Nhiều nước trên thế giới như: Hà Lan, Pháp, Bungari đã có nền sản xuất hoa rất phát triển và nguồn thu nhập từ hoa là nguồn thu nhập quan trọng của đất nước.Ở Việt Nam, cây hoa có ý nghĩ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phùng Thị Thu Hà -
Bộ môn Thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn đến chị Thúy tại nhà lưới số 2 -Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực tập của tôi, để có thể hoàn thành khóa luận một cách hoàn thiện nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô, các anh chị trong khoa nông học
đã tận tình giúp đỡ về vật chất và tinh thần cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành kháo luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn, gia đình, bạn bè và người thân đã giúp
đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng 05năm 2022
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
TÓM TẮT KHÓA LUẬN vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Vị trí phân loại và nguồn gốc, phân bố của cây hoa cúc 3
2.2 Đặc điểm thực vật học của cây hoa Cúc 4
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Cúc 5
2.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 7
2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới 10
2.5.1 Tình hình sản xuất hoa Cúc trên thế giới 10
2.5.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc trên thế giới 12
2.6 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa cúc trong nước 14
2.6.1 Tình hình sản xuất hoa Cúc trong nước 14
2.6.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc trong nước 15
2.7 Điều tra về tình trạng thương mại của giống Cúc tại miền bắc 21
PHẦN 3: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 23
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.4 Nội dung nghiên cứu 24
Trang 43.5 Phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1 Bố trí thí nghiệm : 24
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi : 24
3.5.3 Phương Pháp xử lý số liệu 25
3.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Đặc điểm sinh trưởng của các giống Cúc sau nuôi cấy mô 28
4.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển các giống Cúc sau nuôi cấy mô 29
4.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống Cúc sau nuôi cấy mô 31
4.1.3 Động thái tăng trưởng số lá của các giống cúc sau nuôi cấy mô 34
4.1.4 Động thái tăng trưởng kích thước lá của các giống cúc sau nuôi cấy mô 37
4.2 Đặc điểm về thời gian ra hoa và chất lượng hoa của các giống cúc sau invitro 42
4.2.1 Đặc điểm về thời gian ra hoa của các giống cúc sau Invitro 42
4.2.2 Chất lượng hoa của các giống cúc sau invitro 44
4.3 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của các giống cúc sau invitro 47
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới 11
Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới 12
Bảng 2.3 Diễn biến diện tích trồng hoa ở Việt Nam 20
Bảng 2.4 Tình sản xuất hoa cúc ở một số tỉnh miền Bắc năm 2003 21
Bảng 3.1 Tên các giống Cúc được nghiên cứu 23
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của các giống Cúc 30
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Cúc sau nuôi cấy mô 32
Biểu đồ 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Cúc sau nuôi cấy mô 32
Bảng 4.4 Động thái tăng trưởng số lá của các giống cúc sau nuôi cấy mô 35
Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng chiều dài lá của các giống cúc sau nuôi cấy mô 38
Bảng 4.6 Động thái tăng trưởng chiều rộng lá của các giống cúc sau nuôi cấy mô 40
Bảng 4.7 Thời gian xuất hiện nụ và nở hoa của các giống Cúc sau nuôi cây mô 43
Bảng 4.8 Đường kính hoa của các giống cúc sau nuôi cấy mô 44
Bảng 4.9 Độ bền hoa của các giống cúc sau nuôi cấy mô 46
Bảng 4.10 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống Đại đóa trong thí nghiệm 48
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Thời gian sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của
các giống Cúc 30 Biểu đồ 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Cúc sau nuôi
cấy mô 32 Biểu đồ 4.3 Động thái tăng trưởng số lá của các giống cúc sau nuôi cấy mô 35 Biểu đồ 4.4 Động thái tăng trưởng chiều dài lá của các giống cúc sau nuôi cấy
mô 38 Biểu đồ 4.5 Động thái tăng trưởng chiều rộng lá của các giống cúc sau nuôi
cấy mô 41 Biểu đồ 4.6 Đường kính hoa của các giống cúc sau nuôi cấy mô 45
Trang 7Kết quả nghiên cứu:
Hầu hết các giống khi được trồng đều sinh trưởng và phát triển đồng đều, cây khỏe mạnh và ít sâu, bệnh hại Tuy nhiên về các chỉ tiêu như động thái lá, thời gian sinh trưởng, chiều cao, số lá của chúng trên các cây thí nghiệm là khác nhau:
- Các giống có tổng thời gian sinh trưởng trong khoảng 110-119 ngày
- Các giống có cấu trúc thân, lá thích nghi tốt với điều kiện ở Gia Lâm –
Hà Nội như: chiều cao cây dao động từ 10 cm - 23,35 cm; Số lá biến động từ 16,60 lá/cây - 21,80 lá/cây; Chiều dài lá biến động trong khoảng từ 8,23 cm - 16,79 cm; Chiều rộng lá biến động trong khoảng 3,68cm - 7,24 cm Màu sắc lá chủ yếu là màu xanh và xanh thẫm, có răng cưa và lớp lông ở phần dưới lá
- Các giống nghiên cứu có thời gian ra hoa 49 đến 68 ngày, trong đó giống Pingpong đóng nụ sớm nhất (49 ngày), giống Tua-rua đóng nụ muộn nhất (68 ngày); Đường kính hoa biến động trong khoảng 4,29 – 16,78 cm; Độ bền hoa kéo dài trong khoảng từ 47 – 69 ngày, trong đó giống cúc Tua-rua có độ bền hoa cao nhất (69 ngày) và giống Pingpong có độ bền hoa ngắn nhất (47 ngày)
- Các giống được trồng đều bị nhiễm với 4 loại sâu, bệnh hại là:Rệp, sâu xanh, bệnh đốm đen, bệnh héo sinh lý Mức độ nhiễm bệnh Rệp là nặng nhất và bệnh héo sinh lý là nhẹ nhất
Trang 8PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Bước vào thế kỷ 21, người tiêu thụ trên thế giới đã có những đòi hỏi mới
