1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận

88 505 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ phục vụ giảng dạy và học tập – Trường hợp tỉnh Bình Thuận
Tác giả TS. Phạm Thị Xuân Thọ
Trường học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học xã hội và Nhân văn
Thể loại Nghiên cứu khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đạt được : Nghiên cứu thực hiện qua 2 giai đoạn : - Giai đoạn 1 : Từ tháng 6 - 2006 đến 5 - 2007  Thu thập tư liệu, thông tin  Thực địa, điều tra xã hội học Các kết quả cho th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài được hoàn thành với sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học Cán bộ giảng dạy khoa Địa lí, với sự nhiệt tình của các công tác viên và sự cung cấp số liệu của các cơ quan ban ngành liên quan

Nhân đây, chúng tôi xin cám ơn:

- Ban Giám hiệu

- Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học

Trang 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

Tên đề tài : Nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ phục vụ giảng dạy và

học tập – Trường hợp tỉnh Bình Thuận

Mã số : B.2006.19.06

Chủ nhiệm đề tài : TS Phạm Thị Xuân Thọ

Tel: 0903.308.425 E-mail: ptxtho@yahoo.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

Cơ quan và cá nhân phối hợp :

1 ThS La Nữ Ánh Vân – Trưởng khoa Du lịch Trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận

2 ThS Phạm Thị Bình - CBGD Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

3 CN Bùi Vũ Thanh Nhật - CBGD Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện : Từ tháng 4 năm 2006 - tháng 4 năm 2008

1 Mục tiêu

- Khái quát về chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và tỉnh Bình Thuận

- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trong tỉnh Bình Thuận nói riêng và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nói chung

- Làm nguồn tư liệu cho các giảng viên, sinh viên Địa lí tham khảo nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập

Trang 4

3 Kết quả đạt được :

Nghiên cứu thực hiện qua 2 giai đoạn :

- Giai đoạn 1 : Từ tháng 6 - 2006 đến 5 - 2007

 Thu thập tư liệu, thông tin

 Thực địa, điều tra xã hội học

Các kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và tỉnh Bình Thuận thuộc loại trung bình thấp so với nhiều vùng trong cả nước nhưng còn cao hơn vùng Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Điều này cho thấy, các tỉnh DHNTB đã có nhiều chính sách phát triển KT -

XH và quan tâm đến các chính sách giảm đói nghèo, phát triển văn hóa, y tế, xã hội và bình đẳng giới

đó thấy rõ mối tương quan giữa các yếu tố KT - XH với việc nâng cao chất lượng cuộc sống và

đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư

Trang 5

SUMMARY

Project Title : Researching living quality of Middle Southern Coastal Area for teaching and studying

purposes - Binh Thuan Case

Code number : B.2006.19.06

Coordinator : Pham Thi Xuan Tho Ph.D

Tel: 0903.308.425 E-mail: ptxtho@yahoo.com

Implementing Institution : Hochiminh City University of Pedagogy

Cooperating Institution :

Individuals to anttend the subject :

1 La Nu Anh Van – Dean of the faculty of Faculty of tourism – Binhthuan Junior College of Community

2 Pham Thi Binh – Lecturer of the faculty of Geography - Hochiminh City University of Pedagogy

3 Bui Vu Thanh Nhat - Lecturer of the faculty of Geography - Hochiminh City University of Pedagogy

.Duration : From April, 2006 to April, 2008

1 Objectives:

Overview about the living quality of Middle Southern Coastal province

- Solutions proposed to improve the living quailty of the people of Middle Southern Coastal in

general and Binhthuan province in particular

- Materials for Geography lecturers and students in studying and teaching

2 Main content :

 Understanding factors to living quality of Middle Southern Coastal provinces

 Researching current living quality of Middle Southern Coastal provinces

 Researching, proposing solutions to develop the economy to improve living condition

3 Result obtained:

- 1th period : From April, 2006 to May 2007

- Collect data and information

- Carry out sociological field research, investigation

- Results show that inhabitants living quality of Middle Southern Coastal and Binh Thuan provinces is the average low among provinces in the country, yet still is higher than that of Middle Northern Area, North West Area This shows that Middle Southern Coastal provinces have got many policies to develop sociology economy and concern about policies to reduce poor, drive away hunger, improve sociology, hospitality, and sex equality

- 2th period : From June, 2007 to February 2008

Trang 6

 Complete basic theory, analyse ability to upgrade living quality of inhabitants in Middle Southern Coastal and Binh Thuan provinces

- Report about living quality, using GIS and Mapinfo software, creating living quality map of Middle Southern Coastal and Binh Thuan provinces Therefore we can observe the relationships of socio-economical elements to living quality improvements and propose solutions to improve inhabitants living quality

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- KHCN & MT : Khoa học công nghệ và môi trường

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong phát triển KT - XH, nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) và nỗ lực xóa đói, giảm nghèo Tỉ lệ nghèo đã giảm mạnh từ hơn 60% vào năm 1990 xuống còn 18,1% vào năm 2004, nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với mức tăng bình quân 8 - 9%/năm trong những năm gần đây và chính sách phát triển kinh tế gắn với giảm đói nghèo của Chính phủ

Tuy CLCS của dân cư Việt Nam đã tăng nhanh, chỉ số HDI năm 2007 tăng lên đạt 0,73, xếp hạng 105 trên 177 quốc gia và lãnh thổ Nhưng CLCS của dân cư Việt Nam có sự phân hóa mạnh mẽ theo vùng, miền và theo nhóm dân cư Để xã hội phát triển văn minh, công bằng, dân chủ, văn minh và bền vững cần có sự nghiên cứu kĩ lưỡng các yếu tố, các chính sách nhằm đưa ra các giải pháp thích hợp nâng cao CLCS dân cư, giảm bớt sự cách biệt giữa các vùng miền, các tỉnh

CLCS là một khái niệm tổng hợp đo mức sống của con người Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, CLCS của con người, cần được quan tâm nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội để thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của con người, nâng cao CLCS CLCS cũng phản ánh trình độ phát triển về KT - XH của khu vực hay một quốc gia, một vùng, một tỉnh

Đối với giáo viên, sinh viên ngành Địa lí, việc nghiên cứu CLCS, hiểu rõ bản chất, cách tính, các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư và tình hình biến chuyển CLCS dân cư một nước, một vùng cụ thể có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc Nhằm ứng dụng lí luận vào thực tiễn để nâng cao hơn nữa CLCS cho dân cư địa phương và đây cũng là mục tiêu hướng tới của đất nước ta cũng như của các quốc gia khác

Duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm 8 tỉnh thành có những đặc điểm tương đồng nhau về mặt tự nhiên, do đó có nhiều điểm tương đồng trong quá trình phát triển KT - XH và CLCS Bình Thuận là tỉnh cực Nam Trung Bộ, tiếp giáp vùng kinh tế Đông Nam Bộ, gắn với vùng kinh tế Đông Nam Bộ năng động có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường tiêu thụ rộng lớn Tạo điều kiện cho tỉnh Bình Thuận đã phát triển, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong những năm gần đây Nhưng tốc độ phát triển kinh tế như vậy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao CLCS cho nhân dân trong tỉnh, đặc biệt cuộc sống của dân cư các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao còn nhiều khó khăn Sự cách biệt về CLCS của dân cư giữa các địa phương còn khá lớn Ở TP Phan Thiết và các thị trấn kinh tế phát triển nhanh, CLCS được nâng cao rõ rệt, trong khi các vùng nông thôn, miền núi của tỉnh còn nhiều xã nghèo, hộ nghèo, CLCS còn thấp kém

Tỉnh Bình Thuận cũng có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế xã hội, nhưng CLCS dân cư chưa cao Làm thế nào để nâng cao CLCS của dân cư Bình Thuận cũng như cho dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ? Tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao CLCS của dân cư vùng Duyên hải Nam Trung

Bộ và tỉnh Bình Thuận

Trang 9

Nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ phục vụ giảng dạy và học tập - Trường hợp tỉnh Bình Thuận” với mong mỏi tìm kiếm một số giải pháp nâng cao CLCS của dân cư Ở đây, tỉnh Bình Thuận được lựa chọn là một trường hợp

điển cứu có nhiều yếu tố nổi bật về tự nhiên còn khó khăn, nhưng cũng có nhiều ưu đãi trong phát triển

KT - XH của một tỉnh cực nam của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ,…

2 MỤC ĐÍCH – NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI

- Tổng quan có chọn lọc lí luận về CLCS

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư các tỉnh DHNTB và tỉnh Bình Thuận

- Tìm hiểu khái quát thực trạng CLCS dân cư các tỉnh DHNTB và thực trạng CLCS dân cư tỉnh Bình Thuận

- Phân tích sự biến động CLCS của dân cư các tỉnh trong vùng và CLCS của các nhóm dân cư trong tỉnh

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLCS và giảm sự cách biệt giữa các nhóm dân cư ở Bình Thuận nói riêng và các tỉnh DHNTB nói chung

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

* Đối tượng nghiên cứu :

Chất lượng cuộc sống của dân cư là vấn đề rộng lớn, phức tạp và biến đổi theo không gian, thời gian, trong đó các tiêu chí để đánh giá CLCS rất đa dạng, trong đó có thể dựa vào chỉ số cơ bản nhất là chỉ số phát triển con người (HDI)

Chỉ số HDI cho biết một cách tổng quát về sự phát triển con người: Sống cuộc sống khoẻ mạnh

và lâu dài (đo bằng tuổi thọ, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73,7 tuổi); được học hành (đo

bằng tỉ lệ biết chữ ở người lớn và tổng tỉ lệ đi học tiểu học, trung học, đại học - của Việt Nam là 90,3%

và 63,9%); có mức sống hợp lí (thu nhập GDP/đầu người theo sức mua tương đương - của Việt Nam

là 3.071 USD) Ngoài ra, còn phải tính đến những mặt khác như nhu cầu sống tốt hơn được đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác như: cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, về nhà ở, điện nước, giao thông đi lại, y tế và sống trong một môi trường tự nhiên không ô nhiễm, môi trường xã hội, an toàn, lành mạnh,…

Các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm 8 tỉnh thành giáp biển là một địa bàn rộng lớn Do vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài, nhóm tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu khái quát về DHNTB và điển cứu tỉnh Bình Thuận từ đó có những giải pháp có tính chất tương đồng để nâng cao CLCS cho vùng, cũng như đề ra các giải pháp riêng cho tỉnh Bình Thuận

 Thời gian nghiên cứu :

Nghiên cứu CLCS dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, điển cứu CLCS dân cư tỉnh Bình Thuận trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2006

