SỬ DỤNG THÂN lá lạc ủ CHUA TRONG KHẨU PHẦN ăn của bò vỗ béo tại TỈNH QUẢNG TRỊ
Trang 1SỬ DỤNG THÂN LÁ LẠC Ủ CHUA TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA BÒ VỖ
BÉO TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
Đỗ Thị Thanh Vân, Lê Văn Hùng và Vũ Chí Cương
Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn chăn nuôi và Đồng cỏ-Viện Chăn Nuôi
*Tác giả liên hệ : Đỗ Thị Thanh Vân - Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn chăn nuôi và Đồng cỏ
Viện Chăn Nuôi - Từ Liêm - Hà nội - Việt nam Tel: (04) 38.386.126/ 0982.343.896; Fax : (04) 38.389.775: Email: dothanhvan@hotmail.com or
lyvan@hn.vnn.vn
ABSTRACT The effect of different levels of ensilaged groundnut vines in the diets of fattening cattle on the daily weight
gain (ADG), feed conversion ratio (FCR) and economic efficiency
16 Lai Sind young bulls weighing 212 kg (SD=41kg) at 22 months of age were used to study the effect of different levels of ensilaged groundnut vines in the diets of fattening cattle on the daily weight gain (ADG), feed conversion ratio (FCR) and economic efficiency In this study, animals were randomly allocated into 4 treatments (KP1; KP2; KP3 and KP4) according to 4 levels of ensilaged groundnut vines in the diets The level
of ensilaged groundnut vines used was 13%; 26%; 39% and 52% of total dry matter (DM) of the diets for KP1; KP2; KP3 and KP4, respectively The daily DM offered was equal to 3% of initial BW and the experimental time was 12 weeks
The animals fed the KP1 and KP2 consumed significantly higher amounts of total DM (102 and 108g DM/kg
W0.75, respectively) than that of animals fed the KP4 (91g DM/kg W0.75), but there was no significant difference
in total DM intake among KP1, KP2, KP3 (102, 108 and 97g DM/kg W 0.75 , respectively) The ADG of animals were in the range 0.523 to 0.833kg/head/day; and the highest ADG was obtained in the animals fed KP2 leading
to the lowest FCR of DM (8.29kgDM/kg BW gain) and better profit (334,000VND/head/month) for KP2 compared to KP1, KP3 and KP4 In conclusion, the best benefit was obtained when ensilaged groundnut vines fed at a level of 26% of total DM of the diet
Key words: Fattening cattes, ensilaged groundnut vines, levels, intake, weight gain
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hàng năm nước ta có khoảng 1,2-1,4 triệu tấn thân lá lạc tươi, nhưng phần lớn khối lượng này
bị bỏ ngoài đồng làm phân bón, một phần nhỏ được dùng làm chất đốt Lạc chiêm là vụ lạc chính, thường thu hoạch vào tháng 6 tháng 7 hàng năm, trùng vào mùa mưa nên thân cây lạc rất dễ bị nấm mốc và vi sinh vật phân hủy Thân lá lạc sau thu hoạch có hàm lượng dinh dưỡng tương đối cao: 26,45% vật chất khô (VCK); 14,17% protein thô /CP); 28,99% xơ thô
và 2289 Kcal ME/kg VCK (Nguyễn Hữu Tào, 1996; Bùi Văn Chính và cs., 2002) Thân lá lạc
ủ chua (bổ sung 0,5% muối và 5% bột sắn) đạt pH từ 4,3-4,5; hàm lượng axit lactic đạt khá cao 2,8% Bò sữa ăn khẩu phần có thân lá lạc, chiếm 39% năng lượng toàn khẩu phần, vẫn cho năng suất sữa khá cao, đồng thời giá tiền chi phí thức ăn giảm đi 18,6% (Nguyễn Hữu Tào, 1996)
Quảng Trị là một tỉnh duyên hải miền Trung, người dân chủ yếu làm nông nghiệp; canh tác lúa, hạt tiêu, lạc Diện tích trồng lạc toàn tỉnh đạt 5.300 ha năm 2006 Một năm hai vụ lạc Đông Xuân và Hè Thu đã cho thu nhập cao hơn gấp 2 đến 3 lần trồng lúa, vì vậy nhiều địa phương trong tỉnh đã chuyển đổi đất trồng lúa năng suất thấp sang trồng lạc Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi của tỉnh đang phát triển mạnh, nhất là chăn nuôi gia súc nhai lại như trâu, bò,
