Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng trắng, lòng đỏ, màng vỏ và vỏ.. Trong thời kì đẻ mạnh buồng trứng có hình chùm nho, khối lượng 55g,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GIỐNG GÀ ISA BROWN TẠI TRANG TRẠI GIA ĐÌNH ÔNG NGUYỄN DANH CHỌN, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH
HẢI DƯƠNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GIỐNG GÀ ISA BROWN TẠI TRANG TRẠI GIA ĐÌNH ÔNG NGUYỄN DANH CHỌN, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH
HẢI DƯƠNG
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN DANH LINH
Gióa viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ TUYẾT LÊ
HÀ NỘI – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, những số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tin xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 21 tháng 7 năm 2022
Người thực hiện
Nguyễn Danh Linh
Trang 4
LỜI CÁM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo trong trường, đặc biệt là khoa Chăn nuôi Đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Nhân dịp này, em muốn gửi lời cám ơn chân thành tới T.S Nguyễn Thị Tuyết Lê người hướng dẫn đề tài thuộc cán bộ giảng dạy của Bộ môn Dinh Dưỡng Thức Ăn, Khoa Chăn Nuôi đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Chăn Nuôi, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức bổ ích liên quan đến chuyên ngành và xã hội Đó là kiến thức quý báu sẽ giúp đỡ em trong cuộc sống sau này
Em xin gửi cảm ơn ông Nguyễn Danh Chọn chủ trang trại gà đẻ thương phẩm tại xã An Phượng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã hỗ trợ nhiệt tình trong thời gian thực tập tại trại
Sau nữa, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè
đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Cuối cùng, em xin chúc toàn thể thầy cô trong Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng toàn thể gia đình, bạn bè mạnh khỏe và công tác tốt
Hà Nội, ngày 21 tháng 7 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Danh Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CÁM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ ix
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC 3
2.1.1 Giống gà Isa Brown 3
2.1.2 Tính trạng số lượng 4
2.2 KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở GIA CẦM 4
2.2.1 Buồng trứng 5
2.2.2 Ống dẫn trứng 5
2.2.3 Sự tạo trứng 7
2.2.4 Quá trình đẻ trứng 8
2.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG 9
2.3.1 Chỉ số hình dạng của trứng 9
2.3.2 Khối lượng trứng 10
2.3.3 Màu sắc vỏ trứng 11
2.3.4 Tỷ lệ lòng trắng và lòng đỏ 11
2.3.5 Chất lượng vỏ trứng 12
2.3.6 Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng đặc 12
Trang 62.3.7 Đơn vị Haugh (Hu) 13
2.3.8 Các trường hợp trứng dị hình 14
2.4 TUỔI THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ SỨC SẢN XUẤT TRỨNG CỦA GIA CẦM 14
2.4.1 Tuổi thành thục sinh dục 14
2.4.2 Sức sản xuất trứng của gia cầm 15
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 18
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
Phần III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 24
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.3.1 Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc 24
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 28
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 SỰ THÀNH THỤC CỦA GÀ ISA BROWN 29
4.1.1 Tuổi thành thục sinh dục 29
4.1.2 Khối lượng cơ thể gà Isa Brown 30
4.2 TỶ LỆ NUÔI SỐNG ĐÀN GÀ ISA BROWN GIAI ĐOẠN ĐẺ TRỨNG 31
4.3 TỶ LỆ ĐẺ VÀ NĂNG SUẤT TRỨNG 35
4.4 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN 38
4.5 CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ISA BROWN 41
4.5.1 Chất lượng trứng 41
4.5.2 Tỷ lệ trứng dập vỡ và dị hình 43
4.6 SƠ BỘ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI 45
Trang 7Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 KẾT LUẬN 46
5.2 ĐỀ NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 50
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Chương trình chiếu sáng theo các tuần tuổi 25
Bảng 3.2 Điều kiện nhiệt độ trong chuồng theo các tuần tuổi 26
Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng thức ăn 26
Bảng 4.1 Tuổi thành thục sinh dục của gà mái giống ISA Brown 29
Bảng 4.2 Khối lượng cơ thể gà mái giống ISA Brown 31
Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống gà Isa Brown 32
Bảng 4.4 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của đàn gà ISA Brown 36