Trang 10

4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Vấn đề nghiên cứu CLCS dân cư đã được nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm nhưng ở các khía cạnh khác nhau như : mức sống, chỉ số phát triển con người nhưng chưa thật đầy đủ với nghĩa CLCS Kể từ khi cách mạng công nghiệp hình thành và phát triển đã nâng cao mức sống của con người

và tạo nên sự phân hóa sâu sắc giữ nhóm người giàu và nhóm người nghèo

Ngày nay, trên thế giới người ta thường dùng chỉ số phát triển con người (HDI) để so sánh mức sống của con người giữa các nước Ở Việt Nam, nhiều cơ quan ban ngành trung ương và địa phương

có các đề tài liên quan đến CLCS dân cư như đánh giá mức sống dân cư, các báo cáo phát triển con người Chương trình phát triển của LHQ tham gia cùng tiến hành nghiên cứu mức sống trong cả nước vào các năm 1992-1993 và 1997-1998, năm 2004 Năm 1996, Viện kinh tế TP HCM tiến hành đề tài

“Phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế TP HCM”, năm 2000 tiếp tục đề tài

“Nghiên cứu diễn biến mức sống dân cư và phân hóa giàu nghèo tại TP HCM” Ngoài ra còn có đề tài : “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở TP HCM” của: Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh Báo có phát triển con người năm 2007 của UNDP

Nhưng thực tế CLCS còn được thể thiện bằng nhiều tiêu chí khác ngoài mức sống và chỉ số HDI như được sống trong môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn lành mạnh Do vậy, nhóm đề tài muốn nghiên cứu sâu hơn về CLCS dân cư phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy địa lí

5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

5.1 Các quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Các tỉnh DHNTB và Bình Thuận là đơn vị lãnh thổ tự nhiên, KT - XH trong tổng thể tự nhiên và

KT - XH của Việt Nam nói chung Nghiên cứu CLCS gắn với sự phát triển KT - XH của từng tỉnh, của vùng và cả nước Để nâng cao CLCS cho nhân dân các tỉnh DHNTB và Bình Thuận cần phải đặt trong bối cảnh chung của sự phát triển KT - XH và CLCS của cả nước

CLCS thay đổi theo hướng nào liên quan đến sự phát triển KT - XH của đất nước, của tỉnh, việc

sử dụng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đường lối chính sách của Nhà nước và tỉnh Do vậy, nghiên cứu CLCS các tỉnh DHNTB và Bình Thuận phải đứng trên quan điểm hệ thống, xét Bình Thuận trong vùng DHNTB, trong hệ thống KT - XH cả nước để đưa ra các giải pháp phù hợp tác động vào hệ thống nhằm nâng cao CLCS một cách bền vững

5.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Quan điểm tổng hợp lãnh thổ là quan điểm quan trọng, đặc trưng trong quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu Địa lí học Các đối tượng địa lí không tồn tại đơn độc trên một lãnh thổ, mà chúng tồn tại trong mối quan hệ tương tác có những tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển của nhau, tạo nên những nét đặc thù riêng về mặt lãnh thổ KT - XH Chẳng hạn như giữa các tỉnh DHNTB có những nét tương đồng về mặt tự nhiên và KT - XH nên có những điểm khá tương

Trang 11

đồng về CLCS Nhưng giữa các tỉnh cũng có những nét khác biệt và trong một tỉnh cũng có sự khác biệt về mức sống Ví dụ, ở Bình Thuận có mức sống trung bình, nhưng TP Phan Thiết có CLCS cao hơn so với Tánh Linh, huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam

Vì vậy, trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ có thể đánh giá tổng hợp các yếu tố tự nhiên, KT - XH tạo nên CLCS với nét đặc trưng riêng của lãnh thổ, đồng thời cũng khái quát được những nét tương đồng cho những lãnh thổ lớn hơn Từ đó đưa ra các giải pháp chung cho cả vùng cũng như các giải pháp đặc thù cho từng địa phương

5.1.3 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh

CLCS dân cư không chỉ thay đổi theo không gian mà còn thay đổi theo thời gian Đánh giá các tác động đến CLCS dân cư trong qua khứ và hiện tại, chúng ta có thể dự báo được sự gia tăng hay suy giảm CLCS trong tương lai Trong các công trình nghiên cứu Địa lí nói chung và nghiên cứu CLCS nói riêng, cần vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh để dự báo và có các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm biến đổi CLCS dân cư theo chiều hướng tích cực

5.1.4 Quan điểm sinh thái, phát triển bền vững

CLCS dân cư chịu tác động mạnh mẽ của hai yếu tố tự nhiên, tài nguyên môi trường và KT - XH Việc gia tăng sản xuất, khai thác tài nguyên mạnh mẽ sẽ làm tăng thu nhập, góp phần nâng cao CLCS, nhưng khi tài nguyên cạn kiệt, thu nhập sẽ giảm, hoặc phát triển kinh tế không chú ý đến việc bảo vệ môi trường, con người không được sống trong môi trường trong sạch thì CLCS sẽ bị giảm Do vậy, để nâng cao CLCS cần chú ý đến phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường, tạo điều kiện tăng trưởng, phát triển kinh tế liên tục gắn với nâng cao CLCS Vì vậy, khi nghiên cứu CLCS cần xem môi trường trong sạch, có thể khai thác, sử dụng lâu bền là bộ phận quan trọng để nâng cao CLCS

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thống kê

Các số liệu CLCS được thu thập từ các cơ quan ban ngành từ Trung ương đến địa phương như: Niên giám thống kê, tư liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc, cục Thống kê, báo cáo của UBND tỉnh Bình Thuận, Sở Lao động - Thương binh Xã hội và thống kê từ các phiếu điều tra xã hội học, … từ đó nhóm tác giả phân loại, thống kê theo các tiêu chí CLCS

5.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Trên cơ sở các nguồn tư liệu, nhóm tác giả phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến CLCS dân

cư các tỉnh DHNTB và Bình Thuận Đồng thời so sánh các chỉ tiêu CLCS Việt Nam với một số nước trên thế giới, so sánh CLCS dân cư giữa các vùng, giữa vùng DHNTB với các vùng và CLCS dân cư Bình Thuận với cả nước và một số tỉnh để thấy được nét tương đồng và di biệt giữa các vùng, các tỉnh với nhau, phân tích nguyên nhân và đề ra giải pháp chung cho vùng, giải pháp riêng cho tỉnh Bình Thuận

Trang 12

5.2.3 Phương pháp thực địa, điều tra xã hội học

Điều tra thực địa nhằm kiểm chứng các số liệu thống kê, đảm bảo tính xác thực của số liệu về CLCS ở địa bàn nghiên cứu CLCS dân cư được thể hiện qua nhiều mặt vật chất và tinh thần, qua thực địa nhóm nghiên cứu có nhận định tổng hợp, chính xác hơn về CLCS Điều tra xã hội học và phỏng vấn các nhà quản lí, lãnh đạo các ban ngành và dân cư địa phương để thấy được tâm tư nguyện vọng, phương hướng phát triển kinh tế, dự án và các giải pháp nâng cao CLCS dân cư

5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Bản đồ là phương tiện ban đầu cho nhóm nghiên cứu đánh giá khái quát về các nguồn lực phát triển KT - XH và các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của dân cư Đồng thời, bản đồ cũng là phương tiện thể hiện sinh động kết quả nghiên cứu sự phát triển và phân hóa CLCS Biểu đồ dùng để thể hiện các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu về CLCS các chỉ tiêu CLCS thể hiện bằng biểu đồ dễ dàng so sánh, phân

tích mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành CLCS, giữa các địa phương

5.2.5 Hệ thống thông tin Địa lí GIS và MapInfo

Sử dụng hệ thống thông tin đia lí chồng xếp các lớp thông tin, cho phép tổng hợp các yếu tố tạo thành CLCS dân cư Sử dụng phần mềm MapInfo cho phép thành lập bản đồ CLCS dân cư một cách sinh động, các tiêu chí đánh giá CLCS phân hóa theo vùng lãnh thổ được thể hiện rõ nét trên bản đồ

Trang 13

CLCS không chỉ là mức sống của người dân về phương diện vật chất mà CLCS còn thể hiện sự cảm nhận hạnh phúc của một cá nhân hay nhóm dân cư như : được sống trong môi trường tự nhiên và môi trường xã hội lành mạnh CLCS thực chất không chỉ là một khái niệm hữu hình, bởi vậy khó có thể tính toán cụ thể một cách chính xác mọi tiêu chí được Tuy nhiên, một số tiêu chí về mức sống có thể định lượng khá rõ ràng, các tiêu chí về đời sống tinh thần có thể đo bằng các chỉ số định tính tương đối

CLCS gồm có hai thành phần chính, trước hết xét về khía cạnh vật chất bao gồm thu nhập, lương thực, thực phẩm và y tế - giáo dục Mặt khác, tinh thần của con người như sự yên vui, an toàn sống trong môi trường trong lành Nghiên cứu CLCS dân cư đặc biệt quan trọng nhằm tìm cách nâng cao CLCS cho con người

Chất lượng cuộc sống1:

“Chất lượng cuộc sống được hiểu là sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản của con người, CLCS được thể hiện qua hai mặt : lối sống và mức sống”

- Mức sống là trình độ sinh hoạt vật chất của con người phản ánh trình độ đạt được về mặt SX và

là phương tiện để đánh giá CLCS

- Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, giai cấp,

nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT - XH nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống : trong lao động, hưởng thụ, trong quan hệ, giữa người với người trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa

LHQ đưa ra chỉ số phát triển con người Human Development Index (HDI) là tiêu chí chính để đánh giá CLCS của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân đầu người, thành tựu y tế xã hội và trình độ văn hóa, giáo dục Tổng hợp lại là chỉ số HDI có giới hạn trong khoảng từ 0,00 đến 1 Nước nào có HDI lớn hơn chứng tỏ sự phát triển con người cao hơn Chỉ số HDI sẽ thể hiện toàn diện

và đầy đủ hơn về sự phát triển, trình độ văn minh của một quốc gia, trên cơ sở đó cho phép nhìn nhận các nước giàu, nghèo một cách chính xác và khách quan hơn

Khái niệm mức sống chủ yếu nói lên khía cạnh số lượng vật chất của đời sống, khía cạnh kinh tế của phúc lợi con người còn lối sống lại bao hàm cả đặc trưng chất lượng của hoạt động sống của con

1

Theo giáo sư Vũ Khiêu

Trang 14

người CLCS là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện sự đáp ứng nhu cầu nâng cao thể chất, trí tuệ, vật chất và

tinh thần cho nhân dân Do vậy, khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh thế nào là CLCS, nhưng có

thể định nghĩa một cách khái quát là: “CLCS là sự đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người trong hoạt động sống nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về vật chất và tinh thần”

Theo điều tra đánh giá của New Zeland trong các cuộc điều tra CLCS, họ đã chú ý đến các mặt được hưởng thụ : Sức khỏe và hạnh phúc; Tính cộng đồng; Môi trường không tội ác và sự an toàn; Sự giáo dục và công việc; Xây dựng môi trường; Văn hóa; Chế độ dân chủ