về chất lượng cuộc sống: Ngon với thức ăn bổ dưỡng hơn, đẹp với những tiện nghi vật chất và tinh thần phong phú hơn Vì yêu cầu ăn ngon, sống đẹp ngày càng được xem trọng cho nên hoa, cây cảnh đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong mọi sinh hoạt: hoa sinh nhật, hoa thăm hỏi, hoa tiệc cưới, hoa trang trí văn phòng, hoa tôn vinh lễ hội, hoa cho ngày Cha và mẹ Hoa theo cả con người cho tận đến khi kết thúc cuộc đời của mỗi người
Hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên được cây chắt lọc ban tặng cho con người Hoa trong cuộc sống của con người chiếm một vị trí thẩm mỹ quan trọng, hoa là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống Hoa không chỉ đem lại cho con người sự thoải mái thư giãn khi thưởng thức vẻ dẹp của chúng mà còn đem lại cho những người sản xuất hoa giá trị kinh tế cao hơn so với những cây trồng khác Nhiều nước trên thế giới như: Hà Lan, Pháp, Bungari đã có nền sản xuất hoa rất phát triển và nguồn thu nhập từ hoa là nguồn thu nhập quan trọng của đất nước.Ở Việt Nam, cây hoa có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của các vùng trồng hoa, cây hoa đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng các cây trồng khác
Phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào thực vật đang được áp dụng khá phổ biến trên nhiều đối tượng cây trồng Một trong số những ưu điểm nổi bật của nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô là hệ số nhân cao, trong một thời gian ngắn có thể tạo ra một số lượng lớn cây giống tương đối đồng nhất, cây giống sạch bệnh, giá thành thấp Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu nhiệt đới gió
mùa ở Việt Nam mà giai đoạn chăm sóc cây in vitro gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ sống
thấp Do đó, giai đoạn chăm sóc có vai trò quyết định sự thành công của quy trình
Trong suốt quá trình chuyển cây con in vitro ra đồng ruộng, cây con không có khả
Trang 9năng cạnh tranh với các vi khuẩn đất và chống chịu với các điều kiện môi trường
Xuất phát từ những thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài “ Đánh giá sinh trưởng
và phát triển của một số giống hoa Cúc sau in vitro” tại Gia Lâm, Hà Nội
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống hoa Cúc sau nuôi cấy in vitro
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu
- Nắm được cách trồng và chăm sóc một số giống hoa cúc
- Đánh giá được các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của các giống hoa giai đoạn vườn ươm và sản xuất
- Theo dõi được tình hình sâu bệnh hại trên cây hoa cúc giai đoạn vườn sản xuất
- Ghi chép cẩn thận, đầy đủ
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vị trí phân loại và nguồn gốc, phân bố của cây hoa cúc
Cây hoa Cúc thuộc chi Chrysanthemum của họ Cúc (Asteraceae hoặc
Compositae), còn gọi là họ Hướng dương, họ Cúc tây, là một họ thực vật có hoa,
lớp hai lá mầm Tên gọi khoa học của họ này có từ chi Aster (cúc tây) và có từ
nguyên từ gốc tiếng Hy Lạp mang nghĩa ngôi sao- do hình dáng của hoa trong các loài của nó, được điển hình hóa thành tên gọi phổ biến chung là hoa cúc
(Wikipedia)
Cây hoa cúc (Chrysanthemum sp.) được định nghĩa từ Chrysos (vàng) và
Anthemum (hoa) bởi Line 1753, là một trong những loại cây trồng làm cảnh lâu
đời và quan trọng nhất trên thế giới Hoa cúc có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản, các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã chứng minh rằng từ đời Khổng Tử người ta đã dùng hoa cúc để mừng lễ thắng lợi và cây hoa cúc đã đi vào các tác phẩm hội họa, điêu khắc từ đó Ở Nhật Bản cúc là một loại hoa quý (quốc hoa) thường được dùng trong các buổi lễ quan trọng, người Nhật Bản coi cúc là người bạn tâm tình Theo tài liệu cổ Trung Quốc thì hoa cúc có cách đây 3.000 năm Trong văn thơ Hán cổ, hoa cúc có 30-40 tên gọi khác nhau như: Nữ hoa, Cam hoa, Diên hoa… Hoa cúc có nguồn gốc từ một số loài hoang dại thuộc loại cúc
Dendranthema, trải qua quá trình chọn lọc lai tạo và trồng trọt, từ những biến dị
để có được những giống cúc như ngày nay
Ở Việt Nam hoa cúc đã được du nhập từ thế kỷ XV, người Việt Nam coi cúc
là biểu hiện của sự thanh cao, là một trong bốn loài thảo mộc được xếp vào hàng
tứ quý “Tùng, Cúc, Trúc, Mai” hoặc “Mai, Lan, Trúc, Cúc” Hoa cúc không chỉ được ưa chuộng bởi mầu sắc, hình dáng mà còn đặc tính bền lâu hơn các loại hoa khác (Trung tâm nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN)
Năm 1984, Lê Kim Biên khi nghiên cứu phân loại họ cúc cho thấy riêng chi
Chrysanthemum L ( Đại cúc) ở Việt Nam có 5 loài, trên thế giới có 200 loài, và
Trang 11có khoảng 1.000 giống Các giống cúc hiện trồng chủ yếu được sử dụng làm hoa hoặc cây cảnh, do đó hoa thường có kích thước từ trung bình đến to, nhiều màu sắc, như trắng, vàng, đỏ, tím, hồng… Một số loại cúc thuộc chi
Chrysanthemum được trồng phổ biến như:
- Chrysanthemum cinerieafolium (cúc Trừ Trùng): cây sống dai, có lông tơ,
cao khoảng 50-70cm Thân mọc thẳng đứng có cạnh lồi, lá mọc cách kiểu lông chim Hoa được dùng để chế biến thuốc trừ sâu
- Chrysanthemum indicum (Cúc Vàng hay Kim Cúc): được trồng nhiều
ở Châu Á, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản Cây dạng thân cỏ, sống lâu năm, cây có thể cao hơn 100 cm
- Chrysanthemum morifolium (Cúc Trắng): có nguồn gốc từ Trung
Quốc, được trồng ở vùng núi Nam trung bộ và các tỉnh miền Bắc Việt Nam, được dùng làm thuốc hay cây cảnh Thân dạng thân cỏ, sống lâu năm hay một năm Trên thực tế thế giới có tới 7.000 giống cúc đã đưa vào sử dụng với sự đa dạng về chủng loại, màu sắc vô cùng phong phú (Anderson N O., 1987)
- Chrysanthemum macimum (cúc Trắng Lớn): có nguồn gốc từ châu Âu
được trồng rộng rãi trên thế giới với mục đích làm hoa cắt hoặc trồng ở bồn lớn Cây sống lâu năm, cao từ 70-100 cm
- Chrysanthemum conirium (rau Cải Cúc, cúc Tần Ô): có nguồn gốc từ vùng
Trung Cận Đông, cây sống hàng năm, thân mọc thẳng đứng, phân nhánh thành bụi, cây cao đến 120 cm
