Trên cơ sở vận động, biến đổi của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong giai đoạn 1995 – 2005, tác giả đã đưa ra dự báo tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong tương lai
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
NGUYỄN THỊ THANH DUNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH
HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn khoa học TS Phạm Thị Xuân Thọ – Trưởng khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Khoa học Công nghệ sau đại học, Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong việc học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Cục Thống kê Đồng Nai đã cung cấp cho tác giả nhiều nguồn tư liệu, tài liệu quí giá và hữu ích để nghiên cứu phục vụ cho luận văn
Chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành tốt khoá học và luận văn tốt nghiệp
TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 5 năm 2008
Người thực hiện đề tài
NGUYỄN THỊ THANH DUNG
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
KHCN Khoa học công nghệ
KHKT Khoa học kỹ thuật
NLS Nông lâm sản
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp sản xuất ra lương thực thực phẩm duy trì sự sống của toàn xã hội, cung cấp sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ tạo điều kiện phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam thì vai trò của ngành này càng có ý nghĩa to lớn Những năm gần đây Đảng
và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp để phát huy tối đa thế mạnh của mỗi vùng, mỗi địa phương nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế chung của cả nước
Đồng Nai là một tỉnh có tỉ trọng công nghiệp – dịch vụ cao trong cơ cấu kinh tế (năm 2002 – công nghiệp chiếm 55,3%, dịch vụ chiếm 23,1%, nông nghiệp chiếm 21,6% ) nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh luôn chú trọng phát triển nông nghiệp Chính vì vậy, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp luôn tăng, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đồng thời tăng giá trị xuất khẩu Từ sau khi Trung Ương ban hành nghị quyết 09/2000 về vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và giải quyết đầu ra cho sản phẩm, Đồng Nai đã cùng với cả nước thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp… Mức tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp ở Đồng Nai giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 5,3% (so với mục tiêu nghị quyết đề ra 3,5- 4%), trong đó trồng trọt tăng 3,43% và chăn nuôi tăng 7,96% Tỉ trọng của ngành chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp từ 23,29% (năm 2001) đã tăng lên 26,62% vào năm 2005
Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở Đồng Nai đã và đang diễn ra mạnh mẽ, đạt hiệu quả cao Đây cũng là nhiệm vụ lâu dài có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên trong công cuộc đổi mới, quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt ra, đòi hỏi phải nghiên cứu, xem xét, đánh giá cụ thể để đưa ra những biện pháp và định hướng ngày càng phù hợp và hiệu quả hơn trong tình hình hiện nay cũng như sắp tới
Do đó, tác giả luận văn đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và định hướng chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu, nghiên cứu hiện trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 1995 – 2005 và đánh giá kết quả quá trình chuyển dịch Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế một cách hợp lí, vừa
Trang 5đạt hiệu quả cao về kinh tế vừa phát huy được các thế mạnh về tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu thế tất yếu của đất nước trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói riêng giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong thời gian qua, vấn đề này đã được rất nhiều cơ quan ban ngành quan tâm nghiên cứu như Viện khoa học xã hội TP HCM, Viện kinh tế thế giới, Học viện chính trị quốc gia …
Ngoài ra còn có rất nhiều các nhà khoa học cũng nghiên cứu ở nhiều góc độ các vấn đề của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Việt Nam và các vùng lãnh thổ trong cả nước như PGS-
TS Lê Đình Thắng, PGS-TS Lâm Quang Huyên, TS Ngô Đình Giàu, TS Vũ Đại Lược… Đồng thời còn có những bài báo, công trình khoa học của các nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên… nghiên cứu về vấn đề này
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ 21 - TS Nguyễn Trần Quế (chủ biên) ( 2004 )
- Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – TS Trần Du Lịch, PGS TS Đặng Văn Phan (chủ nhiệm đề tài), Viện Kinh Tế TP.HCM (2004)
- Định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng Nam bộ thời kỳ 1991 – 2000 - Viện kinh tế TP.HCM (1992)
Ở Đồng Nai cũng đã có một số nghiên cứu về ngành nông nghiệp, tuy nhiên các đề tài
Trang 6chưa đi sâu tìm hiểu, phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành, chỉ dừng ở mức nghiên cứu chung về nông nghiệp như một số bài viết trên báo Đồng Nai, tham luận của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai…
Trên đây là những tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả khi nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1995 - 2005
5 Giới hạn của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 10 năm, từ năm 1995 đến năm 2005 Không gian nghiên cứu trên phạm vi toàn tỉnh với 11 đơn vị hành chính (thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh, các huyện Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ, Trảng Bom) được nghiên cứu như là những bộ phận cấu thành của tổng thể về phương diện lãnh thổ
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1.2 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng không cố định, bất biến mà có sự vận động, liên tục phát triển, thay đổi theo từng thời kì nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh
tế - xã hội Việc nhìn nhận chiều hướng phát triển, sự thay đổi của cơ cấu nông nghiệp qua từng
Trang 7giai đoạn - từ quá khứ đến hiện tại - cho phép vạch ra những viễn cảnh, dự báo cho sự phát triển trong tương lai Khi nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai phải dựa vào hiện trạng cơ cấu nông nghiệp của tỉnh, xu thế chuyển dịch của cả nước và thế giới để đưa ra
dự báo và định hướng chuyển dịch cơ cấu hợp lí, chính xác, phù hợp với yêu cầu và tiềm năng của tỉnh
6.1.3 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Môi trường tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nông nghiệp, sinh thái cảnh quan ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất và cơ cấu cây trồng vật nuôi Ngược lại, kinh tế nông nghiệp cũng tác động sâu sắc đến môi trường tự nhiên Do vậy khi nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cần chú ý đến sự ổn định của môi trường sinh thái, không gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cho môi trường phát triển bền vững
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thống kê
Để nghiên cứu, đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cần thiết phải thu thập số liệu thống kê phù hợp với yêu cầu của đề tài nhằm lựa chọn những số liệu cụ thể, thể hiện rõ sự chuyển dịch và thay đổi trong cơ cấu nông nghiệp của địa phương
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng của tỉnh Đồng Nai có liên quan đến nhiều chỉ số thống kê Số liệu được thu thập từ nhiều Nguồn : báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, quy hoạch của Sở Tài nguyên môi trường, Niên giám thống kê… Từ đó, tác giả có
cơ sở để đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp, quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và
mối quan hệ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
6.2.2 Phương pháp phân tích hệ thống
Trên cơ sở các số liệu thu thập được, người viết tiến hành sắp xếp, phân loại, so sánh, hệ thống các thông tin về quá trình chuyển dịch Từ đó phân tích nguyên nhân sự chuyển dịch, mối quan hệ giữa sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp với các nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội, rút
ra kết luận, đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong các giai đoạn khác nhau
6.2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai, phương pháp bản đồ - biểu đồ đã được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa các nguồn lực, ảnh hưởng của các
Trang 8nguồn lực đến sự chuyển dịch cơ cấu, tìm hiểu hiện trạng sự chuyển dịch và định hướng chuyển dịch Tác giả đã thành lập hệ thống các bản đồ như bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sản xuất nông nghiệp, bản đồ cơ cấu các ngành sản xuất nông nghiệp tỉnh Đồng Nai …
Các bản đổ được thành lập trên cơ sở thu thập dữ liệu và chồng xếp các bản đồ chuyên đề Ngoài ra, các số liệu thống kê về hiện trạng sản xuất và sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp được thể hiện bằng các biểu đồ
Trong việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phương pháp bản đồ - biểu đồ được dùng để so sánh, đối chiếu các đối tượng Việc so sánh, đối chiếu cơ cấu về diện tích các loại cây trồng, vật nuôi theo địa phương và qua các năm sẽ giúp làm sáng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh
6.2.4 Phương pháp thực địa
Phương pháp thực địa được sử dụng trong việc quan sát, tìm hiểu thực tế đối tượng kinh tế xã hội của địa phương Điều này đòi hỏi người viết không chỉ nghiên cứu tài liệu, số liệu mà còn phải thực hiện quá trình thực địa để có thể xác định được mức độ tin cậy và chính xác của tài liệu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương là quá trình lâu dài và có nhiều vấn đề phức tạp Tác giả đã trực tiếp đến các huyện tìm hiểu, quay phim, chụp ảnh hiện trạng sản xuất nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu tại địa phương
6.2.5 Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo thường dựa trên việc nghiên cứu sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại, phân tích các yếu tố, các thành phần, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển để đưa ra những dự báo chính xác, đúng đắn cho tương lai
