v DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT ATNĐ Áp thấp nhiệt đới BĐKH Biến đổi khí hậu BTNMT Bộ Tài nguyên & Môi trường DBH Đường kính ở đô ̣cao ngang ngực, thường là ở đô ̣cao 1.3m DFID Cơ quan Phát tr
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
- -
TÔN TH Ị MINH KHÁNH
ĐỀ TÀI:
HÀ N ỘI - 2022
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
- -
ĐỀ TÀI:
Người thực hiện : Tôn Th ị Minh Khánh
Trang 3C ỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 4i
L ỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân em còn nh ận được sự giúp đỡ từ các cá nhân, tập thể trong và ngoài Học viện Nông nghi ệp Việt Nam
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Ngô Thế
Ân người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa lu ận tốt nghiệp
Em xin g ửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể thầy cô giáo trong khoa Tài nguyên & Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dạy dỗ, dìu dắt em trong
su ốt thời gian học tập tại trường, giúp em có kiến thức chuyên sâu về ngành Khoa học môi trường cùng với nhiều kỹ năng, trải nghiệm trong cuộc sống và tạo điều kiện giúp
đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành c ảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các Phòng, Ban trong UBND phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cùng nhân dân trong phường – những người đã cung cấp thông tin giúp em hoàn thiện đề tài khoá
lu ận này
Cu ối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người luôn quan tâm, động viên em trong su ốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành c ảm ơn!
Hà N ội, ngày 30 tháng 06 năm 2022
Tôn Th ị Minh Khánh
Trang 5ii
M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vi
M Ở ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2.Mục đích nghiên cứu 2
1.3.Yêu cầu nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu 4
1.1.1 Biến đổi khí hậu 4
1.1.2 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam 5
1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu 9
1.2 Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững và lý thuyết khung sinh kế bền vững 12
1.2.1 Sinh kế 12
1.2.2 Sinh kế bền vững 13
1.2.3 Khung sinh kế bền vững theo lý thuyết của DFID 14
1.3 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu và sinh kế 16
1.3.1 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu 16
1.3.2 Các nghiên cứu về sinh kế 18
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 24
Trang 6iii
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Phường Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương 26
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của phường Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 33
3.2 Thực trạng sinh kế nông nghiệp của người dân và tác động của BĐKH tại Phường Tân Hưng, Hải Dương 35
3.2.1 Thực trạng sinh kế nông nghiệp của người dân 35
3.2.2 Tác động của BĐKH đến sinh kế nông nghiệp của người dân 40
3.3 Hiệu quả của một số mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng BĐKH tại địa phương 50
3.3.1 Khả năng huy động nguồn vốn trong thích ứng BĐKH 50
3.3.2 Hiệu quả kinh tế của các mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng BĐKH 70
3.3.3 Hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát thải KNK của các mô hình sinh kế nông nghiệp 72
3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng BĐKH cho các cộng đồng có sinh kế dựa vào nông nghiệp 74
3.4.1 Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu 74
3.4.2 Đề xuất các giải pháp nhân rộng mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH tại địa phương 76
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
4.1 Kết luận 77
4.2 Kiến nghị 78
4.2.1 Đối với chính quyền địa phương 78
Trang 7iv
4.2.2 Đối với người dân địa phương 79
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 80
Tiếng Việt 80
Tiếng Anh 82
PH Ụ LỤC 83
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi dành cho người dân 83
Phụ lục 2: Một số hình ảnh trong quá trình thực tập Khoá luận tốt nghiệp 95
Trang 8v
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
BĐKH Biến đổi khí hậu
BTNMT Bộ Tài nguyên & Môi trường
DBH Đường kính ở đô ̣cao ngang ngực, thường là ở đô ̣cao 1.3m DFID Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
IPCC Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
KDC Khu dân cư
KNK Khí nhà kính
NBD Nước biển dâng
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NOAA Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ
NTM Nông thôn mới
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
RNM Rừng ngập mặn
SKBV Sinh kế bền vững
TTKN Trung tâm khuyến nông
UBND Uỷ ban nhân dân
UNDP Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu WMO Tổ chức khí tượng thế giới
XNM Xâm nhập mặn
Trang 9vi
DANH M ỤC HÌNH
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID, 1999 13
Hình 1.2: Các nguồn tài sản kế bền vững của DFID, 1999 15
Hình 3.1: Vị trí địa lý phường Tân Hưng 26
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế phường Tân Hưng năm 2021 28
Hình 3.3: Các nguồn thu nhập chính của người dân tại phường Tân Hưng 35
Hình 3.4: Tỉ lệ thu nhập từ các ngành Nông nghiệp 36
Hình 3.5: Tỉ lệ các nguồn thu từ nông nghiệp tại các điểm nghiên cứu 37
Hình 3.6: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của các điểm nghiên cứu 39
Hình 3.7: Nhiệt độ trung bình năm tại phường Tân Hưng (2011-2021) 42
Hình 3.8: Lượng mưa trung bình năm tại phường Tân Hưng (2011-2021) 42
Hình 3.9: Tần suất xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan theo ghi nhận của người dân 45
Hình 3.10: Cường độ/mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan theo ghi nhận của người dân 46
Hình 3.11: Tác động trực tiếp của các hiện tượng cực đoan theo đánh giá của người dân 48
Hình 3.12: Sự khác biệt của nhận thức của người dân về tác động của BĐKH tại các điểm nghiên cứu 49
Hình 3.13: Cơ cấu giới tính phường Tân Hưng 52
Hình 3.14: Trình độ học vấn của người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp tại phường Tân Hưng 53
Hình 3.15: Tỉ lệ nông hộ tham gia các chương trình tập huấn nâng cao hiểu biết thích ứng với BĐKH 55
Hình 3.16: Tỉ lệ các loại nhà ở của nông hộ (%) 63
Hình 3.17: Tỉ lệ các loại nhà ở của 3 mô hình nghiên cứu 63
Hình 3.18: Chất lượng trang thiết bị phục vụ sản xuất của nông hộ 65
Trang 10vii
Hình 3.19: Chất lượng phương tiện phục vụ sản xuất của nông hộ 3 mô
hình nghiên cứu 65Hình 3.20: Tỉ lệ các nông hộ không có đủ phương tiện phục vụ sản xuất
nông nghiệp tại 3 mô hình nghiên cứu 66Hình 3.21: Chất lượng của CSVC-KT theo đánh giá của người dân 66Hình 3.22: Số hộ tham gia vay vốn tín dụng tại 3 mô hình nghiên cứu 68