1.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Các chỉ tiêu đánh giá CLCS chính là chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người thể hiện mức độ đáp ứng các nhu cầu về vật chất cho con người như: lương thực - dinh dưỡng, mức độ đáp ứng nhu cầu nhà ở, điện nước; tuổi thọ trung bình của con người, mức độ đáp ứng y tế và sự hưởng thụ các mặt tinh thần khác như văn hóa, giáo dục, môi trường sống,…

1.2.1 Thu nhập bình quân đầu người

Tiêu chí chính đánh giá CLCS dân cư giữa các nước, các vùng là chỉ số thu nhập quốc dân tính bình quân theo người (GNP/ người hay GNI/ người) hoặc tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân theo người (GDP/ người) Tuy nhiên, chỉ số GDP/ người phản ánh mờ nhạt hơn hay có thể nói là chưa chính xác về CLCS dân cư Vì các nước đang phát triển có chỉ số GDP/ người lớn hơn GNP/ người, do các nước này thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nên phần giá trị rất lớn của các công ty đầu tư nước ngoài được tính gộp vào GDP Do vậy, nhiều khi phải tính đến chỉ số GNP (hay GNI/ người) sẽ cho thấy sự chênh lệch chính xác hơn về CLCS dân cư giữa các vùng

Mặt khác, CLCS của dân cư không chỉ khác biệt do ảnh hưởng đơn thuần của giá trị thu nhập theo đầu người, mà nó sẽ bị chi phối lại do giá cả sinh hoạt của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau Ngoài việc quy đổi giá trị GNP/ người hoặc GDP/ người ra USD theo tỉ giá hối đoái, LHQ đã đưa ra phương pháp tính giá trị thu nhập của dân cư các vùng khác nhau theo sức mua tương đương (PPP), để tránh những sai lệch về mức sống thực tế ở các vùng, các nước Cách tính này cho thấy một cách xác thực sự chênh lệch mức sống giữa các quốc gia khác nhau

Bảng 1.1 GDP bình quân đầu người của các nhóm nước năm 2005

(Theo giá thực tế) Tăng dân số Tổng GDP % GDP so với

thế giới

GDP / người

Nhóm nước

% (tỉ USD)

2 Thu nhập trung bình 1,4 8.535,1 19,2% 4.155

Trang 15

3 Thu nhập thấp 2,3 1.391,4 3,1 % 1142

Nguồn: Niên giám thống kê 2006 và Ngân hàng Thế giới

Sự phân hóa GNP/người và GDP/ người rất khác nhau giữa các nước khác nhau tạo nên khoảng cách giữa nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo; sự khác biệt về các chỉ số gia tăng dân số và tăng kinh tế liên quan chặt chẽ với thu nhập giữa các nhóm dân cư các vùng, các nước Đó là nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo trong các nhóm dân cư và giữa các vùng trong một nước Sự chênh lệch về thu nhập dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt nhất giữa khu vực nông thôn và thành thị Theo WB ranh giới nghèo khổ là những người có thu nhập bình quân hàng năm dưới 1 USD/ngày Tuy nhiên, giữa các vùng và các quốc gia khác nhau chỉ số này có sự thay đổi Ví dụ người nghèo khổ

ở Srilanca thu nhập là 27 USD/ người/ tháng, ở Bănglađét là 11 USD/ người/ tháng, ở Philippin là 85 USD/ người/ tháng Đến năm 2007, đường ranh giới nghèo theo thu nhập bình quân đầu người được tính dưới 2 USD/ ngày

Thu nhập của dân cư theo nhóm nước rất khác biệt nhau, khoảng cách về thu nhập GDP/ người theo PPP giữa dân cư nhóm nước giàu và nước nghèo rất lớn, năm 2006 là 13,07 lần, theo giá trị thực

tế là 56,98 lần Trong khi tốc độ tăng dân số của nhóm nước thu nhập thấp lại cao hơn tộc độ tăng của

nhóm thu nhập cao tới 3,28 lần (Bảng 1.1) Điều đó càng làm cho các nước chậm phát triển càng khó

khăn hơn trong việc nâng cao CLCS

Bảng 1.2 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP của một số

nước phát triển

Dân số GDP (tỉ USD) GDP (USD)

Nước người Triệu

GDP theo PPP

GDP theo giá thực tế bình quân/

người

GDP / người theo PPP

WB -2007

Hàng năm tăng GDP/ thời kỳ 1990-2005 (%) 1.Canada 33,2 0,9 113,8 1078 34.484 36713 2,2

Nguồn: *UN Wordl Population Prospects 2006 dân số TG tăng TB: 1,17% năm

Nhìn chung, mức sống dân cư được cải thiện khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Tuy nhiên, trong một số trường hợp mức sống sẽ không được cải thiện; Đặc biệt, đối với nhóm dân cư nghèo, nếu tăng trưởng kinh tế không gắn với phát triển bền vững và chú ý đến vấn đề giảm nghèo đói Trong thực tế,

Trang 16

có nhiều nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhưng mức sống không cao tương ứng vì giá các mặt hàng cao và việc chăm lo sức khỏe, phát triển y tế, đảm bảo phúc lợi xã hội cho dân cư còn thấp Ngược lại, có nước tuy có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn, đời sống vật chất còn khó khăn, nhưng lại quan tâm tới mục tiêu nâng cao trình độ dân trí, phát triển giáo dục, đáp ứng nhu cầu y tế, đảm bảo sức khỏe cho mọi thành viên thì chất lượng cuộc sống dân cư lại cao hơn Do vậy, LHQ đã dùng chỉ số phát triển con người, một chỉ số tổng hợp để phản ánh cơ bản CLCS trên toàn thế giới từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX đến nay

Bảng 1.3 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP

của một số nước đang phát triển ở châu Á

Dân số GDP (tỉ USD) GDP (USD) Nước Triệu

người (2008)

Tăng DS

% năm (2006)

GDP theo giá thực tế

GDP theo PPP

Giá thực tế bình quân/người

GDP/

người theo PPP

Hàng năm tăng GDP/

thời kỳ 1990-2005 (%)

Nguồn: Ngân hàng Thế giới 2006

Các kết quả tính toán các tiêu chí HDI cho thấy CLCS dân cư thế giới không ngừng được cải thiện Tuổi thọ trung bình của dân cư Thế giới luôn tăng lên (năm 2005 là 69), tỉ lệ biết chữ của người lớn và tỉ lệ nhập học các cấp cũng được tăng lên rõ rệt, GDP bình quân đầu người được cải thiện với

mức tăng trung bình năm 1%

Chỉ số HDI của một số nước giàu có thu nhập cao nhưng thứ hạng theo HDI thấp hơn vị trí GDP

do chưa đầu tư cho y tế, giáo dục hoặc giá cả đắt đỏ Ngược lại, một số nước thu nhập thấp hơn, nhưng lại có biện pháp, chính sách tích cực quan tâm đến y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cộng đồng nên thứ hạng theo chỉ số HDI, vị trí nước này tăng lên Trong số 177 quốc gia cung cấp số liệu để xây dựng HDI cho năm 2007, 70 quốc gia xếp hạng HDI cao với giá trị từ 0,800 đến 0,944; 85 quốc gia trong đó có Việt Nam được xếp hạng HDI trung bình với giá trị từ 0,501 đến 0,799 và 22 quốc gia xếp hạng HDI thấp2

Chênh lệch HDI giữa các quốc gia trong phạm vi một khu vực cũng đáng kể, khu vực Đông Nam

Á, giá trị HDI cao nhất thuộc về Singapore, thấp nhất là Lào Có điều cần chú ý là mối quan hệ giữa các chỉ số thành phần tạo nên giá trị HDI ở mỗi quốc gia rất khác nhau Vì vậy, có những nước HDI

2

Năm 2001 : 55 nước có chỉ số HDI cao, 88 nước HDI trung bình và 34 nước được xếp hạng HDI thấp

Trang 17

như nhau song mức thu nhập lại không giống nhau Có những nước thu nhập bình quân đầu người như

nhau nhưng giá trị HDI lại khác nhau

Bảng 1.4 So sánh mức thu nhập và chỉ số HDI giữa các quốc gia năm 2007

Côoet

Croatia

0.891 0.846

Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương đã tăng liên tục qua các năm: năm 1995 mới đạt 1.236 USD, năm 2003 đạt khoảng 2.493 USD, năm 2004 đạt khoảng 2.644 USD Theo Báo cáo phát triển con người năm 2007 do UNDP công bố GDP/người theo sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam đạt 3.071 USD xếp thứ 122/177 nước Nhưng nếu theo HDI , báo cáo phát triển con người năm 2007 của UNDP thì Việt Nam xếp hạng 105 trên 177 nước theo chỉ

số HDI Xếp hạng của Việt Nam về HDI đã cao hơn xếp hạng về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương (xếp hạng HDI là 105/177 so với hạng GDP/ người theo PPP là 122/177

Bảng 1.5 So sánh mức thu nhập và thứ hạng HDI năm 2007

Nguồn: Báo cáo phát triển con người, 2007 của UNDP, WB và IMF

So với các nước ASEAN, chỉ số HDI năm 2007 của Việt Nam chỉ trên thứ hạng của

Indonesia hạng thứ 107, Lào hạng 130 và Campuchia hạng 131, Myanmar hạng 132, Đông Timor hạng

150, và xếp sau Philippines hạng 90, Thái Lan hạng 78, Malaysia hạng 63, Singapore hạng 25 Như vậy, với tốc độ tăng trưởng hiện nay của Việt Nam và Malaysia thì sau 35 năm nữa GDP/đầu người của Việt Nam mới đuổi kịp Malaysia về phương diện lí thuyết

LƯỢC ĐỒ CHỈ SỐ HDI CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI NĂM 2007

Trang 18

0,450–0,499 0,400–0,449 0,350–0,399 dưới 0,350 không có số liệu

Biểu đồ 1 GDP/người của Việt Nam so với một số nước trong khu vực

1.2.2 Lương thực và dinh dưỡng

Lương thực, thực phẩm là nhu cầu quan trọng thiết yếu hàng ngày của con người Nhu cầu về cung cấp năng lượng cũng thay đổi theo vùng, theo thời gian, theo độ tuổi, theo giới, theo nghề nghiệp (cường độ lao động),… Lương thực, thực phẩm là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức sống dân

cư Khả năng cung cấp lương thực, thực phẩm đủ đáp ứng nhu cầu năng lượng hàng ngày cho con người và việc đảm bảo cân đối giữa các hàm lượng chất đạm, chất béo, chất đường và các loại khoáng chất, vitamin trong bữa ăn là một chỉ số quan trọng đo lường mức sống - một mặt quan trọng của CLCS

Bảng 1.6 Lượng calori thực phẩm tính trung bình một người /ngày của 2 nhóm nước cao nhất và

10 nước có lượng Calori/ người thấp nhất 10 nước có lượng Calori/người cao nhất

Trang 19

Thứ hạng Tên nước Giá trị Thứ hạng Tên nước Giá trị

vậy, các nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á là các nước nghèo đói

