TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN Tên tác giả: Nguyễn Phú Tân Tên Luận văn: NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI NUÔI TẠI CHUỒNG 1 TRANG TRẠI LONG THUỶ, HUYỆN TRẢNG BOM, T
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI NUÔI TẠI KHU CHUỒNG 1 TRANG TRẠI LONG THUỶ, HUYỆN
TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Hà Nội - 2022
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI NUÔI TẠI KHU CHUỒNG 1 TRANG TRẠI LONG THUỶ, HUYỆN
: 63 : CHĂN NUÔI – THÚ Y : PGS TS ĐỖ ĐỨC LỰC : DI TRUYỀN – GIỐNG VẬT NUÔI
Hà Nội - 2022
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
Số liệu thu thập được trong quá trình thực tập là do em trực tiếp làm, theo dõi và ghi chép lại
Các số liệu thu thập được là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ các báo cáo nào trước đó
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
"Lời đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn PGS TS Đỗ Đức Lực, thầy đã
tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập cũng như trong việc hoàn thành
khóa luận
Xin chân thành cảm ơn các Thầy (Cô) thuộc khoa Chăn nuôi – Thú y
(Học viện nông nghiệp Việt Nam) đã tận tình giảng dạy cho em trong thời gian
học tập
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quản lý trại anh Nguyễn Kim Long
cùng toàn thể các cán bộ, kỹ thuật, công nhân của trang trại anh Long tại huyện
Trảng Bom tỉnh Đồng Nai đã tạo mọi điều kiện giúp em thực hiện công việc
thực tập và hoàn thành tốt khóa luận
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân luôn
luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ cỗ vũ tinh thần cho em trong suốt thời gian
thực hiện khóa luận này
Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu
sót và hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để bài khóa
luận của em được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!”
Hà Nội , ngày 20 tháng 12 năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Phú Tân
Trang 5M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
Phần I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2 Một số thông tin về dịch tả lợn Châu Phi 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Một số đặc điểm của dịch tả Châu Phi 3
2.1.3 Triệu chứng, bệnh tích của dịch tả Châu Phi 4
2.1.4 Phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi 6
2.2 Nguồn gốc, đặc điểm của các giống lợn Landrace, Yorkshire và Duroc 6
2.2.1 Giống lợn Landrace 6
2.2.2 Giống lợn Yorkshire 7
2.2.3 Giống lợn Duroc 8
2.3 Đặc điểm sinh lý của lợn nái 9
2.3.1 Sự thành thục về tính và thể vóc 9
2.3.2 Chu kỳ tính và điều hòa chu kỳ tính 12
Trang 62.4 Khả năng sinh sản của lợn nái 18
2.4.1 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 18
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 22
2.5 Quá trình phát triển của lợn con ở giai đoạn mang thai và giai đoạn theo mẹ 27
2.5.1 Quá trình phát triển của lợn ở trong thai 27
2.5.2 Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn theo mẹ 29
2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 32
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 32
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
Phần III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Nội dung 36
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
3.1.3 Điều kiện nghiên cứu 36
3.2 Nội dung và Các chỉ tiêu nghiên cứu 37
3.2.1 Nội dung 37
3.2.2 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản 37
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.3.1 Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản 38
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 39
Phần IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Năng suất sinh sản chung của nái F1 (L x Y) và Du x (L x Y) nuôi tại chuồng 1 trang trại Long Thủy 40
4.2 ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI F1(L x Y) VÀ DU x (LxY) SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI 45
Trang 74.3 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI F1 (L x Y) VÀ DU x
(LxY) SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI QUA CÁC LỨA
ĐẺ 51
Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Phụ lục 63
Trang 8DANH M ỤC BẢNG
Bảng 3.1 Quy trình phòng bệnh 36 Bảng 4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F1 (L x Y) và Du x (L x Y) 40 Bảng 4.2 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L x Y) và Du x (L x Y) 46 Bảng 4.3: năng suất sinh sản của lợn nái F1 (L x Y) và Du x (L x Y) sống
sót sau dịch tả lợn châu phi qua các lứa đẻ (MEAN ± SD) 51
Trang 9DANH M ỤC BIỂU ĐỒ
Hình 4.2.1: Số con đẻ ra/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ của lợn nái
F1(L x Y) và Du x (LxY) 48 Hình 4.2.2: Khối lượng sơ sinh/con, khối lượng cai sữa/con của lợn nái F1(L
x Y) và Du x (LxY) 49 Hình 4.2.3: Khối lượng sơ sinh/ổ và khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái F1(L
x Y) và Du x (LxY) 50 Hình 4.4 Số con đẻ ra/ổ, Số con chọn nuôi/ổ và số con cai sữa/ổ của lợn
nái F1 (L x Y) và Du x (L x Y) qua các lứa các lứa đẻ 53 Hình 4.5 Khối lượng sơ sinh/con và khối lượng cai sữa/con của lợn nái F1
(L x Y) và Du x (LxY) qua các lứa 54 Hình 4.6 Khối lượng sơ sinh/ổ và khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái F1 (L