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là quá trình vận động và phát triển lâu dài, muốn thành công thì phải dự báo trước sự phát triển để có hướng điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp phù hợp, đúng đắn Trên cơ sở vận động, biến đổi của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong giai đoạn 1995 – 2005, tác giả đã đưa ra dự báo tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong tương lai và những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai
Trang 9PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 1 Một số khái niệm
1 1 1 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của quốc gia là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế : các ngành sản xuất, các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại
có cơ cấu kinh tế riêng tùy theo điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
Cơ cấu kinh tế là vấn đề có nội dung rộng, biểu hiện mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của nền kinh tế Mối quan hệ đó không chỉ là những quan hệ riêng lẻ của từng
bộ phận cấu thành nền kinh tế (bao gồm các yếu tố kinh tế, các lĩnh vực tổ chức sản xuất phân phối trao đổi tiêu dùng), các khu vực kinh tế (nông thôn, thành thị), thành phần kinh tế (nhà nước, cá thể, tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài…)
Hiểu một cách đầy đủ, cơ cấu kinh tế là tổng thể một hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với mục tiêu đã xác định của nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế có các đặc trưng chủ yếu là mang tính khách quan, là một hệ thống ràng buộc,
và mang tính lịch sử Đồng thời, cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, gắn với sự biến đổi và phát triển không ngừng của các yếu tố, các bộ phận cấu thành
Muốn phát huy tác dụng, cơ cấu kinh tế phải trải qua một quá trình, một thời gian nhất định Thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại cơ cấu kinh tế Vì thế, các loại cơ cấu thường không tồn tại một cách cố định bất biến mà có sự thay đổi, chuyển dịch cần thiết, phù hợp với biến động và thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử
Cơ cấu kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế hợp lí sẽ tạo sức phát triển mạnh mẽ do phát huy tốt các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng, thị trường
Các loại cơ cấu kinh tế gồm có :
Trang 10- Xét theo phân công lao động trong quá trình sản xuất xã hội, cơ cấu các ngành kinh tế bao gồm : nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ
- Xét theo quan điểm sinh thái tự nhiên, phân bố cơ cấu theo vùng lãnh thổ, bao gồm : kinh tế đồng bằng, kinh tế trung du miền núi …
- Xét về mặt quan hệ sở hữu có cơ cấu thành phần kinh tế, bao gồm : thành phần kinh tế nhà nước và ngoài quốc doanh, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Xét theo cấp quản lý, có cơ cấu trung ương, địa phương …
Cơ cấu kinh tế theo ngành : là mối liên hệ giữa các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc
dân, là bộ phận quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế Để thống nhất tiêu chuẩn phân loại ngành giữa các nước, Liên Hiệp Quốc đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ hoạt động kinh tế” Trong đó phân loại ngành thành ba bộ phận :
- Nhóm ngành I : nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp)
- Nhóm ngành II : công nghiệp và xây dựng
- Nhóm ngành III : thương mại và dịch vụ
Cơ cấu ngành kinh tế biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành, hình thành và biến đổi trong quá trình phân công lao động của xã hội, phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Cơ cấu kinh tế theo vùng : phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lí
Phân công lao động theo vùng là bố trí các ngành sản xuất trên những lãnh thổ thích hợp nhằm khai thác tối đa mọi ưu thế của từng vùng Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng cần chú ý theo hướng vừa phát triển toàn diện, vừa tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp đi đôi với chuyên môn hóa
Cơ cấu thành phần kinh tế: gắn với các quan hệ sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Tùy theo
phương thức sản xuất mà có thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, còn lại là những thành phần kinh tế hỗn hợp Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, lấy kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể làm nền tảng, trong đó kinh tế quốc doanh làm chủ đạo Hiện nước ta
có ba hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Từ đó đã hình thành nên nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó, thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, có chức năng điều tiết vĩ mô Giữa các thành phần kinh
tế có sự hợp tác để phát huy tốt nhất lợi thế của mình, tạo ra sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế
Trang 11Ba nội dung cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế có quan hệ và tác động qua lại với nhau Trong
đó cơ cấu ngành có vai trò quyết định, khi sự phân công lao động theo ngành càng sâu sắc, chặt chẽ
sẽ dẫn đến sự phân công lao động theo lãnh thổ Còn cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế cần được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ phù hợp Do đó việc phân bố không gian lãnh thổ hợp lí để phát triển ngành và thành phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng Kết hợp cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế so sánh của vùng trong việc phát triển ngành Đồng thời kết hợp cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế nhằm huy động tối đa các nguồn lực để phát triển vùng lãnh thổ Tóm lại, cơ cấu ngành, thành phần kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ, quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
sẽ đồng thời diễn ra ở cả ba nội dung trên
1 1 2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế học dùng để chỉ sự thay đổi dần dần, thay đổi từng bước cấu trúc của nền kinh tế trong phạm vi các ngành và các vùng lãnh thổ
để thích nghi với hoàn cảnh phát triển của đất nước Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và cả giữa các phân ngành trong nội
bộ các ngành kinh tế như giữa trồng trọt và chăn nuôi trong nông nghiệp, giữa khai thác và chế biến trong công nghiệp
Sự chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ biểu hiện ở sự thay đổi các địa bàn tương ứng với sự chuyển dịch cơ cấu ngành
1 1 3 Nông nghiệp và cơ cấu nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất lâu đời nhất của nhân loại, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội loài người Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông – lâm – ngư nghiệp
Cơ cấu nông nghiệp là tỉ lệ tương đối giữa các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, giữa sản xuất nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp, giữa trồng trọt và chăn nuôi… Việc xác định và hình thành
cơ cấu nông nghiệp hợp lí là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng xét trên cả hai phương diện kinh
tế - xã hội và môi trường
Cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi có ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp Mặc
dù hai ngành này có sự liên quan với nhau rất chặt chẽ nhưng trên thực tế ít có nước nào có sự cân đối đồng đều giữa trồng trọt và chăn nuôi Ở các nước phát triển, tỉ trọng của ngành trồng trọt luôn thấp hơn tỉ trọng ngành chăn nuôi rất nhiều Ở các nước đang phát triển thì tình hình ngược lại Sự
Trang 12hình thành các thành phần trong cơ cấu cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng Phát triển nền nông nghiệp sinh thái cũng là nhằm tạo ra cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lí cho từng vùng
1 1 4 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị đã triển khai chủ trương “chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa” Nội dung chủ yếu của Nghị quyết này đã nhấn mạnh “việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa phải tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa với cơ cấu đa dạng vừa để xuất khẩu với mức cạnh tranh cao, vừa khai thác lợi thế tiềm tàng của từng vùng sinh thái, tăng nhanh năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp”
Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là sự tác động vào sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị sản xuất trên cùng một diện tích, đảm bảo ổn định sản xuất lương thực, tăng
tỉ trọng các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp, phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản thành ngành sản xuất chính, phát triển ngành nghề dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp Điều này thấy rõ ở sự thay đổi tỉ trọng giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi, thay đổi tỉ trọng trong nội bộ từng ngành
và các vùng lãnh thổ Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là thuật ngữ dùng để chỉ sự thay đổi dần dần từng bước cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp có hiệu quả cao “phải giải quyết các mối quan hệ cơ bản như quan hệ giữa trồng trọt với chăn nuôi, giữa nông nghiệp theo nghĩa hẹp với lâm nghiệp và ngư nghiệp, giữa nông lâm ngư nghiệp với công nghiệp dịch vụ, giữa đẩy mạnh sản xuất hàng hóa với
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo ra thế chủ động và hành lang an toàn lương thực, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, xây dựng xã hội nông thôn nước ta văn minh và hiện đại” (Nghị quyết 10 Bộ Chính trị)
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây đang diễn ra mạnh mẽ và theo chiều hướng giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi trong
cơ cấu sản xuất nông nghiệp Sự chuyển dịch trong nội bộ từng ngành trồng trọt, chăn nuôi có thể thấy được ở sự thay đổi cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng địa phương Từ đó cũng làm cho cơ cấu vùng lãnh thổ có sự thay đổi, hình thành nên các vùng chuyên canh, chuyên môn hóa, phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa
