Hiện trạng bảo quản và tiêu thụ trứng gia cầm thương phẩm ở nông thôn và thành phố hà nội
Trang 1HIỆN TRẠNG BẢO QUẢN VÀ TIÊU THỤ TRỨNG GIA CẦM THƯƠNG PHẨM
Ở NÔNG THÔN VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Trần Thị Mai Phương, Lê Văn Liễn, Lại Mạnh Toàn Nguyễn Xuân Khoái, Hoàng Thị Hạnh
Bộ môn Chế biến và Bảo quản Sản phẩm Chăn nuôi
Tóm tắt
Theo điều tra ở huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương, huyện Đông Anh và Thành phố Hà Nội, kết quả cho
thấy phần lớn chủ hộ kinh doanh là phụ nữ (chiếm tới 96,2-97,8%); thu nhập của những hộ bán trứng này đa số đều
ở mức trung bình Ở Cẩm Giàng (Hải Dương) người tiêu thụ thích trứng vịt hơn (95,6) nhưng ở Đông Anh và Thành phố Hà Nội, người tiêu dùng thích dùng cả hai loại trứng vịt và trứng gà tươi Số lượng trứng bán trung bình trong 1 ngày tăng dần từ Cẩm Giàng đến thành phố Hà Nội (174 quả, 188 và 286 quả/ngày) Lượng trứng nhập vào trung bình từ 233 – 891 và 3000 quả/ngày tùy loại, Có điều quan trọng là những kinh doanh không thể bán tất cả lượng trứng nhập vào và họ phải lưu trữ trứng, thêm vào đó không kiểm soát được sự biến đổi chất lượng trứng nên trứng
vì thế chất lượng trứng trên thị trường sẽ giảm Lãi suất khoảng 121-499 VND/quả Trứng chế biến trên thị trường chiếm tỷ lệ rất thấp, người tiêu dùng không có thói quen tiêu dùng trứng chế biến, tuy nhiên người kinh doanh trứng chế biến có lãi suất khoảng750-837 VND/trứng Phần lớn lượng trứng muối có nguồn gốc từ công ty và trứng kiềm
từ Trung Quốc Trên thị trường không có trứng bảo quản Không ai biết về trứng bảo quản
1 Đặt vấn đề
Trứng gia cầm từ l u đã được biết đến như là một loại thực phẩm giàu dinh dư ng trong bữa ăn hàng ngày của con người trên toàn cầu Trứng gia cầm chứa 12% protein với đầy đủ các acid amin không thay thế, hàm lượng m trong trứng khá cao (11%) thường ở dạng nh hóa và
d tiêu hóa đồng thời có hàm lượng acid b o không no khá cao (2,1g acid b o oleic, 1,2g linoleic, 0,16g linolenic, 0,13g arachidonic, 1,3 g palmitic, 0,4 g stearic) và ngoài ra c n có khoảng 0,2 g lipoid khác, tổng acid b o lên tới 5,5g và tỷ lệ giữa các acid b o no và không no là 2,1 Trong trứng c n chứa nhiếu thành phần dinh dư ng quan trọng, trứng c n là nguồn nguyên liệu cho nhiều loại sản phẩm thực phẩm khác như các loại bánh, kem, bột trứng M c dù vậy trứng gia cầm lại rất khó bảo quản vì v trứng ở trạng thái ốp và có nhiều l khí nên khả năng bốc hơi nước là rất lớn Độ tươi của trứng giảm rất nhanh và trứng d bị hư h ng nhất là ở các nước có nhiệt độ nóng Điều đáng lo ngại là đa số người tiêu dùng v n không biết gì về tình trạng k m chất lượng của trứng mà mình v n ăn hàng ngày, việc tìm ra những phương pháp bảo quản trứng thích hợp là điều cần thiết Trên thế giới người ta đã rất quan t m đến việc bảo quản trứng, tuy nhiên do điều kiện kinh tế của m i nước khác nhau nên công nghệ bảo quản trứng thương phẩm c ng khác nhau và ở một số nước như Việt Nam công nghệ này c n chưa phổ biến, chính vì vậy việc điều tra đánh giá tình hình bảo quản và tiêu thụ trứng gà và trứng vịt trên thị