x Y) và Du x (L x Y) qua các lứa 55 Hình 4.7: Tỉ lệ sơ sinh sống (%) và tỉ lệ cai sữa (%) của lợn nái F1(L x Y)
và Du x ( L x Y ) qua các lứa 56
Trang 10DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
L x Y : (Landrace x Yorkshire)
Y x L : (Yorkshire x Landrace)
Du : Duroc SSS : Sơ sinh sống
CS : Cai sữa
Trang 11TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN Tên tác giả: Nguyễn Phú Tân
Tên Luận văn: NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI SỐNG SÓT SAU
DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI NUÔI TẠI CHUỒNG 1 TRANG TRẠI LONG THUỶ, HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Chăn nuôi – Thú y Mã số sinh viên: 639235
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái sống sót sau dịch tả lợn châu phi nuôi tại khu 1 trang trại Long Thuỷ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Các nội dung nghiên cứu:
- Đánh giá được các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái mắc bệnh dịch tả lợn châu phi sống sót nuôi tại trang trại Long Thuỷ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập số liệu và ghi chép về năng suất sinh sản của lợn nái tại chuồng
1 trại Long Thủy, thông qua số liệu thu thập được khi thực tập từ tháng 2 năm
2022 đến tháng 7 năm 2022 và từ sổ sách tại trại Long Thuỷ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
+ Với các chỉ tiêu số lượng: Đếm số lượng lợn con sơ sinh sống, số con
để nuôi và số con cai sữa ở từng thời điểm cần theo dõi
+ Với các chỉ tiêu khối lượng: Cân xác định khối lượng toàn ổ lợn con ở các thời điểm sơ sinh và cai sữa Cân lợn bằng các loại cân đồng hồ có độ chính xác 0,1 kg
Trang 12- Số con để nuôi: 9.81 con
- Số con cai sữa: 8.01 con
- Tỉ lệ cai sữa: 84.27%
- Khối lượng sơ sinh/con: 1.36kg
- Khối lượng sơ sinh/ổ: 14.66kg
- Khối lượng cai sữa/con: 6.55kg
- Khối lượng cai sữa/ổ: 64.88kg
- Khoảng cách lứa đẻ (ngày): ~149 ngày
- Số lứa/nái/năm: ~ 2,4 lứa
+ Năng suất sinh sản của nái F1(L x Y) và Du x (L x Y) có sự biến động qua các lứa đẻ theo khuynh hướng số con đẻ ra thấp nhất ở lứa 1, tăng dần và cao nhất ở lứa 4, và giảm nhẹ vào các lứa sau đó Lứa đẻ ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến các chỉ tiêu: Số con đẻ ra/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ, tỷ
lệ sơ sinh sống, khối lượng sơ sinh/con, khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ
+Như vậy, qua kết quả đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F1(L x Y)
và Du x (L x Y) sống sót sau dịch tả lợn Châu Phi cho ta thấy với các chỉ số về Chỉ tiêu sinh lý của lợn nái F1(L x Y) và Du x (LxY) là ngang bằng nhau chưa
có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê nhưng về các chỉ tiêu sinh lý lợn nái Du x (L x Y) có kháng thể và mang nhiều chỉ số sinh lý cao hơn so với F1(LxY) không mang kháng thể và sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê
Trang 13PH ẦN I MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là ngành giữ vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam Chăn nuôi đảm bảo vai trò cung cấp thực phẩm có chất lượng cao như thịt, trứng, sữa, cho con người, nguồn sức kéo, phân bón hữu cơ sản xuất, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, góp phần quan trọng giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải tiện đời sống cho hàng triện hộ nông dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu không chỉ ở nước ta mà cả ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn chiếm trên 60% tổng đàn gia súc nuôi các loại và cung cấp trên 75% sản lượng thịt hơi cho nhu cầu thực phẩm thịt của người dân Tuy vậy, chăn nuôi lợn Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong điều kiện hội nhập quốc tế Do đó, việc ngoài yếu tố về con giống, kỹ thuật cần phải đẩy mạnh cơ cấu lại phương thức nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, đáp ứng yêu cầu thị trường, phát huy lợi thế sinh thái từng vùng, miền trên cơ sở định hướng chính sách làm điểm tựa vững chắc cho chăn nuôi lợn phát triển bền vững
Mặc dù chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước tiến bộ nhất định so với tốc độ phát triển của các nước trong khu vực nhưng vẫn thấp so với trên thế giới và thịt lợn hiện đang là nguồn thịt chủ yếu, được tiêu thụ rất nhiều tại các quốc gia châu Á Do đó, gần như chắc chắn khả năng virus gây bệnh tả lợn sẽ xâm nhập vào các nước khác trong khu vực và lây lan nhanh chóng Tại Việt Nam từ đầu năm 2022 đến nay, bệnh dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại hơn 840
xã thuộc 246 huyện của 48 tỉnh, thành phố, số heo tiêu hủy hơn 41.000 con Hiện nay, cả nước có 117 ổ dịch tại 49 huyện của 16 tỉnh, thành phố chưa qua
21 ngày và vẫn diễn biến rất phức tạp gây ra rất nhiều ảnh hưởng cũng như là
Trang 14thiệt hại cho bà con chăn nuôi Từ đó cho ta thấy những nghiên cứu về đề tài dịch tả lợn Châu Phi là rất cần thiết từ đó đưa ra cách phòng (chữa) bệnh và hướng đi cho bà con nông dân
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI SỐNG SÓT SAU DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI NUÔI TẠI KHU 1 TRANG TRẠI LONG THUỶ, HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI.’’
