Theo các tác giả này, những khó khăn thường nảy sinh với những giáo viên chưa được đào tạo về chuyên môn, họ thường gặp khó khăn trong việc điều khiển hoạt động học tập, trong đó có liên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vũ Kim Xuyến
MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN PHÂN VIỆN MIỀN NAM, HỌC VIỆN
THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vũ Kim Xuyến
MỘT SỐ KHĨ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN PHÂN VIỆN MIỀN NAM, HỌC VIỆN
THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐỒN VĂN ĐIỀU
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Chúng tơi xin chân thành cảm ơn:
* Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Phịng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Các Thầy Cơ giáo phịng sau đại học và khoa tâm lý giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
* Thầy Cơ giáo và các em Học viên K14, 15 của Phân viện Miền Nam, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam;
* PGS.TS Đồn Văn Điều, người hướng dẫn
Đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên, khuyến khích tơi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này
Người thực hiện: Vũ Kim Xuyến
Trang 40
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN GIÚP HỌC VIÊN GIẢM BỚT
NH ỮNG KHÓ KHĂN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP 64
Trang 6DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7M Ở ĐẦU
1.Lý do ch ọn đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cho thế hệ trẻ Đảng và Nhà nước
ta đã xác định: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Phải là đội quân trung thành, là nguồn cung cấp lực lượng
kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng – nguồn nhân lực trẻ có tri thức, đạo đức, sức khoẻ để gánh vác sứ mệnh tạo nguồn sinh lực mới cho Đảng Do đó, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải có đội ngũ cán bộ Đoàn có tâm huyết, năng lực và phẩm chất đạo đức để đảm đương một cách có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ cho Đảng
Người cán bộ Đoàn, Hội, Đội là mắt xích quan trọng nhất trong phong trào thanh thiếu nhi
Nhiệm vụ lớn nhất của người cán bộ Đoàn là giữ vai trò là cầu nối giữa Đảng với thanh thiếu nhi, là người trực tiếp triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với thế hệ trẻ, đưa Nghị quyết của Đảng vào đời sống thực tế hết sức sinh động của thanh thiếu nhi; là người tiếp nhận những đề đạt, kiến nghị, những tình cảm thiêng liêng của tuổi trẻ đối với Đảng và Nhà nước Vai trò của người cán bộ Đoàn ví như một “nhạc trưởng” trong sự hoà âm, cộng hưởng từ những trái tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ theo trống lệnh của Đảng thực hiện đổi mới, hội nhập, phát triển đất nước Chất lượng công tác tập hợp, đoàn kết và giáo dục thanh thiếu nhi thông qua hoạt động của Đoàn, Hội, Đội trong tình hình hiện nay đạt hiệu quả ra sao, phản ảnh đậm nét tầm ảnh hưởng của người cán bộ Đoàn trước thanh thiếu nhi, vị thế của Đoàn trước xã hội Tổ chức Đoàn, Hội, Đội có mạnh; công tác tập hợp và giáo dục thanh thiếu nhi có sâu, rộng; cán bộ Đoàn có tiêu biểu trước thanh thiếu nhi;… phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về công
tác thanh niên đã xác định rõ “ Phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp thực sự có
trình độ, năng lực, nhiệt tình, có khả năng vận động quần chúng, độ tuổi sát với độ tuổi thanh niên
và thực sự tiêu biểu trong thanh niên ” Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam
được coi là một trung tâm lớn nhất chuyên phụ trách công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Hội, Đội cho các tỉnh, thành và cơ sở phía Nam Trong thời gian qua Học viện nói chung, Phân viện nói riêng đã đào tạo và cung cấp cho cơ sở một lực lượng đông đảo cán bộ Đoàn, Hội, Đội đáp ứng thực tiễn của phong trào thanh thiếu nhi Hiện nay, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ và vận hội mới của đất nước, song cũng phải đối mặt với những khó khăn và thách thức không nhỏ Những đòi hỏi của phong trào thanh thiếu nhi cả nước trong quá trình hội nhập quốc tế, người cán bộ Đoàn, Hội, Đội phải có một trình độ tương xứng với thực tiễn cuộc sống đặt ra,… Chính vì vậy, Học viện nói chung và Phân viện Miền Nam nói riêng phải quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng đào tạo của mình để đáp ứng kịp thời nhu cầu và xu thế phát triển của xã hội Song trong thực tế do cơ chế chính sách đối với cán bộ Đoàn còn chưa thoả đáng, chưa
Trang 8tạo ra được động lực phát huy tài năng, chưa thu hút được cán bộ giỏi làm công tác thanh niên, nguồn tuyển sinh đầu vào của các khóa học của học viện nhìn chung còn thấp, vẫn theo công thức các cơ sở chọn cử và học viện tiếp nhận, đào tạo Thời gian gần đây hầu hết học viên là những học sinh mới tốt nghiệp trung học phổ thông vào học nên còn rất bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn do chưa quen với môi trường và phương pháp học tập của học viện Một số học viên đã từng học qua các trường chuyên nghiệp khác, có những học viên đang đảm nhận các chức vụ khác nhau ở cơ sở Đoàn các cấp của các địa phương hoặc ở trong lực lượng vũ trang nhân dân hay ở các cơ quan kinh tế, chính trị, các đơn vị sản xuất, nhưng cũng có nhiều học viên chưa từng kinh qua kinh nghiệm công tác thực tế,…Bên cạnh đó, do tác động của cơ chế thị trường và một số nguyên nhân khác cũng đã gây ra những khó khăn tâm lý không nhỏ, ảnh hưởng đến chất lượng học tập và rèn luyện của học viên Chính vì vậy, việc nghiên cứu xác định những khó khăn tâm lý cụ thể và tìm
ra biện pháp khắc phục những khó khăn đó trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam là một việc rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đào tạo lực lượng cán bộ chính trị trẻ Do đó, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu
đề tài “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam”
2.M ục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp để giải quyết các khó khăn đó
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
3.1- Khách thể nghiên cứu: Học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu
niên Việt Nam
3.2- Đối tượng nghiên cứu: Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
4.Gi ả thuyết khoa học
Hiện nay học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam gặp khá nhiều khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập như: việc xác định mục đích học tập chưa rõ ràng, còn lúng túng, dao động; động cơ, thái độ học tập chưa thực sự tích cực; chưa tự giác trong học tập và rèn luyện,… Nếu có những biện pháp hợp lý sẽ giúp học viên giảm bớt những khó khăn và nâng cao được chất lượng học tập
Trang 95 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu để thiết lập cơ sở lý luận của đề tài
- Khảo sát thực trạng những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam
- Đề xuất một số biện pháp góp phần giúp học viên giảm bớt những khó khăn và nâng cao được chất lượng học tập
6 Gi ới hạn đề tài
Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, Học viện thanh thiếu niên Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn đã thực hiện về những khó khăn tâm lý, những trở ngại tâm lý của một số đối tượng và lứa tuổi có liên quan hoặc tương đồng Các tư liệu trên được nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa và được sử dụng trong đề tài như một thư mục tham khảo Ngoài ra, đề tài còn thu thập các số liệu dựa trên báo cáo về tình hình thực tế học tập và sinh hoạt của học viên tại phân viện và tại các địa phương
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp chủ yếu)
- Phương pháp trao đổi, trò chuyện
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thông qua phần mềm SPSS for Window, phiên bản 13.1
Trang 10C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.L ịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, vấn đề khó khăn tâm lý nói chung khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xét, nghiên cứu theo nhiều góc độ, nhiều khách thể khác nhau Để có cái nhìn tổng quan nhất về các vấn đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong đề tài, tôi xin tóm lược một công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập trong và ngoài nước như sau:
1.1.1 Trên thế giới
Trong cuộc sống, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hiện hành động để áp dụng tri thức đã học vào thực tiễn cuộc sống cải tạo thế giới hiện thực, không ngừng thúc đẩy sự phát triển của xã hội Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập thì những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của thế hệ trước mới có thể truyền lại cho thế hệ sau và cũng chính nhờ hoạt động học tập đó mà những giá trị này mới tồn tại Tuy nhiên, hoạt động học tập không phải là hoạt động đơn giản, trong quá trình hấp thu và biến vốn kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân loại thành vốn kinh nghiệm, tri thức của bản thân con người đã gặp không ít những cản trở, khó khăn, trong đó có những khó khăn tâm lý
Một số nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như A.I.Pancô, N.V.Cudơmina, L Oxtrốpxkaia,… đã có những công trình nghiên cứu và đã chỉ ra những khó khăn trong công tác giáo dục trẻ mầm non Theo các tác giả này, những khó khăn thường nảy sinh với những giáo viên chưa được đào tạo về chuyên môn, họ thường gặp khó khăn trong việc điều khiển hoạt động học tập, trong đó có liên quan đến việc phân bố thời gian cho giờ học, sự lựa chọn phương pháp và cách thức tiến hành giờ học, sự