trường nông thôn và thành phố Hà nội là cần thiết và cấp bách nhằm mục đích
+ Xác định hiện trạng bảo quản trứng gà và trứng vịt tươi trên thị trường nông thôn và thành phố
Hà Nội
+ Xác định hiện trạng tiêu thụ trứng gà, vịt tươi thương phẩm, bảo quản và chế biến trên
Trang 2thị trường nông thôn và thành phố Hà Nội
+ Đề uất giải pháp k o dài thời gian bảo quản trứng tươi thương phẩm trên thị trường nông thôn và thành phố Hà nội
2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung
Điều tra tình hình bảo quản, chế biến và tiêu thụ trứng trên địa bàn thành thị và nông thôn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đối đượng: các hộ kinh doanh trứng tại các chợ trên địa bàn Huyện Cẩm giàng - tỉnh
Hải Dương, huyện Đông Anh và nội thành TP Hà Nội, và một số siêu thị lớn ở Hà Nội
- Thời gian: năm 2009
- Phương pháp điều tra: thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tình hình kinh tế ã hội, báo cáo thống kế của Tỉnh, huyện và ã và ph ng vấn trực tiếp Thông tin cơ bản được thu thập trực tiếp tại cơ sở áp dụng phương pháp PRA (Participatory rural appraisal) sử dụng bảng
c u h i Quan sát trực tiếp
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Thông tin chung về các hộ kinh doanh trứng gia cầm ở địa bàn điều tra
Đa số các đối tượng kinh doanh trứng gia cầm ở cả vùng nông thôn và nội thành TP Hà Nội là
nữ giới (96,2 - 97,87%) Kết quả điều tra được thể hiện trong bảng 1
Trang 3Bảng 1 Thông tin cơ bản của các hộ kinh doanh trứng gia cầm trên địa bàn điều tra
Số hộ điều tra
Trình độ văn
hóa
Xếp loại hộ
Ghi chú: các chữ viết tắt: CG-HD: Cẩm Giàng – Hải Dương; ĐA – HN: Đông Anh – Hà Nội; NT – HN: Nội thành TP Hà Nội; TB: Trung bình
Nam giới làm công tác kinh doanh buôn bán trứng gia cầm chiếm tỷ lệ thấp, ở vùng nông thôn nếu nam giới tham gia kinh doanh buôn bán trứng gia cầm, họ thường kinh doanh cùng với các m t hàng khác
Trình độ văn hóa có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, nếu tính từ thấp đến cao ta thấy Cẩm giàng < Đông Anh < nội thành TP Hà Nội, tỷ lệ các hộ có nam là lao động chính c ng tương tự như vậy: 53,45%; 54,60% và 48,11% tương ứng Qua đ y ta thấy rằng ở vùng nông thôn a trung t m TP như huyện Cẩm Giàng, số lao động chính là nữ cao hơn số lao động chính
là nam giới, điều này c ng phản ánh một thực trạng về mất bình đẳng giới ở khu vực nông thôn
Đa số các hộ kinh doanh buôn bán trứng gia cầm đều thuộc loại hộ có thu nhập trung bình, số hộ