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
Trang 15PH ẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2 Một số thông tin về dịch tả lợn Châu Phi
Năm 2007: Dịch được phát hiện ở Armenia
Năm 2008: Azerbaijan bắt đầu có heo nhiễm bệnh
Từ cuối năm 2017 - 2018, đã có 12 quốc gia báo cáo có lợn nhiễm dịch
tả châu Phi, bao gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Tiệp Khắc, Hungary, Latvia, Moldova, Phần Lan, Rumani, Nam Phi, Ukraine và Zambia
Vào tháng 8/2018: Dịch tả lợn Châu Phi lần đầu xuất hiện ở Trung Quốc
Đã có hàng triệu con lợn nhiễm bệnh đã bị tiêu hủy tại quốc gia này
Còn tại Việt Nam, tỉnh Hưng Yên là nơi đầu tiên phát hiện ra ổ dịch Tính đến nay, số liệu báo cáo của Bộ Nông nghiệp cho biết, dịch tả heo
châu Phi đã có mặt tại 2.296 xã, 204 huyện của 29 tỉnh, với tổng số heo mắc
bệnh và phải tiêu hủy lên đến hơn 1,2 triệu con, chiếm hơn 4% tổng đàn heo củacả nước
2.1.2 Một số đặc điểm của dịch tả Châu Phi
Bệnh Dịch tả lợn châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever – viết tắt là ASF) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh trên loài lợn (gồm cả lợn nhà và lợn hoang dã); bệnh xảy ra
ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%
Vi rút Dịch tả lợn châu Phi có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất
Trang 16xúc xích, giăm bông, salami Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao nên vi rút có thể chịu được trong thời gian dài 3 - 6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 70 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút Vi rút sống trong máu
đã phân hủy được 15 tuần; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°C tồn tại trong 3 giờ Lợn khỏi bệnh về lâm sàng có khả năng mang vi rút trong thời gian dài và có thể trở thành vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi
- Bệnh Dịch tả lợn châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3 - 15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3 - 4 ngày
- Vi rút Dịch tả lợn châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút
và ăn thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn
2.1 3 Triệu chứng, bệnh tích của dịch tả Châu Phi
a Chẩn đoán lâm sàng
- Lợn bị nhiễm Dịch tả lợn châu Phi có nhiều triệu chứng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt so với triệu chứng của bệnh Dịch tả lợn cổ điển (đã và đang có tại Việt Nam) Do đó, việc chẩn đoán Dịch tả lợn châu Phi khó có thể thể xác định và phân biệt được bằng các triệu chứng lâm sàng, cần lấy mẫu gửi phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện vi rút Dịch tả lợn châu Phi
- Thể quá cấp tính là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết
- Thể cấp tính là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40, 5 - 42°C) Trong 2 - 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu Lợn không
ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc
Trang 17gần nước Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím Trong 1 -
2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu Lợn sẽ chết trong vòng 6 - 13 hoặc 20 ngày Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn Tỷ lệ tử chết cao lên tới 100% Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút Dịch tả lợn châu Phi trong suốt cuộc đời
- Thể á cấp tính gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình Chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng Lợn sốt nhẹhoặc sốt lúc tăng lúc giảm,giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn Bệnh kéo dài 5 - 30 ngày,nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15 - 45 ngày, tỉ lệ chết khoảng 30 - 70 % Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính
- Thể mãn tính gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu Lợn có nhiều triệu chứng khác nhau, chẳng hạn như giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da, hoặc viêm loét da mãn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển Triệu chứng kéo dài 2 - 15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh
sẽ trở thành dạng mãn tính
b Bệnh tích
Trang 18-Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản,bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng
-Thể mãn tính: Có thể gặp sơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi
2.1.4 Phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi
Hiện nay chưa có vắc xin và thuốc điều trị được dịch tả lợn châu Phi,
vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lý triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan; Kiểm soát kiểm dịch nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển lợn và chăn nuôi an toàn sinh học là các biện pháp chủ lực được các nước đã và đang áp dụng
2.2 Nguồn gốc, đặc điểm của các giống lợn Landrace, Yorkshire và Duroc
2.2.1 Giống lợn Landrace
- Nguồn gốc: Đây là giống lợn có nguồn gốc từ Đan Mạch, được hình
thành vào những năm 1924 – 1925, được tạo ra bằng cách cho lai giữa các giống Youtland Đức, giống Yorkshire Anh với các giống trắng địa phương của
Đan Mạch Việt Nam nhập vào giống Landrace khoảng những năm 1970 từ
Trung Quốc, Cu Ba, trong các năm 1975 đến 1986 nhập lợn Landrace từ Nhật
và Bỉ (Trần Văn Phùng & cs, 2004), sau này còn nhập thêm từ Thái Lan,
Canada và Đan Mạch
- Đặc điểm ngoại hình: Màu lông trắng tuyền, tai cúp về phía trước, đầu
dài hơi dẹp, mõm thẳng, thân hình dầy và dài, mông phát triển, nẩy tròn, ngoại hình thể chất vững chắc Lợn Landrace có tầm vóc to, nhìn ngang trông giống
Trang 19hình cái nêm Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, bụng thon Lợn Landrace
có 12-14 vú, 4 chân hơi yếu (Trần Văn Phùng, 2004)
- Khả năng sinh trưởng: Giống lợn Landrace có khả năng thích nghi
cao, khả năng sinh trưởng tốt Theo Trần Văn Phùng & cs (2004) giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 2,7 - 3,01kg Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700