Bảng 4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn gà đẻ giống ISA Brown 40
Bảng 4.6 Chất lượng trứng gà đẻ giống ISA Brown 41
Bảng 4.7 Tỷ lệ trứng dập vỡ và dị hình của trứng gà ISA Brown 44
Bảng 4.8 Ước tính sơ bộ hiệu quả chăn nuôi gà mái đẻ giống ISA Brown tuần 19-50 45
Trang 10ở miền nam Hoạt động sản xuất và các sản phẩm từ gia cầm gắn liền với các hoạt động văn hóa truyền thống của người nông dân Việt Nam từ xa xưa cho đến ngày hôm nay, sản phẩm của gia cầm được sử dụng là vật phẩm chính và không thể thiếu trong dịp tết cổ truyền, ngày giỗ, lễ hội Hiện nay, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu về thực phẩm không những phải đảm bảo đủ số lượng mà còn yêu cầu đảm bảo về cả chất lượng Vì thế, chăn nuôi gia cầm càng được chú trọng và đầu tư hơn nữa
Nhằm tạo ra sản phẩm đạt đủ tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng, các trang trại phải thực hiện đúng các quy trình, các công thức thức ăn và mô hình chăn nuôi hợp lý nhất dưới sự theo dõi bên phía công ty Vì vậy việc nghiên cứu
về tình hình chăn nuôi, yêu cầu kỹ thuật, chăm sóc và các giai đoạn, đặc điểm của gà Isa Brown đang là vấn đề được quan tâm Xuất phát từ nhu cầu đó, em
tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá năng suất sinh sản của giống gà đẻ
trứng Isa Brown thương phẩm nuôi tại trang trại gia đình ”
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
Đề tài tiến hành nhằm mục đích xác định khả năng sinh sản và chất lượng trứng của gà đẻ tại trang trại gia đình ông Nguyễn Danh Chọn Kết quả của đề tài phần nào góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi của trang trại
Trong quá trình thực tập có thể học hỏi các kinh nghiệm thực tiễn trong chăn nuôi gà đẻ trứng
Trang 111.2.2 Yêu cầu
Theo dõi đầy đủ, ghi chép, thu thập số liệu liên quan về khả năng sinh sản của đàn gà Isa Brown nuôi tại trang trại một cách khách quan chân thực và kế thừa
Trang 12Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1.1 Giống gà Isa Brown
a Nguồn gốc
Gà Isa Brown là giống gà siêu trứng có nguồn gốc tại Hà Lan Đây là một giống gà lai, được lai tạo giữa giống gà Rohde đỏ với gà Rohde trắng do công ty Hubbard ISA, do đó giống gà còn có tên gọi khác là gà Hubbard Ở Việt Nam,
gà Isa Brown được xếp vào nhóm gà siêu trứng cho năng suất cao và phù hợp với nhiều vùng chăn nuôi khác nhau
b Đặc điểm ngoại hình
Gà mái thương phẩm có màu nâu Có thể phân biệt trống mái từ lúc 1 ngày tuổi, con trống có màu lông trắng, mái có màu lông nâu Màu sắc lông đa dạng theo từng dòng
c Đặc điểm sinh sản
Gà Isa Brown là giống gà siêu trứng phổ biến nhất ở Việt Nam đồng thời được là giống gà đẻ tốt nhất trên thế giới sau hơn 40 năm đưa vào chăn nuôi Giống gà Isa Brown có tính thành thục sinh dục muộn nên tuổi đẻ những quả trứng đầu tiên sau 16-18 tuần tuổi Và cho năng suất tối đa lên đến 280-300 quả/mái/năm Gà có sức đẻ cao, thời gian đẻ trứng kéo dài, khối lượng trứng lớn lên đến 58-60 gam, vỏ trứng có màu nâu Thức ăn tiêu tốn cho gà để đẻ cho 10 quả trứng khoảng 1,5-1,6 kg thức ăn
d Đặc điểm sinh trưởng
Muốn gà đẻ nhiều, chất lượng trứng tốt thì thức ăn cho gà phải bảo đảm thành phần dinh dưỡng trong thức ăn kết hợp với cho uống đủ nước pha điện giải đầy đủ trong những ngày nắng nóng
Giống gà này chống chịu bệnh tật tốt nên tỷ lệ nuôi sống cao khoảng 94% Tuy nhiên để đạt được hiệu quả như trên vẫn cần tiêm đầy đủ vaccine cùng công tác quản lý, chăm sóc
Trang 13Trong điều kiện bình thường các lô gà khác nhau trong cùng một giống có
tỷ lệ nuôi sống khác nhau Điều đó cho thấy tỷ lệ nuôi sống chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố môi trường Theo Lê Viết Ly (1995) cho biết động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp
2.1.2 Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà giá trị kiểu hình của chúng có thể
đo lường được bằng các đại lượng nhưng không thể mô tả và tách các cá thể vào từng nhóm kiểu hình riêng biệt được như khối lượng, kích thước các chiều của cơ thể hoặc bộ phận cơ thể, tỷ lệ mỡ, tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ đẻ, tốc độ sinh trưởng
Đại bộ phận các tính trạng có giá trị về kinh tế ở vật nuôi đều là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường Khác với tính trạng chất lượng, các tính trang số lượng đều do nhiều gen chi phối và bị ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường
Theo quy luật di truyền chúng ta biết:
P = G + E
Trong đó: P: Giá trị kiểu hình