1 2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
1 2 1 Nhân tố tự nhiên
Trang 13Các nhân tố tự nhiên như đất đai, nguồn nước, diện tích mặt nước, khí hậu, thời tiết, cây con đặc trưng của vùng … là những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu nền nông nghiệp
Đất đai là nguồn tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng và không thể thiếu của ngành nông nghiệp Đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và phân bố các loại cây trồng Mỗi địa phương có cơ cấu các loại đất khác nhau, thích hợp với những cây trồng, vật nuôi khác nhau Dựa vào các điều kiện tự nhiên có thể chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lí, đạt hiệu quả cao Khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất và phân bố các loại cây trồng, vật nuôi Mỗi kiểu khí hậu thích hợp với đặc điểm của từng loại cây con khác nhau Ở nước ta đa phần là các nông phẩm nhiệt đới Khí hậu là nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nông nghiệp, nếu tác động lên các cây trồng, vật nuôi một cách phù hợp sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao
Điều kiện tự nhiên còn là nhân tố quan trọng hình thành nên các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây lương thực, cây ăn quả hay vùng chuyên môn hóa chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… Như vậy, nhân tố tự nhiên có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp nói chung và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói riêng Ngược lại, quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp góp phần phát huy hết tiềm năng tự nhiên của địa phương và đảm bảo sự phát triển bền vững cho môi trường sinh thái
1 2 2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Dân cư và lao động
Ở nước ta, dân số hoạt động trong nông nghiệp chiếm đến 53% (năm 2005) Dân cư và lao động là nhân tố rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch nền nông nghiệp Lực lượng lao động nếu được bồi dưỡng, đào tạo và phát triển kịp thời thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
Nhân tố này ảnh hưởng đến sự chuyển dịch ở hai khía cạnh : sức sản xuất và nguồn tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Các cây trồng vật nuôi vốn có nguồn gốc từ tự nhiên, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, đòi hỏi nhiều công chăm sóc Do đó cần nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ khoa học kĩ thuật cao để phát triển nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Đồng thời sản phẩm nông nghiệp làm ra cũng đòi hỏi nguồn tiêu thụ nhanh chóng, rộng rãi Nhu cầu của thị trường quyết định đến cơ cấu các loại cây trồng vật nuôi
Do đó dân cư và lao động là yếu tố rất quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Trang 14 Đường lối chính sách phát triển nông nghiệp
Kể từ sau nghị quyết 09/2000 của Trung Ương về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và vấn đề đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, nước ta đã và đang hướng đến một cơ cấu nông nghiệp hợp lí, ngày càng hoàn thiện hơn, trong đó ưu tiên đầu tư vào ba chương trình kinh tế lớn : lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Điều đó được thể hiện bằng những chính sách cụ thể nhằm tăng diện tích cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày, tăng dần tỉ trọng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi trong cơ cấu chung, giao quyền tự chủ cho người dân như chính sách giao đất, giao rừng cho nhân dân Điều này đã tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tất cả các địa phương, trong đó có tỉnh Đồng Nai
Tiến bộ khoa học kĩ thuật
Việc cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa và áp dụng các giống mới có năng suất cao trong nông nghiệp được tiến hành rộng rãi Nghiên cứu về sản phẩm nông nghiệp theo không gian và thời gian sẽ tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Tiến bộ khoa học kĩ thuật còn có tác dụng hạn chế ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, nâng cao tính chủ động của sản xuất nông nghiệp, làm tăng năng suất, chất lượng và sản lượng nông sản, giúp nền nông nghiệp được đầu tư phát triển theo chiều sâu Tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chế biến sản phẩm nông nghiệp làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, hình thành các vùng chuyên môn hóa sản xuất Do đó, tiến bộ khoa học kĩ thuật sẽ giúp cho quá trình chuyển đổi
cơ cấu nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Thị trường tiêu thụ
Thị trường trong nước và quốc tế đang ngày càng mở rộng, nhu cầu về những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao ngày càng lớn, tạo điều kiện phát triển, mở rộng và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Đời sống ngày càng được nâng cao cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vì thế nhu cầu của con người cũng có nhiều thay đổi theo hướng giảm về số lượng nhưng phải tăng về chất lượng, đồng thời phải chú trọng đến tính an toàn, thẩm mỹ của các sản phẩm Ngày nay, hầu như nhu cầu
về lương thực không còn là vấn đề bức bách mà nhu cầu về các loại thực phẩm mới thật sự cần thiết Chính nhu cầu của thị trường đã điều tiết và có tác dụng thúc đẩy rất mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở nước ta nói chung và Đồng Nai nói riêng
1 3 Ý nghĩa của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 15Trong cả nước, cơ cấu ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch đúng hướng mang lại hiệu quả kinh tế cao
Năm 1995, trong cơ cấu nông nghiệp của nước ta trồng trọt chiếm tỉ lệ 73%, chăn nuôi 18%, dịch vụ nông nghiệp 9% Đến năm 2005, các giá trị tương ứng là 69%; 25% và 5%
Những năm gần đây, ngành nông nghiệp nước ta phát triển mạnh, cơ cấu cây trồng vật nuôi
đã có sự chuyển dịch nhanh chóng Các loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả đã được đầu tư nhiều hơn Chúng ta đã tiến hành đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, xóa thế độc canh, nhất là độc canh cây lúa Điều này mang đến hiệu quả cao đồng thời thúc đẩy quá trình hình thành vùng chuyên môn hóa sản xuất tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để đưa nhanh tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu các ngành sản xuất nông nghiệp được coi là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia Quá trình công nghiệp hóa nước ta xuất phát từ một đất nước còn khoảng 73 % dân số sống ở nông thôn và 53 % lao động xã hội (năm 2005) tham gia vào hoạt động nông nghiệp Phần lớn lao động trình độ thấp, sản xuất nông nghiệp thô sơ, lạc hậu Để đẩy nhanh tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi
bộ phận dân cư và lao động này phải đổi mới mạnh mẽ Để làm được điều đó, bắt buộc chúng ta phải đổi mới, phải chuyển dịch nền nông nghiệp - nông thôn theo hướng hiện đại, tiên tiến hơn Thêm vào đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn còn có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo Nếu tiến hành thành công, hợp lí, chúng ta sẽ giảm được những cách biệt về đời sống kinh tế văn hóa - dân trí giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi, từ đó tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp còn nhằm phát huy và khai thác tốt nhất mọi nguồn lực tự nhiên và xã hội, giúp khai thác tối đa các nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của nhân dân và làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp cũng như xuất khẩu
Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sẽ đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển cân đối hài hòa, phù hợp với các điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng nói riêng,
cả nước nói chung
1 4 Vài nét về quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua
Công cuộc đổi mới kinh tế trong 20 năm qua (1986-2006) đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc, trên nhiều lĩnh vực Trong đó, đổi mới trong nông nghiệp được xem là khởi đầu của công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta
Trang 16Từ một nền nông nghiệp quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, qua quá trình đổi mới, hiện nay nền nông nghiệp đang phát triển theo cơ chế thị trường tương đối toàn diện Chính sách giao đất giao rừng giúp nông dân tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường
Trong quá trình đổi mới, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản diễn ra rõ rệt nhưng không đều
Sản xuất lúa phát triển là nền tảng đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập cho đông đảo nông dân Từ một đất nước không đủ lương thực nay Việt Nam đã đảm bảo lương thực cho hơn 80 triệu dân và xếp thứ hai thế giới về xuất khẩu lúa gạo Đổi mới cơ chế quản lý trong ngành trồng lúa đã khởi động quá trình đổi mới kinh tế cả nước
Trong nông nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng thể hiện rất rõ ở sự thay đổi về tỉ lệ diện tích cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, cơ cấu trong chăn nuôi, cơ cấu trong ngành lâm nghiệp, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu thành phần kinh tế và sự đổi mới của nông thôn
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn có nhiều tiến bộ nhưng diễn ra khá chậm và khác biệt giữa các vùng Về cơ bản nông thôn Việt Nam vẫn mang tính thuần nông Nông nghiệp vẫn là nguồn việc làm và thu nhập chính của cư dân nông thôn
Qua 20 mươi năm đổi mới, thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp Việt Nam là tạo ra và duy trì được một quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh, trong thời gian dài, góp phần quan trọng bảo đảm ổn định xã hội và chính trị của đất nước
Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của dân cư, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tăng nhanh xuất khẩu Tuy vậy, quá trình đổi mới nông nghiệp, nông thôn vẫn còn một số yếu kém, tồn tại như chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chậm, sản xuất phân tán, tăng trưởng theo chiều rộng, chất lượng hiệu quả chưa cao, khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản còn thấp, tăng trưởng chưa bền vững, thu nhập thấp, khả năng tích luỹ chưa cao, lao động nông thôn dư thừa