- 800g, tỷ lệ thịt nạc đạt từ 58 - 60% Khi trưởng thành con đực nặng 300 - 320kg, con cái nặng 220 - 250kg (Vũ Đình Tôn, 2009)
- Khả năng sinh sản: Lợn Landrace có khả năng sinh sản tốt và khả
năng nuôi con khéo Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn Landrace có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, số con đẻ ra trên lứa từ 9 - 11 con, khối lượng sơ sinh từ 1,3
- 1,4kg/con, khối lượng lúc 70 ngày tuổi đạt 16 - 18kg/con Lợn đực có
thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt 270ml/lần
- Kh ả năng thích nghi: Thích nghi kém hơn Yorkshire, thích nghi kém
trong điều kiện nóng bức, dễ bị stress
- Hướng sử dụng: Giống được sử dụng trong các công thức lai kinh tế
giữa các giống lợn ngoại với nhau hoặc với các giống lợn nội để tạo ra đàn lợn thịt có năng suất chất lượng thịt cao, ngoài ra giống còn được nhân thuần để
tăng số lượng đàn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
2.2.2 Giống lợn Yorkshire
- Nguồn gốc: Giống này trước đây được nhập vào Việt Nam từ Liên Xô
cũ (1964) và được gọi là lợn Đại Bạch Năm 1978 giống Yorkshire được nhập
từ Cu Ba và gần đây là nhập từ Vương quốc Anh, Canada, …
- Đặc điểm ngoại hình: Giống lợn này có toàn thân màu trắng, hơi có
ánh vàng, mặt hơi thô, mõm hơi cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng (Vũ
Đình Tôn, 2009)
Trang 20- Khả năng sinh trưởng: Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng nhanh,
khả năng thích nghi rộng rãi Lợn có khối lượng lớn, con đực trưởng thành nặng
từ 350 - 380kg, dài thân 170 - 185cm Con cái trưởng thành nặng từ 250 – 280kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16 - 20kg/con (Võ Trọng Hốt & cs, 2000) Lợn vỗ béo đạt 100kg lúc khoảng 5 - 6 tháng tuổi (Coline T Whittemore,
2000) Lợn Yorkshire cho tỷ lệ nạc đạt 52 - 55% theo trích dẫn của Vũ Đình Tôn (2009) Tuy nhiên tỷ lệ này có thể lên đến 55 - 60% (Coline T Whittemore, 2000)
- Khả năng sinh sản: Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có
thể phối giống lần đầu vào khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa cao từ 11-13 con, số lứa/năm là 2,0 - 2,2 Khối lượng sơ sinh/con dao động từ 1,3 - 1,4kg/con Lợn đực khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh trung bình khai thác được là 232 ml/lần (Vũ Đình Tôn, 2009)
- Khả năng thích nghi: Thích nghi cao, chịu kham khổ, ít bị stress
- Hướng sử dụng: Giống lợn Yorkshire không chỉ sử dụng trong công
thức lai với lợn nội cũng như lợn ngoại để nâng cao năng suất mà còn được nhân thuần để tăng số lượng đàn phục vụ cho phát triển đàn lợn Hiện tại lợn Yorkshire thường được sử dụng phối với Landrace để tạo ra đàn bố mẹ vừa
nuôi dễ lại có khả năng sinh sản cao (Vũ Đình Tôn, 2009)
2.2 3 Giống lợn Duroc
- Nguồn gốc: Lợn có nguồn gốc Bắc Mỹ, là một trong những giống lợn
có số lượng phân bố lớn trên thế giới
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Duroc có màu lông đa dạng từ màu vàng
cho đến màu nâu đậm toàn thân Thân ngắn, mõm và bốn chân có màu đen Ngoại hình cân đối, thể chất vững chắc, tai to ngắn cụp che mắt, tầm vóc vừa phải Chân to cứng chắc thích hợp với điều kiện chăn thả và những hệ thống chăn nuôi ít thâm canh (Coline T Whittemore, 2000)
Trang 21- Khả năng sinh trưởng: Lợn có tốc độ sinh trưởng khá cao, tăng trọng
nhanh đạt 785g/ngày, ở 172 ngày có thể đạt 100kg Thịt lợn Duroc được đánh giá thơm ngon do có nhiều mỡ dắt (tỷ lệ mỡ dắt khoảng 4%), tỷ lệ nạc cao (chiếm 65%) Đực giống trưởng thành có khối lượng từ 250 – 280kg, nái trưởng thành từ 200 – 230kg (Vũ Đình Tôn, 2009)
- Khả năng sinh sản: Khả năng sinh sản vừa phải, số con bình quân mỗi
lứa 9,3 con/lứa
- Khả năng thích nghi: Lợn Duroc có khả năng thích ứng, chịu đựng cao
với điều kiện khí hậu nóng, ít nhạy cảm với stress (Vũ Đình Tôn, 2009)
- Hướng sử dụng: Do lợn Duroc có khả năng thích nghi, chịu đựng cao
với điều kiện khí hậu nóng, ít nhạy cảm với stress nên giống lợn này thường được sử dụng trong các tổ hợp lai kinh tế với lợn nội hoặc lai ngoại với ngoại nhằm đạt được mức tăng trọng nhanh, tỉ lệ nạc cao (Vũ Đình Tôn, 2009)
2.3 Đặc điểm sinh lý của lợn nái
2.3 1 Sự thành thục về tính và thể vóc
+ Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục
và có khả năng sinh sản Biểu hiện của sự thành thục về tính đó là:
- Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con đực sinh tinh, con cái có trứng rụng lần đầu, trứng và tinh trùng gặp nhau có khả năng thụ thai
- Xuất hiện các phản xạ sinh dục: Con cái có biểu hiện động dục, con đực có phản xạ giao phối
- Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuất hiện
Ở lợn cái, sự thành thục về tính được đánh giá bằng hiện tượng động dục lần đầu Nhưng thông thường sẽ bỏ qua chu kỳ đầu, không phối giống, nó chỉ
có ý nghĩa thông báo cho khả năng sinh sản của lợn nái
Trang 22Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như: giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, …
+ Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần,
ở lợn nội thường từ 4 – 5 tháng tuổi (120 – 150 ngày), ở lợn ngoại (180 – 210 ngày) theo Võ Trọng Hốt & cs (2000) Thời điểm rụng trứng lần đầu tiên sảy
ra vào lúc 3 – 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6 – 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998) Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cộng sự (1998) cho biết, lợn Landrace có tuổi thành
thục về tính là 213,1 ngày, lợn Yorkshire là 219,4 ngày
+ Chế độ dinh dưỡng: Có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Theo Gurger (1972) lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành
thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu là hạn chế thức ăn thì thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày tuổi (trên 7 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể 48,4 kg
