiều dấu vết có thể khảosát qua việc được đối chiếu ,so sánh tiếng việt với Tiếng Mường ,tiếng Tày –thái,Khomer
Trang 7Cơ sở từ vựng học liên kết tiếng Việt với tiếng Môn-Khme gồm vốn từ vựng cơ bản chung chung về mặt ngữ nghĩa, và điều quan trọng là đó chính là vốn từ vựng liên kết giữa các ngôn ngữ khác với các tiểu nhánh của các ngôn ngữ Môn-Khme.Các ngôn ngữ Môn-Khme khác bắt nguồn từ bốn tiểu nhánh khác nhau của Môn-Khme và bao phủ phạm vi địa lý rộng lớn, song tất cả đều có các
từ nguyên Môn-Khme rất phổ biến này, một thực tế củng cố thêm việc gộp tiếngViệt vào họ Môn-Khme và làm suy yếu khả năng của một tình huống vay mượn nhiều về ngôn ngữ.Chất lượng của vốn từ vựng cơ bản Môn-Khme trong tiếng Việt cũng cao Ví dụ, ngược với từ có thể là vay mượn từ tiếng Tai gà[chicken], hay công[peacock] từ tiếng Môn-Khme, chúng ta sẽ thấy từ ít tiêu biểu nhất về mặt ngữ nghĩa, và phổ thông hơn là từ chim[bird] Trong số các từ có gốc Môn-Khme trong tiếng Việt, chúng ta cũng sẽ thấy các từ chỉ con vật thực sự cơ bản như từ chó[dog],cá[fish],và đối ngược với những chủng loại cụ thể hơn của các động vật này nguồn gốc Môn-Khme của tiếng Việt Thứ nhất, tiếng Việt có bằngchứng cả về các nhóm đầu từ và các tiếp đầu ngữ hay trung tố, mà một số tương ứng với các hình thể ngôn ngữ Môn-Khme Những bằng chứng như vậy gần như bị thất thoát trong quá trình đơn âm hoá Thứ hai, các mô hình của các
từ láy, trong đó một âm tiết đơn nhất đượclặp lại một phần nhưng thường với một âm thay đổi, là một khía cạnh gợi ra sự giống nhau về chữ viết với các ngônngữ Môn-Khme.Ngôn ngữ Môn-Khme khác bắt nguồn từ bốn tiểu nhánh khác nhau của Môn-Khme và bao phủ phạm vi địa lý rộng lớn, song tất cả đều có các
từ nguyên Môn-Khme rất phổ biến này, một thực tế củng cố thêm việc gộp tiếngViệt vào họ Môn-Khme và làm suy yếu khả năng của một tình huống vay mượn nhiều về ngôn ngữ
Những tương ứng về âm vị giữa Môn –khome với Tiếng Việt cung cấp không chỉ bằng chứng để liên kết tiếng Việt với tiếng Môn-Khme mà còn là một
phương tiện để phục nguyên tiếng Việt ở các giai đoạn cách đây vài thế kỷ và sớm hơn nữa Một số tiếp đầu ngữ sơ khai của tiếng Môn-Khme cũng có thể được phục nguyên trong tiếng Việt
Câu 5: Chứng minh chữ Quốc ngữ đóng vai trò quan trọng để xây dựng một nền
văn học Việt Nam mới đậm đà bản sắc dân tộc
Trả lời ‘Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước" Một dân tộc hồn cốt mạnh sẽ có thể hiên ngang sánh vai cùng các dân tộc tiên tiến trên thế giới
Việc sử dụng chữ Quốc ngữ đã tạo điều kiện hình thành tầng lớp trí thức mới, với đại diện đầu tiên là những người tiếp thu tốt cả hai nền văn minh Đông và
Trang 8Tây như Phan Châu Trinh.Ông đi đầu phong trào viết tiếng Việt, ra sức xây dựng nền văn học Việt Nam độc lập tự chủ.Chữ Quốc ngữ còn giúp nước ta
"Thoát Hán" về ngôn ngữ.Nước ta chính thức bắt đầu "Thoát chữ Hán" từ năm