G: Giá trị di truyền E: Biến động môi trường Giá trị kiểu hình (giá trị phenotyp): là giá trị cân đo đong đếm được của tính trạng số lượng
Giá trị di truyền (giá trị genotype): là toàn bộ các gen mà cá thể có gây nên
Biến động môi trường: do tất cả các yếu tố không phải di truyền gây nên
sự sai khác giữa giá trị di truyền và giá trị kiểu hình
2.2 KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở GIA CẦM
Khả năng sinh sản của gia cầm chính là sức đẻ trứng của gia cầm Sức đẻ trứng của gia cầm là số trứng thu được của mỗi đàn hoặc mỗi mái đẻ trong một khoảng thời gian (1 tháng, 1 năm hay cả đời mái đẻ)
Trang 14Gia cầm mái thành thục tương đối sớm và khả năng đẻ cao
Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng trắng, lòng đỏ, màng vỏ và vỏ Những đặc điểm này chịu ảnh hưởng của công tác giống, nuôi dưỡng và chăm sóc Sự hiểu biết về những đặc tính hình thái và sinh lý của cơ quan sinh dục gia cầm có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả chăn nuôi
2.2.1 Buồng trứng
Ở giai đoạn phôi thai, hai phía phải và trái của gia cầm đều có buồng trứng phát triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải ngừng phát triển và thoái hóa dần chỉ còn lại buồng trứng bên trái tiếp tục phát triển
Buồng trứng nằm ở phía trái xoang bụng được giữ bằng màng bụng, hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống dưới Kích thước và hình dạng của buồng trứng phụ thuộc vào tuổi, loài và trạng thái sinh lý của gia cầm Ở gà con 1 ngày tuổi buồng trứng có dạng phiến mỏng, kích thước 1-2mm với khối lượng 0,03g Tới 4 tháng tuổi buồng trứng có dạng hình thoi chứa nhiều tế bào trứng, khối lượng 2,66g Trong thời kì đẻ mạnh buồng trứng có hình chùm nho, khối lượng 55g, thời kì thay lông giảm còn 5g
Cấu trúc buồng trứng gồm: chất vỏ và chất tủy
+ Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô có lớp tế bào hình trụ hay lăng trụ thấp Dưới chúng có 2 lớp nang với các tế bào trứng Nằm ở lớp ngoài
là những nang nhỏ có đường kính đến 400 micron, trong lớp sâu hơn có những nang lớn hơn với đường kính 800 micron hay to hơn
+ Chất tủy tập trung ở giữa buồng trứng, cấu tạo từ các biểu mô liên kết với hệ thống mạch máu và dây thần kinh rất phát triển Trong chất tủy có những khoang được phủ bằng mô dẹt và tế bào kẽ
2.2.2 Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng là một phần hình ống, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành trứng của gia cầm Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi
Trang 15và hoạt hóa chức năng hệ sinh dục của gia cầm Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng có đường kính đồng nhất trên toàn bộ ống, chiều dài từ 10
- 20 cm đường kính 0,3-0,8cm Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn có chiều dài 68cm đường kính khác nhau giữa các phần của ống, phần lớn nhất của ống đường kính là 10cm Vào thời kỳ đẻ trứng mạnh chiều dài của ống dẫn trứng tăng tới 86cm, còn đường kính đến 10cm Ở gà không đẻ trứng, chiều dài của ống dẫn trứng giảm đến 11-18cm, đường kính 0,4 - 0,7cm Ở thời kỳ thay lông ống dẫn trứng có chiều dài là 17cm
Khi gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng gồm các phần sau: phễu, phần tạo lòng trắng, cổ, tử cung và âm đạo
+ Phễu: là mở rộng phía đầu của ống dẫn trứng dài 4- 7cm, đường kính 8-
9cm Nó nằm dưới buồng trứng với chức năng hứng trứng Nhờ kiểu nhu động một chiều nên khả năng hút được tế bào trứng rụng về mình mà không thể rơi vào xoang bụng Trứng được thụ tinh ở phần này Niêm mạc ở phần phễu tiết ra chất tiết có tác dụng nuôi dưỡng tinh trùng Tinh trùng có thể sống tại phần loa kèn được 1-30 ngày Nhưng hoạt lực thụ tinh tốt nhất từ 1-7 ngày Tế bào trứng lưu lại ở phần phễu không quá 20-30 phút Sau đó nhờ nhu động của ống dẫn trứng mà trứng được di chuyển tiếp tục xuống các phần sau của ống dẫn trứng
+ Phần tạo lòng trắng: Là phần dài nhất của ống dẫn trứng có chiều dài
bằng 30- 50cm Chức năng là sản sinh ra lòng trắng trứng Chừng 40-50% lòng trắng trứng được hình thành từ đoạn này, phần lòng trắng còn lại sẽ tiếp tục được hình thành ở phần sau của ống dẫn trứng Trứng lưu lại ở phần tạo lòng trắng trứng không quá 3 giờ
+ Cổ (eo): Là phần hẹp nhất của ống dẫn trứng dài 8 cm, niêm mạc nếp gấp
xít, có nhiều tuyến hình ống tiết ra chất hạt như keratin tạo nên lớp sợi chắc quấn lấy để hình thành 2 lớp màng chắc dính sát nhau, chỉ tách nhau ở đầu to của trứng, đó là màng dưới vỏ cứng Phần cổ là nơi định dạng hình dạng của quả trứng và hình thành một phần lòng trắng Trứng nằm ở phần eo gần 1 giờ