2.2 Đặc điểm thực vật học của cây hoa Cúc
Rễ: Rễ của cây hoa Cúc là loại rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang,
phân bố ở tầng đất mặt từ 5-20cm Kích thước các rễ trong bộ rễ Cúc chênh lệch nhau không nhiều, số lượng rễ rất lớn do vậy khả năng hút nước và dinh dưỡng rất mạnh Cúc chủ yếu trồng bằng nhân vô tính nên các rễ không phát sinh từ mầm
rễ của hạt mà từ những rễ mọc ở mấu của thân (gọi là mắt) ở những phần ngay sát mặt đất
Trang 12Thân : Cây thuộc thân thảo nhỏ, cao từ 40- 60cm, có nhiều đốt giòn dễ gãy
càng lớn càng cứng, cây dạng đứng hoặc bò Kích thước thân cao hay thấp, to hay nhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ trồng Những giống nhập nội thân thường to, mập, thẳng và giòn, ngược lại những giống Cúc dại hay giống
cổ truyền Việt Nam thân nhỏ mảnh và cong Thân có ống tiết nhựa mủ trắng, mạch có bản ngăn đơn
Lá : Thường là lá đơn không có lá kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻ thùy lông
chim, phiến lá mềm mỏng có thể to hay nhỏ, màu sắc xanh đậm hay nhạt phụ thuộc vào từng giống Mặt dưới phiến lá bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng Trong một chu kì sinh trưởng cây có từ 30-50 lá trên thân
Hoa ,Quả : Hoa Cúc chủ yếu có 2 dạng : Dạng lưỡng tính: Trong hoa có cả
nhị đực và nhuỵ cái Dạng đơn tính : Trong hoa chỉ có nhị đực hoặc nhuỵ cái, đôi khi có loại vô tính (không có cả nhụy, nhị, hoa này thường ở phía ngoài đầu) Mỗi hoa gồm rất nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng mà mỗi đầu trạng là một bông hoa
Trong thực tế tuỳ theo mục đích sử dụng mà người ta để một bông trên một cành hay nhiều bông trên một cành Màu sắc của hoa Cúc rất khác nhau, hầu như
có tất cả các màu tự nhiên: Trắng, vàng, đỏ, tím, hồng, nâu, xanh.Trong đó, trên mỗi bông hoa có thể có một màu duy nhất, có thể có vài màu riêng biệt hoặc có rất nhiều màu pha trộn, tạo nên một thế giới màu sắc vô cùng phong phú và đa dạng
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Cúc
1 Ánh sáng
Ánh sáng rất quan trọng đối với hoa cúc, ánh sáng ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa và nở hoa của cúc Cúc được xếp vào nhóm cây ngày ngắn, thời gian chiếu sáng thời kỳ phân hoá mầm hoa tốt nhất là 10h/ngày Thời gian chiếu sáng kéo dài, sinh trưởng của hoa cúc dài hơn, cây cao hơn, lá to, hoa ra muộn
Trang 13hơn Tuy nhiên ở mỗi thời kì sinh trưởng và phát triển cây có yêu cầu ánh sáng khác nhau:
- Thời kì cây con: Khi mới ra rễ cây cần ít ánh sáng vì lúc này cây con còn
sử dụng các chất dinh dưỡng dự trữ
- Thời kỳ chuẩn bị phân cành: Cây cần nhiều ánh sáng để quang hợp tạo các
chất hữu cơ cần thiết cho hoạt động sống của cây
2 Nhiệt độ
Đa số các giống Cúc trồng hiện nay đều ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động
từ 15 – 20°C (vụ thu đông), có một số giống chịu nhiệt độ cao hơn từ 30-35°C
3 Độ ẩm
Cúc là cây trồng cạn ưa ẩm, không chịu được úng Độ ẩm đất 80-85%, độ
ẩm không khí 70-80% là thích hợp cho cây cúc phát triển, đặc biệt thời kỳ thu hoạch cần độ ẩm vừa phải để tránh nước đọng gây thối hoa
4 Đất
Yêu cầu đất cát pha, thịt nhẹ, cao ráo, thoát nước, tơi xốp, nhiều mùn, pH
từ 6-7 Nếu trồng ở vùng đất thịt nặng, úng thấp, cây sinh trưởng kém, hoa nhỏ, chất lượng hoa xấu và dễ bị héo xanh vi khuẩn
- Lân (P): Có tác dụng làm cho bộ rễ phát triển mạnh, thân cứng, hoa bền, màu sắc đẹp, nhanh ra hoa, giúp cây hút nhiều đạm và tăng khả năng chống rét
Trang 14cho cây Thiếu lân bộ rễ phát triển kém, cành nhánh ít, màu sắc kém, hoa chóng tàn, ra hoa muộn
- Kali (K): Giúp cho cây tổng hợp, vận chuyển các chất đường bột trong cây, giúp cây chịu hạn, chịu rét, chống chịu sâu bệnh Thiếu kali màu sắc hoa không tươi tắn, mau tàn Cúc cần nhiều Kali nhất vào thời kỳ phân hóa mần hoa
- Các nguyên tố vi lượng: Tuy cây cần ít nhưng không thể thiếu và không thể dư như Ca, Mg, B, Mn Thiếu nguyên tố vi lượng này thì lá sẽ bị vàng làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, khiến hoa bị nhợt nhạt…
rễ, thân,lá Ta tiến hành rửa nhanh chóng để hạn chế cây tiếp xúc quá lâu trong môi trường nước, tránh tình trạng bị úng cây Để ráo và rải đều cây ra khay sau
Trang 15Sau khi ra chai, cây còn rất yếu cho nên chúng ta nên tưới đủ nước Sử dụng bình tưới dạng phun mưa và tưới nhẹ nhàng để tránh làm gẫy cây Tưới liên tục 3-4 lần/ngày và quan sát cho đến khi cứng cây và bắt đầu hồi xanh Chỉ cần giữ cho đất có độ ẩm vừa phải giúp cây thích nghi với môi trường đất
Sau khi cây hồi xanh và phát triển bình thường Ta giảm lượng tưới xuống còn 2- 3 lần/ ngày nhưng tăng lượng nước tưới lên Tùy theo điều kiện thời tiết để
có lượng nước tưới phù hợp Không nên tưới và lúc trời trưa nắng, sẽ làm cây khô héo đột ngột, làm chết cây
Tiến hành che phủ cho cây để tránh ánh sáng trực tiếp, những ngày nắng gắt Tiến hành chăm sóc và quan sát cho đến khi cây ra hoa
* Bón phân
Nên bón phân định kì từ 10- 15/ lần
Lưu ý không nên bón phân cho cây vào lúc trời nắng gắt, tránh gây hại cho cây,
có thể làm cho cây bị mất nước Tưới đủ nước để hiệu quả phân bón cao nhất
*Sâu bệnh hại hoa :
Rệp :
- Triệu chứng: Rệp thường tập trung ở phần đỉnh ngọn cây, lá non, trích hút làm cho cây còi cọc, ngọn quăn queo, nụ bị thui, hoa không nở được hoặc dị dạng, gây hại nặng ở vụ Xuân hè và Đông xuân
Trang 16- Phòng trừ: Dùng thốc Karate 2,5 EC liều lượng15 - 20 ml/bình 16L, hoặc Supracide 40ND liều lượng 20 – 30 ml/bình 16L, Ascend 20SP liều lượng 10- 16ml/bình 16 L
Sâu xanh, sâu khoang hoặc sâu cuốn lá :
- Triệu chứng: Sâu tuổi nhỏ ăn phần thịt lá để lại lớp biểu bì phía trên Sâu tuổi lớn ăn khuyết lá non, ngọn non, mầm non, khi cây có nụ sâu ăn đến nụ và làm hỏng nụ, hỏng hoa Sâu chỉ phá hại ở thời kỳ cây non
- Thường phát sinh vào tháng 3-5