có thu nhập khá chỉ chiếm dưới 20%, riêng ở nội thành chỉ chiếm 6,35%
Trang 43.2 Tình hình bảo quản, chế biến và tiêu thụ trứng gia cầm ở thị trường điều tra
3.2.1 Hiện trạng kinh doanh trứng gia cầm tươi ở các địa bàn điều tra
Kết quả về tiêu thụ và bảo quản trứng được thể hiện ở các bảng 2a; 2b
Bảng 2a Hiện trạng kinh doanh, tiêu thụ trứng gia cầm tươi ở các địa bàn điều tra
Loại trứng Trứng gà Gold line Trứng gà Ai Cập và gà Ta
HD %
ĐA-HN %
NT-HN %
CG-
HD %
ĐA-HN %
NT-HN
CG-
HD
Số hộ kinh doanh 16 34,78 32 68,09 103 98,1 9 19,57 12 25,53 70 66,67
Số lượng
trứng/hộ
Lớn nhất 3000 3000 8000 200 2000 5000
Số lượng >=TB 3 18,75 9 28,13 16 15,53 3 6,52 3 25,00 15 21,43
Số
trứng
bán/ngày
Lớn nhất 650 1000 3000 100 800 3000
Nguồn
nhập Trang trại 14 87,50 29 90,63 38 36,89 8 88,89 11 91,67 23 32,86 Nguồn
nhập
Công ty 0 - 0 - 17 16,5 0 - 0 - 9 12,86 Đại lý 2 12,5 3 9,38 48 46,6 1 11,1 1 8,33 38 54,29
Điều kiện
bán hàng
Mái che
thường 7 43,75 13 40,63 71 68,93 1 11,1 6 50 50 71,43 Mái che
Ngoài trời 9 56,25 19 59,38 32 31,07 8 88, 9 6 50 20 28,57 Bao bì Có 16 100 32 100 103 100 9 100 12 100 70 100
Loại bao
bì
Túi nilon 16 100 32 100 103 100 9 100 12 100 70 100 hộp nhựa 0 - 0 - 11 10,68 0 - 0 - 6 8,57
Ghi chú: các chữ viết tắt: CG-HD: Cẩm Giàng – Hải Dương; ĐA – HN: Đông Anh – Hà Nội; NT – HN: Nội thành
TP Hà Nội; TB: Trung bình
Qua bảng 2a ta thấy tình hình kinh doanh và tiêu thụ các loại trứng gia cầm tươi ở m i địa bàn là khác nhau: Chỉ có 34,78% hộ kinh doanh của huyện cẩm Giàng có kinh doanh trứng
gà goldline số lượng này ít hơn ở Đông Anh và nội Thành Hà Nội 68,09 và 98,10%, điều này cho ta thấy m t hàng trứng gà được tiêu thụ ở Nội thành nhiều hơn ngoại thành và vùng nông
thôn Với số lượng trứng nhập vào nhiều như vậy so với số lượng trứng bình quân tiêu thụ trong
ngày ta thấy sẽ có một số lượng lớn trứng còn tồn trong kho để bán ở các ngày tiếp theo Nếu
Trang 5như không có phương pháp bảo quản thích hợp thì chất lượng trứng sẽ bị giảm đi rất nhanh, đặc biệt
là trong điều kiện mùa hè Theo Trần Thị Mai Phương và cs (2009), khi đến tay người tiêu dùng chất
lượng độ tươi của trứng gà đã giảm đi từ 25,6-36,87% Lãi suất thu được/1 quả trứng c ng có sự chênh lệch nhau đáng kể Hầu hết ở vùng nông thôn và ngoại thành, các chủ kinh doanh, buôn bán trứng thường nhập trứng từ các trang trại c n các hộ kinh doanh ở nội thành TP Hà Nội thường phải nhập trứng thông qua các đại lý (71,43%) Điều kiện bán hàng ở vùng nông thôn và khu vực ngoại thành phần là ngoài trời 59,38% - 88,89, điều này giải thích tại sao trứng gà lại bị giảm chất lượng nhiều đến như vậy khi đến tay người tiêu dùng Bao bì chủ yếu là túi nilon (100%), một số