Trang 11viii
DANH M ỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng dân số phường Tân Hưng năm 2021 29
Bảng 3.2: Diện tích đất sản xuất của nông hộ 38
Bảng 3.3: Tình hình chăn nuôi của nông hộ năm 2021 39
Bảng 3.4: Bảng thống kê về nhiệt độ trung bình và tổng lượng mưa của phường Tân Hưng trong giai đoạn 2011-2021 41
Bảng 3.5: Bảng thống kê các đợt thiên tai trên địa bàn phường Tân Hưng (2016-2021) 43
Bảng 3.6: So sánh nguồn vốn con người giữa 3 mô hình nghiên cứu 56
Bảng 3.7: Nguồn vốn xã hội tại địa phương 58
Bảng 3.8: So sánh nguồn vốn xã hội giữa 3 mô hình nghiên cứu 60
Bảng 3.9: So sánh khả năng huy động nguồn vốn tự nhiên giữa 3 mô hình nghiên cứu 62
Bảng 3.10: Các nguồn thu nhập trung bình của nông hộ 67
Bảng 3.11: Các khoản chi tiêu trung bình của nông hộ 69
Bảng 3.12: So sánh nguồn vốn tài chính giữa 03 mô hình nghiên cứu 70
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của các mô hình sinh kế nông nghiệp 71
Bảng 3.14: Khả năng hấp thụ CO2 của 3 mô hình nghiên cứu 74
Bảng 3.16: Phân tích các thuận lợi và khó khăn chính khi áp dụng các mô hình sinh kế thích ứng BĐKH 75
Trang 121
M Ở ĐẦU 1.1 Tính c ấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang là thách thức lớn với toàn nhân loại
Sự ấm lên của trái đất và tình trạng nước biển dâng (NBD) cùng với các thiên tai (lũ lụt, hạn hán ) đe dọa cuộc sống của con người ở mọi nơi trên thế giới Theo Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong những nước chịu nhiều tác động nhất của BĐKH Tình trạng BĐKH và NBD sẽ làm gia tăng nguy cơ ngập
lụt trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn (XNM) trong mùa khô, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt Nhiệt độ gia tăng làm thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ảnh hưởng đến an ninh lương thực và đe dọa sự ổn định
cuộc sống của người dân Cùng với đó, người dân nông thôn, những người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là đối tượng nhạy cảm nhất và chịu tác động từ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu lớn nhất bởi một số đặc thù của nhóm người này là nhóm người yếu thế hơn trong xã hội, thiếu tài chính, kỹ thuật và tiếng nói Chính vì vậy, chính quyền cần quan tâm hơn nữa đến các đối tượng này, như khuyến khích đầu tư, hỗ trợ huy động vốn và các nguồn lực nhằm ổn định sinh kế cho hộ dân và cộng đồng, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững
Theo Chambers và Conway (1992), sinh kế là phương tiện để kiếm sống, bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được xem là bền vững “khi nó có thể giải quyết
được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế
h ệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương
và c ấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” Sinh kế bền vững thích ứng với
biến đổi khí hậu (BĐKH) là hệ thống sinh kế, có khả năng chống chịu với những
Trang 132
tác động của BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phục hồi trước các tác động của BĐKH, đặc biệt là các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán,
nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại,…), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất,
sản lượng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện kinh
tế - xã hội địa phương Tiếp cận khung phân tích sinh kế bền vững đã được áp dụng ở rất nghiều nơi trên thế giới để đưa ra những giải pháp thích ứng với BĐKH cho các cộng đồng địa phương
Tân Hưng là một phường nằm phía nam của Thành phố Hải Dương Tổng diện tích tự nhiên của phường là 5 km2,dân số năm 2018 là 8.664 người, sinh kế chủ yếu của người dân là nông nghiệp, thuỷ sản và các ngành nghề phi nông nghiệp khác Trong đó, trên 70% dân số làm nông nghiệp và khoảng 50% dân số
có đời sống phụ thuộc chính vào ngành nông nghiệp Những năm gần đây, khu vực này đang có nguy cơ chịu tác động bất lợi của BĐKH đến phát triển kinh tế
xã hội Với những biểu hiện và ảnh hưởng của BĐKH ngày càng rõ nét tại nhiều tỉnh thành, trong đó có Hải Dương, thì việc nghiên cứu các mô hình sinh kế thích ứng với khí hậu, đặc biệt là sinh kế nông nghiệp là rất cần thiết Vì vậy, tôi
tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả của một số mô hình sinh kế
nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu tại Phường Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương”
1.2 M ục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục đích phân tích được hiệu quả của một số
mô hình sinh kế nông nghiệp điển hình tại phường Tân Hưng theo tiêu chí thích ứng với BĐKH; đề từ đó đưa ra những giải pháp cải thiện năng lực thích ứng dựa trên các nguồn lực về con người, xã hội, tự nhiên, tài chính và vật chất của
cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
1.3 Yêu c ầu nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu này, các yêu cầu đặt ra như sau:
- Mẫu điều tra, khảo sát được thu thập có tính diện cho khu vực nghiên cứu;
Trang 143
- Phương pháp phân tích được tiếp cận theo Khung phương pháp phân tích sinh kế bền vững của DFID (DFID, 1999);
- Số liệu được tổng hợp và phân tích thống kê phù hợp, có độ tin cậy;
- Đề xuất đưa ra có tính khả thi cho khu vực nghiên cứu
Trang 15của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu
Nguyên nhân chính của BĐKH là sự gia tăng khí nhà kính trong bầu khí quyển Có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ Trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển Theo Ngân hàng Thế giới (2010), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển tăng
mạnh sau các cuộc cách mạng công nghiệp trên Thế giới, từ 170 -280 phần triệu (ppm) lên đến mức 387 ppm Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ làm nhiệt độ Trái đất tăng lên và nguyên nhân của các vấn đề BĐKH là do Trái đất không hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính đang dư thừa trong bầu khí quyển (UNDP, 2008)
Theo IPCC, 2007 các biểu hiện của biến đổi khí hậu bao gồm:
- Nhiệt độ trung bình tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu;
- Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan;
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển;
- Sự di chuyển các đới khí hậu các vùng khác nhau của trái đất;
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác;
Trang 165
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành
phần thủy quyển, sinh quyển, địa quyển
Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của BĐKH
Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự tăng nhiệt