Phòng trừ: sâu tuổi lớn bắt thủ công bằng tay vào sáng sớm, sử dụng một trong các loại thuốc: Sherpa 25EC liều lượng 20-30ml/16L, Selecron 500EC liều lượng 30-40ml/bình 16L, Reasgant 3.6EC liều lượng 10ml/bình 16L
Bệnh đốm lá (do nấm Cercospora sp.) :
- Triệu chứng: Vết bệnh thường có dạng hình tròn hoặc bất định màu nâu nhạt hoặc nâu đen, nằm rải rác ở mép lá hoặc gân lá Bệnh phát triển mạnh khi nóng ẩm
Bệnh phát sinh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm
- Phòng trừ: Sử dụng một trong các loại thuốc: Anvil 5SC liều lượng 16- 20ml/bình 16L, Score 250ND liều lượng 10ml/bình 16L, Ziflo 76WG liều lượng 90-100g/bình 16L
Bệnh phấn trắng (Oidium sp.):
- Triệu chứng: Vết bệnh dạng bột phấn màu trắng xám, gây hại trên lá là chủ yếu Khi bệnh nặng có thể làm thối nụ, hoa không nở được
Bệnh phát sinh mạnh vào mùa hè nóng ẩm
- Phòng trừ: Sử dụng một trong các loại thuốc: Aliette 80WG liều lượng 50g/bình 16L, Anvil 5 SC liều lượng 15– 20 ml/bình 16L hoặc Dupont Kocide 53.8DF liều lượng 15-16G/16L
Bệnh gỉ sắt (do nấm Puccinia chrysanthemi):
Trang 17- Triệu chứng: Vết bệnh dạng ổ nổi, ban đầu màu da cam sau chuyển màu
rỉ sắt, thường xuất hiện ở cả 2 mặt lá, bệnh nặng làm cháy lá, lá vàng, rụng sớm Bệnh thường phát sinh vào tháng 3-6
- Phòng trừ: Sử dụng Viben-C 50WP liều lượng 40G/16L, Anvil 5 SC liều lượng 15-20ml/bình 16L, Copforce blue 51WP liều lượng 35-40g/16L
Héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum):
- Triệu chứng: Vi khuẩn tác động vào bộ phận gốc rễ, vết bệnh màu trắng đục, ủng nước, cây bị bệnh héo xanh, thường héo từ lá gốc lên trên
Bệnh phát sinh mạnh vào mùa hè, trên đất trồng màu, không được ngâm giầm hay phơi ải
- Phòng trừ: Dùng biện pháp luân canh, xử lý đất trước khi trồng, nhổ bỏ cây bệnh, vệ sinh vườn trồng, hạn chế tưới phun lên lá, tưới tràn, phun thuốc trừ sâu diệt môi giới truyền bệnh Sử dụng một trong số loại thuốc: Ridomil Gold 68WG liều lượng 80-90G/bình 16L, Mancolaxyl 72 WP liều lượng 60- 80g/bình16L, Streptomixin nồng độ 100 - 150 ppm, phun hoặc tưới gốc
Bệnh sinh lý :
Ngoài các bệnh truyền nhiễm, cây hoa cúc còn bị bệnh sinh lý (không truyền nhiễm) gây hiện tượng vàng lá, héo ngọn, cây sinh trưởng kém hoặc chết Cần điều chỉnh việc bón phân, tưới nước hợp lý và phun bổ sung thêm phân bón vi lượng
Nhìn chung đối với các loại nấm gây hại, để đề phòng bệnh ngay từ ban đầu, sau trồng nên phun Champion 57.6DP liều lượng 30-40g/bình16L, hoặc Funguran – OH 50WP liều lượng 30-35g/bình 16L, định kỳ 7 -10 ngày 1 lần, vừa giảm tỷ
lệ cây nhiễm bệnh, vừa kích thích sự sinh trưởng, phát triển của cây
2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới
2.5.1 Tình hình sản xuất hoa Cúc trên thế giới
Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho nền
Trang 18kinh tế các nước trồng hoa cây cảnh, trong đó có các nước châu Á Sản xuất hoa
ở các nước châu Á đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường hoa trên thế giới
Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên Ba nước sản xuất hoa hoa lớn nhất chiếm 50% sản lượng hoa thế giới là Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ
Theo Roger và Alan (1998) năm 1995 giá trị sản lượng hoa trên thế giới đạt
20 tỷ USD đến năm 1997 đạt 27 tỷ USD và dự kiến đầu thế kỷ 21 đạt 40 tỷ USD, trong đó Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD; Hà Lan khoảng 3,558 tỷ USD; Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD
Giá trị xuất nhập khẩu hoa và cây cảnh của thế giới tăng hàng năm Năm
1996 là 7,5 tỷ đô la, trong đó từ thị trường hoa của Hà Lan chiếm gần 50% Sau
đó đến các nước Côlômbia, Italia, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ, Israen, Úc, Đức, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Kênia, Ecuado… mỗi nước trên 100 triệu đôla, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 10% Đức và Mỹ là 2 quốc gia chiếm trên 50% thị trường nhập khẩu hoa với các loài hoa phổ biến là cẩm chướng, cúc, hồng, layơn, lan…
Bảng 2.1 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới
TT Quốc Gia % Thị trường Loại Hoa
(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2003)
Trang 19Đức và Mỹ là 2 quốc gia chiếm trên 50% thị trường nhập khẩu hoa với các loài hoa phổ biến là cẩm chướng, cúc, hồng, layơn, lan…
Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới
(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2003)
Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất thế giới, chiếm tới 64,8% thị trường, trong đó các loài hoa nổi tiếng được xuất khẩu từ Hà Lan là: Lily, hồng, lay ơn, đồng tiền, cẩm chướng
Sản xuất hoa thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất hoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa Mục tiêu sản xuất hoa cần hướng tới là giống hoa đẹp tươi, chất lượng cao và giá thành thấp
2.5.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc trên thế giới
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại thì ngành công nghệ sinh học trong lĩnh vực chọn tạo giống cây trồng đã có vai trò rất quan trọng Các nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu lĩnh vực chọn tạo giống hoa cúc bằng nhiều phương pháp khác nhau: lại hữu tính, chuyển gen vào tế bào
Trang 20hoa cúc, tạo giống hoa cúc đột biến và kết quả là đã đưa ra nhiều giống hoa cúc mới
Shibata và cộng sự (1998) đã lai tạo thành công giống cúc “Moonlight” là
kết quả của phép lai xa giữa loài Chrysanthemum moifolium Ramat và loài
C.Pacifium Nakai, con lai F1 được lại lại với C.morifolium và chọn được giống
“Moonlight” có hoa đơn, đường kính hoa 5 cm, có 25 cánh tràng màu vàng hơi
xanh, lá nhỏ hơn và cuống lá dài hơn C.morifolium, có bộ NST 2n=64
Đột biến là một trong những phương pháp chọn giống có nhiều thành công đối với cây hoa cúc, tạo ra giống mới có những biến đị về màu sắc hoa, hình dạng hoa, kích cỡ hoa và một số đặc tính thực vật học khác Theo NBRI Newsletters