ít hộ ở nội thành TP đã sử dụng hộp nhựa để đựng trứng (8,57-10,68%), đ y là một trong những hạn chế của những người kinh doanh buôn bán trứng ở nước ta, không thuận tiện cho người tiêu dùng Theo thông tin của người bán hàng thì họ chỉ lưu giữ trứng trong thời gian từ 1-5 ngày, nhưng thực tế trứng đến tay người tiêu dùng thường được lưu giữ trong kho khoảng 12-15 ngày, trong điều kiện nhiệt
độ mùa hè thì chất lượng các trứng này đã uống lọi B, riêng trứng vịt uống đến loại C vào tu n thứ 3 (kết quả nghiên cứu của Trần Thị Mai Phương và cs – 2009), sẽ bị giảm rất nhanh Trứng vịt và trứng chim cút c ng được bán nhiều ở cả 3 nơi, tuy nhiên tỷ lệ có khác nhau (bảng 2b)
Bàng 2 b Hiện trạng kinh doanh, tiêu thụ trứng gia cầm tươi ở các địa bàn điều tra
CG-HD
ĐA-HN
NT-HN
CG-HD
ĐA-HN
NT-HN
%
Số
lượng
Số
trứng
bán/
ngày
Lãi/
quả (đ)
Nguồn
nhập
Điều
kiện bán
hàng
Mái che
Mái che
Trang 6Loại
bao bì
Ghi chú: các chữ viết tắt: CG-HD: Cẩm Giàng – Hải Dương; ĐA – HN: Đông Anh – Hà Nội; NT – HN: Nội thành
TP Hà Nội; TB: Trung bình
Phần lớn các hộ kinh doanh đều kinh doanh trứng vịt (76,6 - 95,65%), riêng ở Cẩm Giàng thì chủ yếu là trứng vịt, các chủ hộ kinh doanh ở Cẩm Giàng cho biết người d n nông thôn thích
sử dụng trứng vịt Việc kinh doanh trứng chim cút c ng chưa phải là phổ biến, tuy nhiên đ y
c ng là một m t hàng được người tiêu dùng ở các thành phố lớn lựa chọn (35,24% ở nội thành; 14,89% ở Đông Anh và 15,57% ở Cẩm Giàng) Các điều kiện khác c ng tương tự như kinh doanh trứng gà V n phải nhắc lại rằng với số lượng trứng các hộ nhập vào tương đối lớn, nhưng
số lượng trứng bán ra trong ngày lại ít, chính vì vậy sẽ có một số lượng trứng tồn dư, nếu không được bảo quản thí chúng sẽ bị giảm chất lượng rất nhan
3.2.2 Hiện trạng kinh doanh và tiêu thụ trứng chế biến ở các địa bàn điều tra
Thực trạng tình hình kinh doanh buôn bán trứng chế biến (trứng muối và trứng kiềm) được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3 Hiện trạng kinh doanh và tiêu thụ trứng chế biến trên các địa bàn điều tra
Loại trứng Trứng Vịt muối Khô Trứng Vịt kiềm khô
ĐA
Số lượng
Số trứng
bán/ngày
Lãi/quả
nguồn
nhập
Điều
kiện bán
hàng
Mái che
Mái che
Trang 7Không 0 0 0 0 0 0 0 0 Loại bao
bì
Ghi chú: các chữ viết tắt: CG-HD: Cẩm Giàng – Hải Dương; ĐA – HN: Đông Anh – Hà Nội; NT – HN: Nội thành
TP Hà Nội; TB: Trung bình
Bảng 3 cho ta biết thực trạng kinh doanh, tiêu thụ trứng chế biến trên thị trường nông thôn và TP Hà Nội: trứng muối và trứng kiềm chỉ được tiêu thụ trên thị trường TP Hà Nội, ở các huyện ngoại thành không có Số hộ có kinh doanh loại trứng muối c ng chỉ chiếm 10,48% với số lượng nh 107 quả và số lượng trứng kiềm là 148 quả Số lượng trứng bán ra thường rất ít nếu so sánh với trứng tươi (50 quả trứng muối và 26 quả trứng kiềm/ngày), do người d n ít có