Tóm lại, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời gian qua đã chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố tác động :
1 Quy luật cung cầu của thị trường tác động đến sản xuất kinh doanh nông nghiệp Nhu cầu của thị trường đã quyết định sự phát triển và sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
2 Đường lối chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt là chính sách khoán sản phẩm, giao đất, giao rừng, giúp nông dân tự chủ trong sản xuất, tạo động lực cho nông nghiệp phát triển
3 Xu hướng hội nhập, hợp tác quốc tế tạo ra cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam tiếp cận với nền nông nghiệp thế giới
Trang 174 Tiến bộ khoa học kĩ thuật mở ra khả năng áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, tạo ra giống mới có năng suất, chất lượng cao, nâng cao khả năng chế biến, bảo quản các loại nông sản
5 Cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp
6 Sự lớn mạnh và phát triển vững chắc của các thành phần kinh tế giúp tận dụng tối đa mọi
ưu thế để khai thác và phát triển nền nông nghiệp toàn diện,
Để tiếp tục chuyến dịch cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, đưa công cuộc đổi mới nông nghiệp, nông thôn tiến những bước vững chắc, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề đặt ra
Qua 20 năm đổi mới, từ một nền nông nghiệp sản xuất lạc hậu, trì trệ, năng suất thấp, hàng năm phải nhập khoảng một triệu tấn lương thực, đã phát triển mạnh không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về lương thực, tôm cá, các sản phẩm cây công nghiệp
Cụ thể chúng ta đã đạt được những thành tựu sau :
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trường lớn, giá trị kinh tế cao Tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lương thực quốc gia, tăng sản lượng lương thực Tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha) để chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn, nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm 2005), trong đó, sản lượng lúa tăng từ 32,5 lên 35,8 triệu tấn, bình quân mỗi năm lương thực tăng hơn một triệu tấn Hàng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3,5 - 4 triệu tấn gạo
Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả có sự điều chỉnh mạnh theo nhu cầu thị trường để xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, bảo quản Năm 2005, diện tích, sản lượng cây công nghiệp tăng nhanh so với năm
2000, diện tích cao su tăng 9,5%, sản lượng tăng 37,6%; diện tích hồ tiêu tăng 83,2%, sản lượng tăng 87,8%; diện tích hạt điều tăng 44,3%, sản lượng tăng 205,3%; diện tích chè tăng 35,3%, sản lượng tăng 54,9%; diện tích cây ăn quả tăng 1,4 lần; diện tích bông vải tăng 42,5%, sản lượng tăng 57,4%; diện tích đậu tương tăng 47,1%, sản lượng tăng 62,2% Các loại cây công nghiệp có lợi thế xuất khẩu hầu hết đều tăng về diện tích, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỉ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19,3% lên 21,6% Ðàn bò, nhất là bò sữa tăng nhanh, đạt 95 nghìn con, sản lượng sữa tươi tăng gấp
3 lần Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 2,0 lần, sản lượng khai thác tăng 1,2 lần so với năm 2000
Trang 18 GTSX công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng bình quân 12-14%/năm Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn tăng bình quân 15%/năm Hiện cả nước có 2.971 làng nghề, khoảng 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ gia đình, thu hút hơn 10 triệu lao động
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt mức cao Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2005 đạt khoảng 7 tỉ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2000, trong đó nông, lâm sản tăng gần 1,5 lần, thủy sản tăng 1,6 lần Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng và giá trị lớn như: gạo, cà phê, cao su, hạt điều Ðặc biệt, xuất khẩu đồ gỗ gia dụng và lâm sản tăng mạnh, đạt hơn 1,2 tỉ USD, tăng gấp 3,3 lần so với năm 2000
CCKT nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp Năm 2005 trong tổng GDP của cả nước, tỉ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản so với năm 2000 đã giảm từ 24,53% xuống 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 53%, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1% Năm
2005, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%, hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm 12,7% và phi nông nghiệp 18,4% Nguồn thu của hộ nông dân từ nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ nông thôn đã dần tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu
Trình độ khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản từng bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất chất lượng nông sản, thủy sản Ðến nay, có hơn 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều được sử dụng giống mới Công nghệ sử dụng mô được đưa nhanh vào sản xuất giống cây rừng, nên năng suất chất lượng rừng được cải thiện Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển làm đất đạt hơn 60% Trong ngành thủy sản, các cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các máy móc, thiết bị bảo đảm cho công nghệ nuôi trồng tiên tiến
Quan hệ sản xuất được xây dựng ngày càng phù hợp Cả nước hiện có hơn 72.000 trang trại,
số lượng tăng bình quân 10%/năm, kinh tế trang trại đã góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn 524 hợp tác xã nông nghiệp mới được thành lập, chủ yếu hoạt động theo hướng dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, hiện có hơn 10.000 hợp tác xã ở nông thôn (9.255 HTX nông nghiệp, hơn 500 HTX thủy sản, 800 quỹ tín dụng nhân dân ) và hàng trăm nghìn tổ kinh tế hợp tác, so với năm 2000, số hợp tác xã hoạt động có lãi tăng từ 32% lên 35%, số HTX yếu kém giảm từ 22% xuống còn khoảng 10%
Trang 19 Doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh, năm 2005 có 15.600 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động trên địa bàn nông thôn, bình quân một doanh nghiệp thu hút khoảng 20 lao động Đây là nhân
tố quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn có bước phát triển khá nhanh Nhiều công trình thủy lợi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh, tăng năng suất cây trồng, bảo đảm tưới cho 90% diện tích lúa, hàng vạn ha hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả;
hệ thống đê điều được củng cố Cuối năm 2005 đã có 98% số xã có đường ô tô tới khu trung tâm, hơn 90% số xã có điện, gần 88% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện Số thuê bao điện thoại ở khu vực nông thôn tăng nhanh, đạt 4 máy/100 người dân (cả nước là 12,56 máy/100 người dân); 58% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch; xây mới 501 chợ, góp phần giảm bớt khó khăn về tiêu thụ nông sản cho nông dân
Công tác xóa đói, giảm nghèo cũng được đẩy mạn, bình quân mỗi năm giảm 3% tỉ lệ hộ đói nghèo Tỉ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn giảm từ 19% năm 2000 xuống còn 10% năm 2005 Ðiều kiện về nhà ở, đi lại, học tập, chữa bệnh được cải thiện tốt hơn Nhiều làng xã đã trở thành làng văn hóa, có kinh tế phát triển, bảo đảm môi trường sinh thái, văn hóa truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc được phục hồi và phát triển, trình độ dân trí được nâng lên
1.5 Kinh nghiệm chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hóa cây trồng ở một số nước châu Á Việc canh tác lúa nước là nền tảng của việc canh tác ở các nước châu Á Trong quá trình công nghiệp hoá, hầu hết giá của các nhân tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (đất, lao động, vốn…) đều tăng, khiến lợi thế so sánh của ngành bị sút giảm
Mặc dù lúa vẫn là cây lương thực chính ở các nước châu Á nhưng sản xuất lúa gạo thường đem lại lợi nhuận thấp Do đó, nhiều nước đã chuyển sang nuôi, trồng các cây con khác có lợi nhuận cao hơn Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, đa dạng hoá cây trồng, chuyển sang các cây trồng, vật nuôi giá trị cao như cây ăn quả, rau, hoa, thủy hải sản đã và đang trở thành một xu hướng phổ biến Việc xem xét quá trình chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hoá nông nghiệp ở các nước châu Á sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý giá cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng
1.5.1 Đa dạng hoá cây trồng ở Malayxia
Xu hướng đa dạng hóa cây trồng
Trước đây phần lớn đất nông nghiệp ở Malayxia được dành để trồng cao su, cọ dầu, lúa Nhưng diện tích cao su, ca cao, dừa, hạt tiêu, thuốc lá đã giảm từ đầu những năm 1980 Thay vào
đó, diện tích cọ dầu, rau, các loại cây ăn quả như sầu riêng, dứa, chuối, đu đủ tăng nhanh Trong
Trang 20hơn ba thập kỷ qua, Malayxia đã đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá trong nông nghiệp theo hướng trồng các cây công nghiệp phục vụ xuất khẩu Đến giữa thập kỷ 90 cây công nghiệp chiếm tới 71% GDP nông nghiệp
Chính sách đa dạng hoá cây trồng
Đẩy mạnh đa dạng hoá cây trồng, tiếp tục mở rộng sản xuất lúa gạo
Đầu tư phát triển sản xuất và tăng cường xuất khẩu các cây trồng có thế mạnh như cao su, cọ dầu
và ca cao, rau, cây ăn quả
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đổi mới thể chế, mở rộng vùng đất mới để phát triển cây thương phẩm nhằm mục tiêu xuất khẩu thu ngoại tệ
Củng cố các đồn điền hoạt động không có lãi, chú trọng nâng cao năng suất, tăng khả năng cạnh tranh, hướng tới tăng trưởng nông nghiệp bền vững
Đưa ra các chiến lược trung và dài hạn về sản xuất lương thực, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân, cải cách phương thức tiếp thị, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản
1.5.2 Đa dạng hoá cây trồng ở Philipin
Nền kinh tế Philipin phụ thuộc vào rất lớn vào nông nghiệp Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Philipin là dừa, đường, dứa, chuối, cà phê và xoài Mặc dù lúa, ngô chiếm tỉ trọng lớn trong tổng diện tích đất nông nghiệp nhưng Philipin vẫn phải nhập khẩu nông sản