Trang 16+ Tử cung: Là phần phình to tiếp theo phần eo, có chiều dài bằng 10%
chiều dài ống dẫn trứng khoảng 8-12cm Tại tử cung phần lòng trắng tiếp tục được sinh ra và thấm qua màng vỏ trứng vào trứng Ngay khi trứng vào đến phần eo thì đầu trước của nó hình thành vỏ lụa (màng dưới vỏ trứng), sau đó vỏ cứng được hình thành dần dần (vỏ đá vôi) Thời gian trứng lưu lại ở tử cung là 16-20 giờ Tại tử cung màu sắc của vỏ trứng cũng được hình thành
+Âm đạo: Là phần tận cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng di
chuyển ra ngoài cơ thể Âm đạo dài 7-12cm Niêm mạc nhăn không có các tuyến hình ống Lớp biểu mô âm đạo tiết ra chất dịch tham gia vào sự hình thành nên màng keo trên bề mặt vỏ trứng Âm đạo có chức năng sinh ra lớp màng mỡ bao bọc vỏ trứng Lớp màng mỡ này giúp cho gia cầm dễ đẻ, ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn vào trong trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của trứng Lớp màng mỡ tạo nên độ bóng giúp ta phân biệt được trứng cũ và trứng mới Từ dạ con âm đạo được tách ra bằng phần thu hẹp cổ tử cung, nơi đó có van cơ Phần cuối cùng của âm đạo được mở ra và đi vào đoạn giữa ổ nhớp, gần đến niệu quản trái Lớp
cơ phát triển tốt, nhất là lớp cơ vòng, nhờ sự co bóp của lớp cơ này mà quả trứng được đẩy ra ngoài qua lỗ huyệt Thời gian trứng đi qua âm đạo rất nhanh
❖ Thời kỳ sinh trưởng: có 2 giai đoạn là thời kì sinh trưởng nhỏ và thời
Trang 17Đầu tiên là sự phát triển chậm của noãn bào cấp I Ở gà 1 ngày tuổi, đường kính noãn bào chỉ là 0,01 - 0,02mm, tới 45 ngày tuổi nó đạt 1mm Thời gian này, nhân vẫn nằm ở trung tâm tế bào trứng, sau đó tương bào được chuyển sang bên cạnh và tạo đĩa phôi Ở gà con 2 tháng tuổi, quá trình tích luỹ lòng đỏ trong tương bào bắt đầu Lòng đỏ được đắp vào bởi những lớp màu sáng và màu sẫm
Ở tâm có lòng đỏ sáng hình phễu, từ đó có vệt nhỏ đi ra rìa tế bào trứng - đó là rãnh lòng đỏ Phía trên lòng đỏ là đĩa phôi Các tế bào nang xung quanh noãn bào đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lòng đỏ
✓ Thời kì sinh trưởng lớn: kéo dài 3-14 ngày Kích thước tế bào trứng thời kì này tăng lên nhanh, lòng đỏ chiếm 90-95% khối lượng của các tế bào trứng thành phần chính gồm protid, phospholipid, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin, tăng mạnh nhất từ ngày thứ 9-14 trước khi rụng Trong thời gian này hình thành lớp màng lòng đỏ
❖ Thời kỳ chín: là thời kỳ cuối của sự hình thành tế bào trứng hay lòng
đỏ Trong thời kỳ này xảy ra 2 quá trình phân bào giảm nhiễm Quá trình này hoàn thành ở buồng trứng trước khi trứng rụng
Sự rụng trứng là quá trình tế bào trứng chín đi ra từ buồng trứng Bình thường sự rụng trứng xảy ra ngày một lần, thường là 30 phút sau khi đẻ trứng Quả sau rụng muộn hơn quả trước 24h45 phút Cũng có trường hợp đặc biệt có thể có hai hoặc ba trứng rụng cùng một lúc Quá trình rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều khiển của thần kinh và hormone Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện dinh dưỡng chăm sóc, tuổi, trạng thái sinh lý của gia cầm Nuôi dưỡng kém, không đủ ánh sáng, nhiệt
độ trong chuồng nuôi cao cũng làm chậm sự rụng trứng và đẻ trứng
2.2.4 Quá trình đẻ trứng
Đẻ trứng là bản năng của quá trình sinh sản
Chu kỳ đẻ là thời gian hình thành một quả trứng Ở gà đẻ, thời gian để hình thành một quả trứng là 24-28 giờ (trung bình là 25 giờ ) Nếu trứng hình
Trang 18thành dưới 24 giờ thì gà đẻ liên tục và chu kỳ có thể kéo dài được từ 4-8 tháng,
gà có thể đẻ 200 trứng trong một chu kỳ Nếu trứng được hình thành trên 24 giờ thì gà sẽ đẻ cách nhật
Chu kỳ đẻ trứng của gà đẻ gồm chu kỳ ổn định và không ổn định Gà đẻ trứng tốt có chu kỳ ổn định và kéo dài, gà đẻ trứng kém có chu kỳ ngắn, thời gian giữa các chu kỳ dài, sản lượng trứng thấp Gà đẻ tốt thì một năm có thể đạt trên 300 trứng
Động tác đẻ trứng là một quá trình phản xạ phức tạp Những thụ cảm niêm mạc âm đạo được kích thích bởi quả trứng trong nó Những xung động từ
cơ quan thụ cảm làm cho cơ âm đạo và tử cung co bóp mạnh, nên trứng được đẩy qua ổ nhớp Gà đẻ trứng ở tư thế đứng Cũng có sự tham gia của hormone được hình thành trong nang trứng, nằm dưới sự điều khiển của các vùng cao cấp của hệ thần kinh trung ương Vào thời điểm đẻ trứng tuyến yên tiết oxitoxin, hormone này kích thích co bóp các cơ trơn của thành ống dẫn trứng giúp việc đẻ trứng dễ dàng hơn
2.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