thói quen tiêu thụ các loại trứng chế biến Tuy nhiên lãi suất thu được/1 quả trứng chế biến lại tương đối cao: 750đ/quả trứng muối và 837 đ/quả trứng kiềm Nguồn nhập trứng muối thường từ các công ty và đại lý (100%), nguồn nhập trứng kiềm chủ yếu được nhập từ Trung Quốc (90,9), qua đ y cho thấy ở nước ta kỹ thuật chế biến trứng kiềm c n chưa được phổ biến, chính vì vậy việc nghiên cứu, ác định công nghệ chế biến trứng kiềm là một đ i h i cấp bách của thực tế và người tiêu dùng Chất lượng trứng chê biến c ng là một vấn đề đáng quan t m, theo Trần Thị Mai Phương
và cs (2009) ta thấy tỷ lệ hư h ng của trứng muối trên thị trường tương đối cao (6,7 - 16,6%), cá biệt ở siêu thị Unima , tỷ lệ hư h ng lên đến 80 Bảng 4 sẽ cho ta một bức tranh toàn cảnh về hiện trạng tình hình bảo quản trứng ở các địa bàn điều tra
3.2.3 Hiện trạng kinh doan, tiêu thụ trứngvịt lộn, tình hình bảo quản và tiêu thụ trứng bảo quản ở các địa bàn điều tra
Bảng 5.4 Hiện trạng kinh doanh, tiêu thụ trứng vịt lộn, tình hình bảo quản và tiêu thụ trứng bảo quản
trên các địa bàn điều tra
ĐA -
NT –
CG-
ĐA -
NT -
Số lượng
Số
trứng
bán/ngày
Lãi/quả
Nguồn nhập
Trang 8Điều kiện bán
hàng
Mái che
Mái che
Bảng 4 cho thấy, trứng vịt lộn c ng là một sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng ở
cả thành thị và nông thôn, tuy nhiên số lượng các hộ kinh doanh có bán trứng vịt lộn ở huyện Cẩm Giàng chiếm số đông hơn cả (21,74%) tiếp đến là ở huyện Đông Anh (14,89%) và sau cùng ở nội thành HN (8,75%) Với số lượng trứng m i hộ kinh doanh c ng khá lớn từ 150-330 quả) và số lượng tiêu thụ trung bình đạt 93-205 quả/ngày Lãi suất thu được từ việc bán trứng vịt lộn c ng ở mức khá cao (từ 155 – 600 đ/quả), thấp hơn một chút so với trứng chế biến (750-837 đ/quả) Nguồn nhập trứng vịt lộn chính là từ các l ấp của các trang trại, tuy nhiên các hộ kinh doanh trứng vịt lộn trong nội thành có nhập qua kh u trung gian đó là các đại lý (44,44%) Điều kiện bán hàng đối với các vùng nông thôn chủ yếu ngoài trời không có mái che (60% ở Cẩm Giàng và 85,71% ở Đông Anh), chỉ có các hộ kinh doanh trong nội thành có điều kiện bán hàng khá hơn đó là ở trong nhà có mái che Người kinh doanh không sử dụng những hộp đựng trứng chuyên dụng mà chỉ sử dụng một loại bao bì duy nhất đó là túi nilon khi bán trứng vịt lộn cho người tiêu dùng Số liệu ở bảng 4 phản ánh một thực trạng là: không có địa phương nào sử dụng các phương pháp bảo quản để bảo quản trứng (đối với các hộ kinh doanh trứng ở chợ) Với số lượng trứng lớn như vậy, người kinh doanh không thể bán hết trong ngày (ở một số nơi, có khi trứng
c n bị tồn dư đến hàng tuần), đ y là một vấn đề đáng lo ngại vì người tiêu dùng khi mua những
sản phẩm trứng này không hề biết là trứng đó c n tươi hay không?