độ không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn các vĩ độ cực Bắc Trong 100 năm qua (1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74°C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần
gấp đôi so với 50 năm trước đó
Theo báo cáo gần đây của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), 2010 là năm nóng nhất trong lịch sử, với mức độ tương tự như các năm 1998 và 2005 Ngoài
ra, trong mười năm qua tính từ năm 2001, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn nửa độ so với giai đoạn 1961-1990, mức cao nhất từng được ghi nhận đối với bất
kì một giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc (Michel Jarraud, 2011) Theo số liệu của NOAA (Hoa Kỳ), tháng 6 năm 2010 được ghi nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể tử những năm 1880, khi các quan trắc khi tượng được thực hiện một cách tương đối hệ thống
Theo IPCC 2007, tần số mưa lớn tăng lên ở nhiều khu vực và có sự suy
giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu Đồng thời các nghiên cứu từ số liệu quan trắc toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời
kì 1961-2003 đã dâng với tốc độ 1,8 + 0,5 mm/năm Theo nghiên cứu năm 2009 cho rằng tốc độ mực nước biển trung bình toàn cầu dâng khoảng 1,8 mm/năm
1.1.2 Nh ững biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, do vị trí địa lý nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa nên hàng năm chúng ta phải chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan như bão, lũ lụt, mưa lớn, nắng nóng, hạn hán, Có thể nói sự gia tăng của
Trang 176
các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt, cực đoan chính là thách thức lớn nhất với
Việt Nam hiện nay trong việc ứng phó với BĐKH Tại Việt Nam, có khá nhiều
bằng chứng về BĐKH
Hi ện tượng thay đổi nhiệt độ:
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008 trong vòng 50 năm trở lại đây (1951 – 2000), nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam đã tăng 0,70C
Từ năm 1900 – 2000, cứ mỗi thập kỷ nhiệt độ trung bình lại tăng lên 0,10C, và
có lẽ còn tăng nhanh hơn vào nửa sau thế kỷ Mùa hè đã trở lên nóng hơn với mức tăng từ 0,1°C – 0,3°C một thập kỷ Dự đoán nhiệt độ ở hầu hết các vùng miền của Việt Nam sẽ tăng thêm 2ºC – 4ºC vào năm 2100
Theo thống kê trong 16 năm gần đây, số đợt nắng nóng hàng năm có xu
thế tăng khá mạnh Năm 2012 có tới 18 đợt nắng nóng, nhiều nhất trong giai đoạn này Năm ít nhất là năm 1998 có 6 đợt Tuy nhiên, đây lại là năm có tổng
số ngày nắng nóng lớn nhất giai đoạn, lên tới 132 ngày trong 6 đợt Trong các đợt nắng nóng mạnh, nhiệt độ ở một số nơi lên tới trên 40oC Các tỉnh ven biển Trung Bộ, nhất là Bắc Trung Bộ, là nơi có tần suất nắng nóng lớn nhất và gay
gắt nhất ở Việt Nam Ví dụ, đợt nắng nóng xảy ra từ ngày 12 - 16/6/1998 ở Tĩnh Gia - Thanh Hóa nhiệt độ lên tới 40,9oC, còn trong đợt nắng nóng từ ngày 07 - 31/7/1998 đã đo được nhiệt độ cao nhất tại cửa Rào - Nghệ An là 41,2oC (Trung tâm khí tượng Thủy văn Quốc gia, 2009)
Hi ện tượng thay đổi lượng mưa:
Việt Nam xu hướng mưa lớn thường là hệ quả của một số hình thế, loại hình thời tiết như bão, ATNĐ, dải hội tụ nhiệt đới, front lạnh, đường đứt Khi
có sự kết hợp của chúng sẽ gây nên mưa lớn trong một thời gian dài trên một
phạm vi rộng, ngày được coi là mưa lớn được xác định từ tổng lượng mưa đo đạc trong 24h bao gồm: mưa vừa 16 - 50mm/24h, mưa to 51 - 100mm/24h, mưa
to >100mm/24h Một đợt mưa lớn diện rộng là một đợt mưa xảy ra liên tục trong một khoảng thời gian, trong đó có ít nhất một ngày ½ số trạm trên khu vực
Trang 187
đo được lượng mưa lớn Trung bình hàng năm trên cả nước có khoảng 25 đợt mưa lớn diện rộng Thời kỳ tập trung mưa lớn diện tích rộng là tháng 4 đến tháng 12, sớm hơn ở các khu vực phía Bắc và muộn dần ở các khu vực phía Nam Mưa lớn diện rộng tương đối nhiều ở các khu vực phía Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trong đó nhiều nhất là khu vực phía Đông Bắc Bộ Các khu vực còn lại có số đợt mưa lớn diện rộng lại tương đối ít, trong đó ít nhất là khu vực ven
biển Trung và nam Trung Bộ (Nguyễn Duy Chinh, 2004) Lượng mưa gia tăng vào mùa mưa, nhất là từ tháng 9 đến tháng 11, và ngược lại lượng mưa giảm vào mùa khô Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 – 2000) giảm khoảng 2%
Hi ện tượng cực đoan:
Trong những thập kỷ gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có diễn biến phức tạp và khác thường Trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông, trong đó khoảng 45% số cơn bão nảy sinh ngay cả trên Biển Đông và 55% số cơn từ Thái Bình Dương di chuyển vào Số cơn bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) ảnh hưởng đến Việt Nam vào khoảng 7 cơn/năm và trong đó có 5 cơn
đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta Trong đó, khu vực bờ biển miền Trung và khu vực bờ biển Bắc Bộ có tần suất hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới cao nhất trong cả dải ven biển nước ta, số lượng các cơn bão rất mạnh
có xu hướng gia tăng, mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong thời gian gần đây Nếu những năm trước thập kỷ 90 thế kỷ XX, bão mạnh nhất chỉ ở cấp
12, giật trên cấp 12 thì những năm gần đây đã xuất hiện siêu bão cấp 13 và giật
tới cấp 15 Mức độ ảnh hưởng của bão đến nước ta có xu hướng ngày càng
mạnh lên (Bộ TN&MT, 2012)
Ở nước ta, hạn hán xảy ra trong tất cả các mùa vụ, tùy từng vùng và từng năm mức độ nặng nhẹ khác nhau nhưng hạn hán ở Trung Bộ, nhất là Nam Trung
Trang 198
Bộ và Tây Nguyên thường nặng nề nhất Các kịch bản về biến đổi lượng mưa trong thế kỷ XXI cho thấy, lượng mưa mùa mưa ở phần lớn các vùng, nhất là Trung Bộ sẽ tăng 5 – 10%, trong khi lượng mưa mùa khô giảm 0 – 5% Như
vậy, hạn hán trong mùa khô có thể nghiêm trọng hơn (Bộ TN&MT, 2012) Theo IPCC (2007) đã tổng kết trong 1 báo cáo những thay đổi về khí hậu như các đợt nóng, số ngày nóng tăng, số ngày lạnh giảm cùng với những cảnh báo khác ở Đông Nam Á từ năm 1950 Báo các cũng nhấn mạnh sự tăng lên của các trận mưa lớn trong khu vực từ 1900 - 2005, các cơn lốc xoáy trong mùa hè (tháng 7 - 8) và mùa thu (tháng 9 - 11) Năm 2004, số lượng các trận sụt lở, bão và bão nhiệt đới tăng chưa từng thấy (21 cơn bão nhiệt đới) Những hiện tượng cùng cực bất thường này gây lụt lội và sụt lở trên diện rộng tại nhiều vùng miền, ảnh hưởng đến tài sản và mạng sống của nhiều người (Đào Xuân Học, 2009)
Ở Việt Nam, số liệu mực nước quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm không giống nhau Hầu hết các trạm có xu hướng tăng, tuy nhiên một số ít trạm lại không thể
hiện rõ xu hướng này Xu hướng biến đổi trung bình của mực nước biển dọc theo bờ biển Việt Nam là khoảng 2.8mm/năm Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng trung bình toàn Việt Nam trong khoảng từ 78 - 95 cm Trong đó, khu vực có mức dâng cao nhất là từ Cà mau đến Kiên Giang 85 - 105cm và khu vực