sử dụng các phương tiện kỹ thuật đồ dùng dạy học, sự chuyển tải lưu lượng thông tin tới học sinh trong giờ học,… Các tác giả trên cũng chỉ ra rằng: Mức độ khó khăn trong công tác của người giáo viên có liên quan đến trình độ nghiệp vụ, thâm niên công tác, sự chuẩn bị bài giảng trước khi lên tiết học,… (Ví dụ: Sinh viên trước khi đi thực tập sư phạm chỉ khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ qua lại trong trò chơi, trong việc phân tích hoạt động vui chơi Nhưng sau khi đi thực tập về thì khó khăn được sinh viên chỉ ra ở mức độ hàng đầu trong việc điều khiển hoạt động vui chơi là tổ chức trò chơi Và phần lớn những giáo viên có thâm niên dưới một năm công tác cũng chỉ ra những khó khăn đó) Một số nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) chỉ ra rằng để khắc phục những khó khăn phải đồng thời có sự vận hành của cả hệ thống giáo dục như: có sự cải cách giáo dục; tổ chức hệ thống trường, lớp ở mọi điểm dân cư; lãnh đạo có sự quan tâm từ khâu xây dựng trường, lớp đến tất cả các mặt khác nữa; các ngành các cấp cũng cần tăng cường công tác giáo dục trẻ tuổi mầm non; các ngành công nghiệp nhẹ chú ý trong việc sản xuất đồ chơi, đồ dùng, trang thiết bị phục vụ công tác dạy và
Trang 11học mầm non; Việc phát hành báo chí, phim ảnh, sân khấu, tuyên truyền qua hệ thống đài báo phục
vụ công tác mầm non; đẩy mạnh việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và công tác tổ chức xã hội trong việc giáo dục trẻ,…[17, tr 6 ]
Các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ), Anh, Mỹ, Đức đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: Trong hoạt động nghề nghiệp của mình, con người có thể gặp rất nhiều tình huống (những khó khăn, những xung đột,…) Đặc biệt những nghiên cứu hoạt động nghề nghiệp giáo viên của các nhà nghiên cứu như Ph.Xpirin, M.Axtrepinxki đã khẳng định: Theo bản chất, hoạt động sư phạm luôn luôn là hoạt động sáng tạo, bởi vậy chúng ta sẽ xem xét tình huống sư phạm theo những tình huống có vấn đề
Họ đã hệ thống ra các loại tình huống có mối tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể như: “Giáo viên – Lớp học – Học sinh” Từ thực tiễn đào tạo giáo viên nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “trong hoạt động nghề nghiệp, giáo viên gặp không ít khó khăn, những tình huống sư phạm có vấn đề Do vậy trong quá trình đào tạo nghề giáo viên cần phải cung cấp những kiến thức về tình huống sư phạm có vấn đề và luyện tập cách giải quyết những tình huống đó”,… Nhiều tác giả như: E.G.Vinograi, A.A.Bônradencô, A.M.Xmônki,… chỉ rõ sự cần thiết trong một số giai đoạn đào tạo nghề, phải hướng tới sự hình thành những kỹ năng cùng nhau phân tích tình huống, phương pháp phân tích tình huống cụ thể là phương pháp học tập tích cực và con đường đạt hiệu quả cao nhất trong việc đào tạo nghề Qua thực tiễn đào tạo mầm non rất nhiều năm ở Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng: “hoạt động có hiệu quả của giáo viên mầm non không thể thiếu sự lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà đặc biệt là những kiến thức tâm lý hoạt động của giáo viên mầm non, về các kỹ năng phân tích và xử lý các tình huống trong công tác” Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận: Sự khắc phục khó khăn và lĩnh hội tay nghề sư phạm diễn ra trong quá trình giáo viên nghiên cứu tâm lý trẻ, làm sâu sắc và giàu có kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa chung, hình thành kỹ năng và hiểu biết nghề nghiệp Điều quan trọng để đạt được những vấn đề cơ bản trên là sự học tập, trau dồi nghiệp vụ, chuyên môn của các giáo sinh sư phạm mầm non Kinh nghiệm của Liên Xô (cũ) cũng chỉ ra tầm quan trọng phải làm là phải nâng cao hiệu quả đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non, nâng cao trình độ, chuẩn bị tâm lý giáo dục học cho giáo viên ngành mầm non, tổ chức việc thực tập sư phạm tốt hơn, hoàn thiện hơn công tác hướng nghiệp để tác động tích cực đến nâng cao tay nghề cho giáo viên [17, tr.7]
Khi bàn đến khó khăn tâm lý trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki nghiên cứu đối tượng là khó khăn tâm lý trẻ em khi vào lớp một Theo ông có 3 loại khó khăn dạng này:
Loại 1: Những khó khăn liên quan đến đặc điểm chế độ học tập mới
Loại 2: Những khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy cô giáo và bạn bè
Trang 12Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới Lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng đi học, về sau hứng thú học tập giảm dần và trẻ chán học Tác giả có đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh hưởng của chúng đến đời sống của trẻ, từ đó tác giả đề xuất những biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ [10]
Nhà tâm lý học Pháp, ông Bianka Zazzo cùng các đồng sự của mình thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em của đại học Pari 10 đã có nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu giáo lên cấp một của trẻ
em Theo nhóm tác giả: khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải, làm cản trở đến sự thích ứng hoạt động học tập của trẻ đó là “sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để” [22]
Tóm lại: Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện và nêu ra một số khó khăn tâm lý và cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân của những khó khăn đó Tuy nhiên các nhà nghiên cứu mới chỉ hướng tới khách thể nghiên cứu là giáo viên mầm non và trẻ chuẩn bị vào lớp một Theo hiểu biết của người nghiên cứu, đến nay có ít nghiên cứu trên khách thể nghiên cứu của đề tài
1.1.2 Ở Việt Nam
Khi nghiên cứu về khó khăn tâm lý của học sinh tiểu học, trong tác phẩm “nỗi khổ của con cái chúng ta” tác giả Nguyễn Khắc Viện đã thống kê ra những khó khăn như:
- Trẻ phải giữ kỷ luật trong lớp học
- Trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với mẫu giáo
- Trẻ ít được bố mẹ âu yếm vỗ về hơn trước và luôn phải chịu sự kiểm tra, đánh giá của
bố mẹ,… [30]
Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất [19] đã phát hiện ra nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp một phải vượt qua Theo tác giả “trong quá trình lớn lên của trẻ có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ em phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách triệt để” Trong nghiên cứu của bà, có nêu ra một số khó khăn tâm lý cụ thể mà trẻ lớp 1 phải vượt qua như:
- Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng ở mẫu giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông
- Trẻ có những khó khăn trong mối quan hệ với giáo viên
- Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào lớp một vì sự hân hoan, hồi hộp chờ đón những điều hấp dẫn được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ
Trong bài viết “một số trở ngại tâm lý của trẻ em khi vào lớp một” [6, tr.57-58] Của tác giả
Vũ Ngọc Hà đã nêu ra một số trở ngại tâm lý khi vào học lớp một của trẻ là:
Trang 13- Khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới
- Khó khăn trong các mối quan hệ
- Khó khăn khi phải đến trường
Tác giả Nguyễn Xuân Thức trong bài “Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh đi học lớp một” [23] có nêu ra một số nguyên nhân cụ thể như:
- Các nguyên nhân chủ quan:
+ Trẻ chưa hiểu rõ nội qui
+ Trẻ được chuẩn bị quá kỹ trước khi đến trường
+ Trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học
+ Do tính cách của trẻ
+ Do trẻ chưa đủ tuổi đến trường
+ Do trẻ mắc một số bệnh bẩm sinh
+ Các nguyên nhân thuộc về gia đình
+ Các nguyên nhân thuộc về nhà trường
+ Các nguyên nhân thuộc về xã hội
Theo tác giả, các nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý nhiều hơn cho trẻ lớp một
Thời gian gần đây còn có một số luận văn thạc sỹ quan tâm nghiên cứu vấn đề khó khăn tâm
lý trong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên như:
- Năm 1999, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Kính “Tìm hiểu khó khăn tâm lý trong quá trình giải bài tập hình học của học sinh phổ thông trung học cơ sở” [11, tr.66 - 69], tác giả chỉ ra những nguyên nhân của khó khăn tâm lý trên như sau:
+ Nguyên nhân khách quan: Do phương pháp giảng dạy của một giáo viên, do tính chất môn học,…
+ Nguyên nhân chủ quan: Do khả năng tư duy của học sinh trung học cơ sở đặc biệt là khả năng khái quát hoá và suy luận hóa của học sinh còn nhiều thiếu sót, khả năng hiểu các định lụât, định lý của trẻ chưa được khái quát,…
- Tác giả Cao Xuân Liễu có nghiên cứu “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 1 người dân tộc K’ho ở Lâm Đồng’” Tác giả đã chỉ ra những khó khăn tâm lý của học sinh dân tộc K’ho là: khó khăn tinh thần chi phối việc tiếp thu tri thức, khó khăn ngôn ngữ, khó khăn trong giao tiếp,…[15]
- Trong luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Nhân Ái (2001) “Tìm hiểu khó khăn tâm lý trong quá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 trung học phổ thông” [1] Luận văn thạc sỹ
Trang 14của tác giả Nguyễn Thu Huyền (2002) với đề tài “Thực trạng khó khăn tâm lý trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường CĐSP kỹ thuật Vinh” [9] cũng có nghiên cứu và nêu ra một số khó khăn tâm lý cơ bản của người trong quá trình học các môn khoa học tự nhiên như: Do vốn kiến thức cơ bản của người học, do khả năng suy luận,…
- Trong luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Thức (2005) “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất đại học Sư phạm Hà Nội” đã tìm hiểu một số biểu hiện khó khăn tâm lý, nguyên nhân và ảnh hưởng của chúng đến nhân cách người sinh viên [25] Trong luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim (2007) “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm nhất trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh” [10, tr.91-92] Theo tác giả, sinh viên năm nhất trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh thường gặp phải một số khó khăn tâm lý tiêu biểu trong hoạt động học tập như: tâm lý e ngại, sợ mắc sai lầm trong học tập, chán nản khi học những môn học khó và lo lắng quá mức về việc học, chưa kịp thời thích ứng với môi trường và cuộc sống mới ở trường đại học,… Những khó khăn tâm lý đó có ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của sinh viên như:
- Không hiểu rõ nội dung bài học
- Không vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn
- Lượng kiến thức tiếp thu được ít, không hệ thống
- Không hoàn thành hoặc hoàn thành không tốt nhiệm vụ học tập giáo viên giao cho
- Không tham gia vào bài học trên lớp được
Từ đó tác giả đã kết luận có nhiều nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên như: do bản thân chưa có phương pháp học tập hợp lý, do khối lượng kiến thức lớn và khó, do môi trường học tập ở đại học khác biệt quá nhiều so với bậc học phổ thông,