Theo Nguyễn Tuấn Anh (1998) để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn nái hậu bị cần chú ý đến cách cho ăn hạn chế, đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) là 2kg/con/ngày (khẩu phần 14% protein) Điều chỉnh thức ăn để khối lượng đạt 120 – 140kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và phối giống, trước khi phối giống 14 ngày phải tăng lượng thức ăn
1 – 1,5kg có bổ sung khoáng và vitamin giúp cho lợn nái ăn được nhiều, nhằm tăng số trứng rụng Sau khi phối giống cần thay đổi chế độ ăn, chuyển chế độ
ăn ở mức cao vào giai đoạn chửa đầu kỳ thì tỷ lệ chết phôi cao hạn chế số con
đẻ ra trên ổ Nhu cầu nước uống đối với lợn nái chửa mỗi ngày cần 9 – 15 lít nước và thải 4 – 5 lít, nên cung cấp nước tự do cho lợn nái
Trang 23+ Mùa vụ và thời gian chiếu sáng: Mùa vụ là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng rõ rệt tới thành thục về sinh dục Theo Lê Xuân Cương (1986)
ở mùa hè, lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa đông Điều này có thể do mùa hè nhiệt độ nóng ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ chuồng nuôi, nhiệt độ mùa hè cao, biên độ ngày ngắn làm ảnh hưởng đến mức tăng trọng, nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều ảnh hưởng tới thành thục về tính của lợn
Vì vậy cần phải có biện pháp điều hòa nhiệt độ, thời gian chiếu sáng trong ngày thích hợp là mười hai giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái động dục sớm hơn so với những con lợn có thời gian chiếu sáng thấp hơn trong ngày Luôn đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi ổn định để lợn nái ít bị stress
+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên một diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu
bị tách biệt đàn trong thời kì phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính dục so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm
+ Ảnh hưởng của lợn đực: Lợn cái hậu bị thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều vào con đực với các yếu tố ảnh hưởng như: Tuổi con đực, số lần tiếp xúc và thời gian tiếp xúc
Theo nghiên cứu của Hughes (1975), những lợn đực dưới 10 tháng tuổi không có tác dục trong việc kích thích phát triển động dục, bởi vì với những lợn đực còn non chưa tiết feromon, đây là thành phần cần thiết trong tuyến nước bọt của con đực (3 – α androsterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua đường miệng Nhưng nếu chỉ có feromon mà không thấy có mặt của lợn đực thì tác
dụng kích thích tương đối thấp
+ Tính biệt: Con cái thành thục về tính và thể vóc sớm hơn con đực
Trang 24Bên cạnh đó tuổi thành thục về tính còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như: khối lượng cơ thể, bệnh tật và nề nếp thói quen, công tác quản lí và chăm sóc
Theo Hughes và James (1996), lợn cái hậu bị đạt 90kg thể trọng trở lên
ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần 15 – 20 phút thì tới 83% lợn cái động dục lần đầu
- Các đặc điểm sinh dục thứ cấp được hoàn thiện
Thông thường lợn cái sau hai đến ba chu kì động dục thì sẽ thành thục
về thể vóc, nên người ta thường phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc thứ
ba tùy từng cá thể lợn cái, để đảm bảo an toàn và đảm bảo cho khả năng sản xuất của nái
2.3.2 Chu kỳ tính và điều hòa chu kỳ tính
Trang 25gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể cái đã thành thục thải trứng trước đến lần thải trứng sau gọi là một chu kỳ Có thể nói chu kỳ là một hiện tượng sinh vật có tính quy luật đặc trưng của cơ thể cái nó tạo ra hàng loạt điều kiện cần thiết để tiến hành giao phối, thụ tinh và phát triển bào thai Với lợn chu kỳ động dục có thể dao động trong phạm vi 18 – 25 ngày Thời gian động dục một chu kỳ kéo dài từ 3 – 7 ngày, trung bình là 5 ngày Một chu kỳ được chia làm 4 giai đoạn
* Giai đoạn trước động dục (1-2 ngày)
Được tính từ khi thể vàng bị tiêu hủy đến lần động dục tiếp theo Cơ thể lợn cái xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục Dưới tác dụng của FSH do tuyến yên tiết ra các noãn bào buồng trứng phát triển nhanh chóng và tiết Oestrogen với số lượng tăng dần Hàm lượng Oestrogen tăng cao làm cho cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi như âm hộ lợn cái sưng lên hơi mở
ra, có màu hồng tươi, có dịch nhờn loãng chảy ra, đến cuối giai đoạn lợn bắt đầu lười ăn, hay kêu rít, tỏ ra không yên tĩnh Chú ý giai đoạn này trứng chưa rụng nên không dẫn tinh và phối ép
* Giai đoạn động dục (2-3 ngày)
Đây là giai đoạn ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, giai đoạn này chỉ kéo dài
2 – 3 ngày, gồm ba thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Khi hàm lượng Oestrogen tiết ra nhiều tuyến yên sẽ ngừng tiết FSH và tăng tiết
LH và Prolactin Dưới tác dụng của hai loại hormon này làm cho các tế bào trứng chín, hình thành nhiều lớp tế bào hạt tiết ra một lượng Oestrogen đạt mức cao nhất 112 mg% (bình thường chỉ đạt 64 mg%) làm cơ thể con vật có sự hưng phấn mạnh mẽ toàn thân Quan sát cơ quan sinh dục nhận thấy âm hộ phù nề, chuyển từ màu hồng nhạt sang màu đỏ rồi màu mận chín Tử cung hé mở rồi
mở rộng, niêm dịch âm đạo từ trong loãng rồi chuyển sang keo đặc, dính để làm trơn đường sinh dục, ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn Lợn lúc này vẫn
Trang 26biếng ăn hoặc bỏ ăn, tỏ ra không yên tĩnh như muốn phá chuồng đi tìm lợn đực, giai đoạn này, lợn cái đã chịu đực, xuất hiện các phản xạ: Đứng lỳ, hai chân dạng ra đuôi cong về một bên sẵn sàng giao phối, giai đoạn này phối giống là tốt nhất Quan sát bên trong ở lợn cái hậu bị thấy có khoảng 10 – 15 bao noãn
chín, lợn nái có khoảng 15 – 20 bao noãn chín
Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 – 4 ngày, giai đoạn này là thời gian để toàn bộ cơ thể cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục khôi
phục lại trạng thái bình thường trước động dục Mọi phản xạ sinh dục giảm dần
và quan sát thấy âm hộ teo dần, tái nhợt dần, lợn ăn uống tốt hơn Bên trong buồng trứng, thể vàng đang phát triển đường kính khoảng 7 – 8mm
* Giai đoạn yên tĩnh (12-14 ngày)