có mức dâng thấp nhất ở khu vực Móng Cái 66-85cm (Trần Thục và nnk, 2012) Các nghiên cứu gần đây cho thấy, một số trạm nước biển tăng mạnh như trạm Cửa ông, Hòn Dáu, Côn Đảo với tốc độ khoảng 5mm/năm, một số ít trạm có xu hướng giảm như trạm Phú Quý (Hoàng trung Thành, 2011; Nguyễn Xuân Hiển
& cs, 2011) Trong điều kiện BĐKH, mực nước biển cực trị tại các điểm sát bờ
có thể đạt hoặc cao trình đê cao nhất Ví dụ tại khu vực Hải Phòng, mực nước
cực trị với chu kỳ lặp lại 100 năm đạt xấp xỉ 550cm, mực nước cực trị với chu
kỳ lặp lại 1000 năm đạt gần 600cm, mực nước bày vượt qua cao trình đê biển cao nhất tại đây (Nguyễn Xuân Hiển & cs, 2012) Nếu mực nước biển dâng 1m
Trang 209
thì 6,3% diện tích Việt Nam, khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập (Bộ TN&MT, 2012)
1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm
cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, mức độ tác động của biến đổi khí hậu
có khác nhau giữa các khu vực, nghiêm trọng hơn ở các nước trong vùng nhiệt đới, đặc biệt là các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở Châu Á Trong
đó, những người nghèo, những người ít góp phần gây ra biến đổi khí hậu nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do biến đổi khí hậu gây ra (Hardy, 2003; Crutzen, 2005; Nguyễn Đức Ngữ, 2008) Đó không chỉ dừng lại ở việc mất đất canh tác do lãnh thổ bị thu hẹp bởi ảnh hưởng của nước biển dâng (NBD) NBD còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu hơn trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng
suất trong sản xuất nông nghiệp giảm (Fischer at al., 2002; Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, 2009, WB, 2010) Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các loài động, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt, làm gia tăng bệnh tật (IPCC, 1998)
Số lượng và tổn thất do thiên tai gây ra tăng liên tục trong những thập kỷ vừa qua do BĐKH cũng là một nguyên nhân tác động đến kinh tế toàn cầu Theo Nicolas Stern (2007), nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra sẽ
Trang 2110
dừng ở mức 1% GDP; còn nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại
mỗi năm sẽ hoảng 5-20% GDP
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam được ghi nhận là rất rõ ràng Với 73% dân số sống bằng nghề nông và sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các hộ cá thể, quy mô nhỏ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao, nông nghiệp nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thời
tiết Đây là một thách thức lớn dưới tác động của BĐKH Nhiệt độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, giá rét sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp Một số nghiên cứu khoa học đã chỉ những tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam như: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp, mất diện tích do nước biển dâng Sự giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông, tăng cường thời gian nắng nóng dẫn đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợp giữa các tập đoàn cây, con trên vùng sinh thái, BĐKH làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp phía Bắc
Thiên tai, hạn hán, lũ lụt là một trong những hậu quả của BĐKH Việt Nam được đánh giá là nước nằm trong trung tâm của vùng bão nhiệt đới Kết hợp với các thiên tai khác, hàng năm ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung chịu thiệt hại nặng nề do hậu quả của bão và hiện tượng thời tiết cực đoan Thiệt hại do thiên tai của ngành nông nghiệp nước ta trung bình năm (trong giai đoạn 1995 – 2007) là 781.764 tỷ đồng (tương đương 54,9 triệu USD) Thiệt hại do thiên tai đối với sản suất nông nghiệp chiếm 0,67% giá rị GDP ngành Trong khi tổng thiệt hại của tất cả các ngành chiếm 1,24% Kết qủa này cho thấy cơ cấu thiệt hại do thiên tai trong giá trị ngành nông nghiệp chiếm 35,08% so với tổng thiệt hại GDP Cùng với đó giá trị nông nghiệp lại là nguồn sống của trên 71.41% dân số, do vậy bất cứ thiệt hại nào do thiên tai đối với
Trang 2211
nông nghiệp sẽ mang tổn thương nhiều hơn tới nông dân nghèo và khả năng
phục hồi sẽ khó khăn vì cần có thời gian dài hơn
Đợt rét hại kỷ lục kéo dài 33 ngày (năm 2007 – 2008) là một minh chứng
cụ thể cho vấn đề đó Theo số liệu thống kê, có 33.000 con trâu bò, 34.000 ha lúa Xuân đã cấy, hàng chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm cá tôm ở tất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ bị chết, thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷ đồng (trong đó chưa tính tới các cây, con hoang dã ở các vùng núi cao bị băng giá trong nhiều ngày liền) Lũ năm 2008 do bão Kammuri (tháng 8) làm thiệt hại lớn về người (162 người chết) và tài sản cho các tỉnh miền núi phía Bắc Hạn hán năm 2009, kéo dài đến 2010 trên hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc làm thiệt hại rất lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp, bao gồm cả việc gia tăng nguy cơ cháy rừng, điển hình là cháy rừng ở Vườn Quốc Gia Hoàng Liên vào tháng 1/2010 thiêu chụi hơn 1.000 héc ta rừng Đợt rét hại kỷ lục kéo dài 33 ngày (năm 2007 – 2008) là một minh chứng cụ thể cho vấn đề đó (Bộ NN&PTNN, 2011)
Năm 2011, thời tiết thủy văn đã có những diễn biến phức tạp, khó lường, trong năm có hàng chục cơn bão và đợt áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông, nhiều đợt gió mùa Đông Bắc và không khí lạnh tăng cường Mưa lớn kéo dài gây lũ, lụt ở nhiều địa phương của miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, đặc biệt là đợt lũ tháng 9 và tháng 10 tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi và ĐBSCL đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhà nước và nhân dân Theo thống kê, trong năm 2012, thiệt hại do ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, bão gây ra đã làm 239.676 ha lúa bị ngập, trong đó có 15.848 ha bị mất trắng và nhiều thiệt hại khác về nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản,…
Đánh bắt thủy sản là một sinh kế quan trọng của nhiều hộ gia đình ở vùng ven biển mặc dù chi phí đầu tư tàu, thuyền, xăng dầu cao và mức độ rủi ro đến tính mạng cao cũng như sản lượng, giá cả phụ thuộc theo mùa Đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, không phải hộ gia đình nào cũng có đủ tiềm lực kinh
tế để thực hiện mà chỉ có một số hộ khá giả mới có khả năng thực hiện Những
Trang 231.2 Khái ni ệm sinh kế, sinh kế bền vững và lý thuyết khung sinh kế bền vững
1.2.1 Sinh kế