do tính cách cá nhân (rụt rè, tự ty, e ngại, mắc cỡ,…), do thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo,…
Tóm lại: Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã ít nhiều xây dựng được cơ sở lý luận và đưa ra được những dữ kiện thực tế Trong thực tế, khách thể nghiên cứu của các công trình đó giới hạn ở một số học sinh phổ thông và sinh viên ở một số trường đại học Đối với những học viên (đang công tác tại cơ sở - đang là cán bộ Đoàn, Hội, Đội ở địa phương) bước vào một môi trường học tập với rất nhiều những yêu cầu mới, mang tính đặc thù của ngành, họ gặp phải khá nhiều khó khăn tâm lý có ảnh hưởng đến kết quả học tập nhưng chưa được nghiên cứu đầy
đủ
Trang 15N.V Cudơmina trong tác phẩm “Sơ thảo tâm lý lao động của người giáo viên” đã định nghĩa
“khó khăn ” là trạng thái của cảm giác căng thẳng, nặng nề không thỏa mãn do các nhân tố bên ngoài và bên trong của hoạt động tạo nên và phụ thuộc vào:
- Tính chất của chính các nhân tố bên ngoài của hoạt động,
- Sự chuẩn bị về trình độ văn hoá, chuyên môn, đạo đức và thể chất của con người đến với hoạt động ,
- Quan hệ của con người với hoạt động [2]
I.ia Lecne cũng chỉ ra rằng “khó” là một phạm trù chủ quan, mức độ “khó” phụ thuộc vào khả năng và trạng thái của chủ thể Một hành động như nhau về mức độ phức tạp có thể có mức độ
“khó” khác nhau đối với người này hay người khác [13] Như vậy trong hoạt động muôn màu muôn
vẻ của mình, con người có thể gặp những khó khăn muôn màu, muôn vẻ khác nhau
Qua các cách định nghĩa trên chúng ta có thể khẳng định “Khó khăn” là nói đến những trở ngại, cản trở đòi hỏi phải có sự cố gắng, nỗ lực để vượt qua
Trong quá trình hoạt động chủ thể có thể gặp những trở ngại làm cho hoạt động đó không thể tiếp tục hay không đạt được hiệu quả hoặc giảm hiệu quả của hoạt động thì những vấn đề đó được xem là các yếu tố gây nên khó khăn Những yếu tố đó có thể là những yếu tố bên ngoài như: điều kiện, phương tiện hoạt động,…; có thể là những yếu tố bên trong xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân khi tham gia hoạt động như: nhận thức, tình cảm, thái độ, năng lực, vốn kinh nghiệm, thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động,… Trong đó, yếu tố bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết quả hoạt động của con người
Xét theo phương diện nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể chia ra làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý Trong đó, những khó khăn do yếu tố tâm lý như: nhận thức, thái
độ, tình cảm, năng lực riêng của cá nhân, vốn kinh nghiệm sống của chủ thể,…tạo nên gọi là những khó khăn tâm lý
Chúng ta cũng có thể tìm thấy một số thuật ngữ tương đương với những “khó khăn tâm lý” là
“trở ngại tâm lý”, “hàng rào tâm lý”, “áp lực tâm lý”… Trong đó tác giả V Ph Galưgin cho rằng:
Rào cản tâm lý là những chướng ngại có tính chất tâm lý cản trở đến quá trình thích ứng tâm lý của
Trang 16cá nhân đối với những yếu tố mới của ngoại cảnh, do đặc điểm của hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân tạo nên Tác giả B.D Parưghi thì cho rằng: rào cản tâm lý được hiểu ngầm như là các quá trình, các thuộc tính, các trạng thái của con người nói chung bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm của con người [15, tr.8]
Theo sổ tay tâm lý học, cơ chế tình cảm của rào cản tâm lý là sự gia tăng những mặc cảm và tâm thế tiêu cực như: mặc cảm, hổ thẹn, cảm giác lỗi lầm, sợ hãi,… trong hành vi của con người
Trong từ điển tiếng Việt, áp lực là sức ép về mặt thể chất và về mặt tâm lý [29] Áp lực tâm
lý sẽ tạo ra những căng thẳng tâm lý Theo các tác giả Nguyễn Khắc Viện và Ferredi: khái niệm áp lực tâm lý có thể hiểu như là những nhân tố gây sức ép cho cá nhân, tạo ra những căng thẳng về mặt tâm lý
Từ những nghiên cứu về khó khăn tâm lý, chúng ta thấy rằng khó khăn tâm lý xuất hiện khi
cá nhân thể hiện tính thụ động, lúng túng trong việc thích ứng với các yếu tố mới của ngoại cảnh do năng lực trí tuệ, tình cảm, ý chí của họ không phù hợp với đối tượng hoạt động
Theo tác giả Cao Xuân Liễu, “Khó khăn tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái, các
đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng hoạt động làm cho quá trình hoạt động gặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được khả năng của mình, dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế” [15, tr.9]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim, “Khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh
trong quá trình hoạt động của chủ thể, gây trở ngại, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ thể” [10, tr.24-25]
Như vậy, xuất phát từ những quan điểm trên, khái niệm khó khăn tâm lý trong đề tài này
được hiểu như sau: Khó khăn tâm lý là những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh trong quá trình hoạt động của chủ thể, gây ra những trở ngại làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ thể
1.2.1.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một dạng lao động trí óc, thông qua hoạt động học tập con người lĩnh hội được những hiểu biết, những kiến thức và vốn kinh nghiệm sống của loài người, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo được tham gia vào đời sống xã hội một cách có hiệu quả nhất Thực tế, hoạt động học tập chỉ đạt được hiệu quả cao khi nó được tổ chức phù hợp với trình độ nhận thức, phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý của người học và bản thân người học cần phải xác định được rõ ràng mục đích học tập, có động cơ, có thái độ học tập tốt, nắm được cách thức học tập khoa học và hiệu quả Do vậy, trong quá trình tham gia vào hoạt động học tập người học có thể gặp những khó
Trang 17khăn tâm lý địi hỏi họ phải nỗ lực, chủ động phát huy tối đa những phẩm chất, năng lực của cá nhân để vượt qua nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động học tập của mình
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Đào Thị Lan Hương, “Khĩ khăn tâm lý trong hoạt
động học tập là những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh ở người sinh viên trong học tập làm cản trở tiến trình và kết quả hoạt động học tập của người sinh viên” [26, tr.14]
Khĩ khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một một hiện tượng tâm lý phức tạp, nảy sinh
trong quá trình học tập của người học Trong đề tài này, người nghiên cứu cho rằng: Khĩ khăn tâm
lý trong hoạt động học tập là những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh trong quá trình học tập của người học, gây ra những cản trở làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ thể đĩ
1.2.2 Hoạt động học tập và khĩ khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
1.2.2.1 Khái ni ệm Hoạt động
Theo các nhà tâm lí học Mác xít thì nhân cách được hình thành thông qua hoạt động dưới sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, giáo dục, tự giáo dục, … Hoạt động là con đường, là cơ chế để giáo dục sự hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động Theo A N leonchiev [12] thì hoạt động được hiểu là “một tổ hợp các tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả hoạt động đĩ là sự cụ thể hố nhu cầu của chủ thể” Theo tác giả Vũ Dũng thì hoạt động là hệ thống năng động các tác động qua lại giữa chủ thể và mơi trường, nơi nảy sinh hình ảnh tâm lý về khách thể qua đĩ các mối quan hệ của chủ thể trong thế giới đối tượng được trung gian hố [4, tr.317]
Như vậy, có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động của con người vào đối tượng để tạo
ra những sản phẩm nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Hoạt động của con người rất đa dạng và phong phú Cuộc sống của con người là một chuỗi các hoạt động được diễn
ra liên tiếp Chính thông qua các hoạt động mà con người được trưởng thành Thông qua hoạt động con người sẽ tiếp thu và lĩnh hội được những giá trị văn hoá, tinh thần của những thế hệ trước đã được kết tinh lại trong những sản phẩm họ làm ra để làm phát triển về mặt tâm lí, ý thức của cá nhân Xét về phương diện phát triển cá thể, người ta thấy trong đời người có ba loại
hình hoạt động kế tiếp nhau Đó là các hoạt động: vui chơi, học tập và lao động
Trang 181.2.2.2 Khái ni ệm hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một loại hình hoạt động cơ bản, đặc biệt của con người Qua đĩ giúp con người lĩnh hội được vốn kinh nghiệm xã hội lịch sử đã được các thế hệ trước đúc kết và truyền lại Khi bàn về vấn đề học tập cũng cĩ nhiều quan điểm khác nhau tuỳ thuộc vào cách tiếp cận của người nghiên cứu:
- Tác giả I B Interxơn cho rằng: Học tập là hoạt động đặc biệt của con người nhằm mục đích nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi [32, tr.132]
- N.V Cudimina coi học tập là hoạt động nhận thức cơ bản của người học được thực hiện dưới sự hướng dẫn của người dạy Trong quá trình trình này việc nắm nội dung thơng tin mà thiếu thì khơng thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp trong tương lai [2]
- Theo Đ B Encônin: Hoạt động học, trước hết là hoạt động mà nhờ nó diễn ra sự thay đổi trong bản thân học sinh Đó là hoạt động nhằm tự biển đổi mà sản phẩm của nó là những biến đổi diễn ra trong chính bản thân chủ thể trong quá trình thực hiện nó [32]
- Tác giả Nguyễn Cảnh Tồn: Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị [27, tr.106] Đây là một dạng hoạt động đặc thù của con người Nó chỉ có thể thực hiện ở một trình độ khi mà con người có khả năng điều chỉnh những hoạt động của mình bởi một mục đích đã được ý thức Khả năng này chỉ được bắt đầu hình thành vào lúc 5 – 6 tuổi Chỉ có thông qua hoạt động học này mới hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học cũng như cấu trúc tương ứng của hoạt động tâm lí, sự phát triển toàn diện nhân cách của người học
- Các tác giả Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan thì cho rằng: Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định [8, tr.106]
Như vậy, cĩ khá nhiều quan điểm về hoạt động học tập, nhưng dù tiếp cận hoạt động học ở gĩc độ nào thì các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một điểm là hoạt động học tập là dạng hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động cĩ mục đích tự giác, cĩ ý thức về mặt động cơ và diễn ra