1.2.3 Chăm sóc sức khỏe - Dịch vụ y tế

Sức khỏe của dân cư là điều kiện quan trọng để xã hội tồn tại và phát triển Chăm sóc sức khỏe

và đảm bảo dịch vụ y tế thể hiện sự quan tâm đến cộng đồng, là nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao CLCS dân cư của mỗi khu vực, mỗi quốc gia Theo WHO, chỉ tiêu sức khỏe - dịch vụ y tế gồm mức đầu tư ngân sách cho chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế tính theo tổng chi ngân sách hoặc GDP, chất lượng và số lượng y bác sĩ, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho khám chữa bệnh - chăm sóc sức khỏe, tuổi thọ bình quân của dân cư, tỉ suất tử vong nói chung Đặc biệt là tỉ suất chết của trẻ em, tỉ lệ dân số mắc các loại bệnh truyển nhiễm, bệnh xã hội, bệnh hiểm nghèo ở một quốc gia Người có thu nhập cao sẽ có điều kiện chăm sóc sức khỏe, nâng cao tuổi thọ và trình độ Có sức khỏe tốt sẽ có điều kiện để nâng cao trình độ học vấn và có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao CLCS, nâng cao tuổi thọ,…

Sức khỏe có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lao động, năng suất lao động của người dân Nếu không có sức khỏe tốt, sẽ dẫn tới năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, đồng thời chi phí cho bệnh tật nhiều và dẫn đến hiện tượng đói nghèo Để nâng cao dịch vụ y tế, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng thường phải tăng số lượng, chất lượng bác sĩ, nhân viên y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh, tăng số giường bệnh,… Vì vậy, các chỉ số bác sĩ / 10.000 dân hoặc số dân/ bác sĩ, số giường bệnh / 1000 dân hoặc số dân / 1 giường bệnh,… là tiêu chí để xác định mức độ đảm bảo y tế cho nhân dân

Bảng 1.7 Tình hình phát triển cơ sở y tế một số nước trên thế giới

3 Theo Tổ chức Y tế Thế giới ranh giới của nghèo đói là 2100

Trang 20

10 nước có tỉ lệ người tính trung trên 1 giường

Thứ hạng Tên nước

y tế và chăm sóc sức khỏe không theo kịp Chi cho y tế thấp chỉ có 1,7% so với GNP chỉ bằng 1/5 so với các nước có thu nhập cao

Ở các nước kém phát triển thu nhập chủ yếu chi cho ăn uống Tỉ lệ chi cho y tế, giáo dục, vui chơi giải trí ít Chất lượng khám chữa bệnh chưa đáp ứng kịp thời với nhu cầu thực tế Tỉ lệ bác sĩ/ 10.000 dân thấp Việc quan tâm đến các loại bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tại các nước này chưa được chú trọng, 3 nhóm bệnh phổ biến nhất là bệnh truyền nhiễm, bệnh hô hấp, bệnh do ký sinh trùng chiếm gần nửa số nguyên nhân tử vong Trong khi đó, ở những nước phát triển thì những bệnh này được kiểm soát khá tốt

Các cơ sở y tế thiếu trầm trọng ở nhóm nước nghèo ở châu Á, châu Phi như Ethiopia, Bănglađét, Apganistan, Ngược lại, các nước kinh tế phát triển cao như Nhật Bản, Đức và một số nước XHCN trước đây có chính sách phát triển xã hội tốt như Nga, Ucraine, Belarus, Mông cổ có số

cơ sở y tế và giường bệnh nhiều (Bảng 1.7) Tình hình này cũng có thể nhận thấy tương tự về số lượng

dân cư quá lớn tính trung bình trên 1 bác sĩ ở các nước nghèo như Malawi, Rwanda và số dân trung bình khá ít tính trung bình trên 1 bác sĩ ớ các nước giàu như Hoa Kì, Italy, Bỉ và một số nước XHCN :

Cuba, Nga , Belarus (Bảng 1.8)

Bảng 1.8 Số dân tính trung bình trên 1 bác sĩ của một số nước trên thế giới

Trang 21

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đảm bảo nhu cầu y tế khám và chữa bệnh cho nhân dân qua số

liệu thống kê (Bảng 1.9 và 1.10) cho thấy chỉ số tuổi thọ phản ánh rõ nét hơn mức sống nói riêng và CLCS

nói chung Nhưng nhìn chung, các nước nghèo mức độ đảm bảo y tế và tuổi thọ thấp hơn nhiều so với các nước kinh tế phát triển

*Tuổi thọ bình quân hay còn gọi là kỳ vọng sống

Trên thế giới do điều kiện sống ngày càng nâng cao, tuổi thọ trung bình trên toàn thế giới có xu hướng ngày càng tăng Qua nghiên cứu, người ta nhận thấy những nước có thu nhập cao thì tuổi thọ cũng cao Tuổi thọ bình quân của các nước có kinh tế phát triển luôn cao hơn các nước đang phát triển khoảng 2 - 4 tuổi, cao nhất là Nhật Bản 80, Canađa là 78 Tuổi thọ trung bình của các nước đang phát triển là 63 (nếu không kể đến Trung Quốc còn 61)

Bảng 1.9 Tuổi thọ trung bình của một số nước trên thế giới năm 2006

Nguồn: Thống kê dân số thế giới 2006

Trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn về tuổi thọ dân cư giữa các nước kinh tế phát triển (trung bình khoảng 80 tuổi) và các nước đang phát triển dao động từ 50 -70 tuổi, cá biệt có một số nước châu

Trang 22

Phi tuổi thọ của cư quá thấp, trung bình chỉ 34 - 40 tuổi: Lesotho 34,4 tuổi, Swaziland 32,6 tuổi Các nước kinh tế phát triển tuổi thọ cao, tỉ lệ người già cao, hiện tượng lão hóa phổ biến, nên thiếu hụt lực lượng lao động là khó tránh khỏi Đây là vấn đề mà các nước phát triển phải chú ý giải quyết

Ngược lại, các nước đang và kém phát triển dân số tăng nhanh, kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp và các điều kiện chăm sóc y tế không được đảm bảo, nên tuổi thọ thấp Một số nước có tuổi thọ thấp nhất thế giới chỉ bằng 1/2 lần tuổi thọ của các nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới

Tuổi thọ bình quân có mối liên hệ mật thiết với GDP/đầu người (Bảng 1.10)

Việt Nam là một trường hợp ngoại lệ, không theo quy luật trên, do chính sách xã hội chú trọng đến CLCS của dân cư nhất là vấn đề phát triển y tế và giáo dục Tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của Việt Nam tăng khá qua các năm: năm 1995 đạt 65,2, năm 1999 đạt 67,4; năm 2002 đạt 69, năm 2007 đạt 70,3; về đích trước 2 năm so với mục tiêu do Đại hội IX đề ra cho năm 2005 Chỉ số tuổi thọ bình quân của Việt Nam đạt 0,76, cao gấp 1,4 lần chỉ số GDP bình quân đầu người và cao hơn HDI, cao hơn mức của thế giới, của các nước đang phát triển và tương đương của các nước châu Á - Thái Bình Dương,

Bảng 1.10 Quan hệ giữa tuổi thọ trung bình với GDP/người

Nguồn: Việt Nam dân số và phát triển - Trung tâm dân số, lao động xã hội, UBDS - KHHGĐ

Tuổi thọ bình quân tăng và hiện đạt ở mức khá cao là kết quả của việc tăng lên của GDP bình quân đầu người, của công tác y tế và chăm sóc sức khỏe được cải thiện và thu được thành tựu đáng khích lệ : các tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tỉ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi, tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ, tỉ lệ xã có bác sĩ đã vượt mục tiêu đề ra cho năm 2005, thậm chí 2010; đã thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ uốn

ván sơ sinh, thanh toán bệnh phong, Nếu theo quy luật trên (Bảng 1.10), thì tuổi thọ bình quân của

nước ta sẽ là 55 tuổi vì GDP/người thấp hơn 600 USD Nhưng thực tế, mặc dù có thu nhập thấp nhưng tuổi thọ trung bình của Việt Nam lại cao hơn của thế giới 1 tuổi, cao hơn các nước đang phát triển tới 4 tuổi Ngoài ra, trên thế giới nhiều nước đang phát triển cũng có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, thu nhập bình quân cũng ngày càng cao Mức sống được nâng cao nên tuổi thọ trung bình được nâng cao đến năm 2006: ở Cuba 77,4 tuổi, ở Chilê 76,8 tuổi và Uruguay 76,3 tuổi

Sức khỏe của dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố : Trước hết, phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu về lương thực, dinh dưỡng cộng với điều kiện sống, môi trường, nhà ở, điện, nước, chăm sóc sức khỏe, chủng ngừa, thuốc chữa bệnh, bác sĩ,…Thỏa mãn được những yếu tố trên thì con người sẽ phát triển về thể chất, tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 23

1.2.4 Giáo dục

Giáo dục thể hiện trình độ học vấn, là chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức sống dân cư, mức độ phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia Trình độ học vấn cao là điều kiện quan trọng để con người phát triển toàn diện về mặt trí tuệ, góp phần vào sự phát triển của KT - XH và khoa học kỹ thuật Người dân có trình độ văn hóa cao và được đào tạo hợp lí có thể sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, tiếp thu KHKT, công nghệ từ các nước tiên tiến Qua đó, tạo thu nhập cao và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân

Thực tế, ở các nước nghèo, khoảng 2/3 số người trưởng thành bị mù chữ trong khi ở các nước phát triển, tỉ lệ này thường ít hơn 1% Các nước nghèo cần phát triển mạnh giáo dục nhưng lại gặp trở ngại lớn là ngân sách không đủ chi cho giáo dục: như chi phí cho đào tạo giáo viên, xây trường, in sách

và các thiết bị dạy học Ngoài ra sự thiếu giáo viên cũng cho thấy việc đào tạo không kịp với sự gia tăng quá nhanh của dân số Tỉ lệ giáo viên trên số học sinh trong độ tuổi đi học ở các nước phát triển thường lớn hơn 25 đến 35 lần so với các nước kém phát triển Ở Đan Mạch, vào giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, tỉ lệ này là 1/12, trong khi ở Burkina Faso là 1/270 Tỉ lệ này cũng có sự khác biệt ngay trong các nước được xem là có nền kinh tế phát triển Chẳng hạn giữa Qutar và Ả Rập Saudi, thì tỉ lệ giáo viên trên số dân trong độ tuổi đi học có sự chênh nhau rất rõ giữa 1/11 với 1/30 Tỉ lệ này ở Israel cũng cao hơn các nước giàu khác như Mỹ, Thụy Sĩ

Chỉ tiêu giáo dục của mỗi quốc gia được thể hiện ở ngân sách đầu tư cho giáo dục tính theo tổng chi ngân sách Theo đánh giá của LHQ, trình độ học vấn là một trong ba thành phần cơ bản có liên quan đến sự phát triển con người gồm: tỉ lệ người lớn biết chữ, số năm đến trường, tỉ lệ nhập học ở các cấp

- Tỉ lệ người lớn biết chữ: là tỉ lệ % số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc , biết viết