Những năm qua chính phủ Philippin đã triển khai hàng loạt chính sách nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, trong đó đa dạng hoá cây trồng chiếm một vị trí quan trọng Tại Philipin, quá trình đa dạng hoá diễn ra chủ yếu trên đất trồng lúa và trồng dừa
Các mô hình đa dạng hoá cây trồng
* Đa dạng hoá trên đất trồng lúa
Đối với Philippin, ngô, thuốc lá, các loại cây họ đậu là những cây trồng chính luân canh với lúa Trong giai đoạn 1991-1995, ở các vùng đất thấp áp dụng các hệ thống canh tác chính là: lúa- ngô, lúa-tỏi, lúa-ớt ngọt, lúa-rau đậu
Trong những năm gần đây hệ thống đa dạng hoá trên đất trồng lúa của Philipin lại thay đổi Theo điều tra của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Philipin, trong 2 năm gần đây, có sáu hệ thống canh tác chính trên đất trồng lúa là: lúa-lúa, lúa-rau, lúa-cá, lúa-ngô, lúa-cây họ đậu và loại khác
* Đa dạng hoá trên đất trồng dừa
Dừa có thể trồng xen một hay một số loại cây Các loại cây trồng lâu năm như cà phê, ca cao, cây ăn quả, cây hàng năm như ngô, lạc, khoai lang, dứa, chuối, dong, gai và các loại rau… có thể
Trang 21trồng dưới tán cây dừa để tối đa hoá khả năng tận dụng ánh nắng mặt trời, độ mầu mỡ của đất Đây chính là hệ thống canh tác đa tầng rất phổ biến trong chiến lược đa dạng hoá của Philipin Hệ thống canh tác này gồm ba cấp: trên cùng là dừa, ở tầng giữa là các cây lâu năm và tầng cuối là các cây hàng năm có tốc độ phát triển chậm Bên cạnh hệ thống canh tác đa tầng này, một số tỉnh của Philipin còn phát triển chăn nuôi gà, lợn dưới tán cây dừa Ngoài ra, Philipin còn thực hiện một số chương trình đa dạng hoá trên đất trồng ca cao, cà phê và cao su
Chính sách và chiến lược chuyển đổi cơ cấu, đa dạng hoá cây trồng
* Chính sách giá: Chính phủ giảm trợ giá lúa Do đó, một bộ phận hộ dân trồng lúa chuyển
sang sản xuất các cây thương phẩm khác, đẩy nhanh quá trình đa dạng hoá
* Chính sách thuế: loại bỏ hạn ngạch nhập khẩu, giảm tối đa các loại giấy phép đối với việc
nhập khẩu, giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ tất cả các thuế xuất khẩu Đồng thời loại bỏ dần dần các trợ cấp, bắt đầu bằng việc loại bỏ quy định các giá đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp
* Tăng chi tiêu công cộng: tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển các cây trồng thương phẩm, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn
1.5.3 Đa dạng hoá cây trồng ở Thái Lan
Trong sản xuất nông nghiệp ở Thái Lan, lúa là cây quan trọng, được trồng rộng khắp các vùng và chiếm một nửa diện tích trồng trọt của cả nước Ngoài ra còn trồng nhiều các loại cây hàng năm như sắn, ngô, mía đường, các cây lấy dầu và các cây lâu năm như cao su, cây ăn quả
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị cây trồng niên vụ 1997 -1998
Cây trồng
Diện tích (ngàn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (ngàn tấn)
Giá trị sản lượng (triệu USD)
Trang 22 Hỗ trợ những nông dân sản xuất nhỏ và những người sống trên đất do nhà nước giao sản xuất lương thực cho tiêu dùng thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp phối hợp với chăn nuôi, ngư nghiệp
Hỗ trợ các tổ chức nông dân và các tổ chức địa phương cung cấp dịch vụ cung ứng vật tư canh tác, chăn nuôi có chất lượng tốt và giá cả vừa phải cho nông dân
Tăng cường chế biến nông sản tại hộ gia đình nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và tạo nhiều loại sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu thị trường
Xúc tiến lập các kho dự trữ nông sản ở địa phương và thúc đẩy sử dụng những kho sẵn có để từng bước cung ứng sản phẩm cho thị trường theo yêu cầu thời vụ
Thay thế lúa bằng những nông sản có giá trị cao hơn ở những vùng trồng lúa không thích hợp
Thành lập những quỹ tín dụng dài hạn lãi suất thấp giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu, đẩy mạnh các hệ thống đa dạng hoá cây trồng
Hạn chế phụ thuộc vào các nguồn vốn bên ngoài, tăng cường phát triển quỹ tiết kiệm nông thôn nhằm tăng hiệu quả sản xuất, hỗ trợ các ngành công nghiệp chế biến nông sản Ngoài ra, nhà nước xây dựng một số quỹ khác để trợ giúp các nông dân và tổ chức nông dân về các vấn đề tiếp thị
Chính quyền địa phương xã và các nông hội được hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất, quản lý, mua bán vật tư nông nghiệp, phát triển các hợp đồng sản xuất Trên cơ sở đó những tổ chức này có thể hoạt động như các trung tâm sản xuất và dịch vụ tiếp thị
Tăng cường quản lý chương trình cải cách ruộng đất và phát triển cơ sở hạ tầng; phổ biến công nghệ và cung cấp thông tin cho người nông dân
Nhờ có các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và đa dạng hoá cây trồng, cơ cấu sản xuất trong ngành nông nghiệp cũng như của từng hộ nông dân đã thay đổi theo chiều hướng tích cực
1.5 4 Đa dạng hoá cây trồng ở Ấn Độ
Dân số Ấn Độ hơn một tỉ người, trong đó hơn 70% sống ở nông thôn Sau độc lập, ngành nông nghiệp Ấn Độ đã phát triển vượt bậc, Ấn Độ tự túc lương thực và có dư để xuất khẩu Bên cạnh đó,
Ấn Độ đã đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá cây trồng, phát triển các loại cây trồng ngoài lúa Hiện nay, Ấn Độ đã đứng ở những vị trí hàng đầu về xuất khẩu các loại gia vị, hạt điều, lạc, chè, lúa mì, sữa, rau quả…
Xu hướng đa dạng hoá cây trồng
Trang 23Từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực, đặc biệt là các cây hạt dầu Trước thập kỷ 80, diện tích các loại cây lương thực chiếm 63% tổng diện tích đất nông nghiệp, đến thập kỷ 90 giảm xuống còn 59% Giai đoạn 1966-1997, diện tích các loại cây có dầu tăng lên mạnh nhất, từ 11% lên 15%
Ở Ấn Độ, đa dạng hoá cây trồng không chỉ là quá trình chuyển dịch cây trồng từ lương thực sang các loại cây công nghiệp, cây thương phẩm mà còn là quá trình chuyển dịch trong bản thân nội
bộ từng nhóm cây trồng Đối với cây lương thực, Ấn Độ chuyển từ các loại cây trồng giá trị kinh tế thấp như kê, ngô sang các loại cây trồng cho giá trị kinh tế cao hơn như lúa gạo, lúa mì Đối với các loại cây có dầu, mặc dù lạc vẫn là cây trồng chính nhưng các loại cây khác có giá trị cao hơn đã phát triển mạnh như hạt cải dầu, đậu tương, mù tạt
Chính sách đẩy mạnh đa dạng hoá cây trồng
Trong những năm qua để thúc đẩy quá trình đa dạng hoá cây trồng Chính phủ Ấn Độ đã áp dụng một số chính sách như sau:
chế biến, tiếp thị và xuất khẩu
nông nghiệp và cây thương phẩm Trợ cấp hộ nông dân nhỏ chiếm khoảng 50% ngân sách của quỹ
nông, hỗ trợ sản phẩm, phát triển cơ sở hạ tầng và hiện đại hoá việc tỉa hột bông và ép bông
kho lạnh cho các sản phẩm nông nghiệp
hoạch
xuất giống
hán, lũ lụt hoặc thiên tai khác
1.5.5 Đa dạng hoá cây trồng ở Trung Quốc
Trang 24Những năm gần đây, cơ cấu sản xuất và tiêu thụ nông sản của Trung Quốc tồn tại những bất hợp lý Nông sản không đáp ứng nhu cầu về chất lượng, tỉ lệ chế biến chưa cao, khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá và thu nhập của nông dân
Để giải quyết những tồn tại trên và gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới, chính phủ Trung Quốc đã tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trong đó đa dạng hoá cây trồng chiếm vị trí quan trọng So với lần chuyển đổi cơ cấu trước thập kỷ 80, chuyển đổi cơ cấu lần này được coi là "lần chuyển đổi sâu rộng và có tính chiến lược quan trọng"
Bảng 1.2: So sánh sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp thập kỷ 80-90 và hiện nay
Mục
tiêu
Nâng cao sản lượng nông sản, đáp ứng
đủ nhu cầu lương thực trong nước
Nâng cao sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Nội
dung
nghiệp, bao gồm nâng cao chất lượng giống, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề nông thôn
- Tăng cường khoa học kỹ thuật
- Tăng cường công tác thị trường và thông tin thị trường
Xu hướng đa dạng hoá
Năm 2000, diện tích gieo trồng của Trung Quốc là 157 triệu ha Trong đó, diện tích trồng cây lương thực là 113 triệu ha, cây thương phẩm 37 triệu ha và các cây trồng khác là 7 triệu ha Để nâng cao hiệu quả ngành trồng trọt, Trung Quốc tập trung chuyển từ cơ cấu hai loại cây trồng chính là cây lương thực và cây thương phẩm sang cơ cấu ba loại cây trồng : cây lương thực, thương phẩm và nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi Mục tiêu chuyển đổi cơ cấu trong ngành trồng trọt Trung Quốc là giảm dần tỉ trọng cây lương thực, mở rộng diện tích trồng cây thương phẩm, cây ăn quả
Trang 25làm nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm và chế biến thức ăn gia súc, chuyển dần ưu thế ngành trồng trọt sang cung cấp nguyên liệu cho chế biến và chăn nuôi
Bảng 1.3: Cơ cấu diện tích một số cây trồng chủ yếu của Trung Quốc
1.5.6 Đa dạng hoá cây trồng ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, lúa là cây lương thực chủ đạo được trồng khắp cả nước Diện tích đất đồng bằng ở Nhật Bản rất hạn hẹp Tỉ lệ đất nông nghiệp chiếm khoảng 14% tổng diện tích đất cả nước, diện tích đất canh tác trung bình của mỗi hộ gia đình chỉ khoảng 1,6 ha
Quá trình đa dạng hoá cây trồng
Gạo là lương thực cơ bản của người dân Nhật Bản, có đủ gạo ăn là mục tiêu chính trong những năm đầu sau thế chiến II Từ giữa thập kỷ 60, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ dẫn đến thay đổi trong lối sống và làm nhu cầu tiêu thụ gạo giảm xuống Năm 1960 mức tiêu thụ gạo trung bình từ 115 kg/người giảm xuống còn 66,7 kg/người vào năm 1997 Sản xuất lúa gạo, lúa mì, các loại đậu, tằm giảm, trong khi sản xuất các loại rau, quả, hoa và chăn nuôi tăng đáng kể
Bảng 1.4: Tỉ trọng một số ngành trong tổng giá trị nông nghiệp, 1960-1997
Chăn nuôi
Trang 26lương thực Do đó, Chính phủ Nhật Bản phải đẩy nhanh quá trình đa dạng hoá để đáp ứng sự thay đổi về nhu cầu tiêu dùng Bên cạnh đó, Nhật Bản thực hiện chiến lược đa dạng hoá cây trồng nhằm thực hiện tính đa năng của nông nghiệp, góp phần vào việc bảo tồn hệ thống nông nghiệp, môi trường sinh thái
1.5.6.2 Chính sách và chiến lược đa dạng hoá cây trồng