trong quá trình nhận thức của con người Cĩ thể khái lược lại hoạt động học tập là hoạt động cĩ chủ đích nhằm lĩnh hội vốn kinh nghiệm xã hội lịch sử, giúp người học phát triển và hồn thiện nhân cách
Trang 19Nội dung hoạt động học tập được quy định bởi mục tiêu đào tạo, các mục tiêu này phải được xác định một cách cụ thể, rõ ràng và chi tiết để giúp học sinh nắm được các yêu cầu đào tạo trên cơ sở đó tiến hành tích cực các hoạt động học tập một cách độc lập
1.2.2.3 Bản chất của hoạt động học tập
• Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó Cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân Để việc học có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình
• Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình Đây là điểm đặc trưng so với các hoạt động khác Nếu như các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể thì hoạt động học lại hướng vào thay đổi và phát triển chính chủ thể Thông qua những tri thức mà người học chiếm lĩnh được sẽ làm cho tâm lí của chủ thể thay đổi và phát triển
• Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Khác với những tri thức mà người học học được qua những tình huống thực tế – mang tính kinh nghiệm chỉ có thể áp dụng trong những tình huống cụ thể thì những tri thức mà người học thu được qua hoạt động học tập một cách chính thức trong nhà trường có thể đúng và thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự Vì vậy sự tiếp thu những tri thức đó chỉ có thể diễn ra trong hoạt động học được điều khiển một cách có ý thức của người lớn
• Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu được cả phương pháp chiếm lĩnh được tri thức đó (cách học)
Muốn cho hoạt động học diễn ra có kết quả cao, người học phải biết cách học, nghĩa là phải có những tri thức về bản thân hoạt động học Sự tiếp thu tri thức này không thể diễn ra một cách độc lập với việc tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Do đó khi tổ chức hoạt động cho học sinh, người dạy vừa phải ý thức được những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nào cần được hình thành ở học sinh, vừa phải có một quan niệm rõ ràng thông qua tổ chức sự tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó thì học sinh lĩnh hội được cách học gì, con đường lĩnh hội tri thức kĩ năng, kĩ xảo như thế nào (nói cách khác là những tri thức về hoạt động học)
Trang 20Cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc hình thành phương pháp học tập ở học sinh Nó là công cụ, là phương tiện không thể thiếu được để đạt mục đích của hoạt động học này Nội dung và tính chất của hoạt động học được hình thành sẽ quyết định nội dung và chất lượng của sự lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Vì thế trong dạy học, hai công việc này phải được tiến hành đồng thời
• Chất lượng học tập luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài:
Yếu tố bên ngoài đó là những điều kiện kinh tế – xã hội hay nói rộng ra là điều kiện sống của người học Điều kiện sống ảnh hưởng đến hoạt động học tập của người học qua con đường tự phát và tự giác Sự tác động tự giác còn gọi là giáo dục của nhà trường Đó là những tác động xã hội được tiến hành một cách có tổ chức, nhắm tới mục tiêu xác định, có kế hoạch và có phương pháp
Yếu tố bên trong – yếu tố con người giữ vai trò quan trọng bậc nhất, có tính quyết định nhất tới chất lượng đào tạo Theo quy luật phát triển của sự vật hiện tượng thì ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn Còn nội lực mới là nhân tố quyết định phát triển bản thân sự vật hiện tượng
• Theo tổng kết của Thorpe và Schmuller (1954) về việc học tập nhà trường đặc biệt cĩ hiệu quả:
- Nếu người học cĩ động cơ;
- Nếu những yêu cầu trí tuệ của giờ học phù hợp với những khả năng thể chất và trí tuệ của người học;
- Nếu người học cĩ cơ hội, xây dựng các mối quan hệ cĩ ý nghĩa giữa các thành phần, nhiệm
sẽ làm tăng thêm sự nhiệt tình chủ quan cũng như thành quả khách quan trong việc tiếp thu và xử lý thơng tin mới
Trang 211.2.2.4 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên các trường chuyên nghiệp
Theo các tác giả Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (1992) thì “Hoạt động học tập của sinh
viên là một loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy, nhằm lĩnh hội, nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nào đó, làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai” [22, tr 89]
Do đặc điểm đặc trưng mà hoạt động học tập ở các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề có sự khác biệt so với các trường phổ thông và các trường cao đẳng, đại học Chính vì vậy trong quá trình học tập, nếu gặp những khó khăn thì bản thân học viên phải cố gắng nỗ lực khắc phục rất nhiều Việc khắc phục những khó khăn tâm lý này có những lúc là sự ngẫu nhiên, là việc tự rút kinh nghiệm sau những lần thất bại trong học tập ở trường, việc này gây hao tổn không ít thời gian trong quá trình học tập Nhưng cũng có những học viên không ý thức được những khó khăn tâm lý mà mình gặp phải để tự rút ra bài học cho bản thân và kết quả là không cải thiện được hiệu quả học tập của mình Đặc biệt đối với những học viên vừa học xong các trường phổ thông, bước chân ngay vào môi trường sinh hoạt và học tập ở trường chuyên nghiệp với nhiều bỡ ngỡ và lạ lẫm
Họ phải nhanh chóng làm quen và thích ứng với môi trường cuộc sống mới, với cách thức tổ chức học tập, phương pháp giảng dạy và kiểm tra, thi cử,… mới Hầu hết những học viên này chưa được quan tâm hướng dẫn để chuẩn bị tâm thế sẵn sàng Do vậy, họ có những cảm giác hẫng hụt, không kịp đáp ứng với yêu cầu mới của hoạt động học tập Trong quá trình học tập, bên cạnh những học viên có tính thích ứng cao, dần dần hoặc nhanh chóng làm quen với môi trường và hoạt động học tập mới, họ nhanh chóng đi vào ổn định và đáp ứng tốt những yêu cầu của hoạt động học tập; thì có những học viên (thường là những học viên mới tốt nghiệp phổ thông lấy sự cần cù, chăm chỉ của mình mong đạt kết quả học tập tốt), do vậy cũng có những học viên có kết quả học tập khá tốt nhưng vẫn chưa có phương pháp học tập khoa học và khả năng vận dụng kiến thức đã học vào công việc thực tế chưa cao Bên cạnh đó, còn có những học viên chưa thực sự tích cực, tự giác trong học tập Một số học viên cho rằng họ đã từng học một hoặc vài trường chuyên nghiệp khác còn cao hơn trình độ hiện nay đang học nên họ có tâm thế ỷ lại, chây lười trong học tập và rèn luyện Một số thì chấp nhận với thực tế của bản thân, thiếu ý chí tiến thủ, chây lười trong học tập và rèn luyện
Những khó khăn tâm lý không chỉ làm cho kết quả học tập giảm sút mà còn làm phức tạp hóa những quan hệ qua lại với giáo viên và bạn bè cùng lứa, phá vỡ mối tương quan bình thường giữa
sự tự đánh giá và những ý kiến đánh giá mà người học nhận được [21, tr.135] Nếu những khó khăn tâm lý không được giải quyết sẽ dẫn đến những khó khăn nghiêm trọng hơn trong sự phát triển nhân cách của người học Nhóm các nhà tâm lý học do N.A.Menchinskalja tổ chức đã nghiên cứu dựa trên chỉ số chính là học lực, cộng thêm cả xu hướng nhân cách của học sinh và phạm vi động cơ của chúng phân các học sinh yếu kém ra thành ba kiểu:
Trang 22- Lực học thấp, kết hợp với thái độ dương tính đối với việc học và duy trì được cương vị của một học sinh
- Hoạt động tư duy có chất lượng cao, kết hợp với thái độ âm tính đối với người học và sự đánh mất một phần hay hoàn toàn cương vị của một người học sinh
- Lực học thấp, kết hợp với thái độ âm tính đối với việc học và sự đánh mất một phần hay hoàn toàn cương vị của một người học sinh [26, tr.19]
Từ một số nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy rằng: Những học sinh ít thông minh hơn nhưng lại có động cơ mạnh, tự tin giải quyết vấn đề của mình, quyết chí đeo đuổi mục đích học tập của mình lại có thể đạt được thành tích cao hơn trong học tập Ngược lại, những học sinh thông minh hơn nhưng dễ bỏ cuộc, không thực sự tự tin vào khả năng của bản thân sẽ có thể không đạt được kết quả học tập tốt Tin vào bản thân là niềm tin mà cá nhân có thể kiểm soát được tình huống
và tạo được những kết quả đáng khích lệ - đây là yếu tố quyết định thành tích học tập của người học Khi người học có niềm tin vào bản thân sẽ có ảnh hưởng đến sự lựa chọn và quyết định hành động của họ, họ thường hăng hái và cố gắng hơn trong học tập Nếu người học ít hoặc không có niềm tin vào bản thân thường né tránh việc học, nhất là khi gặp những khó khăn trong hoạt động học tập Có thể nói rằng: Những học sinh gặp khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập không hẳn là những người có trí tuệ yếu kém hoặc hạn chế Tư duy và trí nhớ có chủ định của nhiều học sinh phát triển tốt nhưng năng lực học tập chỉ phát huy được khi có sự hỗ trợ đúng đắn và kịp thời Như vậy, những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập mà học sinh trải qua là sự thiếu tự tin vào khả năng của bản thân, mức độ sẵn sàng học tập không cao, động cơ học tập không xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện tri thức mà tập trung vào quan hệ xã hội, gặp khó khăn về cách thức tiếp cận kiến thức
- Sự sẵn sàng học tập bao gồm sự sẵn sàng về thể chất, tinh thần và kinh nghiệm sống, vấn đề này đòi hỏi tri thức mà người học được lĩnh hội, cường độ học tập,… phải vừa sức với người học Trạng thái tâm lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự lĩnh hội tri thức của học sinh Trong “Anxiety Research in Educational Psychology – nghiên cứu về lo âu trong lĩnh vực giáo dục”, Tobias (1979)
đã giải thích nỗi lo âu đã ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh qua ba điểm:
Một là: Khi học sinh có sự lo âu cao độ, họ thường phân tán tư tưởng dù đang chăm chú theo dõi vấn đề Các em có thể bị bủa vây bởi những ý nghĩ về khả năng tiếp thu của bản thân Tiếp theo
là sự lo lắng vì không hoàn thành tốt, sợ bạn bè, thầy cô chỉ chích và lúng túng không biết làm thế nào Chính vì họ không tập trung vào bài học, học sinh không thể theo kịp lời giảng của giáo viên,