(1989), khi xử lý tia gamma (1-3 krad) cho 125 giống cúc (Dendranthema) đã thu
được từ chối ra rễ các thể đột biến về màu sắc và hình dạng hoa ở dòng vô tính
M, và M; của 50 giống, trong đó có 36 giống được coi là giống mới, nồng độ tia gamma thích hợp nhất là 1,5 và 2,5 krad
Các nhà khoa học Benetka và Pavingerova (1995) đã sử dụng kỹ thuật chuyển gen lạ vào genome của giống hoa để tạo ra giống mới, giống cúc
Chrysanthemum (Dendranthma grandiflora Tzvelev.) CV "White Snowdon" được chuyển gen (pTiB6S3 T-DNA) của Agrobaceerium tumefacciens (B6S3 T-
DNA) hoặc gen GUS trong cấu trúc di truyền
Mitouchkina và cs, (2000) đã nghiên cứu chuyển gen rolC bằng việc sử
dụng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes đến biến đổi hình dáng cây và cấu trúc
hoa cúc Đoạn gen rolC dưới tác động của đoạn promoter 355 trên plasmid pPCV003 với dòng vi khuẩn Agrobacterium GV3101 được chuyển vào cây hoa cúc White Snowdon, hay còn gọi là giống Bông tuyết (CN42) Một trong các dòng chuyển gen thu được có sự biểu hiện thay đổi về kích cỡ cây, khả năng phân cành, nhánh, hình dáng hoa cũng như kiểu cánh hoa, là nguồn vật liệu để tạo ra giống hoa cúc mới
Trang 21Cây hoa cúc có thể nhân giống bằng nhiều phương pháp khác nhau: gieo hạt, giâm cành, ta chồi, nuôi cấy mô tế bào Tuy nhiên, phương pháp nuôi cấy mô
tế bảo được các nhà khoa học thế giới nghiên cứu nhiều nhất Một trong những nhân tố tạo nên sự thành công của ngành sản xuất hoa cúc của một số nước trên thế giới (Hà Lan, Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan ) là đã sử dụng công nghệ nhân giống invitro để sản xuất cây giống Với công nghệ nhân giống invitro mà người ta có thể sản xuất được số lượng rất lớn các cây giống khỏe, sạch bệnh, đồng nhất về mặt di truyền đáp ứng yêu cầu sản xuất
Năm 1990 khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thành phần môi trường dinh dưỡng, Lunegent và Wardly (1990) đã kết luận đoạn thân các cao 1-2 cm cho phát triển trong môi trường nuôi cấy Benzyl Adenin thì chúng hình thành 2-3 chồi so với mẫu bản và không có rễ bất định, còn trong môi trường 0,1- 0,3 mg/ axit Indol Butyric thì hình thành 1-2 chối và có rễ bất định
Năm 1990, Kenth và Toress đã nuôi cấy mô thành công từ đoạn thần và lá của giống hoa cúc màu tím trên môi trường MS Tỷ lệ hình thành chồi đạt 100%
và trung bình các cây được nuôi cấy mô sau 3-4 tháng đã ra hoa,
2.6 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa cúc trong nước
2.6.1 Tình hình sản xuất hoa Cúc trong nước
Sản xuất hoa ở Việt nam Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha nhưng diện tích trồng hoa ở Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất đai Hoa được trồng lâu đời và tập trung một số vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng An, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn (Thanh hoá), Gò Vấp, Hóc Môn (TP Hồ Chí Minh) với tổng diện lích trồng khoảng 3500 ha
Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh Điều kiện khí hậu và đất đai đa dạng đã tạo điều kiện để trồng nhiều loại hoa, trong đó phát triển hệ thống trồng hoa thâm canh đã được nhà nước quan tâm và hỗ trợ Theo Viện Nghiên cứu Rau-Quả thì
Trang 22hiện nay lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10- 15 lần so với trồng lúa
và 7-8 lần so với trồng rau Gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước, tuy nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoa đặc thù của Việt Nam (hoa sen, hoa nhà và một số loài hoa mà các nước ôn đới trồng khó khăn trong mùa Đông (hồng, cúc ) Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước có 9430 ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng
Ở Việt Nam đã hình thành 3 vùng hoa lớn sau:
- Vùng hoa đồng bằng sông Hồng: với khí hậu 4 mùa và nhiều vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa Hoa được trồng ở hầu hết các tỉnh của vùng trong đó tập trong nhiều ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Hoa ở vùng này chủ yếu phục
2.6.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc trong nước
Kết quả nghiên cứu về nhân giống hoa cúc
Cây hoa cúc có thể nhân giống bằng nhiều phương pháp khác nhau và các phương pháp nhân giống đã ảnh hưởng đến chất lượng hoa cúc Để đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp nhân giống vô tính tới chất lượng và hiệu quả sản xuất hoa cúc cho các Vàng Đài Loan, Đặng Văn Đông (2005) đã nghiên cứu 4 phương pháp nhân giống là; tách mầm giá, giâm cành từ cây mẹ chọn lọc trong vườn, nuôi cấy mô tế bào, giâm cành từ cây mẹ nuôi cấy mô tế bào Kết quả như sau: phương pháp tách mầm giá và giâm cành truyền thống đơn giản, dễ làm nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh khá cao từ 9 đến 15%, các chi tiêu chất lượng cành hoa thấp như chiều cao cành hoa đạt 77,4 đến 82,2 cm Trong khi đó phương pháp nuôi cấy mô tế bào và giâm cành từ cây mẹ nuôi cấy mô tế bào có tỉ lệ nhiễm bệnh thấp từ 3 đến 5%, các chỉ tiêu chất lượng cành hoa cao hơn như chiều cao cành hoa đạt 91,1 đến 92,5 cm Sử dụng phương pháp giâm cành từ cây mẹ nuôi cấy
mô tế bào cho hệ số nhân giống cao, chất lượng cây giống tốt, hiệu quả sản xuất
Trang 23hoa thương phẩm cao gấp 1,7 lần so với trồng cây nhân giống bằng phương pháp giâm cành truyền thống
Nguyễn Thị Diệu Hương, Dương Tấn Nhựt (2004) khi nghiên cứu hoàn thiện
quy trình nhân nhanh giống cây hoa cúc (Chrysanthemum indicum L.) sạch bệnh
bằng kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trưởng trong môi trường 1/2 MS đã bổ sung BAP kết hợp với NAA, IAA, IBA theo sự biến thiên của các chất kích thích sinh trưởng Kết quả cho thấy trong môi trường 1/2 MS có bổ sung NAA (0,2-0,5 mg/l), IBA (0,2-0,5 mg/l) đều tạo rễ cho chổi cây hoa cúc tốt hơn trong môi trường 1/2 MS
có bổ sung IAA (0,2-0,5 mg/l)