dê Phong trào Sind hóa đàn bò phát triển khá nhanh, tỷ trọng chăn nuôi đã chiếm gần 40% tổng giá trị ngành nông nghiệp Mặc dù cây lạc và chăn nuôi gia súc nhai lại đang phát triển
Trang 2mạnh tại tỉnh Quảng Trị nhưng người dân nơi đây chưa có thói quen chế biến, bảo quản thân
lá lạc làm thức ăn cho gia súc do chưa biết cách và phương pháp bảo quản hợp lý
Để giúp người dân Quảng Trị sử dụng hiệu quả nguồn thân lá lạc sau thu hoạch trong chăn nuôi bò thịt, năm 2007 chúng tôi tiến hành triển khai đề tài: “Nghiên cứu chế biến, bảo quản
và sử dụng thân lá lạc để vỗ béo bò ở tỉnh Quảng Trị” kết quả cho thấy thân lá lạc được bảo
quản theo phương pháp ủ chua phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh; thay thế 16,5% hoặc 33% bột sắn trong khẩu phần ăn của bò vỗ béo bằng thân lá lạc ủ chua cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với khẩu phần không có thân lá lạc ủ chua (Đỗ Thị Thanh Vân và cs., 2009) Tuy vậy, lượng thân lá lạc ủ chua (VCK) sử dụng trong khẩu phần còn thấp, mới chỉ đạt 0,23-0,46% khối lương cơ thể, tương đương 8,56-18,54% VCK trong khẩu phần, nên tiềm năng sử dụng nguồn thân lá lạc sau thu hoạch trong chăn nuôi bò thịt của tỉnh vẫn chưa được khai thác triệt để Vì vậy chúng tôi tiến hành triển khai đề tài này với mục đích xác định lượng ăn vào tối đa và tỷ lệ sử dụng hiệu quả của thân lá lạc ủ chua trong khẩu phần ăn của bò vỗ béo
VẬT LIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được triển khai tại xã Vĩnh Hiền, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2008
Vật liệu và cách quản lý thí nghiệm
Gia súc thí nghiệm: 16 bò đực Lai Sind, 22 tháng tuổi, khối lượng trung bình 212 kg (SD=41kg) được chọn và nuôi tại các nông hộ có điều kiện nuôi dưỡng tương đối giống nhau (10 hộ) Toàn bộ gia súc thí nghiệm được tẩy sán lá gan bằng thuốc Fasinex (Thụy sỹ) trước khi đưa vào giai đoạn nuôi thích nghi
Thức ăn thí nghiệm: Bao gồm thân lá lạc ủ chua, cỏ tự nhiên và thức ăn tinh Thân lá lạc sau thu hoạch (dài khoảng 30-40cm) được băm nhỏ 3-5cm, sau đó được ủ trong túi ủ theo công thức: 100 (kg) thân lá lạc + 5 (kg) bột sắn + 0,5 (kg) muối ăn Cỏ tự nhiên: Là loại cỏ mọc xen
kẽ với các cây trồng ngắn ngày, ở các bờ thửa được cắt về hàng ngày Thức ăn tinh được phối chế từ 50% cám gạo, 47,5% bột sắn củ và 2,5% urea Thành phần hóa học của các loại thức ăn sử dụng trong nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1
Bảng 1 Thành phần hóa học của các loại thức ăn trong khẩu phần ăn của bò thí
nghiệm (% VCK)
Cách quản lý thí nghiệm: Gia súc nuôi nhốt hoàn toàn; được cho ăn thân lá lạc ủ chua và cỏ tự nhiên 3 lần/ngày (sáng, trưa và tối), thức ăn tinh 2 lần/ngày (sáng và tối); nước uống tự do Các loại thức ăn được cho ăn trong các máng ăn riêng rẽ
Thiết kế thí nghiệm
Với 16 bò đực Lai Sind được chia thành 4 nhóm theo khối lượng (4con/nhóm) Sau đó, bò trong mỗi nhóm được chia ngẫu nhiên vào 4 lô thí nghiệm tương ứng với 4 mức thân lá lạc ủ
Trang 3chua khác nhau trong khẩu phần (% tổng VCK khẩu phần) 4 mức thân lá lạc ủ chua khác nhau trong khẩu phần là 13% (KP1); 26% (KP2); 39% (KP3) và 52% (KP4)
Bảng 2 Khẩu phần ăn hàng ngày của bò thí nghiệm
* Ước tính từ số liệu của Vũ Chí Cương và cs, (2004) và Đỗ Thị Thanh Vân (2009)