nó cứ như một vòng xoay mà người học không biết cách nào để thoát ra
Hai là: Với tài liệu học tập không rõ ràng, khô cứng cũng tạo ra khó khăn trong quá trình tri giác của học sinh, họ không nắm rõ được vấn đề trọng tâm của bài học, không hiểu được mục đích ý
Trang 23nghĩa của bài học và thêm vào đó là cả sự bận rộn với những ý nghĩ lo âu khiến các em lúc nào cũng
bị lúng túng, hồi hộp trong việc sắp đặt kế hoạch, không phát triển được động lực học tập
Ba là: ảnh hưởng của nỗi lo âu làm hạn chế khả năng khái quát bài học của người học – đây
là những học sinh có khả năng không quá kém nhưng vì lo âu, hồi hộp họ đã không thể diễn tả được những điều mà họ muốn [30]
- Về động cơ học tập, các nghiên cứu cho rằng có hai loại động cơ: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức sẽ thúc đẩy người học khắc phục khó khăn trong tiến trình học tập Đó là những nỗ lực hướng vào việc khắc phục những trở ngại bên ngoài để đạt được nguyện vọng đã nảy sinh, chứ không phải là việc đấu tranh với chính bản thân mình Do đó, chủ thể của hoạt động thường không bị những căng thẳng tâm lý Còn nếu hoạt động học tập bị thúc đẩy bởi những quan hệ xã hội ở một mức độ nào đó mang tính chất cưỡng bách và có lúc xuất hiện như một vật cản cần khắc phục trên con đường đi đến mục đích cơ bản Nét đặc trưng tâm lý của hoạt động này là có những lực chống đối nhau (ví dụ như kết quả học tập không đáp ứng được nguyện vọng về địa vị xã hội của cá nhân sau này) có thể gắn liền với những căng thẳng tâm lý đáng kể, đòi hỏi những nỗ lực bên trong, có thể có cả sự đấu tranh với chính bản thân mình Khi có sự xung đột gay gắt, người học thường có những hiện tượng
vi phạm nội qui như: quay cóp, gian lận, phá bĩnh,…, thờ ơ trong học tập hoặc bỏ học [8, tr.122]
Theo A V Petropvski, những điều kiện ảnh hưởng đến việc hình thành các khái niệm gồm đặc điểm nhân cách và những đặc điểm của hệ thống động cơ; những nỗ lực, những tìm tòi có phương hướng và nhiều lần làm thử được kèm theo sự kiểm tra các kết quả; những tri thức và kỹ năng nền tảng mà người học đã có; sự hướng dẫn của giáo viên về mục đích và lĩnh vực kiến thức phục vụ; xu hướng của tư duy,… tất cả những điều kiện này không được thỏa mãn sẽ khiến người học khó tiếp thu tri thức [21, tr.79]
Khi xét đến khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là xem xét đến những biểu hiện tiêu cực
về mặt tâm lý của người học chi phối quá trình nhận thức, thái độ và hành vi lĩnh hội tri thức của cá nhân làm ảnh hưởng đến quá trình và hiệu quả học tập Biểu hiện các khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của người học là:
V ề nhận thức
Nhận thức là sự hiểu được một vấn đề nào đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết về những qui luật, những hiện tượng, quá trình nào đó [4, tr.553] Nhận thức là một trong những thành tố quan trọng trong đời sống tâm lý con người Nhận thức là cơ sở nền tảng quan trọng giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng, từ đó con người có những thái độ và hành vi tương ứng Nhận thức đúng là cơ sở của hành động đúng, nhận thức sai là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sai sót, lệch lạc trong thái độ, hành vi và trong toàn bộ đời sống của con người
Trang 24Học tập là quá trình tiếp thu những thông tin mới và tương đối lâu bền, mô hình hành vi hay năng lực, sự thay đổi hành vi là kết quả thực tế, học tập và kinh nghiệm [4, tr 333] Học tập là một hoạt động phức tạp, trong quá trình học tập không phải tất cả mọi người học đều nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nó Chính những nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về hoạt động học tập của người học là những khó khăn tâm lý, gây nên những sai lầm trong hoạt động học tập của cá nhân Những khó khăn tâm lý biểu hiện ở dạng nhận thức có thể chia thành hai nhóm: nhận thức về bản thân – là người tiến hành hoạt động và nhận thức về đối tượng hoạt động
Nhận thức về bản thân: Trong quá trình học tập, người học cần nhận thức được đầy đủ
về trình độ, khả năng của bản thân, về mục đích học tập để có động cơ, thái độ học tập đúng đắn, khoa học Ở đây, người nghiên cứu xin nhấn mạnh góc độ nhận thức của người học về động cơ học tập
Trong tâm lý học, động cơ là cái thúc đẩy và qui định chiều hướng hoạt động nhằm đạt được một mục đích nào đó [12] Theo Leonchiev và B.Ph.Lomov: “lĩnh vực động cơ của nhân cách có liên quan chặt chẽ đến những nhu cầu, chế định hành vi của con người một cách khách quan và có qui luật Động cơ là sự thể hiện chủ quan của nhu cầu, là vị trí gián tiếp của nhân cách trong xã hội Ngược lại, nhu cầu là cơ sở của động cơ Trên thực tế, động cơ và nhu cầu gắn bó mật thiết với nhau đến mức không thể tách chúng ra được” [16, tr 478 - 482] Chính vì thế, việc xác định động cơ học tập cũng chính là xác định nhu cầu học tập của người học Nhu cầu học tập là thành tố quan trọng của động cơ học tập, là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động học tập của người học, nó biểu hiện qua tính tự giác, thái độ nghiêm túc, luôn cố gắng vượt qua những khó khăn để giải quyết những nhiệm vụ học tập, từ đó nâng cao kết quả học tập Từ những phân tích trên, việc không xác định được động cơ học tập hoặc động cơ học tập không rõ ràng chính là một khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của người học và có thể dẫn đến những biểu hiện như:
+ Các quá trình tiếp thu bài học có sự hạn chế: nhận thức chậm, khó khăn trong tập trung ghi nhớ có chủ định và tổng hợp, nền tảng tri thức và kỹ năng không vững chắc
+ Nhận thức về bản thân chưa đúng: có thể đánh giá quá thấp hoặc quá cao về bản thân, thường chỉ tập trung vào mặt khuyết điểm, hạn chế của bản thân dẫn đến sự mặc cảm, tự ty
+ Động cơ học tập vì quan hệ xã hội, mục tiêu học tập quá cao hoặc quá thấp so với khả năng thực tế của bản thân dẫn đến sự căng thẳng hoặc chủ quan trong học tập, không có sự mơ ước về nghề nghiệp,
Nhận thức về đối tượng học tập: Việc học tập ở các trường trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề của người học luôn gắn liền với việc sẽ trở thành một chuyên gia hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể phục vụ cho nhu cầu của xã hội Do vậy, việc nhận thức đúng được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đối tượng học tập sẽ giúp người học tích cực trong học tập, rèn luyện; Nếu
Trang 25ngược lại, sẽ gây cho người học không sẵn sàng tâm thế cho hoạt động học tập, học tập một cách đối phó, dẫn đến hiệu quả học tập và rèn luyện sẽ kém Trong quá trình học tập, người học có thể nhận thức chưa đúng đắn, đầy đủ về ví trí, vai trò của các môn học trong chương trình học tập dẫn đến việc đầu tư không đúng và đầy đủ với từng môn học
V ề thái độ của người học đối với việc học tập
Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối liên hệ Nhìn chung thái độ có ba thành tố: nhận thức, xúc cảm và hành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hoặc trung lập [4, tr 790] Thái độ là khuynh hướng suy tư, cảm nghĩ, tri giác và hành xử đối với một đối tượng tâm lý Thái độ ấy có thể là ý nghĩ tích cực hay tiêu cực [28, tr.165] Thái độ học tập của người học là những cảm nghĩ tích cực hoặc tiêu cực của người học đối với việc học Để lĩnh hội tài liệu học tập đạt được kết quả tốt, thái độ tích cực là điều kiện rất cần thiết được thể hiện qua cảm xúc trí tuệ của người học đối với các ý nghĩ, tư tưởng, các quá trình và kết quả hoạt động trí tuệ - nó bao gồm sự hứng thú, ham hiểu biết, tin tưởng vào bản thân và sự sẵn sàng nỗ lực của ý chí để khắc
phục khó khăn
Có thể khẳng định, khó khăn tâm lý thể hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những cảm xúc âm tính đối với hoạt động học tập như: coi thường việc học tập, chán ghét, thờ ơ, lo lắng,
sợ hãi, lẩn tránh việc học, chán nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập,… Khi
người học có những thái độ, tình cảm tiêu cực trong học tập thì việc học tập khó mà đạt kết quả cao được Ngược lại, nếu người học có thái độ, tình cảm tích cực trong học tập, học tập cần cù, chăm chỉ, tự giác, tích cực,… biết tìm và đưa ra những biện pháp tích cực trong học tập thì chắc chắn kết quả học tập sẽ được cải thiện Những học sinh gặp khó khăn trong lĩnh vực này thường có những biểu hiện như:
- Không hứng thú với việc học
- Thụ động trong việc tìm kiếm tri thức, hài lòng với những gì đã được cung cấp sẵn
- E ngại nêu ra ý kiến của mình trong việc xây dựng bài học, không dám nêu ra những điều còn thắc mắc
- Cảm thấy chán và sẵn sàng bỏ cuộc,…
V ề hành vi - ý chí
Hành vi là sự tương tác với môi trường có ở động vật trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng Theo X L Rubinstein, hành vi là hình thức đặc biệt của hoạt động: nó trở thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tượng chuyển sang kế hoạch nhân cách xã hội (hai kế hoạch này không tách rời nhau, quan hệ nhân cách xã hội được hiện thực
Trang 26hóa ở quan hệ đối tượng) Hành vi đặc thù của cá nhân phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ qua lại với nhóm mà anh ta là thành viên, vào chuẩn mực nhóm, vào định hướng giá trị và sự ấn định vai Tính không thích hợp của hành vi (được thể một phần ở chỗ nhân cách đánh giá quá cao các khả năng của mình, làm suy giảm tính phê phán khi kiểm soát việc thực hiện hoá các chương trình của hành vi) thể hiện một cách tiêu cực trong các mối quan hệ liên nhân cách [4, tr 259 - 260]
Hành vi – ý chí là khả năng con người cố gắng vượt qua những khó khăn và đạt được kết quả Hành vi – ý chí thể hiện mối liên hệ giữa ý thức về mục đích và cách thức hành động Tác giả John Deway chỉ ra 4 giai đoạn của hành vi này:
- Động cơ – lý do để cố gắng giải quyết vấn đề
- Giới hạn và xác định vấn đề
- Giả thuyết hay dự kiến những biện pháp
- Thử nghiệm để thay đổi hoặc giữ nguyên [4, tr 263]
Như vậy hành vi – ý chí là một mặt của đời sống tâm lý con người Những khó khăn tâm lý