Tác giả Trần Thị Thu Hiền và cs (2007) đã nghiên cứu phương pháp nhân giống hoa cúc CN97 bằng nuôi cấy mô tế bào đã đưa ra kết luận: ở giai đoạn nhân nhanh, môi trường MS có bổ sung 0,5 mgA NAA là môi trường ra rẻ, tạo cây hoàn chỉnh phù hợp nhất cho chối cúc in vitro,
Để nâng cao chất lượng của các cây giống hoa cúc tuổi cấy in vitro thông qua nuôi cấy thoáng khí, Dương Tin Nhựt và es (2005) tiến hành thí nghiệm nuôi
cây cây hoa cúc (Chrysanthemum sp.) trong các hộp nhựa tròn có đục lỗ và hợp
không đục lỗ Kết quả cho thấy trọng lượng tươi và chiều cao cây trong hộp 1 lỗ thoáng khí cao hơn rõ ràng so với cây được cây trong hợp không thoáng khí, có tỉ
lệ sống cao, sinh trưởng, phát triển tốt khi ra vườn ươm
Phương pháp nhân giống hoa cúc bằng giâm cành hiện nay vẫn đang được
áp dụng rất phổ biến trong thực tế sản xuất hoa cúc Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứu cái tiễn biện pháp nhân giống các bằng giảm cảnh để nâng cao chất lượng cảnh giâm, hạ giá thành cây giống, Nguyễn Thị Kim Lý (2001), đã tiến hành các nghiên cứu thí nghiệm xây dựng quy trình cải tiến nhân giống các từ khâu trồng cây mẹ và khai thác mằm giảm như sau:
- Thời vụ giảm chọn 2 thời vụ giảm chính là vụ Xuân-Hè (từ tháng 2 đến tháng 5) và Thu-Đông (từ tháng 9 đến tháng 11)
Trang 24Đất vườn ươm để trồng cây mẹ chọn những chân đất cao, tơi xốp, nhiều mùn
đã được cày bừa và xử lý nguồn bệnh, chủ động tưới tiêu và có giàn che mưa nắng
- Trồng cây mẹ: chọn cành giảm tốt khoẻ, không bị sâu bệnh từ cây mẹ có chất lượng tốt và đảm bảo những đặc trưng hình thái giống, tốt nhất là những mầm cảnh bánh tẻ, dài từ 5-8cm có khoảng 3 4 lá với mật độ 1000 cành giâm/m, thường sau khoảng 10 -15 ngày, cây ra rễ tốt thì đem trồng cây mẹ để cắt mầm Khoảng cách trồng cây mẹ là 14 x 15cm, mật độ 400.000cây/ha
- Kỹ thuật bấm ngọn và cắt cành: thường sau trống khoảng 10-12 ngày, tiến hành bấm ngọn lần 1 và sau 20 ngày, bấm ngọn lần 2 Sau 25 ngày kể từ khi bấm ngọn lần 2, tiến hành cắt lần 1 Như vậy mỗi cây mẹ sẽ cắt được 3-4 cành Sau đó, tiếp tục cắt lần 2, lần 3 và mỗi lần cách nhau khoảng 25 ngày Với kỹ thuật như vậy trong vụ (thời gian khoảng 4 tháng) trên 1 ha có thể thu được 4.000.000 cành giảm có chất lượng tốt,
Việc giâm cành vào vụ Xuân và vụ Thu tiền hành dễ dàng hơn, còn vào vụ Hè-Thu khó khăn hơn Để giải quyết những khó khăn này, Nguyễn Thị Kim Lý (2001), đã tiến hành nghiên cứu một số biện pháp giảm cành với 2 giống được trồng khá phổ biến ngoài sản xuất giống cúc CN 97 và Họa Mi Kết quả đã thu được là trong các biện pháp xử lý cành giâm, biện pháp giảm trên nền đất phù sa nhẹ, chỉ tưới đẫm 1 lần kết hợp với xử lý IBA 1000 ppm và Zinep 0,1%, cho tỷ
lệ hình thành rẻ và tỷ lệ cây xuất vườn cao nhất Biện pháp này khi áp dụng ngoài sản xuất đã đạt hiệu quả kinh tế cao, cung cấp đủ cây cho sản xuất cây thay vì trước đây việc giảm trên nền cát ẩm là không thích hợp cho sự ra rễ cành giâm
Khi nghiên cứu biện pháp nhân giống hoa cúc bằng giâm cành vào mùa hè, Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh (1999) đã sử dụng Kích phát tố của công
ty Thiên Nông và đi đến kết luận: việc sử dụng loại phân bón này với liều lượng 1g thuốc pha trong 1 lít nước sạch và nhúng phần gốc của cảnh khoảng 3 phút, rồi đem phần dung dịch thuốc còn lại pha thêm 5g phân bón lá phun lại lên cành
Trang 25giâm, cứ 3-5 ngày phun dung dịch này 1 lần, có thể đảm bảo 80 đến 90% số cây
ra rễ, với thời gian rút ngắn so với đối chứng từ 3-4 ngày Phương pháp này thường được áp dụng có hiệu quả cao hơn cho việc nhân giống vào mùa Hè Hệ số nhân giống cúc theo phương pháp này đạt từ 15-20 lần, tức là trồng từ 15- 20 ha phải
có 1 ha vườn cây mẹ
Chọn tạo giống bằng phương pháp nhập nội là con đường cải tiến giống nhanh nhất và rẻ tiền nhất Thực tế cho thấy rằng, nhiều giống cúc được nhập nội sinh trưởng và phát triển mạnh, có năng suất và chất lượng tốt trong điều kiện khí hậu nước ta Vì vậy, để có được các giống hoa cúc năng suất và chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng thì các nhà khoa học đã có nhiều kết quả nghiên cứu đánh giá, tuyển chọn giống và đưa ra giới thiệu cho sản xuất
Trong các năm 1996-1998, Nguyễn Thị Kim Lý (2001) đã thu thập, khảo sát 30 giống hoa cúc từ nguồn trong nước và nhập nội và đã tuyển chọn được một
số giống cúc có triển vọng ở các thời vụ khác nhau như vụ Xuân-Hè và Hè- Thu
là CN93, CN98, Tim sen, Vàng hè Đà Lạt, vụ Thu - Đông là Vàng Đài Loan, CN97 và các giống các chi như Cao Bồi Tím, Họa Mi vụ Đông Xuân là giống Tím Xoáy
Nguyễn Xuân Linh và cs (1998), khi nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển các giống cúc ở Việt Nam đã kết luận: các giống nhóm các mùa thu nở hoa vào đầu tháng 11 thì phân hóa hoa từ cuối tháng 8, các giống cúc thu đông có thời gian sinh trưởng 14 tuần và thường nở hoa vào giữa tháng 12 đến đầu tháng giêng,Năm 2002, Phạm Xuân Tùng, Nguyễn Xuân Linh và CTV (2004) đã tiến hành khảo sát đánh giá 20 giống hoa cúc vụ Hè tại Đà Lạt Kết quả cho thấy có 2 giống cúc có dạng hoa và màu sắc đẹp, có khả năng kháng ruổi và nắm bệnh tốt,
có triển vọng sản xuất và trên thị trường
Từ năm 2001-2005, Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành khảo sát, đánh giá và so sánh các giống hoa cúc nhập từ Hà Lan Kết quả đã tuyển chọn cho sản xuất giống hoa cúc chùm CN20 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cây
Trang 26cao 70-90 cm, thân cứng khỏe, thời gian sinh trưởng 3-4 tháng, hoa đẹp được người tiêu dùng ưa chuộng và được trồng 2 vụ chính là vụ Tàu và Đông (Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh, 2004); (Nguyễn Thị Kim Lý, Lê Sỹ Dũng, 2008)