Theo Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (Department for International Development - DFID) khái niệm sinh kế (livelihood) “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người” Khái niệm trên cho thấy sinh kế bao gồm các nguồn lực tự nhiên, kinh
tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có
thể tạo ra thu nhập để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần hoặc có thể được
sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ trong cuộc sống
Sinh kế là vấn đề luôn được quan tâm của nhiều diễn đàn, nhiều học giả trong, ngoài nước nhằm đưa ra được những nền tảng học thuật và nguyên tắc làm cơ sở cho những giải pháp xóa đói, giảm nghèo, tạo nhiều công ăn việc làm, nâng cao đời sống người dân
Khung sinh kế được xây dựng nhằm xem xét toàn diện tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế, đặc biệt là các cơ hội hình thành chiến lược sinh kế Có nhiều khung sinh kế đã được đề xuất, trong đó, khung phân tích sinh kế bền
vững do Cục phát triển Quốc tế, Vương quốc Anh (Department for International Development, DFID) (1999) xây dựng, được các học giả và các tổ chức phát triển ứng dụng rộng rãi Năm nguồn vốn (biến số) trong khung sinh kế bền vững
Trang 2413
bao gồm: (i) vốn tự nhiên, ii) vốn xã hội, iii) vốn con người, iv) vốn tài chính và v) vốn vật chất (Hình 1.1)
Hình 1.1: Khung sinh k ế bền vững của DFID, 1999
Theo Khung SKBV, có thể thấy có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh
kế của hộ gia đình Nhóm thứ nhất: Liên quan đến cấp hộ gia đình, bao gồm nguồn vốn sinh kế, chiến lược sinh kế, hoạt động sinh kế và kết quả sinh kế Nhóm thứ hai: Các yếu tố bên ngoài hộ gia đình, bao gồm thể chế, chính sách và các cú sốc, rủi ro hoặc khuynh hướng Các thành tố này vừa giữ vai trò độc lập
vừa tác động qua lại lẫn nhau
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề sinh kế được xem là
vấn đề cốt lõi của cộng đồng để cải thiện đời sống nhân dân gồm khả năng (capabilities), nguồn lực/tài sản (assets) (vật chất và phi vật chất) và các hoạt động cần thiết (activities) làm phương tiện sống của con người Khái niệm sinh
kế được giải thích trong Từ điển tiếng Việt là: “Việc làm để kiếm ăn, để mưu
sống”
1.2.2 Sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế bền vững (Sustainable livelihood) bắt nguồn từ những nghiên cứu của các nhà khoa học trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo ở các nước,
Trang 2514
các vùng kém phát triển Qua phân tích nhiều mô hình sinh kế, các nhà nghiên
cứu đưa ra thảo luận nhằm tìm ra một khung sinh kế bền vững thống nhất Sau
đó, Bộ Phát triển Quốc tế Anh đã tổng hợp và đưa ra khung sinh kế bền vững vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX Nội dung chủ đạo của khung sinh kế bền vững là lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm để phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển Khung sinh kế này đã đề cập đến các thành tố hợp thành sinh kế của con người, từ các ưu tiên và chiến lược, định hướng, giải pháp họ lựa chọn để thực hiện các ưu tiên của mình; các chính sách ảnh hưởng đến cách tiếp cận của họ, khả năng sử dụng các loại vốn và môi trường sống của con người
Trong phân tích khung sinh kế bền vững, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu các loại vốn, nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sinh kế bền vững của họ trong đó chủ yếu là năm loại vốn gồm có vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, hàng hóa ), vốn tài chính (nguồn lực tài chính để sử dụng), vốn xã hội (quan hệ xã hội, mạng lưới, niềm tin, nhóm thành viên ) vốn con người (tri
thức, kỹ năng làm việc, sức khỏe ) và vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nước, nguyên
liệu ) Hiện nay, những nghiên cứu về sinh kế bền vững ở Việt Nam đang tập trung vào việc tranh luận về các loại vốn này và vai trò của các loại vốn trong phát triển sinh kế bền vững Một vấn đề quan trọng mà khung sinh kế bền vững trên chưa nhấn mạnh hay chưa đề cập đúng vai trò của nó là vốn văn hóa Do
đó, đây là nội dung rất cần được các nhà nghiên cứu tiếp tục bổ sung và phát triển để hoàn thiện thêm quan niệm về sinh kế bền vững
1.2.3 Khung sinh kế bền vững theo lý thuyết của DFID
Khung phân tích này được trình bày chi tiết và có hệ thống trong
“Sustainable Livelihoods Guidance Sheets” (Các bản hướng dẫn sinh kế bền
vững) do DFID công bố vào năm 1999 Theo Khung sinh kế bền vững thì tài sản sinh kế của người dân được phân ra làm 5 loại như Hình 1.2:
Trang 2615
Hình 1.2: Các ngu ồn tài sản kế bền vững của DFID, 1999
Th ứ nhất là nguồn vốn con người: Ở mức độ cá nhân đó là trình độ học
vấn, kiến thức, kỹ năng, năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm trong cuộc sống và sản xuất… để đạt được thu nhập Ở mức độ gia đình là số lao động nhiều hay ít, các
kỹ năng, thái độ làm việc, sức khỏe, kinh nghiệm làm việc và tương tác giữa
họ… Đây là nguồn vốn quan trọng nhất góp phần phát triển kinh tế gia đình Như vậy, đô thị luôn có nguồn vốn con người to lớn, bởi vì đó là nơi tập trung các cá nhân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ, kỹ năng cao, đáp ứng được tốt hơn các yêu cầu của xã hội Vì vậy, đây cũng là nơi nguồn vốn này có điều kiện phát triển cao khả năng của các cá nhân góp phần tạo ra năng xuất, thu
nhập tốt nhất
Th ứ hai là nguồn vốn tự nhiên: Bao gồm các nguồn tài nguyên có trong
môi trường tự nhiên mà con người sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế như: vị trí địa lý, ranh giới, đất, nước, khí hậu, sông ngòi, khoáng sản, rừng, đa dạng sinh học… Ở đô thị, nguồn vốn này luôn là yếu tố thu hút các nhà đầu tư, nhân tài bởi vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, nơi tập trung chủ yếu các cơ quan đầu não của chính quyền, cũng là nơi có nhiều nhất cơ hội ưu tiên phát triển, đồng bộ nguồn vốn tự nhiên, yếu tố góp phần phát triển sinh kế đô thị, nâng cao đời sống người dân Quỹ đất, nguồn nước, kể cả nước ngầm, cho tới độ trong lành của không khí ngày nay cũng trở thành những nguồn vốn tự nhiên quan
trọng của tất cả các đô thị
Trang 2716
Th ứ ba là nguồn vốn tài chính: Bao gồm các nguồn vốn mà con người sử
dụng để đạt được mục tiêu sinh kế: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản cho vay, vay mượn hay tín dụng, trợ cấp, cho, hay chuyển nhượng,… nó có vai trò là trung gian để trao đổi
Th ứ tư nguồn vốn xã hội: Bao gồm các mối quan hệ trong xã hội, các tổ
chức, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, họ hàng, láng giềng Đây chính là chất kết dính của một cộng đồng làm tăng sức mạnh tập thể và khơi dậy niềm tự hào thuộc về cộng đồng mà con người dựa vào để thực hiện các hoạt động sinh kế Đây cũng là nguồn vốn sinh kế rất quan trọng ở các đô thị, nơi mà người bốn phương tụ hội trên một không gian hẹp thì sự hợp tác, liên kết với nhau dưới nhiều hình thức luôn đóng vai trò quan trọng đặc biệt trên mọi phương diện