về mặt hành vi – ý chí có thể là bị chi phối bởi mặt nhận thức và tình cảm hoặc do sự thiếu thuần thục các kỹ năng học tập của người học Nếu người học có thái độ học tập nghiêm túc vì ý thức được tầm quan trọng của nội dung kiến thức hoặc xác định được nghề nghiệp trong tương lai thì tính chủ định và năng lực điều khiển bản thân của người học tăng lên Chính những áp lực trong học thuật và những đòi hỏi mới của xã hội làm cho người học có trách nhiệm hơn trong học tập, không ngừng đào sâu, nắm vững kiến thức và áp dụng vào trong thực tế, biết khắc chế nhu cầu bản thân, từ
bỏ những thú vui cá nhân,… để tập trung học tập, hoàn thành những nhiệm vụ học tập được giao Khi xét đến hành vi trong học tập cần xét đến kỹ năng học tập của người học Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những tri thức có được đối với việc giải quyết những nhiệm vụ được đặt ra cho phù hợp với điều kiện cho phép Trong đề tài, người nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của người học ở dạng được biểu hiện
cụ thể trong học tập là kỹ năng học tập
Do đặc điểm hoạt động học tập của học viên đã khác nhiều so với việc học tập ở phổ thông Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học viên phải nắm được kỹ năng tự học tập, rèn luyện nâng cao trình độ Chính vì vậy, kỹ năng học tập rất cần thiết và có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học viên Việc không biết cách thực hiện những kỹ năng học tập, không thấy được sự cần thiết phải
có được kỹ năng học tập hoặc sự vận dụng, sử dụng kỹ năng học tập không thuần thục sẽ là một khó khăn tâm lý không nhỏ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập như:
- Có những biểu hiện không sẵn sàng tiếp thu tri thức như: lơ là, không thực hiện các bài tập theo yêu cầu, phá quấy lớp học, không chú tâm học tập,…
- Học đối phó để khỏi bị phạt,
Trang 27- Không nỗ lực trong học tập,…
Như vậy, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập được biểu hiện thông qua ba dạng cơ bản trong đời sống tâm lý con người là: nhận thức, thái độ - tình cảm và hành vi Ba mặt này có mối quan hệ tác động qua lại nhau, do vậy trong quá trình học tập cần phải chú đến cả ba biểu hiện trên mới có thể giải quyết được những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập được
1.2.2.5 Ho ạt động học tập và khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân
vi ện Miền Nam, học viên Thanh thiếu niên Việt Nam
Hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, học viên Thanh thiếu niên Việt Nam
Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và mục tiêu đào tạo của Phân viện Miền Nam là đào tạo những đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội chuyên trách, đáp ứng nhu cầu của phong trào Thanh thiếu nhi cho các cơ sở phía Nam Do tính đặc thù của công tác Đoàn, Hội, Đội nên hiện nay Phân viện Miền Nam đang kết hợp đào tạo 2 chương trình:
- Chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính và nghiệp vụ Thanh vận
- Chương trình trung cấp xã hội học chuyên ngành công tác Thanh niên
Chính vì vậy, hoạt động học tập của học viên Phân viện ngoài việc có những nét đặc trưng chung của hoạt động học tập của học viên các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề khác thì
nó còn mang những nét đặc thù riêng của nghề nghiệp trong tương lai như:
Một là: Với mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác Đoàn, Hội, Đội cho các
cơ sở Phía Nam – đội ngũ cán bộ chính trị trẻ của đất nước Nên hoạt động học tập của học viên Phân viện nhằm lĩnh hội khối lượng kiến thức lý luận chính trị, Khối kiến thức đại cương và khối kiến thức chuyên ngành để sau khi tốt nghiệp học viên có thể tiếp cận và giải quyết có hiệu quả các công việc có liên quan đến ngành học Vì vậy, chương trình học tập của học viên Phân viện gồm:
- Khối kiến thức về khoa học Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ,… nhằm lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học cơ bản,
có tư duy lý luận, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan đúng đắn, am hiểu pháp luật
- Khối kiến thức về các môn khoa học cơ sở như: Các môn khoa học về hành chính và
xã hội học: môn văn hoá xã hội; môn xã hội học; tâm lý học; kỹ năng giao tiếp; công tác xã hội cá nhân, nhóm; an sinh xã hội; phát triển cộng đồng,… nhằm lĩnh hội những kiến thức nền tảng, cơ bản làm công cụ để nghiên cứu, tiếp cận, tập hợp và phát triển phong trào Thanh thiếu nhi Có khả năng thực hành công tác xã hội cá nhân, nhóm, cộng đồng
- Khối kiến thức chuyên nghành công tác Thanh vận như: phương pháp luận công tác thanh niên, công tác xây dựng các tổ chức thanh niên, kỹ năng nghiệp vụ công tác Thanh niên, công
Trang 28tác thiếu nhi, phương pháp và kỹ năng tổ chức các hoạt động cho Thanh thiếu nhi,… Để đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đoàn, Hội, Đội; xây dựng và đáp ứng nhu cầu của phong trào Thanh thiếu nhi Có khả năng tham mưu, đề xuất với lãnh đạo về chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, tổ chức các hoạt động quần chúng, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của Thanh thiếu nhi
- Các môn ngoại ngữ, tin học nhằm trang bị phương tiện cho nhiệm vụ học tập và công tác trong tương lai
- Các môn giáo dục thể chất, quốc phòng,… nhằm rèn luyện sức khoẻ, nâng cao tính kỷ luật và ý thức công dân
- Môn thống kê lao động – xã hội,… để sử dụng trong công việc khảo sát, nghiên cứu nắm bắt tình hình thực tiễn và nhu cầu, xu hướng phát triển của xã hội và của Thanh thiếu nhi
Như vậy, đối tượng nhận thức của học viên Phân viện Miền Nam là hệ thống tri thức, kỹ năng về các môn khoa học Mác – LêNin, các môn khoa học cơ sở, các môn học chuyên ngành và kỹ năng công tác Thanh thiếu nhi để họ có thể trở thành những cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực công tác Đoàn, Hội, Đội ở các cơ sở
Hai là: Học viên Phân viện Miền Nam sẽ trở thành những cán bộ chính trị làm công tác vận động quần chúng Thanh thiếu nhi nên họ phải am hiểu về Thanh thiếu nhi, phải phấn đấu trở thành người “kỹ sư tâm hồn” của thế hệ trẻ Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, do tác động nhiều mặt của đời sống xã hội làm cho nhu cầu và nguyện vọng của Thanh thiếu nhi có nhiều biến động phức tạp,
vì vậy người cán bộ Đoàn, Hội, Đội cần không ngừng rèn luyện, phấn đấu để thực sự xứng đáng là những thủ lĩnh của lớp người trẻ tuổi Tích cực, chủ động, sáng tạo tổ chức các loại hình hoạt động
đa dạng, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng phức tạp của thanh thiếu nhi; làm tốt công tác tập hợp và giáo dục thế hệ trẻ
Ba là: Với mục tiêu học tập, rèn luyện trở thành những cán bộ chính trị trẻ - những cán bộ phong trào Như Bác Hồ đã khẳng định: “cán bộ là cái gốc của công việc, đặc biệt là cán bộ phong trào, cán bộ nào phong trào ấy” Do vậy, học viên Phân viện Miền Nam cần không ngừng học tập, rèn luyện một cách chủ động, tích cực biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo thì mới có thể có môi trường rèn luyện kinh nghiệm thực tế ngay từ khi còn đang ngồi học trong Phân viện đến khi ra công tác họ có được một số kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động thực tế, không bị bỡ ngỡ trong công việc Bên cạnh đó, việc rèn luyện bản lĩnh và phong cách người cán bộ chính trị trẻ là một quá trình cần phải được rèn luyện suốt trong quá trình học tập trong Phân viện, công việc này đòi hỏi cần có sự tự giác, tích cực của người học viên và việc tổ chức các phong trào học tập, rèn luyện của Phân viện thì mới có thể có kết quả
Tóm lại: Hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam là một loại hình hoạt động
Trang 29đặc thù nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác Đoàn, Hội, Đội cho phía Nam Đây là một quá trình học tập và rèn luyện vất vả; đòi hỏi người học vừa nắm chắc lý luận, vừa có kỹ năng hoạt động thực tế để có thể đáp ứng kịp đòi hỏi của xã hội và phong trào Chính vì vậy, người học viên cần chủ động, tích cực, tự giác trong quá trình học tập và rèn luyện không chỉ trong suốt quá trình học tập tại Phân viện mà còn cần sự chủ động, tích cực học tập và rèn luyện trong suốt quá trình công tác, mới có thể đáp ứng được những nhu cầu phát triển ngày càng cao, càng phong phú,
đa dạng, phức tạp của thế hệ trẻ và thực sự trở thành người “Thủ lĩnh” của Thanh thiếu nhi
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, học viên Thanh thiếu niên Việt Nam
Học viên Phân viện Miền Nam, học viện Thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay thường có tuổi đời trong khoảng từ 18 đến 32 Đa số đang là cán bộ Đoàn, Hội, Đội đang công tác tại các cơ sở, địa phương hoặc trong khối lực lượng vũ trang nhân dân hay khối kinh tế, doanh nghiệp và một số là lực lượng dự nguồn được các cơ sở tuyển cử từ những học sinh mới tốt nghiệp trung học phổ thông, gửi về Phân viện đào tạo bổ sung cho đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội của các tỉnh thành phía Nam
Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức của học viên
- Đối tượng học tập của học viên Phân viện Miền Nam khá đa dạng, bao gồm một hệ thống những tri thức của các môn khoa học Mác – LêNin, các môn khoa học cơ bản về khoa học hành chính và công tác xã hội, các môn khoa học chuyên ngành Thanh vận và các môn nghiệp vụ Đoàn, Hội, Đội như trại, trò chơi, khiêu vũ, múa hát cộng đồng, kỹ năng tổ chức các hội thi,… và các môn hỗ trợ như tin học, ngoại ngữ, cắm hoa, cắt chữ, cứu thương, phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ em,… Mỗi môn học trên đều có một vị trí, vai trò, tầm quan trọng riêng nhằm đào tạo những thế hệ cán bộ Đoàn, Hội, Đội năng động, sáng tạo, có bản lĩnh và thực sự giỏi nghề, gắn bó
và tâm huyết với công việc Tuy nhiên, không phải học viên nào cũng nhận thức được vị trí tầm quan trọng của từng môn học trong hoạt động học tập Chính sự hiểu biết mơ hồ, không rõ ràng về
vị trí, vai trò, tầm quan trọng của từng môn học và kết cấu của các môn học trong chương trình học tập là một khó khăn tâm lý có thể dẫn đến tình trạng học viên xem thường một số môn học hoặc là quá e ngại, sợ khi học một số môn học, nhất là những môn lý luận và chính trị học; dẫn đến học lệch, học tủ, học đối phó,…
- Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về trường, về nghề, sự thiếu hiểu biết về nhiệm vụ học tập, yêu cầu học tập,…của học viên cũng là những khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức của học viên Phân viện Miền Nam Nếu học viên hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về đối tượng hoạt động của mình thì họ sẽ chuẩn bị được tâm thế và các điều kiện để thực hiện hoạt động đó tốt hơn Ngược lại, khi thiếu hiểu biết về đối tượng hoạt động thì chủ thể sẽ tiến hành hoạt động một cách đối phó, thiếu
sự tích cực và do đó hoạt động khó đạt được hiệu quả
Trang 30- Ngoài ra, một số học viên Phân viện Miền Nam còn có thể gặp khó khăn tâm lý khác như: có những học viên nhận thức về động cơ học tập chưa rõ ràng, họ chưa thực sự hình thành được nhu cầu học tập và điều này sẽ ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập của một bộ phận học viên này Cũng có một số học viên học tập gắn với động cơ vì mối quan hệ xã hội nên quá trình nắm kiến thức và nội dung các môn học chưa thực sự sâu sắc, chưa có sự đào sâu, tìm tòi, khám phá kiến thức, sẵn sàng thừa nhận những tri thức mang tính một chiều mà giảng viên cung cấp,
Như vậy, chính sự thiếu hiểu biết về đối tượng học tập – cụ thể là về nội dung, chương trình, hoạt động học tập và rèn luyện ở Phân viện Miền Nam và việc nhận thức chưa rõ ràng về động cơ học tập của bản thân là biểu hiện khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam
Khó khăn tâm lý biểu hiện ở thái độ học tập của học viên
Trong quá trình học tập luôn có sự tham gia của các trạng thái tình cảm, thái độ của người học (chủ thể) đối với hoạt động học tập Trong thực tế, một bộ phận học viên Phân viện Miền Nam vừa tốt nghiệp phổ thông còn rất bỡ ngỡ với phương pháp học tập ở trường chuyên nghiệp; một bộ phận học viên Phân viện Miền Nam đã học qua một số các trường chuyên nghiệp khác nhưng do yêu cầu của công việc phải tiếp tục học tập tại Phân viện Miền Nam nên có thái độ chủ quan, lơ là, coi nhẹ việc học Hơn nữa sự không đồng đều về trình độ nhận thức và lứa tuổi (18 tuổi đến 32 tuổi),… Những học viên này có thể nảy sinh thái độ, tình cảm khá phức tạp đối với hoạt động học tập
Xét theo góc độ tích cực thì học viên có thể có những thái độ, tình cảm tích cực, dương tính đối với hoạt động học tập như: khi bước vào môi trường học tập và rèn luyện mới họ sẽ có thái độ tò
mò, ham học hỏi, khao khát, quyết tâm học tập, niềm vui, sự hứng thú học tập và tinh thần vượt khó,… Những thái độ, tình cảm đó sẽ thúc đẩy học viên học tập tích cực Ngược lại, ở học viên cũng có thể xuất hiện những thái độ, tình cảm âm tính đối với việc học tập như: coi thường, chán nản, thờ ơ, lo lắng, căng thẳng, sợ hãi,… dẫn đến kết quả học tập không cao
Bên cạnh đó, do môi trường học tập mới, do sự hạn chế của kinh nghiệm, của tuổi đời,… khi tham gia vào một hoạt động học tập mới học viên Phân viện Miền Nam có thể có sự đánh giá chưa phù hợp về đối tượng hoạt động và bản thân tham gia hoạt động đó Một số học viên đánh giá quá cao về bản thân thì có thể chủ quan, lơ là, chểnh mảng, xem thường hoạt động học tập và rèn luyện của Phân viện Ngược lại, có thể có một số học viên lại bị áp lực, căng thẳng, ép mình vào hoạt động học tập với mục đích phải đạt được thành tích cao trong học tập; Một số khác có thể tự ty, đánh giá thấp bản thân dẫn đến thái độ mặc cảm, sợ mắc sai lầm, thiếu ý chí phấn đấu trong học tập
và rèn luyện dẫn đến kết quả học tập bị hạn chế,…
Trang 31Như vậy, chính những thái độ, tình cảm âm tính của chủ thể hoạt động sẽ làm giảm đi tính tích cực, chủ động trong học tập của học viên và có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của họ
Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt hành vi của học viên
Mục đích của hoạt động học tập ở Phân viện Miền Nam là đào tạo học viên trở thành những người cán bộ Đoàn, Hội, Đội cho các tỉnh (thành), cơ sở có đủ bản lĩnh chính trị, nghiệp vụ vận động và giáo dục Thanh thiếu nhi Chính vì vậy, bên cạnh việc nắm vững một hệ thống những tri thức khoa học, các kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp lĩnh hội các kiến thức khoa học chuyên ngành; học viên Phân viện Miền Nam còn cần phải thuần thục những kỹ năng cơ bản như kỹ năng thu hút
và tập hợp Thanh thiếu nhi, kỹ năng tuyên truyền và vận động quần chúng, kỹ năng tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng phù hợp với đặc trưng tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính và vùng miền,… để giáo dục thế hệ trẻ Hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo mà Phân viện Miền Nam cần trang bị cho học viên – những thủ lĩnh của Thanh thiếu nhi là hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo nền tảng và chuyên biệt liên quan đến khả năng hành nghề trong tương lai của học viên
Trước khi đề cập đến những kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt đó, ta cần bàn đến phương pháp học tập của học viên, vì kỹ năng học tập là sự thể hiện cụ thể của phương pháp học tập Có nhiều tác giả tiếp cận phương pháp học tập ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, do tính chất chủ động của chủ thể học là học viên thì việc phân loại cách học theo ba cách tác động đến đối tượng học tập của người học đến đối tượng là khá phù hợp [27, tr.120-206]:
Tác động trực tiếp: Mô hình phương pháp tự học, tự nghiên cứu, từ đó người học có
kỹ năng tương ứng như kỹ năng tự học, làm việc độc lập như:
- Một là kỹ năng đọc sách gồm:
+ Tìm và lựa chọn sách, tài liệu phục vụ cho môn học
+ Đọc kết hợp giữa giáo trình và tài liệu tham khảo
+ Tổng hợp, chọn lọc, đánh giá kiến thức ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau
+ Ghi chép khi đọc sách
+ Đọc và lưu giữ, hiểu được những thông tin quan trọng phục vụ cho học tập từng bộ môn
- Hai là kỹ năng nghe giảng và ghi chép gồm:
+ Đặt câu hỏi, tìm kiếm, phát hiện vấn đề
+ Hệ thống, ôn tập kiến thức cũ để làm nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức mới
+ Xác định các vấn đề trọng tâm của bài học
+ Nghe giảng, ghi chép đầy đủ nội dung bài học
+ Nghe giảng, diễn đạt nội dung bài học bằng ngôn ngữ của mình
- Ba là kỹ năng ôn tập gồm:
+ Xây dựng kế hoạch ôn tập
Trang 32+ Lập đề cương ôn tập
+ Sắp xếp, phân loại tri thức đã học theo mối liên hệ để dễ dàng trong việc ghi nhớ
- Bốn là kỹ năng nghiên cứu khoa học (viết các bài thu hoạch môn học, bài tiểu luận tốt
ng hiệp)gồm:
+ Lựa chọn và xác định vấn đề cho bài tập nghiên cứu
+ Lập đề cương bài tập nghiên cứu
+ Xử lý các tài liệu phục vụ cho bài tập nghiên cứu
+ Trình bày kết quả nghiên cứu
Tác động qua hợp tác, tự thể hiện mình: đòi hỏi học viên cần có những kỹ năng: kỹ
năng thuyết trình, kỹ năng thảo luận,…
+ Xây dựng đề cương cho buổi xemina (thảo luận)
+ Sắp xếp cấu trúc bài báo cáo lozic, khoa học
+ Trình bày rõ ràng, dễ hiểu, tự tin trước tập thể
+ Đặt câu hỏi trao đổi, dẫn dắt cuộc thảo luận đi đúng hướng
+ Biết phân tích, đánh giá các ý kiến, các quan điểm khác nhau trong buổi thảo luận
Tác động qua thông tin phản hồi: Mô hình các phương pháp tự kiểm tra, tự điều
chỉnh tương ứng là các kỹ năng kiểm tra, kỹ năng đánh giá,…
+ Đọc, phân tích vấn đề trước khi giải quyết một nhiệm vụ học tập hoặc trong khi làm bài kiểm tra
+ Lập dàn ý, xây dựng đề cương bài kiểm tra
+ Viết và trình bày câu trả lời
+ Đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi lần kiểm tra hoặc phải giải quyết một nhiệm vụ học tập nào đó
Ngoài ra, học viên Phân viện Miền Nam còn phải được học tập và rèn luyện những kỹ năng tập hợp, vận động và giáo dục Thanh thiếu nhi như: kỹ năng tổ chức các hoạt động tập thể, kỹ năng
tổ chức các hội thi, hội thao, kỹ năng tuyên truyền và vận động quần chúng, kỹ năng nói chuyện trước đám đông,…và những kỹ năng phụ trợ như kỹ năng thiết kế các băng rôn, khẩu hiệu, kỹ năng thương thuyết và thiết lập các mối quan hệ,… Đây là những kỹ năng phần mềm để phục vụ cho công tác tập hợp và giáo dục thế hệ trẻ của tổ chức Đoàn, Hội, Đội Những kỹ năng này cần phải được bản thân người học hiểu rõ tầm quan trọng và tự giác, tích cực rèn luyện trong suốt quá trình học tập tại Phân viện thông các mô hình học tập trong và ngoài giờ học và trong thực tế phong trào chứ không phải một sớm một chiều có thể thành thục được Thực tế hiện nay, những mô hình rèn luyện kỹ năng này của Phân viện còn yếu và thiếu, một phần do quĩ thời thời gian học tập eo hẹp (cả
02 chương trình trung cấp và 01 chương trình nghiệp vụ trong một khoảng thời gian - 24 tháng),
Trang 33một phần do công tác quản lý học viên chưa chặt chẽ và phong trào Đoàn trường chưa thực sự mạnh
mẽ, thiếu môi trường rèn luyện nghề nghiệp cho học viên
Tóm lại: Kỹ năng học tập nền tảng là một đòi hỏi quan trọng và cần thiết đối với người học nói chung và học viên Phân viện Miền Nam nói riêng Nếu người học không có được những kỹ năng học tập nền tảng và sử dụng chúng một cách thành thạo hoặc ngược lại có thái độ coi thường, cho rằng những kỹ năng này là không cần thiết thì đó chính là khó khăn tâm lý biểu hiện ở hành vi trong hoạt động học tập của học viên
1.2.2.6 Nguyên nhân c ủa những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Khi tiến hành một hoạt động, để hoạt động diễn ra thuận lợi và hạn chế tối đa những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thì cần đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động Nghĩa là một hoạt động muốn không gặp những khó khăn trở ngại thì cần phải hội đủ các điều kiện khách quan và chủ quan nhất định
Hoạt động học tập là một dạng hoạt động lao động trí tuệ vất vả và khó khăn Do đó, việc đảm bảo các điều kiện cho hoạt động học tập là hết sức cần thiết Nếu các điều kiện đó được đảm bảo thì hoạt động học tập sẽ thuận lợi và ngược lại, nếu không đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của hoạt động thì sẽ là nguyên nhân gây ra những khó khăn nói chung và những khó khăn tâm lý nói riêng
Có thể nói, nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên bao gồm cả những điều kiện khách quan bên ngoài và những điều kiện chủ quan, xuất phát từ chính chủ thể học tập là học viên
Khi bước vào học tập và rèn luyện ở Phân viện Miền Nam là học viên bước vào một môi trường học tập với rất nhiều sự mới mẻ, khác biệt Đa số học viên có thể gặp những khó khăn, lúng túng trong việc thay đổi và thích nghi với môi trường và hoạt động mới Để hoạt động học tập diễn