Để đạt được mục tiêu trên Nhật Bản đã áp dụng một hệ thống các chính sách về lương thực, nông nghiệp và nông thôn tập trung vào 4 trọng tâm là:
1.5.7 Kết luận
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp, và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước châu Á đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất, cố gắng phát huy lợi thế so sánh, chấp nhận nhập khẩu nguyên liệu và các mặt hàng sản xuất không có lợi thế để tập trung sản xuất thật hiệu quả một số mặt hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh với khối lượng lớn Xu thế chung là:
giữa cây ngắn ngày và cây lâu năm
và ổn định về thương mại
sản xuất các sản phẩm từ gỗ tận thu…
Để đáp ứng các xu thế phát triển này, mỗi nước đều đưa ra các chính sách của mình để tạo điều kiện cho nông dân chuyển đổi sản xuất, như chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ, phát triển chế biến bảo quản, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tiếp thị và phát triển thị trường, các chính sách vĩ
mô khác như tín dụng, các hình thức tổ chức sản xuất kết hợp tiếp thị… Mặc dù mức độ thành công
Trang 27của mỗi nước khác nhau, song những bước đi của họ đều có thể là bài học đáng tham khảo cho Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hoá cây trồng
Trang 28Chương 2
QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP
TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA
2 1 Khái quát về tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là một tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía
(xếp thứ 22) và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ Dân số của tỉnh năm 2005 là 2.214.380 người, trong đó có 1.095.897 nam và 1.118.483 nữ Lao động xã hội có việc làm là 1.124.678 người (2005)
Sau ngày giải phóng (30-4-1975), Đồng Nai vẫn là một tỉnh nông nghiệp với tỉ trọng nông nghiệp chiếm trên 65% GDP Đến nay, Đồng Nai từng bước trở thành một tỉnh công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những địa phương tạo được sự thu hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, có tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm trên 13%, cao hơn tốc độ trung bình của cả nước
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai đã tận dụng được những lợi thế so sánh của vùng và của tỉnh trong công cuộc đổi mới Trong năm 2006, kinh tế Đồng Nai tiếp tục tăng trưởng ổn định, công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
20% giàu nhất và 20% nghèo nhất chênh lệch nhau 9,5 lần; năm 2003 còn 5,4 lần; đến năm 2005 còn 5,1 lần
sạch chiếm 90%
Trang 29Tỉnh có 11 đơn vị hành chính : Thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Trảng Bom, Thống Nhất, Long Thành, Nhơn Trạch, Cẩm
Mỹ
Bảng 2.1: Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính năm 2006
Nguồn : Niên giám thống kê - Cục Thống kê Đồng Nai
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai
2 2 1 Vị trí địa lí
Thuận, đông bắc giáp Lâm Đồng, tây bắc giáp Bình Phước, tây giáp Bình Dương, tây nam giáp
TP HCM và phía nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu Như vậy Đồng Nai có vị trí địa lí quan trọng, là cửa ngõ phía Bắc của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng thời nối liền vùng Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ bằng các tuyến đường giao thông huyết mạch
Vì thế, Đồng Nai được coi là “bản lề chiến lược” giữa 4 vùng quan trọng của các tỉnh phía Nam
Có thể nói, Đồng Nai có vị trí trọng yếu trong việc phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ nói riêng
và cả nước nói chung
Tiếp giáp với các tỉnh thành có nền kinh tế năng động như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu
và đặc biệt là TP.HCM cũng chính là điều kiện thuận lợi để Đồng Nai mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành nông nghiệp Với thuận lợi to lớn đó, tỉnh đã mạnh dạn đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi hợp lí để kịp thời đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài tỉnh
Diện tích
Dân số (người)
Trang 302 2 2 Nhân tố tự nhiên
Địa hình
Đồng Nai là tỉnh có địa hình trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ xuống đồng bằng Nam bộ, có độ cao tương đối thấp - trên dưới 100m so với mực nước biển, có độ dốc phổ biến dưới
Địa hình gồm có 4 dạng chính:
- Địa hình núi thấp : tạo thành những lưng sóng rộng rãi, nhô cao lên là những chóp núi lửa
đã tắt từ lâu còn được bảo tồn khá tốt và những đỉnh núi granit Các “núi sót” này phân bố rải rác không theo quy luật Đây là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn, độ cao thay đổi từ 300- 800m Miền núi thấp này phân bố chủ yếu ở huyện Tân Phú và một ít ở huyện Định Quán, Xuân Lộc Các đỉnh núi tiêu biểu là Chứa Chan cao 387m, Mây Tàu 700m, Gia Kiệm 831m
- Địa hình bậc thềm : được cấu tạo bởi phù sa cổ cao từ 10- 45m Đây là dải đất cao chạy dài
từ Tây Ninh qua Bình Dương, Đồng Nai đến Bà Rịa - Vũng Tàu, thường được gọi là “dải đất xám” Dạng địa hình chủ yếu ở đây là địa hình đồi lượn sóng, có diện tích lớn, độ cao từ 20- 100m
- Địa hình đồng bằng : Đồng Nai có một số đồng bằng hẹp do các con sông bồi đắp, tương
đối màu mỡ, phì nhiêu Đất phù sa đồng bằng nhìn chung là tốt, nhiều mùn, hơi chua
Ngoài ra, phía Bắc của các dãy núi granit và núi lửa thuộc vùng Bà Rịa - Vũng Tàu và ở phía đông Xuân Lộc là một vùng có cấu tạo tương đối phức tạp, bao gồm địa hình núi thấp, bậc thềm, đồng bằng… đan xen Trong đó, dạng địa hình bậc thềm rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Bảng 2.2 Phân loại đất theo độ dốc
Nguồn : Sở Địa chính tỉnh Đồng Nai
Nhìn chung, địa hình Đồng Nai tương đối bằng phẳng, đất đai thuận lợi cho sản xuất nông
bằng phẳng thuận lợi cho việc cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cũng tương đối thuận lợi Dạng địa hình này cũng tương đối thuận lợi cho việc đầu
Trang 31tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật nhằm phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp như các khu chế biến các nông sản cao su, cà phê, điều, cây ăn quả …
Đất đai
Đồng Nai có quỹ đất khá phong phú, có nhiều tiềm năng về nông nghiệp Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể thấy đất Đồng Nai có 10 nhóm chính Trong đó, loại đất xám chiếm tỉ lệ 40,05% DTTN toàn tỉnh, vừa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp vừa cho công nghiệp và xây dựng Đất đen (22,44% DTTN) thích hợp trồng các loại cây hàng năm Đất đỏ bazan (19,27% DTTN) thích hợp phát triển các cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
Ngoài ra, các nhóm đất khác như đất phù sa ven sông Đồng Nai, đất gley hóa (9,32%) chủ yếu dùng cho trồng lúa, rau, hoa màu và các loại cây trồng khác; đất nâu (1,94%) , đất tầng mỏng (0,54%), đất đá bọt (0,41%), đất cát (0,1%), đất có tầng loang lổ (0,02%) Diện tích đất có chất lượng (độ phì, tầng dày từ trung bình đến cao chiếm 44%) Đất có tầng mỏng dưới 50 cm, chất lượng kém chiếm 40% tổng quỹ đất
Tuy nhiên có thể gộp thành 3 nhóm chính :
- Các loại đất hình thành trên đá bazan, diện tích khoảng 22,4 nghìn ha (chiếm 39,1%) là các loại đất đá bọt, đất đen, đất đỏ, có độ phì cao, phân bố chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp hàng năm và lâu năm như cao su, cà phê, tiêu, cây ăn quả như chôm chôm, sầu riêng, mãng cầu
- Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét như đất xám, đất nâu xám… Tổng diện tích là 246,38 nghìn ha (41,9 % diện tích tự nhiên) phân bố chủ yếu ở phía Nam, Đông Nam của tỉnh, trên địa bàn các huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch Nhóm đất này có độ phì kém, thích hợp với các loại cây như ngô, đậu tương, dâu, xoài, chuối, dứa, điều …
- Nhóm đất phù sa, đất dày, đất cát, đất tầng mỏng, có diện tích khoảng 58,4 nghìn ha (chiếm 9,9% diện tích tự nhiên) tập trung chủ yếu ven sông Đồng Nai, La Ngà, thích hợp trồng cây lương thực và một số loại cây ăn quả như bưởi, cam, quýt …
Nhìn chung, Đồng Nai có quỹ đất khá phong phú, đa dạng, không chỉ thích hợp cho sản xuất nông nghiệp mà còn có thể hình thành nên các vùng chuyên canh có tỉ suất hàng hóa cao Đất ở Đồng Nai được hình thành từ nhiều mẫu chất, đá mẹ khác nhau, là điều kiện để tạo nên một cơ cấu cây trồng khá đa dạng
Khí hậu
Trang 32Khí hậu tỉnh Đồng Nai mang tính chất gió mùa cận xích đạo, với tổng lượng bức xạ cao và ổn
muối, thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao
Bảng 2.3 Nhiệt độ trung bình và lượng mưa các tháng trong năm 2005
Nguồn : Niên giám thống kê – Cục Thống kê Đồng Nai
Khí hậu của tỉnh có hai mùa tương phản : mùa khô và mùa mưa Lượng mưa của tỉnh thuộc loại cao nhất ở vùng Đông Nam Bộ, trung bình từ 1500-2700 mm phân bố theo vùng và theo vụ Nhìn chung, lượng mưa có xu thế giảm từ phía Bắc xuống phía Nam, ở Định Quán là khoảng 2692 mm/năm trong khi ở Bình Đa – Biên Hòa là 1762 mm/năm Dựa vào 2 yếu tố lượng mưa và thời gian mưa, trong đó quan trọng nhất là lượng mưa, có thể chia lãnh thổ của tỉnh thành 3 tiểu vùng khí hậu
- Tiểu vùng phía Bắc (Tân Phú, Định Quán, Bắc Vĩnh Cửu) có lượng mưa lớn nhất, trên
2500 mm/năm, số ngày mưa từ 150 -160 ngày
- Tiểu vùng trung tâm (thung lũng sông La Ngà, Nam Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Bắc Xuân Lộc) lượng mưa từ 2000 – 2500 mm/năm, số ngày mưa từ 130-150 ngày
- Tiểu vùng phía Nam (Cẩm Mỹ, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Biên Hòa…) lượng mưa dưới 2000 mm, số ngày mưa từ 100-130 ngày
Với khí hậu như trên, Đồng Nai có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và phân bố các loại cây trồng vật nuôi đa dạng và phong phú Nguồn bức xạ lớn đảm bảo việc phát triển các loại cây con của vùng nhiệt đới Lượng mưa nhiều thuận lợi cho việc tưới tiêu các loại cây công nghiệp, cây ăn quả - thế mạnh của tỉnh Điều kiện khí hậu thuận lợi, ổn định làm cơ sở cho nền nông nghiệp hàng hóa có bước phát triển ổn định, vững chắc với nhịp độ cao
Song bên cạnh đó khí hậu cũng gây ra những khó khăn nhất định cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi
Trang 33Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, đây là thời gian thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, do lượng mưa trong tỉnh phân bố theo mùa nên cũng gây khó khăn cho sản xuất Khó khăn lớn nhất là mùa khô kéo dài gây thiếu nước, còn mùa mưa lại có mưa tập trung với cường độ lớn vào tháng 9, tháng 10 gây ngập úng, làm thiệt hại cho cây trồng vật nuôi Trong mùa mưa, nếu không có biện pháp tiêu nước hợp lí sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp ở các vùng thung lũng hay ven sông Trong khi đó, vùng đất ở phía Bắc Xuân Lộc lại ít mưa, nhiều nắng gây thiếu nước nghiêm trọng, chỉ sản xuất một vụ nhưng cũng rất bấp bênh
Khí hậu có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển sản xuất các loại cây trồng nhiệt đới và là thuận lợi đối với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi của tỉnh Sự chuyển đổi đó đang dần phù hợp với xu hướng chung của vùng và cả nước
Thủy văn
Đồng Nai là tỉnh có nguồn nước khá phong phú thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt và đặc biệt
có ý nghĩa về thủy điện
và quan trọng nhất là sông Đồng Nai, đoạn chảy qua tỉnh dài 294km Diện tích lưu vực lên đến 40
Sông La Ngà là phụ lưu lớn nhất bên tả ngạn sông Đồng Nai, hợp lưu với sông Đồng Nai
hai bên có nhiều đầm lầy nên mùa lũ nước sông tràn bờ gây úng ngập, ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp
Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều sông suối khác như sông Buông, sông Thị Vải, sông Đồng Tranh, sông Nhạn… nhưng lưu lượng nước tương đối nhỏ
Đồng Nai cũng là tỉnh có nhiều hồ nhân tạo Hiện có 23 hồ chứa nước, trong đó lớn nhất là hồ
Nguồn nước ngầm của tỉnh cũng bước đầu được đánh giá là có tổng trữ lượng khoảng 3 triệu
việc sử dụng còn nhiều khó khăn
Nhìn chung, lượng nước phục vụ việc tưới trong mùa khô cho cây trồng và chế biến nông sản của tỉnh khá ổn định, đây cũng là một thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp
Sinh vật
Trang 34Rừng là tài nguyên quan trọng của Đồng Nai, tập trung chủ yếu ở phía Bắc của tỉnh ở các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán Rừng Đồng Nai mang đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên
Theo điều tra của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, đến hết năm 2006 diện tích đất có rừng là 156,6 nghìn ha, trong đó rừng sản xuất có 87,7 nghìn ha, rừng phòng hộ 35,3 nghìn ha, rừng đặc dụng 32,9 nghìn ha, rừng tự nhiên 110,8 nghìn ha, rừng trồng 44 nghìn ha, trong đó có khoảng 25 nghìn ha rừng nguyên liệu giấy Đến năm 2006, độ che phủ rừng đạt 30% tổng diện tích tự nhiên
Thảm thực vật rất đa dạng, phong phú Theo phân loại, thực vật rừng tự nhiên của Đồng Nai
có hơn 185 loài trong đó có 34 loài gỗ quý, 24 loài cây thuốc, 11 loài cây dầu và cây ăn quả Cây trồng thuộc 12 họ, chủ yếu là cây họ đậu Vườn quốc gia Cát Tiên là nơi có hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm điển hình ở Việt Nam, là nơi đã phát hiện được 1362 loài thực vật bậc cao thuộc 73 họ, trong đó có 39 loài thuộc 15 họ cây quý hiếm như trầm hương
Động vật của vườn quốc gia có những nét đặc trưng của khu hệ động vật vùng Đông Trường Sơn, nổi bật là thành phần của bộ móng guốc với 6 loài chiếm ưu thế là heo rừng, cheo cheo, bò rừng, nai … Thú gồm có 62 loài thuộc 28 họ, 10 bộ, 25 loài chim trong đó có 20 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ, 36 loài bò sát và lưỡng cư trong đó 10 loài có tên trong sách đỏ
Nhìn chung, nguồn tài nguyên sinh vật của Đồng Nai khá đa dạng và phong phú, tạo thuận lợi cho nền sản xuất nông nghiệp đa dạng với nhiều nguồn gen quý giá để lai tạo các giống mới cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao Các cây trồng chủ yếu của tỉnh là cao su (41.000 ha), cà phê (25.000 ha), điều (42.000 ha), đậu nành (7.000 ha), ngô (67.000ha) và các loại cây ăn quả (20.000 ha) Đồng Nai cũng là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất thức ăn gia súc với nhiều trang trại chăn nuôi qui mô công nghiệp, tổng đàn trâu bò 76.000 con, heo 970.000 con, gia cầm 11 triệu con Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và cũng là một phần kết quả của công cuộc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Mặt nước nuôi trồng thủy sản
Ngành thủy sản được phát triển chủ yếu dựa vào diện tích mặt nước của các hồ chứa nước, các sông Đồng Nai, La Ngà … Quan trọng nhất là mặt nước hồ Trị An có diện tích khoảng 323
3.000 ha) có thể phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ
2 2 3 Nhân tố kinh tế - xã hội
Dân cư và lao động
Trang 35Theo kết quả thống kê dân số ngày 31-12-2005, dân số của tỉnh có 2.214.380 người Trong đó nam là 1.095.897 người, chiếm tỉ lệ 49,5%; nữ là 1.118.483 người, chiếm 50,5% dân số của tỉnh Đồng Nai là một tỉnh đông dân Năm 2005, dân số là 2.214.380 người, chiếm khoảng 16% dân số cả nước Dân cư thành thị là 686.900 người chiếm 31% dân số của tỉnh, dân cư nông thôn là 1.527.480 người chiếm 69% dân số của tỉnh
Tốc độ gia tăng tự nhiên có xu hướng giảm từ 3,45% (năm 1990) xuống còn 1,27% (năm 2005) Việc hạn chế tốc độ gia tăng dân số đạt được những thành tựu quan trọng nhờ chính sách dân số hợp lí kết hợp với việc tuyên truyền thực hiện kế hoạch hóa gia đình rộng khắp các huyện trong tỉnh
Tuy nhiên, tốc độ gia tăng cơ học ở Đồng Nai rất cao do sức hút đối với dòng nhập cư từ các tỉnh khác đến Nhờ có tiềm năng to lớn và tốc độ tăng trưởng cao củng với sự phát triển mạnh mẽ
và ồ ạt của các khu công nghiệp… nên thu hút rất đông lao động từ khắp các địa phương trong cả nước Chỉ tính trong 5 năm từ 1993 -1999, số người đến Đồng Nai là 103.300 người, chiếm khoảng 5% dân số của tỉnh
Bảng 2.4 Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi năm 2005
Nguồn : Niên giám thống kê - Cục Thống kê Đồng Nai
Dân số Đồng Nai nhìn chung thuộc loại trẻ Dựa vào bảng số liệu trên có thể thấy số người trong độ tuổi lao động rất lớn, chiếm 65,8% dân số Đây chính là nguồn lực dồi dào của tỉnh trong việc cung cấp lao động cho việc phát triển kinh tế Tuy nhiên cũng cần phải nói đây còn là sức ép lớn cho tỉnh trong vấn đề giải quyết việc làm cho lao động
Cơ cấu dân số theo giới tính của tỉnh khá cân đối Năm 2005 nữ chiếm 50,5% dân số và nam chiếm 49,5% dân số của tỉnh
Trang 36Nguồn nhân lực tại chỗ khá dồi dào Năm 2005, số người trong độ tuổi lao động là 1.467.826 người chiếm 65,8% dân số Tốc độ tăng nguồn lao động là 3,5%/ năm Trong giai đoạn 1999 –
2003, trung bình cứ mỗi năm dân số của tỉnh tăng thêm 60.000 người, số lao động tăng thêm khoảng 13.000 người Năm 2005, số người đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 1.097.927 người, chiếm 75% tổng số lao động
Về nguồn đào tạo nhân lực của tỉnh, năm 1998, tỉnh Đồng Nai đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Đến tháng 12 năm 2004, đã có 171/171 xã, phường đạt chuẩn THCS và tiến hành phổ cập trung học cho 19 xã phường ở thành phố Biên Hòa Trên nền tảng của công tác nâng cao dân trí, hàng năm, bình quân có khoảng 20.000 học sinh tốt nghiệp THPT và BTVH cấp 3 của Tỉnh Đây là nguồn cơ bản để đào tạo nhân lực kỹ thuật
Về hệ thống trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật của tỉnh, đến nay đã có 1 trường đại học dân lập đào tạo cử nhân và kỹ sư, 3 trường cao đẳng, 8 trường trung học chuyên nghiệp đào tạo cán
bộ kỹ thuật, 10 trường dạy nghề Ngoài ra, còn có 47 trung tâm, cơ sở dạy nghề Qui mô đào tạo đại học của Tỉnh hàng năm tiếp nhận khoảng 8.000 sinh viên và số sinh viên tốt nghiệp khoảng 1.000 - 1.200 người Hệ cao đẳng hàng năm có thể tiếp nhận khoảng hơn 7.000 sinh viên và tốt nghiệp khoảng 12.000 sinh viên Số người nhập học hệ Trung học chuyên nghiệp khoảng 15.000 học sinh
và tốt nghiệp khoảng 6.000 đến 8.000 học sinh Bình quân so với năm 1996 tăng gấp 2 lần số người tốt nghiệp hàng năm Đây là lực lượng lao động quan trọng trong tương lai của ngành nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác trong tỉnh, góp phần hiện đại hóa sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp thành công
Lao động trong các ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 44,2% tổng số lao động, lao động công nghiệp chiếm 28,8% và lao động dịch vụ chiếm 27% Điều đó cho thấy dân số hoạt động trong nông nghiệp khá cao Lực lượng lao động dồi dào, người nông dân rất gắn bó với ruộng vườn, hiểu rõ điều kiện sinh thái, có kinh nghiệm lao động, năng động, nhạy bén, sáng tạo, trình độ văn hoá khá cao, có khả năng tiếp thu và thích nghi việc chuyển giao công nghệ để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất Đồng thời, mức sống người dân đang ngày càng nâng cao, nhu cầu về nguồn lương thực thực phẩm ngon, bổ dưỡng, chất lượng cao cũng tăng lên Thị trường ngày càng mở rộng, nhu cầu của nhân dân ngày càng lớn Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng của tỉnh Đồng Nai khá tốt do vị trí địa lí thuận lợi hơn so với nhiều địa phương khác trong cả nước Đồng Nai tiếp giáp với TP.HCM, chỉ cách TP.HCM khoảng 25 km, một "cửa
Trang 37ngõ" giao lưu, quan hệ quốc tế quan trọng, đồng thời là một trung tâm kinh tế và thị trường tiêu thụ lớn của quốc gia, nên Đồng Nai từ lâu đã được xem là một tỉnh có nhiều lợi thế để phát triển
Đặc biệt, trong hơn 10 năm qua, Đồng Nai đã thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực công nghiệp, nhất là công nghiệp chế tạo máy và chế biến nông sản Điều này đã góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết 5 của Trung ương (Khóa VII) và nghị quyết 25 của Tỉnh ủy Đồng Nai
Tốc độ cơ giới hóa, điện khí hóa ở Đồng Nai đang tăng nhanh Hiện nay, ngoài các đơn vị
quốc doanh trung ương và địa phương, Đồng Nai cũng đang có hàng trăm cơ sở chế tạo thiết bị cơ khí của các doanh nghiệp tư nhân rải đều trên khắp các huyện, thị trong tỉnh Hàng năm, các cơ sở quốc doanh và dân doanh này đã sản xuất và cung ứng cho nông nghiệp và nông thôn Đồng Nai nhiều loại sản phẩm làm tư liệu sản xuất nông nghiệp, như các loại động cơ diesel, động cơ xăng, máy xới, máy xay xát, máy bơm nước, gặt đập- tuốt lúa và các thiết bị sấy- sơ chế - chế biến nông sản Các sản phẩm này có chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu cơ giới hóa nông nghiệp trong nước và xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