1919 Chữ Quốc ngữ đã cứu dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Pháp đồng hóa về ngôn ngữ Thiết nghĩ đó là do thực dân Pháp thấy tiếng Việt và chữ Quốcngữ có năng lực diễn đạt được các tri thức hiện đại và do đó đáp ứng nhu cầu khai hóa Việt Nam nên đã không buộc dân ta bỏ tiếng mẹ đẻ, chỉ dùng tiếng Pháp – như chúng đã thực hành với nhiều thuộc địa ở châu Phi.Thử hỏi xem nếunhư :Nếu cho tới nay vẫn dùng chữ Hán hoặc Nôm thì đất nước ta sẽ như thế nào? Rõ ràng chữ Quốc ngữ đã làm một cú hích lịch sử đưa dân tộc Việt Nam rakhỏi vũng bùn lạc hậu, bước lên quỹ đạo phát triển sáng láng của nhân loại Ngôn ngữ là công cụ tư duy; chữ viết là công cụ ghi chép ngôn ngữ, tức ghi chép tư duy Khi chưa có chữ viết thì tư duy không được ghi lại, do đó không được lưu trữ và giao lưu, kế thừa; vì thế trí tuệ bị kìm hãm không phát triển được Chữ Quốc ngữ gắn liền với tiếng Việt như hình với bóng có thể làm tốt nhất chức năng ghi chép, trao đổi, kế thừa và phát huy trí tuệ của dân tộc ta ChữHán tách rời tiếng Việt, và chữ Nôm khó hơn chữ Hán không làm được chức năng đó Học giả Phạm Quỳnh nói "chữ Quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải phóngtrí tuệ người Việt Nam".Do gắn liền với tiếng nói nên chữ Quốc ngữ có sức sốngmãnh liệt và luôn phát triển cùng tiếng Việt
Chữ Quốc ngữ là công cụ tốt nhất để dịch các ngôn ngữ khác thành tiếng Việt, nhờ thế dân tộc ta biết tới các thành quả tiến bộ xã hội của nhân loại.Lần đầu tiên những tư tưởng tiên tiến như bình đẳng, tự do, dân chủ, nhân quyền… du nhập đã thức tỉnh dân ta "Hải ngoại Huyết thư" Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán được nhà Nho Lê Đại chuyển thành thơ Quốc ngữ với những câu kích độnglòng yêu nước như "Cờ độc lập xa trông phấp phới, Kéo nhau ra đòi lại nước nhà" được đồng bào học thuộc lòng truyền đi khắp nơi đã khiến thực dân Pháp hoảng sợ Từ đó trở đi tất cả các phong trào chính trị đều dùng chữ Quốc ngữ đểtruyền bá học thuyết, quan điểm của mình -Chữ Quốc ngữ đã góp phần quyết định nâng cao dân trí, qua đó thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách thực dân phong kiến tiến tới thắng lợi cuối cùng
Chữ Quốc ngữ có khả năng chuyển được kho tàng tri thức văn minh nhân loại thành tiếng Việt, qua đó giúp dân ta thừa hưởng các thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn và văn học nghệ thuật của thế giới, đẩy lùi các quan điểm lạc hậu và nạn mê tín dị đoan, thực hiện hiện đại hóa xã hội.Trong thế kỷ XX ,hầu hết tác phẩm lớn của văn học nước ngoài đã được người Việt biết tới Các thư tịch chữ Nho, Nôm của tổ tiên ta đều phải dịch ra Quốc ngữ thì
Trang 9con cháu mới có thể đọc hiểu,cho tới nay nhiều thư tịch Hán Nôm đều đã được chuyển ngữ thành Quốc ngữ, nhờ thế các thế hệ sau không bị đứt quãng với di sản văn hóa cổ.