Bảng 1.11 Mức chi tiêu ngân sách cho y tế, giáo dục, quân sự ở

một số nước trên thế giới và Việt Nam

Trang 24

HDR của UNDP 2007

Chú ý: Trong các công bố chính thức của thế giới, Việt Nam không được ghi

- Tỉ lệ nhập học ở các cấp: tỉ lệ giữa số học sinh và dân số ở trong độ tuổi từng cấp học (mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học) Tỉ số này cho thấy mức độ phát triển giáo dục của từng cấp học

- Số năm đến trường: là số năm trung bình đến trường

Ngoài những chỉ tiêu chính trên còn có những chỉ tiêu khác như: số học sinh trung bình trong một lớp, chỉ tiêu số học sinh trung bình trên một giáo viên,…

Thông thường các nước kinh tế phát triển chú ý đầu tư cho giáo dục, còn các nước đang phát mức đầu

tư cho giáo dục còn rất hạn chế Sự chênh lệch rất lớn về giáo dục giữa các quốc gia, các quốc gia có tỉ người lớn biết chữ cao tới 92,5% như: Hàn Quốc, Singapore, 96% là Philippin, trong khi Ấn Độ chỉ 61% Chỉ số giáo dục của Việt Nam tăng cao do tỉ lệ nhập học các cấp: 88% nhập học Tiểu học và 69% nhập học Trung học cơ sở và phổ cập giáo dục PTTH Chỉ số giáo dục của Việt Nam cao hơn nhiều nước có chỉ số HDI hạng trên và cao hơn hẳn các nước có mức thu nhập bình quân đầu người theo PPP

Ở Singapore, vấn đề giáo dục được chú ý phát triển và tăng cường đầu tư, Thủ tướng Lí Quang

Diệu đã khẳng định “Thắng cuộc đua trong giáo dục sẽ thắng trong kinh tế”, quả thực giáo dục luôn

là một vấn đề hết sức quan trọng mà bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển theo kịp trình độ của thế giới đều cần phải chăm lo cho sự nghiệp giáo dục

Bảng 1.12 Một số chỉ tiêu chủ yếu về giáo dục Việt Nam và một số nước châu Á

Nước

Biết chữ người lớn

từ 15+ tuổi (%)

Biết chữ thanh niên 15-24 tuổi (%)

Tỉ lệ nhập học cấp 1 (%)

Tỉ lệ nhập học trung học (%)

Học xong lớp

5 (%)

Số sinh viên học các trường kỹ thuật, khoa học trong tổng sinh viên (%)

Nhà ở là vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, kể cả các nước giàu có, nhưng nó là vấn đề đặc

biệt nghiêm trọng đối với các nước đang phát triển Chẳng hạn TP Bombay ở Ấn Độ có khoảng 0,5

triệu người sống trong các căn hộ tồi tàn, rách nát, 100 nghìn người vô gia cư LHQ ước tính trên thế giới có khoảng 1 tỉ người không có nhà ở đúng nghĩa Đây là một vấn đề hết sức nan giải khi mà việc

Trang 25

đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh, khó kiểm soát Nhu cầu nhà ở được tính bằng diện tích

m2/người, chất lượng nhà được phân làm 3 loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm

Tình hình sử dụng điện, nước căn cứ trên tỉ lệ % dân cư có khả năng sử dụng điện và có khả

năng sử dụng nước sạch vào các mục đích ăn, uống, nấu nướng và vệ sinh cá nhân Giữa điện và nước sạch thì chỉ tiêu nước sạch được coi là quan trọng hơn vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu về sức khỏe và vệ sinh

Hiện nay, vấn đề nước cho sinh hoạt luôn là vấn đề quan tâm lớn đối với các nước, bởi khi mà kinh tế phát triển mạnh thì đi kèm với nó là mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường mà môi trường nước

là không thể tránh khỏi Qua khảo sát ở hạ lưu sông Chao Phaya (Thái Lan), lượng vi khuẩn côli hình que lên tới 705.000/1lít nước nên nước không thể dùng trong sinh hoạt được Hầu hết, các dòng sông ở các đô thị lớn đều bị ô nhiễm Nhiều người không được sử dụng nước sạch trong sinh hoạt Ngay cả dân cư đô thi Việt Nam cũng chỉ có khoảng 60% được sử dụng nước máy

1.2.6 Mức độ hưởng thụ văn hóa, tinh thần

Con người sống trong xã hội không chỉ cần đáp ứng những nhu cầu về vật chất, mà cần đáp ứng

cả các nhu cầu về tinh thần Nhu cầu hưởng thụ của con người về mặt văn hóa, tinh thần và được sống trong môi trường trong lành, an bình Nhu cầu về tinh thần của con người ngày càng đa dạng và phát triển theo thời gian và mang tính khác biệt theo không gian Tuy nhiên, có thể dùng tiêu chí chung để đánh giá mức độ hưởng thụ cao hay thấp Đó là những tiêu chí như: số thư viện, số đầu sách, số lần xem biểu diễn văn hóa nghệ thuật, số người tham gia tập luyện thể thao, các hoạt động đi nghỉ mát, du lịch… Đó chính là những tiêu chí cơ bản để có thể đánh giá văn hóa tinh thần của người dân

1.2.7 Môi trường sống Chất lượng cuộc sống của con người cao hay thấp còn không chỉ là có thu nhập cao, có học vấn

rộng và sống lâu, mà còn thể hiện cuộc sống con người sống có hạnh phúc, vui vẻ trong môi trường sống an toàn, lành mạnh, trong lành hay không Để con người có thể hưởng thụ những thành quả lao động, có cơ hội nâng cao mức sống được làm việc trong xã hội an lành, cảm giác an toàn thoải mái, trong môi trường tự nhiên trong lành, sạch sẽ, không ô nhiễm,…

Con người được sống trong môi trường tốt được xã hội chăm lo tạo điều kiện vật chất, tinh thần,

họ sẽ an tâm làm việc, cống hiến trong xã hội và tạo điều kiện cho xã hội phát triển Như vậy, CLCS cần được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau trong tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống vật chất tinh thần ngày càng cao cho các thành viên trong xã hội

* Nhận định về mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư.

Các chỉ tiêu của CLCS có một sự tác động qua lại với nhau, Chỉ tiêu về lương thực thực phẩm, dinh dưỡng được đảm bảo đầy đủ là yếu tố tiền đề cho việc đảm bảo sức khỏe tốt cho dân cư Dân cư

có sức khỏe tốt là tiền đề cho việc nâng cao dân trí, nâng cao tuổi thọ,… Phần lớn các nước phát triển

Trang 26

có khả năng đảm bảo tốt các chỉ tiêu vật chất thì cũng có khả năng đảm bảo tốt đời sống tinh thần và tạo môi trường sống tốt cho dân cư

Tuy nhiên, trong thực tế, có nhiều trường hợp vẫn có sự không đồng nhất giữa thu nhập GDP/ người ở mức cao với chỉ số HDI không cao lắm Do vậy, cần phải chú ý nâng cao mức sống vật chất đồng thời với việc chú ý đến nhu cầu vui chơi, giải trí, học hành, nâng cao đời sống tinh thần cho con người Các tiêu chí vật chất sẽ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con người và tạo ra lối sông riêng cho công đồng dân cư

Chất lượng cuộc sống dân cư bao gồm tổng thể các chỉ tiêu trong mối quan hệ hữu cơ với nhau tạo ra một tổng thể chất lượng cuộc sống dân cư Nên khi nghiên cứu chất lượng dân cư cần phải đánh giá một cách tổng thể tránh phiến diện, chủ quan dẫn đến nhận định sai và đưa ra những giải pháp không đúng Chính vì vậy, cần phân tích chính xác mối quan hệ giữa các bộ phận với nhau, nên cẩn

thận khi đưa ra những biện pháp cụ thể

Phạm Thị Xuân Thọ - Bùi Vũ Thanh Nhật

Trang 27

CHƯƠNG II CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có đường giao thông quan trọng như QL 1A, đường sắt Bắc – Nam và các QL Đông – Tây nối với Tây Nguyên và Nam Lào, đông bắc Thái Lan, đông bắc Campuchia Trong vùng có nhiều địa điểm thuận lợi để xây dựng cảng nước sâu (Liên Chiểu, Tiên Sa, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh), gần đường hàng hải quốc tế, cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên Trong tương lai, vùng này có nhiều cửa khẩu quan trọng của hệ thống đường Xuyên Á, thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ về mọi mặt với các nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới thông qua hệ thống đường biển, phát triển các ngành kinh tế biển khác như nuôi trồng và đánh bắt hải sản, làm muối, khai thác cát thủy tinh, khai thác khoáng sản biển (Titan), mở ra khả năng to lớn hơn cho Duyên hải Nam Trung Bộ

Với vị trí địa lí có tính chất trung gian và bản lề như vậy, Duyên hải Nam Trung Bộ có ý nghĩa chiến lược về giao lưu kinh tế Bắc – Nam và đặc biệt là Đông – Tây, quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên, với các nước Tiểu vùng sông Mê Kông

5 Ninh thuận : 3363,1 km 2 , Dân số :567,9 nghìn người, Bình Thuận: 7836,9 km 2 Dân số 1163,0 nghìn người Dân số 6 tỉnh còn lại là 7131,4 nghìn người và diện tích 33166,1 km2

Trang 28

 Địa hình

Về mặt địa hình, phía tây của vùng là dãy Trường Sơn Nam, phía Bắc của vùng có những khối núi đâm thẳng ra tận bờ biển, phía Nam địa hình có phần thoải hơn và có những đồng bằng hẹp ven biển Phía đông, đồng bằng đan xen giữa đồi núi lại có những tài nguyên dưới lòng đất và trên mặt đất Một số dãy núi sát biển hình thành những cảng, thuận lợi cho việc phát triển giao thông vận tải với các vùng trong nước và xuất khẩu

Ngoài thuận lợi, DHNTB có địa hình phức tạp, chia cắt lớn, hẹp ngang và lại kéo dài Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi, sườn phía Đông hướng ra biển địa hình dốc lớn, đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia cắt, sông suối dốc, chảy xiết, thường gây lũ lụt bất ngờ ảnh hưởng đến đời sống và SX của dân cư

 Khí hậu

Vùng DHNTB, có tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa; phía nam vùng này có tính chất khí hậu á xích đạo, lượng bức xạ cao, biên độ dao động nhiệt độ thấp Tổng nhiệt lượng trong năm lớn Lượng mưa nhìn chung tương đối thấp, trung bình hàng năm khoảng 1200 mm / năm, trong vùng có Ninh Thuận, Bình Thuận lượng mưa thấp nhất nước, trung bình 700 mm / năm Cát, nước mặn thường xuyên xâm lấn vào đất liền do tác dụng của thủy triều và gió bão… Đây cũng là vùng hàng năm thường bị bão, lũ lụt tàn phá gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đời sống và sản xuất Do khí hậu không thuận khô hạn nên một số địa phương chỉ trồng được một vụ lúa một năm, nên đời sống dân cư còn nhiều khó khăn cả về lương thực, thực phẩm và thiếu cả nước tưới tiêu lẫn nước sinh hoạt ăn uống trong mùa khô