Đặng Văn Đông (2005) đã tiến hành điều tra đánh giá tập đoàn các giống cúc trồng ở miền Bắc Việt Nam Kết quả đã xác định được 51 giống cúc đang được trồng với mục đích sản xuất hàng hóa và 15 giống đang được trồng với các mục đích khác trên quy mô diện tích ít Kết quả điều tra cho thấy các giống cúc được trồng có xuất xứ tại Hà Nội từ năm 1995 đến nay khá ít có 6/51 giống, từ vùng hoa Đà Lạt có 5/51 giống, còn lại chủ yếu nhập nội từ các nước khác nhau Trong đó Hà Lan 23 giống, Singapo 8 giống, Nhật Bản 4 giống, Đài Loan 1 giống, Trung Quốc 1 giống và Ấn Độ 1 giống
Giống cúc Vàng Hè mới (CN01) đã được Trung tâm Hoa-Cây cảnh (Viện
Di truyền Nông nghiệp) khảo sát, đánh giá, tuyển chọn và hiện nay đang được trồng rộng rãi ở các vùng trồng hoa Theo Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh (2005) thì giống CN01 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong vụ Xuân-
Hè và Hè-Thu, tỉ lệ nở hoa cao (97-99%), khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, hình dáng và màu sắc hoa đẹp nên được thị trường ưa chuộng
Khi nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống cúc nhập nội
và địa phương tại Hà Nội, Đặng Ngọc Chi (2006) đã đưa ra kết quả trong 18 giống cúc trồng thử nghiệm, chỉ có 7 giống là Đồng Tiền trắng, Chi Xanh, Mặt Trời, CN19, CN20, Cao Bồi Tím, Tua Vàng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, các đặc điểm hình thái và chất lượng hoa được người sản xuất và tiêu dùng ưa chuộng Các giống còn lại tuy có màu sắc đẹp nhưng có những đặc điểm hình thái không phù hợp với sản xuất và khả năng vận chuyển kém nên không được người sản xuất và tiêu dùng lựa chọn và phổ biến rộng rãi.Vụ tiêu thụ trong nước,và một số chủng loại nhỏ đã xuất khẩu sang Trung Quốc (hồng, cúc ) Hồng là loài hoa phổ
Trang 27biến nhất chiếm 35%, tiếp đến là hoa cúc (30%), hoa đồng tiền (10%), còn lại là các loài hoa khác (25%)
- Vùng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện khí hậu thời tiết rất phù hợp cho trồng các loại hoa, mặc dù diện tích không lớn nhưng đãy là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp với chất lượng tốt: phong lan, địa lan, lấy, hồng, đồng tiền… Diện tích trồng các loài hoa tăng 1,74 lần so với kế hoạch đề ra trong giai đoạn 1996-
2000, chỉ riêng năm 2000 đã thu hoạch được 25,5 triệu cành hoa
- Vùng hoa đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có khí hậu ấm, nóng quanh năm nên thích hợp với các loài hoa nhiệt đới: hoa lan, đồng tiền TP Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoa lan nhiệt đới nhanh nhất trong cả nước, nhiều trang trại hoa lan đã được thành lập, kinh doanh và phát triển theo mô hình trang trại hoa lan tại Thái Lan
Bảng 2.3 Diễn biến diện tích trồng hoa ở Việt Nam
(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2003)
Diện tích hoa ngày càng tăng cao đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất là ở các thành phố lớn Tính riêng ở Hà Nội có khoảng 300 cửa hàng bán các loại hoa chất lượng cao, đó là chưa kể các hàng hoa nhỏ và cả những người bán rong Ước tính, lượng hoa tiêu thụ từ các nguồn trên ở mức hơn
1 triệu cành các loại trong một ngày Tại Đà Lạt diện tích hoa cắt cành của vùng
Trang 28này năm 1996 chỉ có 174ha, đến năm 2000 đã tăng lên 853ha và hiện nay có khoảng 1467ha (hoa cúc chiếm khoảng 24%, với sản lượng khoảng 10- 13 triệu cành, với khoảng 84 tỷ đồng
2.7 Điều tra về tình trạng thương mại của giống Cúc tại miền bắc
Hoa Cúc vẫn được coi là 1 trong Tứ quý của Việt Nam: Tùng, Cúc , Trúc, Mai Hoa Cúc thể hiện được nhiều đặc điểm thanh cao, trường thọ, phúc lộc Cho nên từ bao đời nay, người chơi hoa Cúc luôn muốn chọn những bông hoa Cúc đẹp nhất để trưng này Nhất là trong các dịp đặc biệt như lễ tết, mừng thọ…
Hiện nay, trên thị trường xuất hiện vô cùng nhiều loại Cúc với những đặc điểm về màu sắc, thân, lá khác nhau
Bảng 2.4 Tình sản xuất hoa cúc ở một số tỉnh miền Bắc năm 2003
Nguồn : Đặng Văn Đông, 2005
Qua bảng 4.9 ta thấy sản lượng sản xuất Cúc tại miền Bắc chiếm sản lượng khá cao, cho thấy giá trị thương mại của hoa Cúc cũng là một thị trường hoa cạnh tranh Ở năm 2020, cùng với sự phát triển của xã hội ngành kinh doanh hoa nói chung và hoa Cúc nói riêng đã có những thay đổi nhất định Ngoài bày bán và thu mua tại vườn và các chợ đầu mối, hiện này hoa Cúc được bày bán trên các trnag
Trang 29thương mại điện tử và mạng xã hội đem lại những nguồn thu nhập mới cho người kinh doanh
Hiện nay trên các trang thương mại điện tử đang giao bán các chậu hoa Cúc với giá dao động từ 50.000 đến 500.000 Vnd tùy thuộc vào giống, kích thước và từng thời điểm Ở thời điểm giáp Tết cho nhu cầu cao giá Cúc cũng tăng lên theo thị hiếu người tiêu dùng Hai giống Cúc Vàng lùn và Sọc lùn được giao bán trên các trang thương mại điện tử với giá giao động từ 100.000 đến 150.000 tùy giống
và kích thước
Trang 30PHẦN 3: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng: 6 giống cúc nuôi cấy mô đã ra ngôi được 1 tháng
Bảng 3.1 Tên các giống Cúc được nghiên cứu STT Tên giống Kí hiệu
Vật liệu nghiên cứu :
- Thước đo, thước dây, thước Palme, gang tay, bình tưới, …
- Một số phân bón và thuốc được sử dụng: phân bón lá, phân NPK Đầu Trâu 13-13-13 hoặc NPK Việt Nhật 15-15-15, phân chuồng hoai mục
- Túi bầu, đất phù sa, trấu hun, xơ dừa…
- Nguồn thu nhập: Bộ môn Thực vật, Khoa Nông Học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
- Tiêu chuẩn cây giống: Cây giống được nuôi cấy mô trong ống nghiệm bằng phương pháp nhân giống vô tính invitro Cây con từ môi trường nuôi cấy
mô ban đầu chuyển ra môi trường đất rất khó khăn Thứ nhất do sự thay đổi môi trường sống môi trường dinh dưỡng Thứ hai, cây chuyển từ trạng thái dị dưỡng sang tự dưỡng Khi cây được 2- 3 lá mần thì đưa ra khỏi môi trường
- Đất: Là đất cát nhỏ, không lẫn các hạt sạn lớn, được sàng lọc kỹ Loại bỏ bớt cỏ dại, hạt cỏ trong đất, côn trùng gây hại và các tạp chất Sau đó được giàn đều ra phơi nắng
Trang 31- Trấu: Trấu được hun trong môi trường thiếu oxy, là loại giá thể nhẹ, xốp, mang màu đen của than Sau khi trải qua quá trình đốt, thành phần còn lại chủ yếu