Lượng VCK cho ăn hàng ngày tương đương với 3% khối lượng cơ thể và được hiệu chỉnh sau mỗi lần cân gia súc thí nghiệm Khẩu phần ăn hàng ngày của bò thí nghiệm được trình bày tại Bảng 2 Thời gian thí nghiệm kéo dài 98 ngày, trong đó 14 ngày đầu là giai đoạn nuôi thích nghi để gia súc làm quen với khẩu phần TN và 84 ngày sau là giai đoạn thu thập số liệu
Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định
Chỉ tiêu theo dõi: Lượng thức thu nhận hàng ngày, khả năng tăng trọng và hiệu quả kinh tế của việc vỗ béo bò
Phương pháp xác định: Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của bò được xác định bằng cách cân lượng thức ăn cho ăn, thức ăn thừa hàng ngày theo từng cá thể; hàng tháng lấy mẫu thức
ăn cho ăn, thức ăn thừa để phân tích thành phần hóa học (VCK, CP, mỡ thô, xơ thô và khoáng tổng số) Khả năng tăng trọng của bò được xác định thông qua việc cân khối lượng bò vào buổi sáng trước khi cho ăn tại thời điểm bắt đầu và kết thúc thí nghiệm, sau 4 và 8 tuần thí nghiệm bằng cân điện tử RudWeight, Australia Hiệu quả kinh tế của việc vỗ béo bò được sơ
bộ tính toán dựa trên giá cả thức ăn và giá gia súc tại thời điểm thí nghiệm
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) trên phần mềm MINITAB 14.2 Mô hình toán thống kê sử dụng để phân tích số liệu là: yij = µ + αi + eij ; trong đó yij là biến phụ thuộc, µ là trung bình chung, αi là ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm và eij là sai số ngẫu nhiên
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày
Lượng VCK thu nhận hàng ngày của bò trong nghiên cứu này đạt từ 5,59 đến 6,93 kg/con/ngày (Bảng 3) và không có sự sai khác rõ rệt (P>0,05) giữa các khẩu phần thí nghiệm Kết quả này nằm trong khoảng khuyến cáo của Kearl (1982): Bò có khối lượng 200-300 kg, tăng trọng 0,75 kg/con/ngày cần từ 5,4 đến 7,4 kg VCK/con/ngày
Tỷ lệ thân lá lạc ủ chua ăn vào thực tế hàng ngày tính theo tổng lượng VCK ăn vào tương ứng đạt 14,84; 27,02; 32,50 và 43,43% cho KP1; KP2; KP3 và KP4; và tính theo tổng lượng thức
ăn thô xanh ăn vào tương ứng đạt 25; 45; 57; 81% cho KP1; KP2; KP3; KP4
Trang 4Có sự sai khác rõ rệt (P<0,05) giữa các khẩu phần thí nghiệm về tổng lượng VCK ăn vào hàng ngày của bò tính theo % khối lượng cơ thể hoặc tính theo khối lượng trao đổi (W0.75) Lượng VCK ăn vào đạt cao nhất ở KP2, cao hơn rõ rệt so với KP4 và không có sự sai khác rõ rệt so với KP1 và KP2 Lượng VCK ăn vào tính theo % khối lượng cơ thể của bò trong nghiên cứu này đạt từ 2,4- 2,76%, thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Preston và Willis (1967) (2,8-3%) và của Vũ Chí Cương và cs, (2005) (3,04-3,12%), nhưng lại tương tự như kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Thanh Vân và cs, (2009) (2,48-2,88%) Lượng VCK ăn vào hàng ngày của bò thấp nhất ở KP4 có thể là do lượng thân lá lạc ủ chua chiếm tỷ lệ quá cao trong khẩu phần vì theo Dawson và Mayne (1995) thì lượng VCK ăn vào hàng ngày của bò nuôi dưỡng bằng thức ăn ủ chua thường thấp hơn từ 10 đến 66% (trung bình 33%) so với lượng VCK ăn vào của bò nuôi dưỡng bằng cỏ tươi hoặc cỏ khô, và nguyên nhân của việc thấp hơn này được cho
là do các axit hữu cơ có trong thức ăn ủ chua đã đóng vai trò trong cơ chế kiểm soát lượng thức ăn ăn vào của gia súc nhai lại
Lượng CP ăn vào của bò đạt từ 15-16g/ kg W0.75 và không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P>0,05) giữa các khẩu phần thí nghiệm Lượng CP ăn vào hàng ngày của bò trong nghiên cứu này đều nằm trong khoảng khuyến cáo của Kearl (1982)