Thứ năm là nguồn vốn vật chất: Bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản
hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế như điện, đường, trường, trạm, khu hành chính, nhà máy, phân xưởng… ở cấp độ gia đình là nhà cửa, các vật dụng trong nhà, phương tiện sản xuất, phương tiện nghe nhìn…
1.3 Nghiên c ứu về biến đổi khí hậu và sinh kế
1.3.1 Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu
Trang 28vấn đề BĐKH toàn cầu là do tất cả các quốc gia trên thế giới cùng gây ra và cùng chịu ảnh hưởng; vì vậy đòi hỏi phải có hành động trên qui mô toàn cầu
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro năm 1992, chính phủ các nước đã ký kết Công ước khung của Liên hợp
quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) Mục đích quan trọng của công ước này là
ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn chặn được
sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Các nước phát triển đồng ý giảm lượng phát thải khí nhà kính của nước họ xuống mức định
mức của năm 1990 Năm 1995, báo cáo đánh giá thứ hai của IPCC kết luận rằng
sự cân bằng của các bằng chứng có thể thấy rõ các tác động không nhỏ của loài người đến hệ thống khí hậu Đây được xem là lời khẳng định đầu tiên về trách nhiệm của con người đối với sự biến đổi khi hậu Cùng với đó, năm 1997 nghị định thư Kyoto được thông qua (Sau đó đến năm 2005 nghị định này có hiệu
lực) và các nước phát triển cam kết giam 5% lượng phát thải trong khoảng thời gian từ 2008 – 2012 Năm 2001, IPCC công bố báo cáo lần thứ ba cho thấy các bằng chứng mới và mạnh mẽ hơn về các khi nhà kinh do con người thải ra là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng nòng lên diễn ra trong suốt mưa sau của
thế kỷ 20
Đến nay, IPCC đã xuất bản báo cáo lần thứ 4 vào năm 2007 đây là một trong các tài liệu quan trọng nhất về biến đổi khí hậu Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là điều chắc chắn Trong khuôn khổ các nghiên cứu của IPCC
Trang 2918
(2007) các kịch bản về biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên các dự báo về
sự phát thải khí nhà kính từ thấp đến cao và dựa trên các kịch bản phát triển kinh
tế-xã hội toàn cầu IPCC đã đưa ra một nhóm 6 kịch bản (dựa trên 4 kịch bản gốc A1, A2, B1, B2, với các ký hiệu A: chú trọng phát triển kinh tế; B: chú
trọng bảo vệ môi trường; 1: chú trọng tính toàn cầu, và 2: chú trọng tính khu vực) xác định những lộ trình phát thải có thể xảy ra cho thế kỷ 21 Các kịch bản này khác nhau về các giả định liên quan đến: (i) sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; (ii) dân số thế giới và mức độ tiêu dùng; (iii) chuẩn mực cuộc sống và
lối sống; (iv) tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng; (v) chuyển giao công nghệ; và (vi) thay đổi sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
1.3.1.2 T ại Việt Nam
Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu được nghiên cứu nhiều sau khi Việt Nam tham gia ký công ước khung liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm
1992 và sau đó là tham gia nghị định thư Kyoto năm 1998 Nhiều nhà khoa học
Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu về BĐKH như Giáo sư Nguyễn Đức Ngữ với sự
ra đời cuốn sách Biến đổi khí hậu, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật năm 2008, và nhiều nhà khoa học khác cũng tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu này Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị nhà nước Việt Nam chủ trì các hoạt động liên quan đến biến đổi khí hậu Cho đến này, Bộ đã xây dựng 02 kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam lần lượt năm 2009 và năm 2011
1.3.2 Các nghiên c ứu về sinh kế
1.3.2.1 Trên Th ế Giới
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương
ti ện sống cho con người" (DFID, 2001) Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn
giống với khái niệm về sinh kế của các nhà nghiên cứu đã đưa ra trước đó là Chambers và Conway (1992);Scoones (1998)
Trang 3019
Chambers và Conway (1992) đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương diện: bền vững về môi trường và bền vững về xã hội Sau này, Scoones (1998), Ashley, C và Carney, D (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế,
xã hội, môi trường và thể chế
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện Cùng trên quan điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sóc hoặc đột biển từ bên ngoài, (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ
trợ từ bên, (iii) duy trì đươc năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên, (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác
Năm 2001, DFID đã đưa ra khung sinh kế bền vững Theo khung này các
hộ gia đình đề có phương thức kiếm sống dựa vào các nguồn vốn có sẵn trong
một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định tại địa phương
1.3.2.2 T ại Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có nhiều hoạt động nghiên cứu về biến đổi khí hậu, về sinh kế và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu Đồng thời, cũng đã có nhiều văn bản pháp luật cũng như tài liệu hướng dẫn việc thực hiện các giải pháp thích ứng với BĐKH
Về phía Chính phủ và Nhà nước: đã ban hành nhiều văn bản như: Chiến lược quốc gia về BĐKH; Nghị quyết số 24/NQ-TW về Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch hành động thích ứng với BĐKH của các bộ ngành Tài nguyên và môi trường, ngành Công thương, ngành Nông nghiệp và PTNT… Trong đó, bên cạnh những định hướng lớn về giảm khí phát thải thì chiến lược tăng khả năng thích ứng và
ổn định sinh kế của các cộng đồng trước tác động bất lợi của BĐKH cũng được xác định rất rõ ràng
Trang 3120
Các tài liệu hướng dẫn nhằm thích ứng với BĐKH đã được xuất bản và
phổ biến rộng rãi Năm 2011, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường
đã xuất bản tài liệu hướng “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng" Các công cụ sử dụng trong đánh giá tác động biến đổi khí hậu đã được giới thiệu trong cuốn tài liệu này Các giải pháp thích ứng, đặc biệt là thích ứng dựa vào phá triển sinh kế cộng đồng đã được sử dụng như một định hướng tiếp cận chính của tài liệu nêu trên Năm 2013 Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường đã xuất bản tài liệu Hướng dẫn kỹ thuật: Xây dựng và thực hiện các giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái tại Việt Nam Các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam đã nghiên cứu và xuất bản tài liệu Sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu: Tiêu chí đánh giá và các điển hình Tài liệu này đưa ra các tiêu chí để đánh giá các mô hình sinh kế Các tiêu chí được quan trắc là: Tiêu chí thích ứng với BĐKH; Tiêu chí giảm nhẹ BĐKH/giảm phát thải khí nhà kính; Tiêu chí về hiệu quả và bền vững; và tiêu chí về khả năng nhân rộng (Trương Quang Học, 2015) Ngoài ra các tổ chức khác như Oxfam và hội chữ thập đỏ cũng tiến hành nhiều đánh giá về sinh kế và