Đây là giai đoạn kéo dài nhất từ 12 – 14 ngày Giai đoạn này con cái hoàn toàn không có phản xạ động dục, con vật yên tĩnh, âm hộ con cái trở lại trạng thái bình thường, ăn uống bình thường, hoàn toàn không có phản xạ với lợn đực nữa Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng vì con vật nghỉ ngơi và hồi phục về mặt cấu tạo, chức năng của cơ quan sinh dục chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo Quan sát bên trong thấy thể vàng teo dần, hiện tượng có một số bao noãn bắt đầu phát triển
Trong thực tế ta còn gặp các trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục thầm lặng và hiện tượng lưỡng tính Cần phát hiện ra những con này để loại bỏ sớm, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái
Trong chăn nuôi cần quan tâm đến chu kỳ động dục để phát hiện sớm và phối giống phù hợp Phối sớm quá hoặc muộn quá đều ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai
Nếu phối giống 1 lần thì phối trong khoảng thời gian 24-30 giờ sau khi
Trang 27lợn bắt đầu chịu đực
Nếu phối giống 2 lần thì lần 1 từ 15-20 giờ, lần 2 từ 24-36 giờ kể từ khi
lợn bắt đầu chịu đực
Sự điều hòa chu kỳ tính
Hoạt động sinh dục của lợn cái chịu sự điều khiển của cả yếu tố thần kinh và thể dịch Dưới tác động cả các yếu tố ngoại cảnh, não bộ tác động đến vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng hormon sinh dục GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone), hormon này sẽ kích thích thùy trước tuyến yên sản xuất ra các hormon như FSH, LH và Prolactin
- FSH (Follicle-Stimulating Hormone): Có tác dụng kích thích noãn bao phát triển trưởng thành và gây tiết hormonoestrogen
- LH (Luteinizing Hormone): Làm cho trứng chín và rụng, kích thích sự hình thành thể vàng
- FSH cùng với LH kích thích sự tiết oestrogen buồng trứng, hormon này gây động dục ở con cái, làm cho sừng tử cung sung huyết, làm tăng cường sự phát triển của các bao tuyến vú
- Prolactin: Thúc đẩy sự tiết sữa, kích thích sự hoạt động của thể vàng tiết progesteron và thúc đẩy bản năng làm mẹ
- Thể vàng được hình thành sau khi rụng trứng và sẽ sản sinh ra hormone progesteron Hormone này cùng với oestrogen thúc đẩy sự tăng sinh lớp nội mạc tử cung chuẩn bị đón hợp tử Progesteron duy trì quá trình mang thai, kích thích tuyến vú phát triển và ức chế tuyến yên tiết FSH và LH
Khi con cái động dục thì nồng độ hormon oestrogen và LH tăng lên rất cao còn hormone progesteron lại giảm rất thấp Sau khi kết thúc động dục thì trái lại hormone progesteron lại tăng dần và hai loại hormone trên lại có xu
Trang 28hướng giảm đi Nồng độ progesteron đạt đỉnh tối đa sau động dục 13 – 14 ngày, sau giảm rất nhanh do thể vàng tiêu biến, khi đó không còn ức chế tuyến yên tiết FSH và LH và nồng độ hai hormon này cùng với oestrogen tăng lên để
chuẩn bị cho lần động dục mới
+ Thời điểm phối giống cho lợn cái
Căn cứ vào chu kì động dục, thời gian rụng trứng, thời gian sống cũng như thời gian cần thiết để tinh trùng vận động đến điểm thụ thai thích hợp trong ống dẫn trứng, ta có thể xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái như sau:
Thời gian rụng trứng của lợn cái thường bắt đầu vào khoảng 16 giờ sau động
dục và có thể kéo dài 70 giờ
Tỉ lệ trứng rụng trong thời gian động dục kể từ 0 giờ chịu đực như sau:
- Từ 16-21 giờ, tỉ lệ rụng trứng khoảng 17-18%
- Từ 21-31 giờ, tỉ lệ rụng trứng khoảng 46-47%
- Từ 31-41 giờ, tỉ lệ rụng trứng khoảng 93-94%
Trong thực tế, khó có thể xác định được thời gian bắt đầu động dục, nên
ta phải căn cứ vào trạng thái thần kinh của lợn cái khi động dục Khi lợn chuyển sang trạng thái nằm ì và âm hộ đã bắt đầu héo đi, có màu sẫm, dịch âm hộ keo dính và đặc; các biểu hiện này thường là vào cuối ngày thứ 2 từ khi lợn bắt đầu động dục Ta có thể dùng lợn đực thí tình để phát hiện khi nào lợn cái chịu cho lợn đực nhảy thì ta phối giống Việc dùng lợn đực thí tình có thể phát hiện 100%
số lợn cái động dục
Thông thường, thời gian cần thiết để tinh trùng vận động đến điểm thụ tinh thích hợp là 2-3 giờ, và tinh trùng cũng cần có thời gian để thực hiện những biến đổi nhất định để có thể thụ tinh được Bởi vậy tốt nhất là phối trước 8-12 giờ trước khi trứng rụng
Trang 29Hiện nay, trong thực tiễn người ta thường sử dụng phương pháp phối giống nhiều lần, nhất là trong thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau khoảng
12 giờ và có thể phối tới 3 lần cho một lợn nái khi động dục nhất là nái ngoại
Việc phối giống nhiều lần cho nái vào thời điểm động dục làm tăng tỷ
lệ thụ thai khoảng 5 – 8% và tăng khoảng 0,4 con/lứa (ITP, 2000)
+ Phương pháp phối giống
Có hai phương pháp phối giống cho lợn là cho lợn đực trực tiếp giao phối với lợn cái và phương pháp thụ tinh nhân tạo
2.3 3 Sự thụ tinh
Sự thụ tinh là sự kết hợp giữa tế bào tinh trùng và tế bào trứng để tạo thành hợp tử, sau đó hợp tử phát triển thành phôi thai và thành một cơ thể hoàn thiện
Trong cơ thể lợn cái, trứng bắt đầu rụng sau khoảng 20 - 30 giờ khi có biểu hiện chịu đực và trứng được phóng vào ống dẫn trứng Trong ống dẫn trứng, chúng sớm được thụ tinh (1/3 phía trên ống dẫn trứng) và phát triển thành hợp tử trước khi chúng được vận chuyển đến sừng tử cung để làm tổ
Tế bào trứng được cấu tạo và bao bọc bởi ba lớp màng đó là:
+ Màng phóng xạ: Màng này bao bọc phía ngoài cùng, có tác dụng bảo
vệ trứng khỏi các tác động cơ học Tinh trùng của tất cả các loài gia súc đều có thể phá vỡ được lớp màng phóng xạ này, bởi lẽ đó mà ta có thể pha thêm tinh dịch của loài khác vào để làm tăng hiệu quả phá màng
+ Màng trong suốt: Màng này nằm phía trong màng phóng xạ, chỉ có tinh trùng của loài đó mới có thể xuyên qua màng này được, vì nó có enzyme đặc hiệu, đặc trưng cho loài
+ Màng nguyên sinh chất: Là lớp màng trong cùng của tế bào trứng, trên màng có những hố lõm để đầu tinh trùng đính vào, chỉ có tinh trùng khỏe nhất
Trang 30mới có cơ hội tiến vào và kết hợp với nhân của tế bào trứng Tất cả các tinh trùng chết trong quá trình phá hai lớp màng sẽ là dinh dưỡng ban đầu cho hợp