 Thủy văn

Vùng DHNTB có hệ thống sông suối ngắn và dốc Các sông chính trong vùng là: sông Thu Bồn, sông Tam Kì ở Quảng Nam, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, sông Ba ở Phú Yên, sông Cái ở Khánh Hòa,… Nước ngầm có trữ lượng không lớn, phân bố không đều, tập trung nhiều ở phía Bắc Hiện nay nước ngầm đang được khai thác quy mô nhỏ phục vụ cho sinh hoạt và SX công nghiệp, một số nguồn nước suối, nước khoáng, nước nóng được khai thác với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng (nước khoáng Nha Trang, nước khoáng Hội Vân - Phù Cát – Bình Định và SX nước khoáng giải khát đóng chai như nước khoáng Vĩnh Hảo – Bình Thuận Sông ngòi của vùng cũng là nguồn dự trữ thủy năng cho phát triển thủy điện như : Thủy điện sông Hinh – Phú Yên, thủy điện sông Côn – Bình Định

Tài nguyên nước mặn, nước lợ là một trong những thế mạnh của vùng, có giá trị cho việc nuôi trồng thủy sản và công nghiệp muối Vùng có 670 km đường bờ biển, 23 cửa sông, nhiều hải sản, bãi tắm và cảng nước sâu thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển Vùng biển DHNTB có nhiều bãi biển đẹp thuận lợi cho du lịch phát triển như: Cảnh Dương, Nha Trang, Ninh Chữ (Ninh Thuận),… Ngoài

ra, vùng còn có nhiều bãi bồi đầm phá, có khả năng nuôi trồng hải sản rất lớn Các cánh đồng muối :

Sa Huỳnh, Ninh Chữ, Cà Ná có khả năng khai thác lớn

 Đất đai – Động thực vật

Trang 29

Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu dọc các lưu vực sông, phần lớn được sử dụng vào mục đích nông nghiệp Đất cát hoặc cát pha ven biển, chất lượng kém, chỉ trồng được một số loại cây hoa màu, trồng rừng phi lao, bạch đàn chống gió và cát bay ven biển Nhìn chung, đất vùng DHNTB có độ phì thấp Đất nghèo chất dinh dưỡng, lại có địa hình dốc nên nhiều chất dinh dưỡng bị cuốn trôi ra biển Diện tích đất NN theo đầu người thấp Đất chưa sử dụng còn lớn, đất trống, đồi trọc nhiều cần được trồng rừng phát triển lâm nghiệp Đây là tiềm năng lớn cần được khai thác trong tương lai

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng là một trong những vùng có thế mạnh về rừng Rừng có trữ lượng lớn, song hiện đang bị tàn phá, cạn kiệt Đó là việc khai thác và chế biến các loại gỗ, kết hợp kinh doanh một số đặc sản như nhựa thông, mây, lá buông, song mây, trầm kì, các loại dược liệu quý

và trồng rừng phòng hộ ven biển Về động vật rừng, vùng có nhiều loại đặc trưng như voi, bò rừng, cheo cheo, sóc chân vàng, voọc ngũ sắc, voọc xanh bạc, gà tiền mặt đỏ, gà lôi hồng tía, trăn gấm Do khí hậu đa dạng nên động vật có thành phần phong phú và cũng có những dạng đặc hữu Ở đây có đồng bằng, đầm bãi ven biển nên khu hệ chim nước, chim di cư, chim biển, các loại bò sát, nhất là họ rắn biển, họ rùa, họ vích phong phú

Nguồn động thực vật biển của vùng DHNTB cũng rất phong phú và đa dạng Vùng biển ở đây có nhiều loài cá có giá trị Ở tầng nổi có cá trích, cá nục, cá mòi, cá nhồng; ở tầng trung có cá thu (độ sâu 21m), cá chim và ở tầng đáy có cá hồng, cá phèn, cá mối, cá mập, tôm hùm Trong các đầm phá ven bờ, ngoài những thuận lợi cho việc sinh sản và phát triển của tôm, cá, đây còn là điều kiện tốt cho việc nuôi trồng các loại rong biển

 Khoáng sản

Khoáng sản vùng DHNTB khá phong phú Các loại khoáng sản chủ yếu là graphít, thạch anh, vàng, chì, kẽm, các loại đá ngọc, đá quý, đá ốp lát, đá xây dựng, nhưng trữ lượng không lớn, khó khăn cho việc đầu tư, khai thác công nghiệp

Đặc biệt, vùng này có mỏ cát ở Cam Ranh với trữ lượng lớn, chất lượng tốt, có ý nghĩa kinh tế Cát ở đây được sử dụng để SX và tinh luyện các loại thủy tinh đặc biệt, sử dụng cho công nghiệp và xây dựng Ngoài ra, dọc ven biển còn có ti tan với trữ lượng khá lớn, có giá trị công nghiệp

2.1.2 Các nhân tố KT - XH ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên

hải Nam Trung Bộ

 Dân cư

Năm 2006 dân số đô thị vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là 2,720 triệu người chiếm 27,58% dân

số toàn vùng Mật độ dân số 222 người /km2, thấp hơn mật độ trung bình của cả nước Như vậy, dân cư của vùng vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn Điều này cũng sẽ có những tác động nhất định đến chất lượng cuộc sống dân cư

Vùng DHNTB cũng là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, đặc biệt là khu vực phía Tây của vùng Đây là những vùng núi, điều kiện giao thông và SX còn khó khăn, chính vì vậy mà kinh

Trang 30

tế của đồng bào dân tộc ở khu vực này còn chậm phát triển, đời sống còn khó khăn Trong toàn vùng, dân tộc Chăm sinh sống chủ yếu dọc các vùng ven biển và một số khu vực khác thuận lợi hơn nên đời sống của họ có phần khá hơn, người Chăm sinh sống chủ yếu ở 2 tỉnh: Ninh Thuận và Bình Thuận

Vùng DHNTB có khoảng 88% người dân biết chữ, lao động của vùng khá dồi dào và trình độ tay nghề cũng khá cao

 Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật của vùng DHNTB khá phát triển Vùng có các tuyến đường bộ theo hướng Bắc – Nam và Đông – Tây có chất lượng, được đầu tư xây dựng trong những năm qua Do lãnh thổ dài và hẹp nên trục đường QL 1A, đường sắt Bắc – Nam và các thành phố, thị xã nằm dọc theo các trục đường này tạo thành trục kinh tế xương sống của vùng QL 1A và đường sắt Bắc – Nam đã và đang được nâng cấp, hiện đại hoá, giúp đẩy mạnh sự giao lưu giữa DHNTB với các cực phát triển của cả nước là Đồng bằng sông Hồng (ở phía Bắc) và Đông Nam Bộ (ở phía Nam) Hệ thống sân bay của vùng đã được khôi phục, hiện đại, gồm sân bay quốc tế Đà Nẵng và các sân bay trong nước Vinh, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang DHNTB là khu vực thuận lợi nhất của nước ta để xây dựng các cảng nước sâu Đây là lợi thế của vùng để phát triển nền kinh tế mở Hiện nay, hệ thống cảng biển trong vùng đang được nâng cấp, trong đó có cảng quốc tế Đà Nẵng, các cảng Quy Nhơn, Phú Yên, Nha Trang Các cảng nước sâu đã, đang và sẽ xây dựng là Tiên Sa (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định), Vũng Rô (Phú Yên), Dung Quất (Quảng Ngãi),…

Dự án đường Hồ Chí Minh nhằm hiện đại hoá các tuyến đường xuyên Trường Sơn, nối với đường

QL 1A bằng các tuyến đường ngang theo hướng Đông – Tây, trong đó có các tuyến đường sang Lào, lên Tây Nguyên, nối các vùng khai thác với các cơ sở chế biến và các cảng xuất khẩu, làm cho sự phân công lao động theo lãnh thổ được phát triển ngày một hoàn chỉnh hơn Bên cạnh đó, hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước cũng như là các cơ sở vật chất kĩ thuật như nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở chế biến, nhà nghỉ, khách sạn được đầu tư xây dựng và nâng cấp trong những năm qua

 Đường lối chính sách phát triển KT - XH

Trong quá trình phát triển KT - XH thì đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là rất quan trọng, là định hướng cho quá trình phát triển KT - XH của các vùng kinh tế cũng như các địa phương trong cả nước Vùng tập trung đẩy mạnh khai thác các lợi thế do biển mang lại cũng như chú trọng đến việc khai thác các tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây Trong những năm vừa qua, đường lối – chính sách của Nhà nước và của các địa phương trong vùng tập trung thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhất là phát triển những ngành thế mạnh nhằm tạo ra một sức bật lớn cho sự phát triển KT - XH của vùng Bên cạnh đó, vùng cũng rất chú trọng đến việc thu hút nguồn lao động có chất lượng từ các nơi

về đây để xây dựng, phát triển kinh tế vùng DHNTB

 Kinh tế

Trang 31

Kinh tế của vùng đã có những bước phát triển mạnh trong những năm vừa qua Trong vùng đã nổi lên

2 cực tăng trưởng, phát triển mạnh là: Đà Nẵng ở phía Bắc và Khánh Hòa ở phía Nam, bên cạnh đó còn có Bình Định với Quy Nhơn là một trung tâm kinh tế phát triển mạnh trong thời gian gần đây Đặc biệt, trong vùng, hiện nay đang xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) và Khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam) Trong tương lai với sự phát triển mạnh của các trung tâm này cũng như các ngành công nghiệp mũi nhọn sẽ tạo ra những đóng góp đáng kể cho GDP trong toàn vùng cũng như cả nước và sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ở vùng này trong những năm tới

Cơ cấu kinh tế của vùng đang chuyển dịch theo hướng tích cực với việc tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông – lâm – ngư nghiệp Mặc dù, hiện nay tỉ trọng ngành

CN có tăng nhưng so với tiềm năng và yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước thì vùng còn phát triển kinh tế chậm chạp, đặc biệt ngành CN chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu giá trị SXCN của cả nước

Vùng DHNTB có thế mạnh về các ngành CN chế biến nông – lâm – thủy sản, ngành CN khai thác,

SX vật liệu xây dựng, các ngành CN dệt may đòi hỏi nhiều lao động Thêm vào đó, ngành du lịch của vùng cũng phát triển rất mạnh với trung tâm là Nha Trang, Đà Nẵng và trung tâm mới nổi lên gần đây là Phan Thiết Đây là những thuận lợi cho việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trong vùng

2.1.3 Hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

 Tỉ lệ hộ nghèo vùng Duyên hải Nam Trung Bộ so với cả nước

Bảng 2.1 Tỉ lệ hộ nghèo theo vùng

(Đơn vị: %)