khả năng thích ứng trong bối cảnh giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Trong quá trình triển khai hoạt động thích ứng, nhiều địa phương ở Việt Nam đã tổ chức nhiều mô hình sinh kế thích ứng, bước đầu đã đạt được những hiệu quả nhất định Điển hình là mô hình Lúa – Cá được triển khai tại Cần Thơ
Mô hình này hoạt động dựa trên nguyên tắc hỗ trợ và kế thừa dinh dưỡng giữa lúa và cá nên tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, đồng thời thích ứng tốt trong điều kiện ngập lũ Thực hiện mô hình này giúp tăng lợi nhuận cho các hộ gia đình, 100% hộ nuôi có lãi, bình quân lãi từ 8-12 triệu đồng/năm; Giải quyết nông nhàn, giải quyết việc làm, tối ưu hóa sử dụng đất nông nghiệp; Thích ứng khá tốt đối với những biến động về thời tiết và chế độ thủy văn Tạo thu nhập quanh năm cho nông dân, vì thế tạo được công ăn việc làm cho cộng đồng
Trang 3221
Đến nay, mô hình Lúa – Cá đã được nhân rộng ở nhiều khu vực đồng bằng sông
Cửu Long (SRD, 2013)
Mô hình NTTS rừng ngập mặn tại xã Phù Long, huyện Cát Hải, thành phố
Hải Phòng đã đem lại hiệu quả thích ứng với BĐKH, tính bền vững về KT-XH NTTS được nuôi ở dưới tàn rừng ngập mặn đã giữ được RNM, làm giảm sự xói mòn lở đất, có tác dụng như hàng rào chắn sóng làm giảm tác động của sóng lên
đê, giảm tần suất vỡ đê hàng năm Cây RNM được duy trì và phát triển có vai trò như bể hấp thụ và bể chứa cacbon, góp phần giảm nhẹ BĐKH Thu nhập của các hộ gia đình tham gia mô hình này cao hơn so với trước, góp phần ổn định sinh kế cho cộng đồng xung quanh rừng ngập mặn (Trương Quang Học, 2015)
Mô hình trồng thâm canh lúa cải tiến SRI tại miền Trung Việt Nam đã xác định được lượng KNK phát thải từ ruộng áp dụng kỹ thuật SRI thấp hơn so với ruộng thông thường là 4,257 kg CO2 quy đổi/1ha/1 vụ Việc giảm phát thải KNK được lý giải là do việc áp dụng lịch tưới khô ướt xen kẽ đã tạo ra môi trường hiếu khí làm kìm hãm họat động của các vi sinh vật trong đất phân hủy
chất hữu cơ tạo ra khí mê-tan (KNK) Ngoài ra, lượng hóa chất nông nghiệp được sử dụng ít hơn cũng góp phần làm giảm phát thải KNK; Việc áp dụng SRI
đã làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và thời tiết cực đoan, do việc giảm mật độ, giúp cho cây lúa tăng khả năng quang hợp, phát triển khỏe hơn và có khả năng chống chịu với các dịch hại tốt hơn Việc áp dụng để ruộng khô nẻ chân chim sẽ tạo điều kiện cho một số sinh vật đất hoạt động tốt hơn, thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong đất và giúp cây trồng hấp thụ chất dinh dưỡng và đẻ nhánh tốt hơn Ngoài ra nó cũng làm cho rễ lúa phát triển dài và bám chắc hơn vào đất từ đó tăng khả năng chịu hạn và đổ ngả từ gió, bão Chênh lệch lợi nhuận giữa lúa mô hình SRI so với lúa canh tác theo kỹ thuật thông thường chủ
yếu từ: (1) năng suất lúa SRI cao hơn; (2) Chi phí vật tư đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, và nhân công thấp hơn; (3) Chi phí thủy lợi thấp hơn (Trương Quang Học, 2015)
Trang 33Các mô hình sinh kế thích ứng được áp dụng tại Việt Nam đều có điểm chung là giúp giảm phát thải, chống chịu được gió bão, thích ứng được với điều kiện ngập hoặc nhiễm mặn, thích ứng được với những điều kiện bất lợi do thời
tiết, khí hậu cực đoan gây ra Song vẫn đảm bảo về mặt kinh tế - xã hội cho cộng đồng Tuy nhiên, để nhân rộng các mô hình này cần có những thay đổi cho phù hợp với từng địa phương và cần thường xuyên đánh giá để điều chỉnh cho thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Kết quả nghiên cứu tổng hợp ở trên cho thấy, Việt Nam đã có những nghiên cứu về BĐKH và tích cực tham gia các đàm phán và cam kết quốc tế về các vấn đề liên quan đến BĐKH Tuy nhiên, nhìn chung hiện nay, các nghiên cứu về BĐKH của Việt Nam còn thiếu đồng bộ, thiếu những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên, kinh
tế - xã hội và cộng đồng của Việt Nam Trong đó, nghiên cứu đánh giá tổn thương do tác động của BĐKH đến Việt Nam nói chung và những khu vực, những vùng nhạy cảm, địa phương cụ thể cũng chưa được thực hiện đầy đủ Các
mô hình thích ứng với BĐKH mặc dù đã được triển khai nhưng mới chỉ áp dụng
Trang 3423
với quy mô địa phương, hầu hết do các tổ chức phi chính phủ phát động thực
hiện, thiếu sự vào cuộc chặt chẽ của cơ quan quản lý Do đó, thiếu tính bền vững
về mặt triển khai, duy trì và nhân rộng mô hình Vì vậy, hướng nghiên cứu về sinh kế thích ứng BĐKH trong thời gian tới cần được tiếp tục triển khai, nhân rộng các mô hình một cách hiệu quả hơn nữa
Trang 3524
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu này là Sinh kế cấp nông hộ tại Phường Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương
Phạm vi không gian: Phường Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương; Phạm vi thời gian: Tháng 3/2022 đến tháng 6/2022
2.2 N ội dung nghiên cứu
N ội dung 1: Mô tả điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Phường Tân Hưng,
Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương
N ội dung 2: Đánh giá thực trạng sinh kế nông nghiệp và tác động của
biến đổi khí hậu đến các hộ dân sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
N ội dung 3: Phân tích hiệu quả của một số mô hình sinh kế nông nghiệp
thích ứng với biến đổi khí hậu đang được áp dụng tại địa bàn nghiên cứu
N ội dung 4: Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng BĐKH cho
các cộng đồng có sinh kế dựa vào nông nghiệp
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập để đánh giá tổng quan về tình hình chung
của địa bàn nghiên cứu, đặc điểm về kinh tế - xã hội, sinh kế của người dân khu
vực nông thôn, tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, cũng như những giải pháp ứng phó BĐKH hiện đang triển khai tại địa phương Nguồn
số liệu thứ cấp là các ấn phẩm, tạp chí khoa học, số liệu niên giám thống kê, trang thông tin của Cục thống kê, Sở NN&PTNT, Ủy ban nhân dân (UBND) phường Tân Hưng và kịch bản BĐKH của Tỉnh Hải Dương
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a) Phương pháp phỏng vấn nông hộ
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng hình thức phỏng vấn nông hộ dựa trên
mẫu phiếu thiết kế theo hình thức bán cấu trúc (semi-structured questionnaire)
Trang 3625