là cacbonhydrat và kali
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí tại nhà lưới đầu hồi, khoa Nông Học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Tháng 11/2021 đến tháng 5/2022
3.4 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá sinh trưởng và phát triển của một số giống hoa Cúc sau in vitro -Xác định khả năng sinh trưởng của 6 giống hoa Cúc
- Xác định khả năng phát triển của 6 giống hoa Cúc
- Xác định thời gian ra hoa và đánh giá chất lượng hoa của 6 giống hoa Cúc
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Bố trí thí nghiệm :
Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp lại, trồng 30 cây trên 1 lần lặp lại
Theo dõi 5 cây trên 1 lần lặp lại theo đường chéo 5 điểm
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi :
Các chỉ tiêu về sinh trưởng
+ Chiều cao cây (cm): Dùng thước đo từ gốc tới đỉnh sinh trưởng 1 tuần
Chiều dài lá (cm): Đo từ gốc cuống lá đến chóp lá
Chiều rộng (cm): Đo chỗ rộng nhất của phiến lá
Trang 32Các chỉ tiêu về thời gian và chất lượng hoa
+ Thời gian xuất hiện nụ hoa (ngày): ghi chép sau bao nhiêu ngày trồng thì
có 30%, 50%, 70% cây xuất hiện nụ
+ Thời gian từ nụ đến lúc nở hoa (ngày)
+ Độ bền của cụm hoa (ngày): Tính từ khi hoa đầu tiên trong cụm nở đến khi hoa cuối cùng trong cụm tàn
+ Đường kính hoa (cm): Dùng thước đo 2 chiều vuông góc khi hoa nở căng
Hoa (cm): Đo khoảng cách lớn nhất giữa hai điểm bất kì trên bông hoa đã
nở căng
+ Mô tả hình thái một hoa, hình thái cụm hoa, chụp ảnh minh họa
Theo dõi tỉ lệ sâu, bệnh hại
Loại sâu, bệnh hại
Đối với sâu hại: (1-3)
(-): Không xuất hiện
Cấp 1 (+): Nhẹ (xuất hiện rải rác)
Cấp 2 (++): Trung bình (phân bố<1/3 tổng số cây theo dõi Cấp 3 (+++): Nặng (phân bố >1/3 tổng số cây theo dõi)
Đối với bệnh hại: (1-5)
Cấp1: < 5% số cây hoặc bộ phận bị hại Cấp 2: 5- 10% số cây hoặc bộ phận bị hại Cấp 3: 10 - 25% số cây hoặc bộ phận bị hại Cấp 4: >25% số cây hoặc bộ phận bị hại Cấp 5: >50% số cây hoặc bộ phận bị hại
3.5.3 Phương Pháp xử lý số liệu
Trang 33Các số liệu được xử lý trên máy tính bằng phần mềm IRRISTAT 5.0
và Microsofl Exce
3.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
Chăm sóc: Hoa là một loại cây dễ trồng và dễ sống nhưng cũng rất dễ bị thối do ngập úng nên cần đảm bảo thông thoát nước tốt Phía trên khu vực trồng cần sử dụng lưới cắt nắng 40% để đảm bảo cường độ ánh sáng phù hợp đối với cây hoa Để đảm bảo cây sinh trưởng phát triển tốt và ra hoa đều đẹp thì ta vẫn luôn giữ độ ẩm đất cho cây từ 60-80% Bên cạnh đó, để cây có thể phát triển thì thường xuyên nhổ cỏ, nhặt bỏ lá già, lá sâu bệnh, bắt sâu, tưới nước cho cây Quan sát và kiểm tra tình hình sâu bênh hại thường xuyên và kịp thời
*Quy trình chăm sóc :
- Giai đoạn tách cây :
+ Lấy giống cây con từ sau giai đoạn invitro
+ Trộn giá thể và cho vào bầu đã chuẩn bị sẵn
+ Tưới một lượng nước vừa đủ lên bầu đã có giá thể sau đó thực hiện quy trình cho cây con đã được tách ra bầu, số lượng 3-5 cây/bầu
+ Di chuyển cây tới nơi có lưới đen che chắn để đảm bảo cây được phục hồi và phát triển
- Giai đoạn cây đã ổn định :
+ Thực hiện tưới nước định kì 1 lần/tuần
+ Nhổ cỏ vào các thời điểm suất hiện nhiều cỏ
- Giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa :
+ Dỡ bỏ lưới đen che chắn để cây có thể hấp thụ ánh sáng
+ Thực hiện tưới cây và nhổ cỏ như giai đoạn cây đã ổn định
- Giai đoạn cây ra hoa :
+ Tưới nước và theo dõi cây theo lịch trình
*Bón phân:
Trang 34- Sử dụng phân NPK tổng hợp Đầu trâu (13-13-13+TE) cần bón định kì
- Bón phân cần rắc đều quanh gốc khoảng 10cm, tránh để hạt phân tiếp xúc với lá và thân cây (nếu phân đọng lại giữa kẽ lá sẽ làm hỏng lá)
- Theo dõi cây sau khi bón phân theo lịch trình
Trang 35PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm sinh trưởng của các giống Cúc sau nuôi cấy mô
Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái của các giống cúc
- Lá to hình chân vịt nhọn ở đỉnh Lá xanh, mặt dưới nhạt hơn và có lớp lông mịn màu trắng
- Hoa nở to, kích thước lớn, cánh dài xếp đều nhau thành hình tròn nở xòe
- Lá to có răng cưa Lá xanh nhạt, dưới lá có lớp lông
- Hoa nở to những cánh hoa
nở xòe, cánh hoa dài mảnh
và không đều nhau
- Lá nhỏ, có răng cưa kiểu đầu tròn thân lá dẹp Lá có màu xanh thẫm
- Hoa nở tròn, cánh nhỏ, nhiều lớp cánh
Trang 36Đặc điểm những giống cúc này có thân và hoa rất phong phú, thân cao (pingpong, tua-rua…) và thân lùn (đại đóa), khả năng phân cành ở mức trung bình
xanh đậm Đặc điểm lá cũng rất đa dạng và là một đặc điểm để phân biệt các giống cúc với nhau Đặc điểm lá của những giống gồm có phiến lá, thế lá, độ sâu răng cưa, màu sắc,… đều có sự khác nhau Đa số hoa của các giống cúc đều nở to, kích thước lớn, các cánh hoa xếp chồng lên nhau tạo thành một hình tròn nở xòe
4.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển các giống Cúc sau nuôi cấy mô
Thời gian sinh trưởng (TGST) được tính từ khi trồng cây con đến khi hoa nở hoàn toàn TGST thể hiện toàn bộ sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng qua các giai đoạn khác nhau TGST chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và giai doạn sinh trưởng sinh thực Sinh trưởng sinh dưỡng được tính
từ khi trồng đến khi cây bắt đầu ra nụ Sinh trưởng sinh thực là thời gian từ ra nụ đến khi hoa nở hoàn toàn Thời gian sinh trưởng của mỗi giai đoạn dài ngắn khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, thời tiết, mật độ, chăm sóc,
Thời gian sinh trưởng là chỉ tiêu đánh giá các giống cúc thuộc nhóm sinh trưởng sớm,sinh trưởng trung bình hay sinh trưởng muộn Qua đó, chúng ta xác định được thời gian phát triển là cơ sở cho chọn tạo và bố trí mùa vụ ở các vùng sinh thái khác nhau
Đồng thời theo dõi TGST có ý nghĩa rất lớn, giúp giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của điều kiện bất thuận đến sinh trưởng, phát triển của cây cúc tới mức thấp nhất