3.2.4 Tình hình tiêu thụ và bảo quản trứng ở một số siêu thị nội thành TP Hà Nội
Trứng được bán ở các chợ đã vậy, c n trứng được bán ở các siêu thị thì sao? kết quả điều tra được thể hiện ở bảng 5
Bảng 5 Tình hình tiêu thụ và bảo quản trứng trứng ở một số siêu thị Nội thành
TP Hà Nội
Siêu Thị Loại Trứng Công Ty
Nhiệt độ bảo quản (oC)
Số Lượng Giá bán
(đ/quả) Bao Bì
Metro
Trứng gà
Goldline
Cty Cp Charoen polpland
vn, 37 Đường Thành 3 2500 1670-1860 Hộp Nhựa Tr.gà Ai Cập 37 Đường Thành 3 1500 2840 Hộp Nhựa Trứng vịt 37 Đường Thành 3 600 2540 Hộp Nhựa
Tr vịt Muối 37 Đường Thành 3 400 3100 Hộp Nhựa
Trang 9Fitimark
- Đại La
Trứng gà
Goldline
Fitimark Cty Phú Bình - Đông Anh, 3F Thường 1900 1760-1800 Hộp Nhựa Trứng gà Ai
Cập
Fitimark Cty Phú Bình - Đông Anh, 3F, VCN Thường 2100 2650-2700 Hộp Nhựa
Sao Hà
Nội
Trứng gà Ai
Cập
Trang Trại Tiên Viên -
Tr vịt muối 37 Đường Thành 5 50 3000 Hộp Nhựa
Big C
Trứng gà
Golgline
3F, CP, 37 Đường Thành, Thực phẩm anh 3 3500 1650-1800 Hộp Nhựa Tr.gà Ai cập 3F, 37 Đường Thành 3 1100 2650-2840 Hộp Nhựa Trứng vịt 37 Đường Thành 3 100 2540 Hộp Nhựa
Ta thấy hầu hết các siêu thị chỉ áp dụng phương pháp bảo quản ở nhiệt độ mát (3-5 o
C), tuy nhiên trong số các siêu thị được điều tra v n có siêu thị (FITI Mark) v n không áp dụng một biện pháp bảo quản nào Theo Trần Thị Mai Phương và cs 2009 cho thấy độ tươi của trứng giảm đi từ 20-40% khi đến tay người tiêu dùng nếu trứng không được bảo quản bằng một biện pháp nào Nếu so với tiêu chuẩn quốc
tế thì trứng gà và trứng vịt được bán trên thị trường của ta tại các chợ chỉ đạt loại B Hệ thống các siêu thi của ta c ng đã áp dụng phương pháp bảo quản trứng ở nhiệt độ mát, tuy nhiên với số lượng trứng tương đối lớn, dao động từ 1500-3000 quả, nguồn nhập trứng hầu hết từ các đại lý và công ty, thì chắc chắn trứng gia cầm được bán ở trong các siêu thị không được bảo quản ngay sau khi đẻ, vậy họ đã ử lý trứng như thế nào trước khi đưa vào siêu thị, đ y cùng là một c u h i chưa có lời giải đáp
Các siêu thị đều có bao bì chuyên dụng rất thuận tiện cho khách hàng như: hộp nhựa ho c gi tre
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
- Các đối tượng kinh doanh trứng gia cầm ở cả vùng nông thôn và nội thành TP Hà Nội đa
số là nữ giới (96,2-97,87%), nam giới thường ít tham gia vào hoạt động nảy Có sự chênh lệch lớn giữa các vùng: Cẩm giàng < Đông Anh < nội thành TP Hà Nội Đa số các hộ kinh doanh buôn bán trứng gia cầm đều thuộc loại hộ có thu nhập trung bình
- Tình hình kinh doanh và tiêu thụ các loại trứng gia cầm tươi ở m i địa bàn là khác nhau:
+ Huyện Cẩm Giàng: các hộ kinh doanh trứng vịt là chủ yếu (95,65)
+ Huyện Đông Anh và nội thành TP HN tỷ lệ các hộ kinh doanh trứng gà công nghiệp tương đối cao (68,9% và 98,10%)