ra thuận lợi và hạn chế tối thiểu những khó khăn nảy sinh trong hoạt động học tập thì người học viên cần có những phẩm chất, năng lực, tính cách và kinh nghiệm nhất định để sẵn sàng đáp ứng
những yêu cầu của môi trường và hoạt động mới Ngược lại, nếu những học viên không đáp ứng được những điều kiện trên thì trong hoạt động học tập của họ sẽ gặp nhiều khó khăn nói chung và khó khăn tâm lý nói riêng
Bên cạnh đó, những điều kiện bên ngoài như: môi trường học tập không thuận lợi, các điều kiện, phương tiện học tập thiếu thốn, khối lượng và mức độ nội dung học tập quá lớn và khó, việc sắp xếp, bố trí chương trình học tập và rèn luyện thiếu hợp lý, phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phù hợp, giáo trình và tài liệu tham khảo hạn chế, các điều kiện hỗ trợ khác chưa tốt,…cũng sẽ
là nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn nói chung và khó khăn tâm lý nói riêng
Trang 34Đặc biệt khi xét về nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, chúng ta cần phải nghiên cứu để xác định những nguyên nhân xuất phát từ những chính bản thân chủ thể của hoạt động học tập là người học viên, để từ đó có thể xác định được đầy đủ, chính xác những nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của họ; từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu hoặc giải quyết được những khó khăn tâm lý, giúp học viên học tập đạt kết quả tốt hơn
Trang 35CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT
2.1 Th ể thức và phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Cách soạn thang đo
Để khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý của học viên Phân viện Miền Nam, Học Viện Thanh thiếu niên Việt Nam một cách hiệu quả và khách quan, chúng tôi đã tiến hành xây dựng bảng hỏi theo các bước sau:
- Bước 1: Tháng 8/ 2010 tiến hành điều tra mở bằng hình thức phát phiếu mở thăm dò ý kiến học viên và đội ngũ giảng viên đang trực tiếp giảng dạy tại Phân viện, nhằm xác định bước đầu về những khó khăn tâm lý của học viên Phân viện Miền Nam (phụ lục 1)
- Bước 2: Tháng 11/ 2010 phát phiếu thăm dò 60 học viên và đội ngũ giảng viên của Phân viện, nhằm tập hợp ý kiến học viên về những khó khăn tâm lý, những nguyên nhân và biện pháp của những khó khăn tâm lý mà họ gặp phải trong quá trình học tập để người nghiên cứu tổng hợp lại xây dựng nên nội dung bảng điều tra chính thức (phụ lục 2)
- Bước 3: Tháng 01/ 2011 Tiến hành điều tra thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam, học viện Thanh thiếu niên Việt Nam trên cơ sở của việc nghiên cứu lý luận và kết quả của 2 lần điều tra trước (phụ lục 3.a và 3.b)
Bảng hỏi được xây dựng dựa trên các nội dung chính sau:
+ Thu thập một số thông tin về khách thể nghiên cứu (Câu 1)
+ Thu thập ý kiến của khách thể nghiên cứu về những khó khăn và mức độ gặp khó khăn tâm
lý trong hoạt động học tập của học viên thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành vi của học viên (Câu 2, 3, 4)
+ Thu thập ý kiến của khách thể nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của những khó khăn đó (Câu 5)
+ Những nguyên nhân của thực trạng đó (Câu 6, 7)
+ Một số đề xuất một số biện pháp nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn, nâng cao chất lượng đào tạo của học viện trong giai đoạn hiện nay (Câu 8, 9)
Để thu nhập thêm số liệu thực tế phong phú chúng tôi có sử dụng thêm phương pháp trao đổi, trò chuyện với 2 nhóm khách thể nghiên cứu Phương pháp này thực hiện theo hai hình thức trao đổi nhóm tập trung và trao đổi cá nhân
- Trao đổi nhóm tập trung: chúng tôi tập trung trao đổi các vấn đề gắn với những nội dung có bảng hỏi để tăng tính thuyết phục cũng như độ phong phú và thực tế của số liệu
- Trao đổi cá nhân: Chúng tôi chọn một vài vấn đề nổi trội trong phần trả lời để hỏi thêm một
số học viên và giáo viên nhằm thu thập thêm những số liệu điều tra thực tế
Trang 36Bên cạnh đó, chúng tôi dùng phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS for Window, phiên bản 13.1 để xử lý các số liệu thống kê
2.1.2 Mẫu nghiên cứu
Trang 37 Để thu thập ý kiến đánh giá về khó khăn tâm lý của học viên trong hoạt động học tập
chúng tôi dùng câu hỏi 1 (Bảng phụ lục 3a và 3b) kết quả thu được như sau:
B ảng 2.1: Đánh giá của học viên về mức độ khó khăn của học viên trong quá trình học tập
và rèn luy ện tại Phân viện
Với số liệu thu được trên, có 98,8 % học viên cho rằng họ có gặp phải khó khăn trong hoạt động học tập với các mức độ cụ thể là: Rất thường xuyên = 2,4 %, Thường xuyên = 17,8 %, Thỉnh thoảng = 38,1 %, Hiếm khi = 40,5 % và 1,2 % cho rằng không bao giờ gặp khó khăn Trong thực tế giảng dạy và qua những lần tiếp xúc với học viên chúng tôi nhận thấy các em có gặp khó khăn nói chung và những khó khăn tâm lý trong quá trình học tập Có những học viên có biểu hiện mệt mỏi khi phải lên lớp học với những lịch dày đặc và than phiền vì thời gian học tập bị kéo dài, kinh phí học tập cao – do các em học luôn cả 2 chương trình trung cấp chính trị - hành chính và trung cấp xã hội học chuyên ngành công tác thanh niên
Bảng 2.2: Đánh giá của giảng viên về mức độ khó khăn của học viên trong quá trình học tập
và rèn luy ện tại Phân viện
Trang 38Có thể có 1 8,3
Qua số liệu thu được có 100% ý kiến giảng viên Phân viện cho rằng học viên Phân viện có gặp khó khăn trong học tập với các mức độ: 91,7 % số giáo viên cho rằng học viên Phân viện Miền Nam có gặp khó khăn, chỉ có 8,3 % cho rằng học viên có thể có gặp khó khăn Kết quả từ bảng 2.1
và 2.2 trên đã cho thấy học viên Phân viện Miền Nam có gặp những khó khăn trong quá trình học tập
Ở câu hỏi 2 (Bảng phụ lục 3a và 3b), với câu hỏi mở để thu thập thêm ý kiến đánh giá của 2 nhóm khách thể về những khó khăn trong hoạt động học tập của học viên Phân viện kết quả thu được như sau:
Bảng2.3: Ý kiến của học viên về
k hó khăn trong hoạt động học tập
Cần quan tâm đến việc học của
Thiếu hiểu biết về nghề nghiệp
Một số môn học trừu tượng
Thiếu sách, tài liệu tham
Phương pháp giảng dạy của giáo viên
Khó khăn trong công việc
Trang 39Qua kết quả đánh giá trên, chúng tôi nhận thấy cả học viên và giáo viên đều đề cập đến những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Phân viện Miền Nam như:
- Những khó khăn thuộc về nhận thức: Thiếu hiểu biết về nghề nghiệp trong tương lai; Tâm
lý nghề nghiệp; Hiểu biết về xã hội còn hạn chế; Khó khăn trong công việc khi ra trường
- Những khó khăn về mặt thái độ, tình cảm: Rụt rè, nhút nhát; Thiếu tự tin; Không khí thi đua
học tập ở học viên; Xa gia đình, người thân; Học nhiều làm học viên mệt; giáo viên ít quan tâm đến
ý kiến đề xuất của học viên; Một số môn xã hội còn xa lạ; Cần quan tâm đến việc học của học viên; Học nhiều làm học viên mệt; Còn xuất hiện tiêu cực,…
- Những khó khăn về hành vi: Trong việc tiếp nhận kiến thức; Phương pháp học tập yếu;
Hiểu biết về xã hội còn hạn chế; Năng lực học tập trung bình; Về kinh nghiệm cuộc sống; Một số môn học trừu tượng khó hiểu; Vận dụng kỹ năng còn hạn chế; Tiếp thu chậm; Một số môn xã hội còn xa lạ; Cần phân biệt những người có năng khiếu,…
Đặc biệt, cả 2 nhóm khách thể đều có những ý kiến tập trung vào những khó khăn như:
- Cơ sở hạ tầng kém (25%); do vị trí của Phân viện ở xa, hẻo lánh, chỉ có 1 tòa nhà là cơ sở
kế thừa của một trường dòng của chế độ cũ đã xây dựng từ những năm 1960, đã xuống cấp nhiều Các thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy thiếu và cũ, do sự đầu tư kinh phí từ phía cơ quan chủ quan là trung ương Đoàn chưa kịp thời Việc xây dựng mới thì gặp khó khăn do những tranh chấp
về đất đai chưa giải quyết xong, cơ quan chủ quản không đầu tư kinh phí cho sửa chữa
- Những khó khăn của học viên đề cập đến vấn đề tài chính là những khó khăn vật chất nhưng cũng ảnh hưởng không ít đến khó khăn tâm lý Vì các em học 2 chương trình trung cấp chính trị - hành chính và trung cấp xã hội chuyên ngành công tác thanh niên nên kinh phí đào tạo phải đóng nhiều, hơn nữa khá nhiều học viên phải đóng tiền phụ đạo do nghỉ học quá thời gian qui chế
và thi lại lên kinh phí học tập của học viên càng nhiều hơn Về khó khăn lịch học quá “dày đặc” hay thời gian lên lớp nhiều cũng chính là do học cùng lúc cả 2 chương trình, tạo nên những áp lực tâm
lý khá lớn ở học viên Qua trao đổi, có một số học viên cho rằng do lịch lên lớp quá dầy đặc nên họ không có thời gian để chuẩn bị bài trước và sau khi lên lớp Bên cạnh đó có những ý kiến khó khăn
về giáo trình, phương tiện học tập; về trình độ của giáo viên và của học viên không đồng đều; có những em không có năng khiếu trong các hoạt động Đoàn, Hội, Đội; và những tiêu cực mà học viên nhắc đến chính là vấn đề gian lận trong học tập do lười học, không chuẩn bị bài trước khi lên lớp và trong thi cử
- Giáo viên ít quan tâm đến đề xuất của học viên, có lẽ vì số lượng giáo viên ít, hay đi công tác các tỉnh xa nên việc tiếp xúc với học viên còn hạn chế hơn trước
Những khó khăn mà cả giáo viên và học viên nêu ra có những khó khăn chưa đề cập trực tiếp đến những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên, nhưng thực sự những khó
Trang 40khăn đó cũng chính là những khó khăn gây ra những khó khăn tâm lý về mặt nhận thức, thái độ và hành vi của học viên trong quá trình học tập
Với câu hỏi 3 (Bảng phụ lục 3a và 3b) để điều tra về mức độ khó khăn trong học tập của học viên Phân viện Miền Nam, chúng tôi đưa ra thang đo 5 mức độ từ: (1) không bao giờ, (2) Hiếm khi, (3) Thỉnh thoảng, (4) Thường xuyên, (5) Rất thường xuyên Qua điều tra thực tế kết quả thu được như sau:
Bảng 2.5: Ý kiến đánh giá của học viên và giáo viên về các mức độ khó khăn trong học tập ( với thang đo 5 mức)
Các loại khó khăn thường gặp trong hoạt
Sự thiếu hiểu biết về nghề nghiệp trong
Thiếu hiểu biết về vai trò, trách nhiệm của
học viên đối với việc học tập
Chưa xác định rõ về vai trò, tầm quan trọng
của công việc của mình sẽ đảm trách trong
tương lai
Chưa thích ứng với môi trường và hoạt động
của Phân viện
3,29 1,12 4 3,00 0,73 20
Thấy mình không phù hợp với công việc
trong tương lai