Bảng 3 Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày (Trung bình và SE)
Ghi chú: Các giá trị trung bình trong hàng có số mũ (a,b) khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Thay đổi khối lượng và tăng trọng của bò thí nghiệm
Khối lượng bò lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm không có sự sai khác thống kê giữa các khẩu phần (Bảng 4) Nhưng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) về chỉ tiêu tăng trọng trung bình (g/con/ngày) giữa các khẩu phần thí nghiệm Khả năng tăng trọng trung bình của
bò ăn KP2 đạt cao nhất (0,833 kg/con/ngày), cao hơn rõ rệt so với bò ăn KP4 (0,523 kg/con/ngày) và không sai khác so với bò ăn KP1 (0,635 kg/con/ngày) và KP3 (0,627 kg/con/ngày)
Mức tăng trọng trung bình của bò trong thí nghiệm này tương đương với kết quả nghiên cứu của Vũ Chí Cương và cs, (2005) khi vỗ béo bò Lai Sind bằng phế phụ phẩm nông nghiệp (0,583-0,839kg/con/ngày) nhưng lại cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Vũ Văn Nội và cs, (2000), Nguyễn Xuân Trạch và Trần Xuân Nhạc, (2008) khi vỗ béo bò nội bằng các nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương (0,475-0,581 kg/con/ngày) Theo khuyến cáo của Munthali (2006) thì tỷ lệ sử dụng hiệu quả của thân lá lạc và thân cây ngô sau thu hoạch trong khẩu phần ăn của bò vỗ béo nên là 50:50 vì khi đó khả năng tăng trọng của bò sẽ đạt cao nhất và tiêu tốn VCK/kg tăng trọng sẽ đạt thấp nhất so với các tỷ lệ 100:0; 75:25; 25:75 và 0:100 Bảng 4 cho thấy, lượng VCK tiêu tốn cho 1 kg tăng trọng trong thí nghiệm này là từ 8,29kg đến 11,33kg và có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các khẩu phần thí nghiệm (P<0,05)
Trang 5Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng đạt thấp nhất ở KP2 (8,29 kg VCK/kg tăng trọng), thấp hơn rõ rệt so với KP3 (11,33 kg VCK/kg tăng trọng) và KP4 (10,96 kg VCK/kg tăng trọng), nhưng lại không sai khác so với KP1(9,72 kg VCK/kg tăng trọng) Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu của Vũ Chí Cương và cs, (2005): Từ 8,19-11,33kgVCK/kg tăng trọng; và của Đỗ Thị Thanh Vân và cs, (2009): Từ 10,57kg đến 12,92 kgVCK/kg tăng trọng Tuy vậy, kết quả này lại vượt trên khoảng khuyến cáo của INRA (1989): Từ 7,1 - 8,8 kg VCK/kg tăng trọng
Bảng 4 Tăng trọng hàng ngày và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng của bò thí nghiệm
(Trung bình và SE)
Khối lượng bắt đầu thí
Khối lượng kết thúc thí
Tăng trọng trung bình
ab
Tăng trọng trung bình
Tăng trọng trung bình
Tăng trọng trung bình
Tiêu tốn thức ăn (kg
ab
Các giá trị trung bình trong hàng có số mũ (a,b) khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Sơ bộ tính toán hiệu quả kinh tế của việc vỗ béo bò
Hiệu quả của việc sử dụng thân lá lạc ủ chua trong khẩu phần ăn của bò vỗ béo đươc trình bày tại Bảng 5
Bảng 5: Hiệu quả của việc sử dụng thân lá lạc ủ chua trong khẩu ăn của bò vỗ béo
Lượng thức ăn cho ăn (kg/con/ngày)
Kết quả Bảng 5 cho thấy, số tiền chênh lệch giữa thu và chi đạt cao nhất ở KP2 khi thân lá lạc
ủ chua được sử dụng ở mức 26% VCK khẩu phần (333.909 đồng) và đạt thấp nhất ở KP4 khi thân lá lạc được sử dụng ở mức 52% VCK khẩu phần (53.022 đồng) Theo Vũ Chí Cương và
cs, (2005) khi bò tại Đắc Lắc được vỗ béo bằng khẩu phần gồm các loại phế phụ phẩm nông
Trang 6nghiệp thì số tiền lãi thu được từ 143.000-274.286 đồng/con/tháng tùy vào tỷ lệ sử dụng của các loại phế phụ phẩm nông nghiệp trong khẩu phần