2.3.1 Chỉ số hình dạng của trứng
Hình dạng trứng của các loài, giống gia cầm khác nhau thì khác nhau và phụ thuộc vào đặc điểm di truyền, phụ thuộc vào cấu tạo, đặc điểm co bóp của ống dẫn trứng trong quá trình tạo trứng Chỉ số hình dạng được tính bằng công thức:
Chỉ số hình dạng = Đường kính lớn (mm)
Đường kính nhỏ (mm) Chỉ số hình dạng trung bình ở trứng gà là 1,32 (dao động từ 1,13 - 1,67) Theo Ngô Giản Luyện (1994) cho rằng chỉ số hình dạng ảnh hưởng tới vị trí đĩa phôi khi ấp Khi chọn trứng ấp, những trứng có chỉ số hình dạng xung quanh trị số trung bình là tốt nhất Trứng có chỉ số hình dạng càng xa giá trị trung bình thì tỷ lệ nở càng kém
Trang 19Để xác định chính xác chỉ số hình dạng, cần phải dùng thiết bị chuyên dụng Nếu không có thiết bị chuyên dụng, phải đo đường kính lớn và đường kính nhỏ bằng thước kỹ thuật có độ sai số đến 1% mm Khi đó, chắc chắn sẽ có những sai sót, nhất là khi đo đường kính nhỏ (vì trên 1 quả trứng có rất nhiều đường kính nhỏ, người ta cần do ở vị trí đường kính nhỏ có giá trị lớn nhất trên quả trứng) Cẩn thận nhất, phải đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình để đưa vào tính toán
Bên cạnh đó, cần phải loại bỏ những trứng có hình thái không bình thường (còn gọi là trứng dị hình) như: trứng vỏ mềm, trứng giả, trứng hai lòng
đỏ (quá to), trứng ở trong trứng, trứng biến dạng (quá dài, quá tròn, thắt eo ),
vỏ bẩn
2.3.2 Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng và cả sản lượng trứng tuyệt đối của gia cầm Hai giống gà có sản lượng trứng giống nhau nhưng khối lượng trứng khác nhau thì tổng khối lượng trứng rất khác nhau, do đó ảnh hưởng đến thu nhập, sản lượng và giá cả (Bùi Hữu Đoàn và CS, 2011)
Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài giống, hướng sản xuất, cá thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà mái Sản lượng trứng có hệ số di truyền tương đối cao (h2 > 0,6)
Trong kỹ thuật lựa chọn trứng ấp, những quả trứng có khối lượng xung quanh khối lượng trung bình của giống luôn có kết quả ấp nở tốt nhất Khối lượng trứng càng xa trị số trung bình thì tỷ lệ nở càng thấp
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng trứng gà Gà đẻ sớm trứng sẽ nhỏ, tuổi càng cao khối lượng trứng càng lớn Chế độ chiếu sáng và dinh dưỡng cũng ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng trứng gà Nhiều nghiên cứu cho thấy khi khẩu phần ăn thiếu lysine hoặc methionine hay thiếu cả hai axit amin này khối lượng trứng gà sẽ giảm rõ rệt Thiếu lysine ảnh hưởng chủ yếu đến lòng đỏ, còn
Trang 20thiếu methionine ảnh hưởng chủ yếu tới lòng trắng Thiếu vitamin B ảnh hưởng tới sản lượng trứng, thiếu vitamin D ảnh hưởng tới độ dày của vỏ trứng
Trong một đời gà đẻ, khối lượng trứng tăng dần từ khi đẻ bói, cho đến khi
đẻ đỉnh cao thì ổn định, vì vậy để xác định khối lượng trứng của một dòng hay giống, tốt nhất là xác định ở thời điểm 28-32 tuần tuổi đối với gà hướng trứng, 30-34 tuần tuổi đối với gà hướng thịt, tức là khi gà đã đẻ đỉnh cao Mỗi lần cần cân ít nhất 30 quả/lô bằng cân có độ sai số 0,1g
2.3.3 Màu sắc vỏ trứng
Màu sắc vỏ trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao (0,55 - 0,75), đặc trưng cho mỗi giống (Bùi Hữu Đoàn và CS, 2011) Màu vỏ trứng do sắc tố được tiết ra ở phần tử cung của ống dẫn trứng quyết định Vỏ trứng gia cầm có rất nhiều màu: nâu, xanh, trắng, đốm Thường những quả trứng đẻ đầu chu kỳ
có màu đậm hơn, cường độ đẻ trứng cao hơn thì vỏ trứng có màu nhạt hơn Ở những gia cầm đẻ cách nhật màu vỏ thường đậm hơn Thực tế màu sắc vỏ trứng không ảnh hưởng đến chất lượng trứng song nó có ảnh hưởng đến kỹ thuật soi trứng khi ấp và thị hiếu của người tiêu dùng Phần lớn trứng gà siêu trứng có vỏ màu nâu, trứng gà siêu thịt và trứng gà nội có vỏ màu trắng hồng hay trắng sáng
2.3.4 Tỷ lệ lòng trắng và lòng đỏ
Người ta xác định khối lượng lòng trắng và lòng đỏ để thiết lập tỷ lệ lòng trắng/ lòng đỏ, tỷ lệ này quyết định chất lượng bên trong của quả trứng và có liên quan đến kết quả ấp nở Chỉ số khác nhau tùy thuộc vào loài, giống, cá thể Thông thường tỷ lệ này tốt nhất là 2/1, càng xa tỷ lệ này khả năng ấp nở càng thấp (Bùi Hữu Đoàn và CS,2011) Tỷ lệ này liên quan chặt chẽ với khối lượng của trứng Trong cùng một giống, thường những quả trứng có khối lượng lớn thì
tỷ lệ này cũng lớn hơn và ngược lại những quả trứng có khối lượng nhỏ thì tỷ lệ này cũng nhỏ hơn Theo Nguyễn Quý Khiêm (1996), trứng của mái tơ và mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng của gà mái đang trong độ tuổi sinh sản Ngoài ra trứng mùa hè, trứng bảo quản lâu cũng có chỉ số thấp hơn trứng mùa