+ Số lượng trứng tiêu thụ hàng ngày của m i cơ sở điều tra Cẩm Giàng < Đông Anh < Nội thành Hà Nội Số lượng nhập vào tương đối lớn (trung bình là 381-891 quả trứng gà và
233-576 quả trứng vịt, có hộ nhập đến 3000 quả), tuy nhiên số lượng tiêu thụ lại không lớn chính vì vậy trứng thường bị tồn dư, giảm chất lượng Điều kiện bán hàng ở vùng nông thôn là ở ngoài trời không
có mái che c ng là một trong những nguyên nh n làm giảm chất lượng trứng
Trang 10+ Bao bì cho người mua đều bằng túi nilon (trừ siêu thị), không đảm bảo và không thuận tiện cho khách hàng
+ Lãi suất trong kinh doanh trứng ở vùng nông thôn thấp hơn ở nội thành (121 đ- 499 đ/quả trứng gà và 163-486 đ/quả trứng vịt)
- Tinh hình kinh doanh, tiêu thụ trứng chế biến chỉ có ở thị trường thành phố với tỷ lệ rất
nh (10,48%), số lượng trứng chế biến nhập vào của m i cửa hàng kinh doanh trung bình là 107 quả trứng muối và 148 quả trứng kiềm Số lượng trứng bán ra rất ít: 50 quả trứng muối và 26 quả trứng kiềm Lãi suất thu được/1 quả trứng chế biến cao: 750đ/quả trứng muối và 837đ/quả trứng kiềm Nguồn nhập: trứng muối là từ các công ty, nguồn nhập trứng kiềm (Bắc Thảo) là từ Trung Quốc Thời gian lưu giữ hàng của người bán thường là 1-5 ngày, khi đến tay người tiêu dùng thời gian lưu giữ này vào khoảng 12-15 ngày
- Không có một cơ sở kinh doanh trứng nào ở các chợ có kinh doanh trứng bảo quản Người kinh doanh không có khái niệm về trứng bảo quản
+ Các siêu thị có áp dụng hình thức bảo quản trứng trong điều kiện nhiệt độ mát nhưng nguồn nhập trứng lại chủ yếu từ các đại lý và công ty nên các bước ử lý trứng trước khi đưa vào bảo quản và tiêu thụ trong siêu thị là không rõ ràng
4.2 Đề nghị
Cần có phương pháp bảo quản trứng thích hợp, đơn giản, d làm, giá thành hạ để hạn chế mức độ suy giảm chất lượng trứng, đảm bảo an toàn VSTP, tăng sức kh e cộng đồng
Tài liệu tham khảo
1 Báo cáo tổng kết sản uất nông nghiệp tỉnh Hải Dương 3 năm 2006-2008
2 Báo cáo thống kê của cục thống kê Hải Dương 1/10/2008
3 Báo cáo tình hình sản uất nông, l m nghiệp và thủy sản tháng 11 và ước tính cả năm 2008 thành phố Hà Nội
4 Sở NN và PTNT ngày 15 tháng 5 năm 2009: Báo cáo đánh giá kết quả điều tra chăn nuôi tháng 4/2009
5 Sở NN và PTNT ngày 21 tháng 10 năm 2009, báo cáo tình hình chăn nuôi, thú y 9 tháng năm 2009 trên địa bàn TP Hà Nội của Sở NN và PTNT
6 Trần Thị Mai Phương, Lê Văn Liễn, Nguyễn Xuân Khoái và Nguyễn Thị Hoàng Anh (2009) Hiện trạng
chất lượng trứng thương phẩm trên thị trường Hà Nội, tạp chí KHCN Chăn Nuôi – VCN tháng 4/2009
7 Quyết định số 3828/QĐ-UBND của Ủy ban nh n d n tỉnh Hải Dương về việc phê duyệt đề án phát triển chăn nuôi theo hướng t p trung, n ng cao chất lượng, quy mô, đảm bảo vệ sinh môi trường của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006-2010