tử phát triển
2.4 Khả năng sinh sản của lợn nái
2.4 1 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau Hiện nay có hai nhóm chỉ tiêu chính thường được sử dụng
là nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục và chỉ tiêu về năng suất sinh sản
- Nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục + Tuổi động dục lần đầu (ngày)
Là tuổi được tính từ khi con vật sơ sinh đến khi lợn cái động dục lần đầu tiên Các giống khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn nội thường động dục sớm hơn lợn ngoại
+ Tuổi phối giống lần đầu (ngày)
Là tuổi tính từ lúc con vật được sinh ra cho đến khi con người đưa nó vào phối giống Tuổi này dài hơn tuổi động dục lần đầu, bởi vì thông thường người ta bỏ qua 1 hoặc 2 chu kì sinh dục đầu tiên không phối giống, để cho con vật hoàn thành về thể vóc
Với tuổi động dục lần đầu cộng với thời gian của 1 hoặc 2 chu kì động
dục ta sẽ có tuổi phối giống lần đầu
+ Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
Được tính từ khi con vật được sinh ra cho tới khi nó sinh con lần đầu tiên Tuổi này bằng tuổi phối lứa đầu (phối đậu) cộng với thời gian lợn mang thai (trung bình là 114 ngày)
+ Chu kì động dục (ngày)
Là thời gian của lần động dục trước đến lần động dục sau Lợn có chu kì
từ 18-23 ngày, trung bình là 21 ngày Thời gian động dục kéo dài 3-7 ngày,
Trang 31trung bình là 5 ngày
+ Thời điểm phối giống thích hợp (ngày)
Do chu kì động dục kéo dài và được chia ra làm bốn giai đoạn nên người
ta thường phối giống và giai đoạn thứ hai Giai đoạn này là giai đoạn động dục, con vật hưng phấn cao độ nhất, cổ tử cung hé mở và lợn ở tư thế chịu đực Thường phối giống và ngày thứ hai hoặc thứ ba kể từ khi con cái bắt đầu có
biểu hiện động dục
+ Thời gian mang thai (ngày)
Sự sai khác về thời gian mang thai của các giống lợn là không đáng kể,
nó biến động trong khoảng từ 113-115 ngày
- Động dục lại sau cai sữa (ngày):
Thời gian động dục trở lại sau cai sữa ngắn thì sẽ rút ngắn được khoảng cách giữa hai lứa đẻ và làm tăng số lứa/nái/năm Nó phụ thuộc và thời gian lợn con theo mẹ, chế độ dinh dưỡng cho nái trong và sau khi nuôi con
Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại là 4-5 ngày có
thể phối giống và cho thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998)
+ Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)
Là khoảng thời gian từ lúc đẻ lứa trước đến lúc đẻ lứa sau Khoảng thời gian này được tính bằng: Thời gian nuôi con + thời gian động dục lại sau cai sữa + thời gian mang thai + thời gian chửa giả (nếu có) Khoảng thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kĩ thuật phối giống, chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sau cai sữa, thời gian nuôi con
Trang 32hậu (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…) Nếu nhiệt độ cao quá 30 thì tỷ lệ thụ thai sẽ giảm, tỷ lệ chết phôi sẽ tăng Do đó mà mùa hè tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/lứa thường thấp hơn các mùa khác
- Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái + Tổng số con đẻ ra còn sống
Là tổng số con đẻ ra trên một lứa gồm cả số thai gỗ và số thai chết sau khi đẻ Chỉ tiêu này đánh giá khả năng mang thai, mức độ sai con của giống
+ Số con sơ sinh còn sống/ổ
Là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội và 0,5
kg đối với lợn ngoại
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kĩ thuật chăm
sóc lợn nái chửa, kĩ thuật thụ tinh, chất lượng tinh của đực giống + Tỷ lệ sơ
sinh sống đến 24h sau khi đẻ
Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau đẻ được tính như sau:
Số con sơ sinh sống đến 24 giờ
Số con đẻ ra sống
Tỉ lệ này không đảm bảo được 100% do nhiều nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non…
Trang 33+ Khối lượng sơ sinh/ổ
Là khối lượng toàn ổ cân được sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được đặc điểm về giống
và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
+ Khối lượng sơ sinh/con
Là khối lượng từng con sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng nuôi thai cũng như mức độ đồng đều của lợn sơ sinh
+ Số con cai sữa/ổ
Là số con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào điều kiện của từng cơ sở và thể trạng lợn mẹ Trong thực tế người ta thường cai sữa khi lợn con được 21 ngày, hoặc 28 ngày tuổi nhưng cũng có thể là ngắn hơn, nhiều nơi cai sữa ở 14 ngày tuổi
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
Số con sống đến cai sữa
Tỷ lệ cai sữa (%) = x 100
Số con để lại nuôi + Khối lượng cai sữa/ổ
Trang 34Khối lượng của toàn ổ cân lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc lợn nái và lợn con theo mẹ của người chăn nuôi
+ Khối lượng cai sữa/con
Khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh trưởng của từng con và khả năng nuôi con của lợn mẹ
+ Khả năng tiết sữa
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu nói lên đặc điểm của giống, giống khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau
Lợn nái không có bể sữa, do đó mà không thể đo lường lượng sữa bằng cách vắt sữa thông thường mà người ta chỉ đánh giá khả năng tiết sữa của lợn nái qua khối lượng toàn bộ lợn con khi 21 ngày tuổi
Đường cong tiết sữa ở lợn nái đạt cao nhất vào ngày thứ 21 kể từ khi đẻ, sau đó giảm dần
Để lợi dụng khả năng của lợn nái mà người ta tiến hành cai sữa sớm cho lợn con lúc 21-28 ngày tuổi tùy vào trình độ chăn nuôi của từng cơ sở
+ Số lứa đẻ/nái/năm (lứa)
Là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Nếu chỉ tiêu này cao tức là lợn nái mắn đẻ, thời gian lợn không sản xuất là rất ngắn
Tuy nhiên nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tô như giống, kĩ thuật chăm sóc, kĩ thuật phối giống
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ đến hai yếu tố