Trang 21đông và trứng mới đẻ Chỉ số khác nhau tùy thuộc vào loài, giống, cá thể Với trứng thương phẩm, người tiêu dùng thích trứng có tỷ lệ lòng đỏ cao
Độ dày vỏ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là hàm lượng canxi, phospho và vitamin D trong khẩu phần cũng như mùa vụ nuôi
gà trong năm Độ bền vỏ trứng gà được coi là tốt khi có độ chịu lực phải > 3kg, mật độ lỗ khí trung bình 130/cm2, đường kính lỗ khí 17 - 25µm
2.3.6 Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng đặc
Chất lượng bên trong của trứng được thể hiện thông qua khối lượng và các chỉ số lòng trắng, lòng đỏ Theo Bùi Hữu Đoàn và CS (2011), tỷ lệ khối lượng của lòng trắng/lòng đỏ là 2/1 là tốt nhất, càng xa tỷ lệ này khả năng ấp nở càng thấp
❖ Chỉ số lòng đỏ là giá trị khảo sát trong vòng 24 giờ kể từ khi thu trứng, biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng đỏ và tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng đỏ (H) với đường kính lòng đỏ (D) Từ đó xác định được chỉ số lòng đỏ theo công thức:
Chỉ số lòng đỏ = H (mm)
D (mm) Chỉ số này càng cao càng tốt, dao động trong khoảng 0,4 – 0,5 là tốt nhất Theo Ngô Giản Luyện (1994), khi giá trị này giảm xuống còn 0,33 thì lòng đỏ
Trang 22đã bị biến dạng Giá trị này thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm loài, giống, cá thể,
nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng
❖ Chỉ số lòng trắng đặc được xác định qua tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và đường kính bình thường của lòng trắng Có thể tính bằng công thức sau:
Chỉ số lòng trắng đặc = 2H (mm)
D + d (mm) Trong đó: H: là chiều cao của lòng trắng đặc
D: là đường kính lớn của lòng trắng đặc
d: là đường kính nhỏ của lòng trắng đặc
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và CS (1994), chỉ số này dao động trong khoảng từ 0,08 – 0,09 Hệ số di truyền (h2) của tính trạng này khá cao, dao động trong khoảng 0,2 – 0,78 (Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) Chỉ số này càng thấp thì chất lượng trứng càng kém.Theo Nguyễn Quý Khiêm (1996), trứng của mái
tơ và mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng của gà mái đang trong độ tuổi sinh sản Ngoài ra trứng mùa hè, trứng bảo quản lâu cũng có chỉ số thấp hơn trứng mùa đông và trứng mới đẻ Chỉ số khác nhau tùy thuộc vào loài, giống, cá thể
Cần lưu ý, các chiều đo của lòng đỏ, lòng trắng (đường kính, chiều cao)
và vỏ trứng nếu đo bằng thước kẹp thì có độ chính xác rất thấp nên thông thường để có độ chính xác cao phải xác định trên thiết bị chuyên dùng
2.3.7 Đơn vị Haugh (Hu)
Ngoài chỉ số lòng trắng, chất lượng của lòng trắng còn được xác định bằng đơn vị Haugh, đây là một đại lượng biểu thị mối quan hệ giữa khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc Công thức tính đơn vị Haugh như sau:
HU = 100 log (H + 7,57 - 1,7 W 0,37) Trong đó: HU: Đơn vị Haugh; H: Chiều cao lòng trắng (mm); W: Khối lượng trứng (g)
Trang 23Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Thực nghiệm cho biết, những quả trứng chênh lệch nhau dưới 8 đơn vị Haugh thì có chất lượng trứng tương đương nhau
2.3.8 Các trường hợp trứng dị hình
❖ Trứng vỏ mềm: do thức ăn thiếu khoáng Ca, P, chất vôi, vitamin ADE,
do cơ thể bị chấn động mạnh chưa kịp tạo vỏ cứng đã đẻ, do phần tử cung bị viêm làm mất chức năng tạo vỏ hoặc do các bệnh khác, do cơ quan sinh sản chưa ổn định ở mái tơ hoặc bị thoái hóa ở mái già,…Trứng đẻ ra chỉ có màng
lòng trắng dai, mỏng và mềm
❖ Trứng giả (trứng nhỏ không có lòng đỏ): do một giọt máu hoặc một vật nhỏ nào đó rơi vào loa kèn và ống dẫn trứng làm kích thích phần tiết lòng trắng bao bọc lấy và tạo vỏ cứng hình thành trứng giả
❖ Trứng trong trứng: đây là trường hợp ít gặp do một quả trứng đã được tạo ra hoàn chỉnh nhưng bị kích thích đột ngột ống dẫn trứng co lại gây ra nhu động ngược lên phía trên, nếu gặp tế bào trứng mới rụng nó lại cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bởi lòng trắng và vỏ cứng
❖ Trứng hai hoặc ba lòng đỏ: do hai hoặc ba tế bào trứng rụng cùng một thời điểm hoặc cách nhau không quá 20 phút Những trường hợp này thường xuất hiện ở những chu kì đẻ trứng đầu tiên trên gà mái tơ ở các trại nuôi công nghiệp khi có quá trình trao đổi chất mạnh
❖ Trứng biến dạng: đó là trứng quá tròn, quá dài, hay bị thắt eo ở giữa…