Theo Sở Công nghiệp Đồng Nai, hơn 10 năm trở lại đây, mức độ trang bị cơ giới hóa nhờ đó
đã tăng gấp 3 lần (năm 1995 toàn tỉnh chỉ mới đạt 61,3 mã lực/100 ha đất trồng cây hàng năm, thì đến năm 2005 đã tăng lên đến 180 mã lực) Đặc biệt, trong bốn năm từ 2001-2004, số lượng máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp (động cơ diesel, máy xới, máy cày, máy kéo, máy bơm nước, máy gặt đập, tuốt lúa, máy sấy, sơ chế nông sản ) do các đơn vị quốc doanh và dân doanh bán ra trên địa bàn tỉnh đã đạt tới 13.260 cái, trị giá lên đến gần 74 tỉ đồng
Các huyện trong tỉnh đã chú trọng đầu tư phát triển mạng lưới điện nông thôn nhằm góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Từ năm 1997 đến năm
2004, tỉnh đã đầu tư hơn 298 tỉ đồng vào lĩnh vực này, nhờ huy động các nguồn vốn xây dựng lưới điện nông thôn (gồm vốn của ngành điện, nguồn phụ thu tiền điện, vốn ngân sách tỉnh, vốn huy động nhân dân và vốn vay từ quỹ hỗ trợ phát triển) Trong đó, đã thực hiện được 1.480 km đường dây điện trung thế, 1.189 km điện hạ thế, lắp đặt hơn 166.000 điện kế, giúp 90,5% số hộ toàn tỉnh
và 86,4% số hộ thuộc khu vực nông thôn có điện sử dụng Từ năm 2001 – 2006, tỉnh đã đưa vào sử dụng 683,6km đường dây trung thế, 1209km đường dây hạ thế, dung lượng trạm biến áp 67735,5 KVA với tổng kinh phí trên 204 tỉ đồng; đầu tư gần 16,5 tỉ đồng nâng cấp đường dây, trạm biến áp Nếu năm 2000, số hộ sử dựng điện lưới quốc gia mới chỉ đạt 74,5% thì đến năm 2005 đạt 95% và đến cuối năm 2006, toàn tỉnh đã có 100% xã có điện lưới quốc gia với trên 98% số ấp có điện và hơn 96% số hộ có điện
Điện khí hóa nông thôn ở tỉnh Đồng Nai không chỉ làm thay đổi hẳn bộ mặt đời sống - sản
xuất của nông thôn mà còn góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho người dân, từng bước
Trang 38góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nhiều nơi đã chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống (dệt, chế biến gỗ gia dụng…) Thu nhập của dân cư nông thôn tăng cao, rút ngắn dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị đồng thời phát triển mạnh kinh tế gia đình và kinh tế trang trại, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn Tỉnh phấn đấu đến hết năm 2010 đưa số hộ có điện lên 100% và đảm bảo vận hành, cung cấp điện an toàn, liên tục cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Trong thời gian qua, công nghiệp chế biến của tỉnh cũng có bước phát triển mạnh Trước
những năm 1990-1991, ngành công nghiệp chế biến nông sản ở Đồng Nai tập trung chủ yếu vào một số DN nhà nước là chính, nhưng các đơn vị hầu như vẫn không hoạt động hết công suất do gặp khó khăn về nguyên - vật liệu và "đầu ra" trên thị trường Từ năm 1992 đến nay, nhờ những lợi thế riêng và có chính sách thông thoáng, Đồng Nai đã thu hút được rất nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến Toàn tỉnh, đến cuối năm 2004 nhờ đó đã phát triển lên đến hơn 4.000 cơ sở công nghiệp CBNS, tăng 51% so với năm 1996, trong đó có khoảng 35 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký lên đến hơn 1 tỉ USD Nhiều dự án nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất bột ngọt, chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc có quy mô khá lớn, như các công ty: Ajnomoto (61 triệu USD), Vedan (416 triệu USD), Proconco (10,8 triệu USD), CP (125 triệu USD), Cargill (79 triệu USD), Nestle (55 triệu USD)
Công nghiệp CBNS phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương ở Đồng Nai chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi theo hướng gắn sản xuất với thị trường và thúc đẩy đầu tư, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Một số loại cây trồng- vật nuôi có khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như: khoai mì, mía, ngô, điều, rau quả, heo, gà đã tăng rất nhanh về số lượng và chất lượng, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển hợp lý Trong đó, tỉ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp đã tăng từ 18,4% năm 1995 lên 26% vào năm 2005 Đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nông dân ở các vùng nông thôn đã được cải thiện một bước đáng kể
dự án trong khu công nghiệp và ngành dịch vụ Với mức nước phong phú từ các sông suối, hồ nhân tạo và tự nhiên, nước ngầm, lượng nước đảm bảo phục vụ đầy đủ cho nhu cầu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong thời kì mới
Trang 39Đồng Nai nằm trong trục giao thông đầu mối đường bộ, đường sắt, đường thủy quốc gia nên
dễ dàng liên hệ với các địa phương trong cả nước và quốc tế Trong thời gian qua, tỉnh đã có bước tiến nhanh trong việc đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành đường tiêu chuẩn cấp
I, II (quốc lộ 1, quốc lộ 51), cấp III đồng bằng (quốc lộ 20) Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700 km đường nhựa Ngoài ra, hệ thống đường do phường xã quản lý, đường trong các lâm trường, khu công nghiệp… tạo thành một mạng lưới liên hoàn đến các cơ sở 100% xã, phường đã có đường ô tô đến trung tâm
Các cảng Long Bình Tân, cảng Gò Dầu A, cảng Gò Dầu B… của tỉnh có công suất bốc dỡ và tiếp nhận nguồn hàng khá lớn phục vụ cho việc thông thương giao lưu hàng hóa vô cùng thuận lợi với công suất tiếp nhận là 700.000 tấn/năm
Trong quy hoạch phát triển địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, nhiều công trình hạ tầng được Chính phủ ưu tiên xây dựng đi qua tỉnh, tạo thành mạng lưới giao thông phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp như :
- Hệ thống đường cao tốc TP.HCM - Biên Hòa - Vũng Tàu, TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây
- Tuyến đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu,
- Tỉnh lộ 769 nâng cấp nối với quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51,
- Sân bay quốc tế Long Thành,
- Hệ thống đường dẫn khí từ Vũng Tàu qua Đồng Nai về TP.HCM
Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai có nhiều thuận lợi nên đang diễn ra nhanh chóng Trong đó giao thông vận tải là một nhân tố quan trọng góp phần tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đạt hiệu quả cao
Hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh cũng đang được đầu tư và có sự phát triển rất mạnh
Mạng lưới điện thoại, viễn thông của tỉnh đã trực tiếp liên lạc được với các tỉnh trong nước và các nước trên thế giới Năm 2005, toàn tỉnh có 95 tổng đài điện thoại điện tử tập trung nhiều ở các trung tâm công nghiệp, 100% phường, xã, thị trấn có điện thoại, thư báo về kịp thời trong ngày Hầu hết các huyện trong tỉnh đều đã lắp tổng đài điện tử và đã số hóa mạng thông tin trong tỉnh và liên tỉnh Nhiều xã đã mắc điện thoại đến các hộ gia đình Năm 2005 có khoảng 413.320 thuê bao điện thoại Tỉ lệ điện thoại tăng từ mức 1 máy/100 dân (năm 1995) lên 15 máy/100 dân (năm 2005), đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc Ngoài ra, mạng thông tin Internet cung cấp khối lượng kiến thức phong phú để người dân tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, giao lưu, giới thiệu nông sản ra thị trường thế giới …
Trang 40Việc mở rộng hệ thống thông tin liên lạc tạo cơ hội để người sản xuất nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhạy nhất để phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
Tiến bộ khoa học kĩ thuật
Hiện Đồng Nai đang đẩy nhanh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thành tựu
về công nghệ vào sản xuất Hàng năm, tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỉ đồng cho ngành nông nghiệp để triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt Điển hình như ứng dụng nấm Tricho-derma phòng trừ thối gốc, chảy mủ, chết thân trên một số cây trồng của Chi cục bảo vệ thực vật Nghiên cứu, sản xuất cá giống và nuôi cá thương phẩm; nghiên cứu tình hình dịch bệnh lở mồm, long móng trên heo và trâu bò của Chi cục thú y; nghiên cứu khả năng phát triển cây tre Bát Độ ở Đồng Nai của Trung tâm khuyến nông; xây dựng mô hình sản xuất bưởi bằng phương pháp nhân giống vô tính do Công ty giống cây trồng thực hiện
Để đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, ngành nông nghiệp còn tổ chức gần 3.000 điểm trình diễn, 675 điểm khảo nghiệm, tổ chức hàng trăm lớp tập huấn và chuyển giao kỹ thuật với gần 70.000 lượt người tham dự Qua đó đã có nhiều tiến bộ công nghệ được nông dân ứng dụng, góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất như mô hình tưới nước tiết kiệm, mô hình màng phủ, nhà lưới, cơ giới hóa nông nghiệp, xây chuồng trại nuôi heo có
hệ thống làm mát, áp dụng kỹ thuật sản xuất biogas, sử dụng giống mới và các chế phẩm vi sinh, mô hình IPM trên đồng ruộng và cây ăn trái
Các doanh nghiệp sản xuất cũng đã được đầu tư vốn để đổi mới quy trình công nghệ sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, với tổng kinh phí lên tới hơn 36 tỉ 474 triệu đồng, trong đó vốn từ chương trình giống cây trồng và vật nuôi hơn 18 tỉ đồng Điển hình như dự án xây dựng vườn điều giống cao sản của công ty Donafoods với kinh phí đầu tư 4,1 tỉ đồng qua 5 năm đã thực hiện được 11,5 ha vườn cây đầu dòng, 195,2 ha canh tác sinh thái và 42,2 ha thâm canh cao Dự án đầu tư phát triển giống bò sữa chất lượng cao của Xí nghiệp bò sữa An Phước với tổng vốn 10,2 tỉ đồng, qua đó đã
trồng mới 50 ha đồng cỏ thâm canh Dự án đầu tư mở rộng sản xuất ở xí nghiệp chăn nuôi heo Phú Sơn và dự án đầu tư nâng cao năng lực sản xuất giống của Công ty giống cây trồng
Nhờ đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật và thành tựu công nghệ sinh học, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên mức tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp ở Đồng Nai giai đoạn 2001-2005 ước đạt 5,3% (so với mục tiêu nghị quyết đề ra 3,5-4%), trong đó trồng trọt tăng 3,43% và chăn nuôi tăng 7,96% Cơ cấu ngành chăn nuôi trong nông nghiệp từ 23,29% (năm 2001) đã tăng lên 26,62% vào năm 2005