Theo chuẩn nghèo LTTP

2004

Theo chuẩn nghèo của CP đã qui về giá tháng 1/2004

Theo chuẩn nghèo của CP (giá hiện hành)

Bảng 2.2 Doanh thu trung bình 1 hộ SX kinh doanh phi nông,

Trang 32

lâm nghiệp, thuỷ sản theo vùng

Vứt ở khu vực gần nhà

Bảng 2.4 Tỉ lệ hộ dùng điện chia theo các vùng

1 Đồng bằng sông Hồng 100,00 99,51 0,15 0,28 0,06

4 Bắc Trung bộ 100,00 97,02 0,22 2,09 0,67

Trang 33

5 Duyên hải Nam Trung Bộ 100,00 97,29 0,51 2,03 0,17

7 Đông Nam Bộ 100,00 96,33 1,54 1,89 0,24

8 Đồng bằng sông Cửu Long 100,00 85,66 3,09 11,01 0,24

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2005

Về tình hình sử dụng điện, các số liệu thống kê (Bảng 2.4) cũng chỉ ra rằng vùng DHNTB có tỉ

lệ số hộ dân được sử dụng nguồn điện thắp sáng, nguồn nước ăn phục vụ cho sinh hoạt và đời sống và biện pháp xử lí rác thải hợp vệ sinh là khá cao Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng trong việc nâng cao CLCS cho người dân trong vùng Tỉ lệ dùng điện của vùng DHNTB vào loại cao nhất cả nước, chỉ

đứmg sau ĐBSH Như vậy, cơ sở năng lượng đảm bảo khá tốt cho dân cư của vùng

Các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ được đảm bảo mức độ y tế khá cao, cao hơn mức trung bình của toàn quốc về chỉ tiêu số bác sĩ trên 1 vạn dân, cũng như số lượng y sĩ, y tá và nữ hộ sinh Trong vùng có Đà Nẵng và Khánh Hòa, Phú Yên là các tỉnh thành có mức bình quân số cán bộ y tế trên 1 vạn dân cao Đây cũng là những vùng có sự phát triển kinh tế cao trong vùng

Tóm lại : Chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ khá cao so với cả nước

về các chỉ số vật chất và tinh thần Do các tỉnh này có nhiều lợi thế trong phát triển các ngành kinh tế công nghiệp, NN và du lịch, dịch vụ, nhất là các ngành kinh tế biển Đồng thời các tỉnh DHNTB cũng đang

được Nhà nước chú trong đầu tư phát triển KT - XH nhằm nâng cao mức sống, giảm di dân tự do nông

thôn đô thị

Bảng 2.5 Tỉ lệ hộ chia theo nguồn nước sử dụng của các vùng năm 2006

Đơn vị :%

Nguồn nước Vùng Nước

máy riêng

Nước máy công cộng

Nước mưa

Giếng khoan

có bơm

Giếng khơi, giếng xây

Suối

có lọc

Giếng đất

Nước mưa

Trang 34

Bác sĩ

Bác sĩ / vạn dân Y sĩ

YSĩ / vạn dân Y tá

Y tá / vạn dân

Nữ hộ sinh

Nữ HS/ vạn dân

Ninh Thuận 276 4.9 373 6.6 195 3.4 126 2.2 Bình Thuận 552 4.7 831 7.1 533 4.6 305 2.6

Nguồn: Xử lí của tác giả từ Niên giám thống kê 2007

Trang 35

Phạm Thị Xuân Thọ - Bùi Vũ Thanh Nhật

Trang 37

2.2 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BÌNH THUẬN

2.2.1 Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Thuận

2.2.1.1 Vị trí địa lí

Bình Thuận là tỉnh nằm ở cực nam Trung Bộ có hệ tọa độ địa lí từ 100 33’42’’ đến 11033’18’’ vĩ

độ Bắc và từ 107023’41’’ đến 108052’42’’ kinh độ Đông Tỉnh nằm trong khu vực ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam Tỉnh Bình Thuận giáp Lâm Đồng và Ninh Thuận, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, Đông và Đông Nam giáp Biển Đông, bờ biển dài 192 km Ngoài khơi có đảo Phú Quý cách TP Phan Thiết 120 km Bình Thuận cách TP Hồ Chí Minh 200 km, cách TP Nha Trang 250 km,

có QL 1A, đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam đất nước; QL 28 nối liền TP Phan Thiết với các tỉnh nam Tây Nguyên; QL 55 nối liền với trung tâm dịch

vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu

Bảng 2.7 Diện tích và dân số tỉnh Bình Thuận năm 2006

Số phường, thị trấn

Diện tích (km 2 )

Dân số trung bình năm 2006 (người)

Mật độ dân số (người/km 2 )

Nguồn : Niên giám thống kê, Bình Thuận 2006

Với vị trí địa lí thuận lợi tạo mối quan hệ kinh tế với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận còn có điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên và cả nước Sức hút của các TP và trung tâm phát triển như TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh SX hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật Đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển kinh tế nhanh nhất là những lĩnh vực, những sản phẩm đặc thù như nguồn lợi biển để mở rộng liên kết, không bị tụt hậu so với khu vực và cả nước Tỉnh Bình Thuận có diện tích là 7.830 km2 với dân số 1.165.599 người (2006) Tỉnh có 10 đơn vị hành

chính, trung tâm hành chính là TP Phan Thiết Toàn tỉnh có 97 xã, 19 phường, 10 thị trấn (Bảng 2.7)

2.2.1.2 Địa hình

Phần lớn địa hình tỉnh Bình Thuận là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, phân hóa thành

4 dạng địa hình sau:

Trang 38

- Đồi cát và cồn cát ven biển, chủ yếu là những đồi lượn sóng chiếm khoảng 19% diện tích tự

nhiên, phân bố ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân; rộng nhất là ở Bắc Bình: dài khoảng 52 km, rộng

20 km Địa hình bờ biển Bình Thuận đẹp thơ mộng có nhiều cảnh quan đẹp như mũi Né, mũi Khe Gà, Suối Tiên, Hòn Rơm,… rất thuận lợi cho phát triển du lịch, tăng thu nhập nâng cao CLCS dân cư Bình Thuận

- Đồng bằng phù sa chiếm gần 10% diện tích tự nhiên, gồm: đồng bằng phù sa ven biển ở các

lưu vực từ sông Lòng Sông đến sông Dinh nhỏ hẹp độ cao từ 0 – 12 m Đồng bằng thung lũng sông La Ngà, độ cao từ 90 - 120 m

- Vùng đồi gò chiếm hơn 31% diện tích, độ cao 30 - 50 m kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây

Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh

- Vùng núi thấp chiếm hơn 40 % diện tích, đây là những dãy núi của khối Trường Sơn Nam

chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam từ phía bắc huyện Bắc Bình đến Đông Bắc huyện Đức Linh

Nhìn chung, địa hình tỉnh Bình Thuận có thể phát triển các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và du lịch Nhưng điều kiện tự nhiên Bình Thuận cũng như các tỉnh DHNTB không thuận lợi cho phát triển NN do diện tích đất phù sa ít, chủ yếu là đất cát pha, lại có độ cao tương đối lớn

2.2.1.3 Khí hậu

Bình Thuận nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất cả nước, nhiều nắng, gió không có mùa đông, nhiệt độ trung bình năm 26,50C - 27,50C, tổng nhiệt độ năm 6.8000c - 9.9000c lượng mưa trung bình 800 – 1600 mm/năm, thấp hơn trung bình cả nước Thuận lợi cho phơi sấy nông sản, hải sản và

SX muối, thuận lợi cho phát triển du lịch Vấn đề khô hạn là một trong những hạn chế trong phát triển

NN và sinh hoạt của tỉnh Bình Thuận cần đảm bảo thủy lợi để SX và sinh hoạt

2.2.1.4 Tài nguyên biển

Bình Thuận diện tích lãnh hải 52.000 km2 giàu hải sản; nhiều tiềm năng để phát triển nghề muối, du lịch và khai thác khoáng sản biển Tổng trữ lượng cá vùng biển ven bờ của Bình Thuận 220 -

240 nghìn tấn, khả năng khai thác 100 - 120 nghìn tấn/năm tập trung ở 3 ngư trường Phan Thiết, Hàm Tân, đảo Phú Quý, sản lượng mực 10 nghìn - 20.nghìn tấn, sò điệp trữ lượng 50 nghìn tấn, khả năng khai thác hàng năm 25 - 30 nghìn tấn, tập trung ở các bãi Lai Khê, Hòn Rơm, Cù Lao Câu, Phan Rí Cửa

Vùng ven biển Bình Thuận còn có nhiều khả năng nuôi trồng thủy sản, nghề làm muối và du lịch: toàn tỉnh có trên 3.000 ha mặt nước triều có thể đưa vào nuôi tôm, làm ruộng muối Trong đó, diện tích có khả năng nuôi tôm là 1.500 ha, tập trung ở Tuy Phong (575ha), Bắc Bình (50ha), Phan Thiết (115ha), Hàm Thuận Nam (360ha), Hàm Tân (340ha) Khả năng diện tích phát triển ruộng muối 2.000 ha tại Tuy Phong, Phan Thiết, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân Ngoài ra, còn có gần 1.000 ha mặt nước hồ, đầm và các công trình thủy lợi có khả năng nuôi cá nước ngọt

Trang 39

Bình Thuận bãi biển nước trong, cát trắng mịn như Phan Thiết - Mũi Né, Đồi Dương (Hàm Tân), Mũi Điện - Kê Gà (Hàm Thuận Nam) phong cảnh đẹp, thuận lợi để phát triển du lịch, tạo công

ăn việc làm, tăng thu nhập nâng cao CLCS dân cư

2.2.1.5 Tài nguyên đất

Diện tích tỉnh Bình Thuận là 783.047 ha, với các nhóm đất khác nhau:

- Đất cát, cồn cát và đất mặn phân bố dọc bờ biển từ nam Tuy Phong đến Hàm Tân, có thể phát

triển nông lâm kết hợp: trồng rừng, kết hợp trồng cây ăn quả và các loại hoa màu như dưa, đậu các loại… Trên đất mặn có thể làm muối hoặc nuôi tôm

- Đất phù sa phân bố ở các đồng bằng ven biển và thung lũng sông La Ngà Hầu hết diện tích

đất này đã được trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn quả…

- Đất xám có phân bố hầu hết trên địa bàn tỉnh có khả năng sử dụng vào nông, lâm nghiệp và sử

dụng để xây dựng các khu CN Trong đó, 85% diện tích có thể phát triển cây điều, cao su, cây ăn quả

và các loại cây có giá trị kinh tế cao

- Diện tích còn lại chủ yếu là nhóm đất đồi núi, đất đỏ vàng, đất nâu vùng bán khô hạn…Trên

các loại đất này có thể sử dụng vào các mục đích nông lâm nghiệp

- Trong quá trình khai thác sử dụng các loại đất ở Bình Thuận cần cải tạo và bảo vệ đất như: trồng rừng phòng hộ chống cát bay ven biển, cải tạo xây dựng đồng ruộng, bảo vệ nghiêm ngặt rừng đầu nguồn Xây dựng cơ cấu cây trồng và chế độ canh tác hợp lí theo không gian nhiều tầng phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái

Năm 2005, đất SX NN khoảng 283.950 ha, đất lâm nghiệp 393.840,18 ha; đất thổ cư, chuyên dùng 230.600 ha, đất chưa sử dụng 57.961,43 ha (7,4% tổng diện tích đất); trong đó đất có khả năng

mở rộng để phát triển NN thời kỳ 2006 - 2010 khoảng 37.000 ha, chủ yếu là đất có độ dốc trên 150, Khi khai hoang cần đầu tư đồng bộ, nước và thâm canh ngay từ đầu để sử dụng đất lâu bền và có hiệu quả

2.2.1.6 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 393.840,18 ha (2005), trong đó rừng tự nhiên là 345.497 ha Tổng trữ lượng gỗ khoảng 21 – 22 triệu m3 Rừng tự nhiên của Bình Thuận khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao: cẩm lai, giáng hương, gõ đỏ, sao đen, trắc,… Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng

gỗ lá rộng (23,76 triệu m3), rừng lá kim (334,4 ngàn m3), rừng hỗn giao và rừng đặc sản Trữ lượng rừng tự nhiên tập trung nhiều nhất ở Tánh Linh (32,1%) tiếp đến là Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam

Nhìn chung, tổng trữ lượng rừng còn khá lớn nhưng phần lớn ở trạng thái nghèo kiệt, rừng non cây nhỏ và chất lượng không cao Động vật rừng Bình Thuận rất phong phú với các loài thú quý hiếm như voi, cọp, nai, vượn, bò rừng… Rừng được khai thác và chế biến lâm sản, phát triển du lịch là nguồn sống của bộ phận khá lớn dân cư các huyện Tánh Linh, Bắc Bình, Đức Linh Tuy nhiên, do khai thác quá mức nên rừng đang có nguy cơ cạn kiệt, thú rừng bị săn bắn bừa bãi nên số lượng còn rất

ít hoặc không còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, gây ra gây lũ lụt Do vậy, Bình Thuận cần

Trang 40

khôi phục lại vốn rừng nhằm đảm bảo cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho một bộ phận dân

cư ven rừng đồng thời bảo vệ môi trường

2.2.1.7 Tài nguyên nước và thủy điện

Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính là: sông Lòng Sông, sông Lũy, sông Cái ở Phan Thiết, sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh và sông La Ngà Tổng diện tích lưu vực 9.880 km2 và chiều dài sông suối 663 km Nguồn nước mặt nước của tỉnh khoảng 5,4 tỉ m3/ năm, trong đó lượng dòng chảy từ bên ngoài đến 1,25 tỉ m3, riêng sông La Ngà chiếm 2,1 tỉ m3 Nguồn nước phân bố mất cân đối theo không gian và thời gian Lưu vực sông La Ngà thừa nước thường gây ngập úng; nhưng vùng Tuy Phong, Bắc Bình, ven biển (lưu vực sông Phan, sông Dinh) lại thiếu nước trầm trọng, có những nơi như Tuy Phong, Bắc Bình, có dấu hiệu tình trạng hoang mạc hóa Nguồn nước ngầm ít, bị nhiễm mặn, phèn rất ít có khả năng phục vụ nhu cầu SX, chỉ đáp ứng được phần nhỏ cho sinh họat và SX trên một

số vùng nhỏ thuộc Phan Thiết và sông La Ngà

Nguồn thủy năng khá lớn, tổng trữ năng lí thuyết khoảng 450.000 kw, tập trung chủ yếu trên sông La Ngà Riêng 4 bậc thủy điện La Ngà với công suất lắp máy 417.000kw, sản lượng điện dự kiến khai thác 1,8 tỉ kwh Khả năng khai thác nguồn thủy năng trên các lưu vực từ sông Dinh đến sông Lòng Sông rất nhỏ, chủ yếu là các công trình thủy điện nhỏ (15 công trình) với công suất lắp máy 1.900 kw

Tài nguyên nước ít gây khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu SX va2d9o7i2 sống Ở nhiều vùng người dân thiếu nước sinh hoạt, phải sử dụng những nguồn nước dơ hay phải mua nước sạch với rất đắt Điều này cũng gây ra những tác động lớn đến CLCS dân cư Nhưng hệ thống thủy điện: Hàm Thuận - Đa Mi, các công trình thủy lợi phục vụ NN như: hồ Sông Quao, hồ Cà Giây góp phần phát triển SX, nâng cao CLCS

2.2.1.8 Tài nguyên khoáng sản

Bình Thuận có gần 100 mỏ với 30 nhóm khoáng sản đa dạng như: vàng, chì, kẽm, nước khoáng Trong đó, nước khoáng và các khoáng sản (sét, đá xây dựng…) có giá trị thương mại và CN đang khai thác khá nhiều trong những năm gần đây:

+ Cát thủy tinh: có 17 điểm phân bố dọc vùng duyên hải từ Hàm Thuận đến Tuy Phong Hiện

nay, loại cát này đang được khai thác ở mỏ Hồng Liêm

+ Đá ốp lát và đá xây dựng: rất phong phú, chất lượng cao, đẹp dùng để ốp lát xuất khẩu và

nhu cầu trong nước Hiện tại, đang khai thác đá xây dựng ở mỏ Tà Zôn, Núi Nạng, Núi Đất, Tân Hà, Núi Nhọn Sản lượng năm 2000 đạt 346.000 m3

+ Sét gạch ngói được tập trung khai thác ở Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Đức Linh với sản

lượng 155 triệu viên (2000)

Ngày đăng: 04/06/2014, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thị Cành (chủ biên) 2001, Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp XĐGN trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn TPHCM, NXB Lao động xã hội, TPHCM. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Cành (chủ biên) 2001, Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp XĐGN trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn TPHCM
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
5. Thái thị Ngọc Dư, 2004, Giới và phát triển, 178 trang, Đại học mở bán công xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái thị Ngọc Dư, 2004, Giới và phát triển
6. FAO, Socio – Economic and Gender analysis Programme (SEAGA), 2004, Rural Households and Resourcess, a pocket guide for extension workers, 44 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: – Economic and Gender analysis Programme (SEAGA), 2004, "Rural Households and Resourcess, a pocket guide for extension workers
7. PGS. TS Phạm Xuân Hậu 1996, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, phần 2. ĐHSP. TP. HCM 8. Ngân hàng thế giới, 2007, Đưa vấn đề giới vào phát triển, 385 trang, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS. TS Phạm Xuân Hậu 1996, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam", phần 2. ĐHSP. TP. HCM 8. "Ngân hàng thế giới, 2007, Đưa vấn đề giới vào phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin
14. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức 2002, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam . NXB Giáo dục 15. Lê Thông 2005. , Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: NXB Giáo dục " 15. Lê Thông 2005. , Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục " 15. Lê Thông 2005.
16. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, Địa lý kinh tế xã hội đại cương. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, Địa lý kinh tế xã hội đại cương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
17. Nguyễn Minh Tuệ 1996, Dân số và sự phát triển kinh tế xã hội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Tuệ 1996, Dân số và sự phát triển kinh tế xã hội
18. Lê thị Nhâm Tuyết, 2005, Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên thềm thế kỷ XXI, 335 trang, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2005, Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên thềm thế kỷ XXI
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
4. Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, Niên giám Thống kê 1995-2005 Khác
9. Sở Công an tỉnh Bình Thuận 2004, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm Khác
10. Sở Lao động thương bình tỉnh Bình Thuận, Quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực tỉnh Bình Thuận 2003-2010 Khác
11. Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Bình Thuận, Công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình Thuận Khác
12. Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bình Thuận, Bình Thuận 10 năm hình thành và phát triển Khác
19. Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam dân số và phát triển, tăng trưởng dân số lao động xã hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. GDP bình quân đầu người của các nhóm nước năm 2005 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.1. GDP bình quân đầu người của các nhóm nước năm 2005 (Trang 14)
Bảng 1.2. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP của một số   nước phát triển - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.2. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP của một số nước phát triển (Trang 15)
Bảng 1.3. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP   của một số nước đang phát triển ở châu Á - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.3. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP của một số nước đang phát triển ở châu Á (Trang 16)
Bảng 1.6. Lượng calori thực phẩm tính trung bình một người /ngày của 2 nhóm nước cao nhất và - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.6. Lượng calori thực phẩm tính trung bình một người /ngày của 2 nhóm nước cao nhất và (Trang 18)
Bảng 1.7. Tình hình phát triển cơ sở y tế một số nước trên thế giới - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.7. Tình hình phát triển cơ sở y tế một số nước trên thế giới (Trang 19)
Bảng 1.8. Số dân tính trung bình trên 1 bác sĩ của  một số nước trên thế giới - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.8. Số dân tính trung bình trên 1 bác sĩ của một số nước trên thế giới (Trang 20)
Bảng 1.9. Tuổi thọ trung bình của một số nước trên thế giới năm 2006 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.9. Tuổi thọ trung bình của một số nước trên thế giới năm 2006 (Trang 21)
Bảng 1.10. Quan hệ giữa tuổi thọ trung bình với GDP/người - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.10. Quan hệ giữa tuổi thọ trung bình với GDP/người (Trang 22)
Bảng 1.11. Mức chi tiêu ngân sách cho y tế, giáo dục, quân sự ở   một số nước trên thế giới và Việt Nam - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.11. Mức chi tiêu ngân sách cho y tế, giáo dục, quân sự ở một số nước trên thế giới và Việt Nam (Trang 23)
Bảng 1.12.  Một số chỉ tiêu chủ yếu về giáo dục Việt Nam và một số nước châu Á - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 1.12. Một số chỉ tiêu chủ yếu về giáo dục Việt Nam và một số nước châu Á (Trang 24)
Bảng 2.2. Doanh thu trung bình 1 hộ SX kinh doanh phi nông, - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 2.2. Doanh thu trung bình 1 hộ SX kinh doanh phi nông, (Trang 31)
Bảng 2.4. Tỉ lệ hộ dùng điện chia theo các vùng - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 2.4. Tỉ lệ hộ dùng điện chia theo các vùng (Trang 32)
Bảng 2.6. Mức độ đảm bảo y tế các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2006                                                                                                                  (Đơn vị:người) - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 2.6. Mức độ đảm bảo y tế các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2006 (Đơn vị:người) (Trang 33)
Bảng 2.7. Diện tích và dân số tỉnh Bình Thuận năm 2006 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 2.7. Diện tích và dân số tỉnh Bình Thuận năm 2006 (Trang 37)
Bảng 2.11.  Dân số phân theo giới tính của các địa phương   tỉnh Bình Thuận năm 2006 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh duyên hải nam trung bộ phục vụ giảng dạy và học tập – trường hợp tỉnh bình thuận
Bảng 2.11. Dân số phân theo giới tính của các địa phương tỉnh Bình Thuận năm 2006 (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w