Chữ Quốc ngữ thuận tiện nhất dùng để viết văn, làm thơ… qua đó hình thành nền văn học tiếng Việt của toàn dân, không như văn học Hán/Nôm chỉ do tầng lớp trên độc quyền sở hữu Năm 1887 Sài Gòn xuất bản tiểu thuyết chữ Quốc ngữ "Thầy Lazaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản, đánh dấu sự ra đời văn học tiểu thuyết tiếng Việt Tại Hà Nội năm 1925 Hoàng Ngọc Phách cho ra mắt "Tố Tâm", tiểu thuyết Quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc Trong thế kỷ XX văn học tiếng Việt phát triển như vũ bão, xuất hiện nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng Chữ Quốc ngữ đã góp phần quan trọng hình thành Thơ Mới, loại thơ không tuân theoluật của thơ cổ
Do giúp chuyển tải nhanh chóng các kiến thức thể hiện bằng chữ alphabet của văn minh phương Tây, như toán học, hóa học, vật lý học… nên chữ Quốc ngữ trở thành bà đỡ cho sự ra đời ngành giáo dục toàn dân ở nước ta,cao trào học chữ trong cả nước nở rộ nổi bật là Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội đã tạo sức
ép khiến chính quyền cai trị phải mở trường dạy chữ Quốc ngữ ở các tỉnh, hình thành hệ thống giáo dục toàn dân
Chữ Quốc ngữ góp phần quyết định sự ra đời ngành thông tin, truyền thông, đầu tiên là báo chí, xuất bản.Ngành báo chí nhanh chóng phát triển, làm cho đời sống tinh thần dân ta trong một thời gian ngắn có bước tiến chưa từng thấy theo hướng dân chủ hóa Báo chí trở thành nơi gây dựng phong trào viết tiếng
Việt,nước ta khó có thể phát triển được ngành xuất bản, bưu chính viễn thông nhanh đến vậy nếu không dùng chữ Quốc ngữ
Việc sử dụng chữ Quốc ngữ đã tạo điều kiện hình thành tầng lớp trí thức mới, với đại diện đầu tiên là những người tiếp thu tốt cả hai nền văn minh Đông và Tây như Phan Châu Trinh.Ông đi đầu phong trào viết tiếng Việt, ra sức xây dựng nền văn học Việt Nam độc lập tự chủ.Chữ Quốc ngữ còn giúp nước ta
"Thoát Hán" về ngôn ngữ.Nước ta chính thức bắt đầu "Thoát chữ Hán" từ năm
1919 Chữ Quốc ngữ đã cứu dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Pháp đồng hóa về ngôn ngữ Thiết nghĩ đó là do thực dân Pháp thấy tiếng Việt và chữ Quốcngữ có năng lực diễn đạt được các tri thức hiện đại và do đó đáp ứng nhu cầu khai hóa Việt Nam nên đã không buộc dân ta bỏ tiếng mẹ đẻ, chỉ dùng tiếng Pháp – như chúng đã thực hành với nhiều thuộc địa ở châu Phi
Trang 10Câu 6: a Chọn 1 bài tập trắc nghiệm theo kiểu điền khuyết ở Tiểu học (bài tập
điền âm, điền vần trong Chính tả, điền từ trong Luyện từ và câu) và phân tích cơ
sở ngôn ngữ học của kiểu bài tập này
b Cho ví dụ: Xe bò lên dốc; Hổ mang bò vào rừng; Mẹ con đi chợ chiều mới về
- Phân tích cơ sở ngôn ngữ học của kiểu bài tập trên
- Xác định các tình huống để giải mẫu bài tập đó
Trả lời
Câu 7: Trong tiếng Việt, để xác định quan hệ ngữ pháp giữa các từ và chức
năng ngữ pháp của chúng, người ta thường căn cứ vào tiêu chuẩn nào? Tại sao? Hãy lấy một vài dẫn chứng để phân tích và minh họa cho quan điểm của mình Trả lời
Trong tiếng Việt,để xác định quan hệ ngữ pháp giữa các từ và chức năng ngữ pháp của chúng ,người ta thường căn cứ vào đặc trưng của Tiếng Việt:
-Đơn vị cơ sở của ngữ pháp Tiếng Việt:Về ngữ pháp, tiếng được xem là “đơn vị
cơ sở của cấu tạo ngữ pháp tiếng Việt” Tiếng trong tiếng Việt là đơn vị dễ nhận diện vì nó có cấu tạo bằng một âm tiết, mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết
-Các phương thức ngữ pháp chủ yếu trong tiếng Việt:Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Từ của tiếng Việt không biến đổi hình thái Các phương thức ngữ pháp bên ngoài từ chủ yếu trong tiếng Việt là: trật tự từ, hư từ và ngữ điệu.a)Phương thức trật tự từ là sự sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định để biểu thị các quan hệ cú pháp Trong phần lớn trường hợp, sự thay đổi trật tự từ tiếng Việt kéo theo sự thay đổi vai trò cú pháp của chúng trong cụm từ và câu
Ví dụ:
- bàn năm ≠ năm bàn
- sân trước ≠ trước sân
- Nó đi đến trường ≠ Đến trường nó đi
b)Phương thức hư từ cũng là phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt Hư
từ không có chức năng định danh, không có khả năng độc lập làm thành phần