đó là sự co bóp bất thường của phần dưới ống dẫn trứng
2.4 TUỔI THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ SỨC SẢN XUẤT TRỨNG CỦA GIA CẦM
2.4.1 Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục của gia cầm được tính từ khi gia cầm nở ra đến khi nó đẻ quả trứng đầu tiên Ở gia cầm tuổi thành thục sinh dục được tính từ khi gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc trên đàn quần thể
Trang 24là lúc tỉ lệ đẻ đạt 5% (Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) Theo Đặng Hữu Lanh và
CS (1995), hệ số di truyền của tuổi thành thục sinh dục là 0,32 Tuổi đẻ quả trứng đầu sớm hay muộn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định, những gia cầm có khối lượng cơ thể nhỏ thường có tuổi đẻ quả trứng đầu sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn nên chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng
sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và tăng tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu tiên và các chu kỳ đẻ tiếp theo Đồ thị đẻ trứng của gia cầm đạt đến đỉnh cao nhanh chủ yếu là do tuổi thành thục về tính của từng cá thể trong đàn sớm Nhưng gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng/năm Khi gia cầm đẻ trứng năm thứ hai thì sản lượng trứng giảm 10-20%
Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài, giống, dòng, hướng sản xuất, mùa vụ nở, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc quản lí
2.4.2 Sức sản xuất trứng của gia cầm
a Năng suất trứng
Năng suất trứng là số lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một chu kỳ hoặc trong một khoảng thời gian nhất định có thể tính bằng tháng, năm Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng giống cũng như là chỉ tiêu kinh tế trong sản xuất trứng thương phẩm Đối với gà đẻ, đây là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục
Năng suất trứng của gà Đông Tảo 36 tuần đẻ đạt 67,71 quả/mái/năm (Nguyễn Đăng Vang và Cs, 1999) Năng suất trứng của gà Ai Cập từ 22 – 64 tuần đạt 250 - 280 quả/mái/năm Năng suất trứng của gà đẻ thương phẩm giống Goldline –54 đạt 259 – 265 quả/mái/năm
Trang 25b Tỷ lệ đẻ
Tỷ lệ đẻ là tỷ lệ phần trăm giữa số trứng đẻ ra của đàn gia cầm tạo một thời điểm nhất định và số gà có mặt tại thời điểm đó Đây là chỉ tiêu để đánh giá năng suất cũng như sức đẻ của tất cả các giống, các đàn gia cầm Đồ thị biểu diễn tỷ lệ đẻ trứng trong một chu kỳ đẻ của gia cầm đều có dạng giống nhau Từ khi đàn gia cầm vào đẻ, tỷ lệ đẻ tăng dần lên và đạt đỉnh cao Sau đó, tỷ lệ đẻ ổn định và giảm dần
Theo Nguyễn Tất Thắng (2008) tỷ lệ đẻ của gà ISA Brown tăng từ tuần
19 đến tuần 30 thì đạt đỉnh cao (từ 2,4 đến 95,2%) sau đó tỷ lệ đẻ ổn định và giảm dần
c Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
❖ Các yếu tố di truyền:
• Tuổi thành thục sinh dục: ảnh hưởng rõ rệt đến sản lượng trứng trong chu
kỳ đẻ đầu và các chu kỳ tiếp theo Chu kỳ đẻ đầu là khoảng thời gian được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ thay lông Đối với gia cầm đẻ trứng từ năm thứ hai trở đi, chu kỳ tiếp theo là thời gian đẻ trứng tính từ khi nó đã thay lông hoàn thiện và tiếp tục đẻ trứng cho đến khi nghỉ đẻ để thay lông lần sau Khi gia cầm đẻ năm thứ hai thì sản lượng trứng sẽ giảm 10-20% Theo Perdix (1969), gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học nhưng gà thành thục về tính quá sớm thì gà đẻ trứng nhỏ và dài
• Giống, dòng gia cầm: có ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất trứng Các giống khác nhau có khả năng đẻ trứng khác nhau Cụ thể, giống gà Kabir sản lượng trứng trung bình là 195quả/mái/năm, giống gà Brown Nick có sản lượng trứng bình là 300 quả/mái/năm Trong một số giống, các dòng khác nhau thì sản lượng trứng cũng khác nhau Các giống được chọn lọc theo hướng chuyên trứng thường có sản lượng trứng cao hơn các giống gà kiêm dụng và các giống chuyên thịt Những dòng chọn lọc thường cho sản ượng trứng cao hơn những dòng không được chọn lọc khoảng 15-20 %
Trang 26• Tính ấp bóng: là bản năng tự nhiên của gia cầm nhằm duy trì nòi giống, là phản xạ không điều kiện có liên quan đến năng suất trứng của gia cầm Những giống nhẹ cân thì bản năng ấp bóng thấp hơn giống nặng cân Có thể chọn lọc loại bỏ hoặc áp dụng nhiều biện pháp để rút ngắn thời gian ấp bóng, tăng năng suất
• Tính nghỉ đẻ mùa đông: Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp cơ thể gia cầm