đó là di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính của con giống, mỗi giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính và sức sản xuất cũng khác nhau Yếu tố về ngoại cảnh bao gồm: thức ăn, thú y, chuồng trại, quy trình chăm sóc,
Trang 35 Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999), Trần Tiến Dũng và cộng sự, (2002), giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau và cho năng suất sinh sản khác nhau Điều này được thể hiện qua số lượng và khối lượng lợn con đẻ ra mỗi lứa, qua khả năng mắn đẻ
Theo Legault (trích từ Rothschild và cộng sự, 1998), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:
- Các giống đa dụng như Y, L và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng "dòng bố" như P, L của Bỉ, Hampshire, Poland
China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
- Các giống "dòng bố" thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con,
tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với L và Large White (Blasco và cộng sự, 1995)
- Phương pháp nhân giống: phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng rất rõ rệt đến năng suất sinh sản của lợn nái Nhân giống gồm có nhân giống thuần chủng và lai giống
Yếu tố ngoại cảnh
Trang 36+ Chế độ dinh dưỡng
- Nhu cầu năng lượng
Là yếu tố cần thiết cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể Nếu thiếu năng lượng đặc biệt là giai đoạn mang thai và nuôi con sẽ dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh kém Tuy nhiên nếu cung cấp quá thừa trong giai đoạn có chửa thì dẫn đến hiện tượng chết phôi, chết thai, khó
đẻ, ngoài ra còn gây lãng phí thức ăn
Để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái thì một trong những yếu tố quan trọng đó là dinh dưỡng Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt, đảm bảo hiệu quả kinh tế
Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai Nuôi dưỡng hạn chế lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống
- Nhu cầu protein
Protein là một trong những chất đóng vai trò quan trọng trong việc tham
ra cấu tạo cơ thể Vì vậy mà lượng protein cung cấp cho lợn nái ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của nó Nếu thiếu protein lợn nái sẽ chậm động dục, giảm số con/nái/năm, giảm khối lượng sơ sinh, giảm khả năng tiết sữa của lợn
mẹ Ngược lại, nếu cung cấp thừa protein trong giai đoạn mang thai sẽ gây lãng phí protein, tăng tỷ lệ chết thai, ô nhiễm môi trường
Các phần tử protein được cấu tạo từ nhiều loại axitamin Khi xây dựng khẩu phần ăn cho lợn ta cần phải quan tâm đến sự cân bằng các axit amin không thay thế: lysine, threonine, methionine, phenyalanine, histidine, tryptophane, leucine, isoleucine, valine và arginine
Trang 37- Nhu cầu khoáng chất
Trong cơ thể lợn khoáng chất chiếm 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác tồn tại ở dạng dấu vết
+ Canxi - photpho: canxi và photpho có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ xương, thực hiện những chức năng sinh lý khác nhau của cơ thể Nếu thiếu canxi và photpho làm cho khung xương phát triển không bình thường, xương có thể dạn nứt dễ gẫy Nái mang thai nhu cầu cao hơn nái hậu
bị nó tỷ lệ với nhu cầu phát triển bào thai
Nếu trong khẩu phần thiếu Ca, P thì bào thai phát triển kém, con đẻ ra bị còi xương, chậm lớn, lợn mẹ bị bại liệt, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản Theo Vũ Huy Giảng & cs (1999) thiếu Ca, P lợn gầy còm, sưng khớp, sưng xương mặt, xương biến dạng cong, bại liệt chân sau Tỷ lệ Ca/P bằng 2/1 là phù hợp
Nhu cầu về khoáng vi lượng trong khẩu phần ăn rất nhỏ, song cũng rất cần thiết Các chất khoáng vi lượng chủ yếu hình thành nên các men, các chất xúc tác cho quá trình tổng hợp các chất trong cơ thể Nếu cung cấp thiếu sẽ dẫn đến một số men trong cơ thể bị thiếu hoặc không hoạt động được gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể như thiếu Fe, Cu…gây thiếu máu Nếu cung cấp thừa sẽ gây ngộ độc cho cơ thể và ảnh hưởng tới phẩm chất thịt
+ Kali, natri, clorua: nó là các cation và anion, ngoài tế bào trong cơ thể
Na, K ,Cl là các ion chính ảnh hưởng đến sự cân bằng chất điện giải và trạng thái axit - bazơ Nếu thiếu Na, Cl, K giảm tốc độ sinh trưởng của lợn, giảm tính ngon miệng, giảm lượng sữa Nếu nặng cơ thể gây tử vong nhưng nếu thừa gây ngộ độc, rối loạn trao đổi nước và chất điện giải
+ Sắt: trong cơ thể sắt cùng với đồng và axit folic, vitamin B12 tổng hợp nên hemoglobin Ngoài ra, sắt còn có trong hệ thống enzim tham gia vào quá
Trang 38trình photphorin oxy hoá, truyền điện tử và hoạt hoá men peroxydaza Nếu thiếu sắt triệu trứng điển hình là thiếu máu, bệnh này sảy ra ở lợn con theo mẹ, thiếu sắt lợn ít bú, kém hoạt động, dễ mắc bệnh lợn con phân trắng làm cho lợn con
xù lông, còi cọc, chậm lớn, có thể dẫn đến chết Thiếu Mn ảnh hưởng tới xương làm xương kém phát triển
Mỗi nguyên tố khoáng đều chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ thể Không tùy tiện bổ sung các nguyên tố khoáng quá mức sẽ gây trở ngại cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng khác Ví dụ: canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây nên hiện tượng rối loạn da, bệnh paraketosis
- Nhu cầu vitamin
Vitamin là những yếu tố rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Nhu cầu vitamin là khác nhau đối với các loại lợn khác nhau Nhìn chung các loại vitamin cần thiết được bổ sung trong khẩu phần là vitamin A, D, E Nếu thiếu một trong các loại vitamin trên đều gây ra những ảnh hưởng không tốt với quá trình phát triển của cơ thể gia súc, làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi
Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non, mắt kém, …
Thiếu vitamin D: thai kém phát triển, dễ bị liệt chân
Thiếu vitamin E: có hiện tượng chết thai, lợn không động dục hoặc động dục chậm
Thiếu vitamin PP: lợn còi cọc, ỉa chảy
Đặc biệt lợn nái mang thai thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái Do vậy trong khẩu phần ăn hàm lượng vitamin phải đầy đủ và hợp lý
+ Điều kiện thời tiết khí hậu và mùa vụ