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) được
áp dụng để lựa chọn nông hộ đại diện theo các tiêu chí về vị trí địa lý, và đặc điểm sinh kế nông nghiệp
Theo tiêu chí trên, phỏng vấn sẽ được thực hiện tại 03 khu dân cư điển hình là: Khuê Triền, Khuê Liễu và Liễu Tràng Mỗi khu dân cư này có một kiểu sinh
kế đặc trung nên cũng được xem như 3 mô hỉnh sinh kế đại diện cho khu vực nghiên cứu Tại mỗi khu dân cư, có 30 hộ sản xuất nông nghiệp (nông hộ) được lựa chọn ngẫu nhiên để điều tra Các khu dân cư lựa chọn có đặc điểm sau:
- Khuê Triền: Nằm ở vị trí trung tâm phường Tân Hưng, sinh kế của nông
hộ dựa vào chăn nuôi gia cầm, nuôi thuỷ sản (cá chim, cá rô phi) là chính
- Khuê Liễu: Nằm ở phía tây của phường, cách KDC Khuê Liễu khoảng 1km, sinh kế chủ yếu là trồng cây hoa đào và 1 số loại hoa ngắn ngày: hoa cúc, hoa mẫu đơn, phục vụ cho ngày rằm và mùng 1 âm lịch hằng tháng
- Liễu Tràng: Nằm phía đông trung tâm phường, sinh kế của nông hộ chủ
yếu là trồng đào và trồng rau màu
Nội dung mẫu phiếu điều tra được trình bày trong Phụ lục
Phương pháp tham vấn chuyên gia: Thu thập những đánh giá chuyên môn
về các mô hình sinh kế bền vững thích ứng biến đổi khí hậu tại các địa bàn nghiên cứu từ các chuyên gia trong lĩnh vực sinh kế và BĐKH
b) Phương pháp xử lý số liệu, phân tích số liệu
Dữ liệu điều tra được mã hóa và chuyển thành cơ sở dữ liệu bằng phần mềm Excel Số liệu sau đó được phân tích thống kê mô tả đơn giản (descriptive statistics) và phân tích so sánh với sự sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất tính ở mức xác suất 5%
Trang 3726
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Phường Tân Hưng, Thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 V ị trí địa lý
Phường Tân Hưng nằm ở phía Nam thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, cách trung tâm thành phố Hải Dương 10 km – là trung tâm kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, khoa học, y tế,… của tỉnh; nằm trong vùng tam giác tăng trưởng kinh
tế phía Bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật, giao lưu kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn phường
Vị trí tiếp giáp:
- Phía Đông giáp phường Hải
Tân và xã Ngọc Sơn
- Phía Nam giáp xã Gia Xuyên
- Phía Tây giáp phường Thạch
Khôi
- Phía Bắc giáp phường Hải Tân
Hình 3.1: V ị trí địa lý phường Tân Hưng
3.1.1.2 Địa hình địa mạo
Phường Tân Hưng với vị trí nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng, có đặc điểm địa hình đất đai tự nhiên bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, được bồi đắp
từ sông Hồng và sông Thái Bình, thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp trồng cây lúa nước, các loại cây ăn quả, hoa màu, rau màu, đem lại kinh tế cho toàn tỉnh
Trang 38Nhi ệt độ: nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 23,80C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,10C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16,10C (tháng 1)
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình tháng của khu vực nghiên
cứu tương đối cao là 81,5%, tháng cao nhất là 85,3% (tháng 3), tháng thấp nhất
là 66,2% (tháng 11)
S ố giờ nắng và bức xạ: Số giờ nắng nóng cao, từ 1.300 – 1.750 giờ/năm
(trung bình 4 – 5 giờ/ngày), lượng bức xạ bình quân khoảng 125,4 kcal/m2
Lượng mưa: Lượng mưa tại khu vực nghiên cứu được phân bố theo hai
mùa chính, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa tới gữa mùa và đạt cực đại vào tháng 7 và tháng 8; mùa khô ít mưa kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tổng lượng mưa trung bình năm tương đối lơn, khoảng 1.720,2 mm/năm
Thu ỷ văn
Phường Tân Hưng có dòng chảy bề mặt lớn nhất là hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải Tổng chiều dài của hệ thống kênh chính là 200km, chảy qua nhiều tỉnh thành bao gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương Đoạn chảy qua địa bàn Hải Dương dài 60km Bên cạnh đó, trên địa bàn phường còn nhiều nhánh sông, suối là phụ lưu của các sông lớn khác tạo nên mạng lưới sông ngòi
phức tạp của phường
Trang 3928
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Kinh tế của phường Tân Hưng liên tục phát triển với mức tăng trưởng khá cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong vòng 05 năm qua (2016-2021) đạt 7,1% Trong năm 2021 tốc độ tăng trưởng của phường đạt 7,3%, thu nhập bình quân đầu người là 6.416.000VNĐ/người/tháng, cao hơn 1,52 lần so với trung bình cả nước là 4.200.000VNĐ/người/tháng, đứng thứ 08 trong toàn Thành phố Hải Dương Tổng giá trị sản xuất năm 2021 ước đạt 82 tỷ đồng, tăng 10,3% so với năm 2020 Trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 45 tỷ đồng chiếm tỉ trọng 55,9%; Giá trị tiểu thủ công nghiệp và xây dựng ước đạt 25
tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 29,19%; Giá trị ngành thương mại và dịch vụ ước đạt 12
tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14,91% (Hình 3.2).Trong những năm trở lại đây, cơ cấu kinh tế của địa phương đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp
Hình 3.2 : Cơ cấu kinh tế phường Tân Hưng năm 2021
V ề sản xuất nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp trong những năm gần tại
phường Tân Hưng gặp rất nhiều khó khăn do tác động của thời tiết diễn biến phức tạp Song dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, HĐND, UBND đã trực tiếp chỉ
55.90 29.19
14.91
Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ
Trang 4029
đạo HTX nông nghiệp cùng các Tiểu Ban Quản lý các thôn chỉ đạo nhân dân gieo cấy đảm bảo thời vụ
- Tổng diện tích gieo cấy toàn phường hàng năm: 112ha
- Năng suất lúa cả năm đạt: 70 tạ/ha/năm
- Tổng diện tích trồng hoa màu toàn phường: 65ha gồm các loại như: Hoa đào, hoa cẩm tú cầu, hoa giấy, ngô, khoai tây, đậu tương, dưa chuột, bí xanh, bí đỏ…
V ề chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm tăng, thủy sản ổn định và phát triển
không có dịch bệnh lớn xảy ra Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 170
tấn/năm
V ề sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Trong những năm gần được
phát triển ổn định, các loại dịch vụ, cơ sở sản xuất, kinh doanh phát triển đa dạng hơn, phong phú hơn tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân
3.1.2.2 Thực trạng dân số và lao động
Dân s ố
Theo số liệu thống kê dân số tự nhiên của phường là 8784 nhân khẩu, với
1853 hộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,24% Tỷ lệ chênh lệch giữa số nam và số
nữ không cao
Phường Tân Hưng được hình thành từ 07 KDC gồm: Bảo Thái, Cương
Xá, Đông Quan, Khuê Liễu, Khuê Triền, Liễu Tràng, Thanh Liễu
B ảng 3.1: Hiện trạng dân số phường Tân Hưng năm 2021