KẾT LUẬN
Lượng thân lá lạc ủ chua ăn vào thực tế có thể chiếm đến 43,43% VCK của khẩu phần ăn vào (tương ứng 81% lượng thức ăn thô xanh) Nhưng hiệu quả kinh tế nhất khi thân lá lạc ủ chua được sử dụng ở mức 26% VCK của khẩu phần ăn của bò vỗ béo (tương ứng 43% lượng thức
ăn thô xanh): Bò tăng 0,833kg/con/ngày; tiêu tốn 8,29kg VCK/kg tăng trọng; chênh lệch giữa thu và chi đạt 333.909 đồng/con/tháng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tào, Phạm Văn Thìn, Đỗ Viết Minh, Nguyễn Văn Hải, (2002) Kết quả nghiên cứu chế biến và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc Viện Chăn nuôi, 50 năm xây dựng và phát triển
Dawson, L., Mayne, C.S, (1995) The effects of either dietary additions or intraruminal infusion of amines and juice extracted from grass silage on the volumtary intake of steers offered grass silage Animal Feed Science and Technology 56: pp.119-131
Đỗ Thị Thanh Vân, (2009) Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu chế biến, bảo quản và sử dụng thân lá lạc để vỗ béo bò tại tỉnh Quảng Trị” Viện Chăn nuôi
Đỗ Thị Thanh Vân, Nguyễn Thành Trung, Vũ Chí Cương, Lê Văn Hùng và Phạm Bảo Duy, (2009) Ảnh hưởng của thay thế một phần bột sắn bằng thân lá lạc ủ chua trong khẩu phần đến năng suất bò thịt tại Quảng Trị Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, Số 18 Tr 52-57
INRA, (1989) Ruminant Nutrition: Recommended allowances and feed tables, INRA, Paris
Kearl L C, (1982) Nutrient Requirements of Ruminants in Developing Countries International Feedtuffs Institute Utah
Agricultural Experiment Station Utah State University, Logan, Utah, USA
Munthali, J.T, (2006) Cattle fattening on basal diets of maize stovers and groundnut tops in Malawi
http:/www.fao.org/Wairdocs/ILRI/x5494E/x5494e06.htm
Nguyễn Hữu Tào, (1996) Nghiên cứu nuôi dưỡng bò sữa và lợn thịt bằng khẩu phần ăn có thân lá lạc chế biến,
dự trữ sau thu hoạch Luận văn Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp
Nguyễn Xuân Trạch và Trần Văn Nhạc, (2008) Ảnh hưởng của độ tuổi và mức thức ăn tinh đến tăng trọng và hiệu quả kinh tế vỗ béo bò địa phương tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia lai Tạp chí Khoa học và Phát triển- ĐHNN Hà Nội Số 4/2008 Tr 343-347
Preston, T.R and Willis, M.B, (1967) Intensive Beef Production from Sugar Cane
Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương và Phạm Thế Huệ., 2005 Ảnh hưởng của nguồn thức ăn thô trong khẩu phần đến năng suất bò Lai Sind vỗ béo tại Đắc Lắc Báo cáo khoa học năm 2005 Viện Chăn nuôi- Phần nghiên cứu thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi Tr 46-52
Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Phạm Hùng Cường và Lưu Thị Thi, (2004) Kết quả ước tính tỷ lệ tiêu hoá và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn dùng cho Bò từ lượng khí sinh ra khi lên men in vitro gas production và thành phần hoá học Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y- Phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi Tr 47-54
Vũ Văn Nội, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Kim Cương và Đinh Văn Tuyền, (2000) Nghiên cứu sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có để vỗ béo bò nâng cao khả năng sản xuất thịt và hiệu quả kinh tế Báo cáo Khoa học
1999-2000, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Tr 152-162
*Người phản biệnPGS.TS.Phan Đình Thắm; TS Nguyễn Xuân Bả