sử dụng thức ăn ăn vào để chống rét, do đó nhiều giống gia cầm giảm tỷ lệ đẻ dẫn đến ảnh hưởng năng suất trứng Tuy nhiên, ngày nay nhiều giống gia cầm được tạo ra thì tính nghỉ đẻ rất ngắn hoặc là không có Tính nghỉ đẻ có tương quan nghịch với năng suất trứng Tính nghỉ đẻ càng dài thì năng suất trứng càng thấp
❖ Thức ăn và dinh dưỡng: là yếu tố quan trọng có liên quan chặt chẽ đến năng suất trứng của gia cầm Để đạt được năng suất và chất lượng trứng tốt nhất không những phải cung cấp cho gia cầm những khẩu phần ăn đầy đủ mà còn phải chú ý đến tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn Quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axitamin cân bằng các chất khoáng và vitamin Thức ăn chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm độc kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật Thậm chí các loại thức ăn hỗn hợp đảm bảo đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt cũng không phát huy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm
❖ Điều kiện ngoại cảnh:
• Nhiệt độ: Theo Nguyễn Thị Mai (2009), trong các điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia cầm thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất Ở gà, nhiệt độ thích hợp nhất cho quá trình đẻ trứng trong khoảng 18-24 độ C, tuy nhiên nhiệt
độ thích hợp nhất là 20 độ C Nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều không có lợi
có gia cầm và ảnh hưởng tới sức sản xuất của chúng Khi nhiệt độ môi trường
Trang 27thấp hơn nhiệt độ giới hạn gia cầm phải huy động năng lượng để chống rét, khi nhiệt độ môi trường cao hơn nhiệt độ giới hạn gia cầm thải nhiệt nhiều do đó ảnh hưởng đến sức đẻ trứng Khi nhiệt độ môi trường ảnh hưởng tới gia cầm, trứng sẽ giảm về cả số lượng lẫn chất lượng
• Ánh sáng: có ảnh hưởng rõ rệt đến sức sản xuất trứng của gia cầm Theo Nguyễn Thị Mai (2009) Đối với gà đẻ trứng yêu cầu thời gian chiếu sáng mỗi ngày 14-17h giờ Nếu thời gian chiếu sáng tự nhiên ngắn thì phải dùng thêm đèn chiếu sáng Cường độ chiếu sáng thích hợp trong chuồng kín từ 5-10 lux Chế độ chiếu sáng làm tăng sức đẻ trứng vì thúc đẩy sự tiết ra FSH Sử dụng ánh sáng màu đỏ làm hạn chế sự phát triển các tật xấu như mổ, cắn nhau
• Độ ẩm: Độ ẩm của không khí trong chuồng nuôi tốt nhất từ 65-70%, mùa đông không nên vượt quá 80% Vì thế, khi chăn nuôi gia cầm cẩn phải có
hệ thống dàn mát và quạt hút Sự thông thoáng tốt không chỉ giúp đảm bảo độ
ẩm thích hợp mà còn đẩy khí độc ra ngoài chuồng nuôi, đảm bảo môi trường phù hợp với gia cầm
Ngày nay cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật, dù là cơ sở chăn nuôi nhỏ hay lớn với sự hoàn thiện về con giống cũng như thức ăn và quy trình chăn nuôi thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng đến năng suất và chất lượng các đàn giống gia cầm
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta đang tồn tại hàng nghìn năm nhưng chủ yếu
là quy mô nhỏ, phân tán, mang tính tự cung tự cấp với các giống địa phương có chất lượng thịt thơm ngon nhưng năng suất thấp Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc chưa hợp lí nên còn nhiều hạn chế
Từ năm 1975-1985, Bùi Quang Tiến và Cs đã nghiên cứu lai tạo gà Rhode Iland và gà Ri Hải Dương Gà Rhoderi qua 4 thế hệ chọn lọc có sản lượng trứng cao hơn gà Ri và gà Rhode Iland Tốc độ sinh trưởng của con lai
Trang 28cao hơn con thuần trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường Khối lượng gà trống Rhoderi: 3165 (g) và gà Rhode Iland: 3256 (g) Nghiên cứu về khả năng cho thịt của tổ hợp lai giữa gà Kabir với gà RhodeRi- Jangcun (KRJ) cho thấy gà lai có sức sống cao, tỉ lệ nuôi sống cao Gà KRJ nuôi tại nông hộ có thể giết thịt ở 12 tuần tuổi với khối lượng 1927,5- 1972,5g/con, tiêu tốn thức ăn: 3,01- 3,04kg (Phạm Minh Thu, 2001)
Trong những năm 1985-1995, chăn nuôi gia cầm nhất là gà công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh Tổng đàn gà công nghiệp năm 1985 là 9,2 triệu con Sản lượng trứng trung bình trong khu vực quốc doanh là 167 quả/gà mái/năm; ở khu vực gia đình sản lượng trứng còn thấp hơn Đàn gà công nghiệp năm 1991 chiếm 5-7% tổng đàn gia cầm thì năm 1994 đã tăng lên 25% Năm 1994 đã đạt 5 vạn tấn thịt gà Sản xuất trứng cũng tăng lên đáng kể Năm 1991, toàn ngành sản xuất được 8,5 triệu trứng giống, tiêu thụ chỉ được 40-45% (đưa vào ấp sản xuất
gà con giống) Năm 1994 đã đạt 18,5 triệu, trong đó 95% được ấp cho ra gà con giống Tính lãi ròng trong sản xuất giống là 20-40%, trong sản xuất thương phẩm là 12-13%
Từ năm 1996, cùng với sự đổi mới kinh tế đất nước, ngành chăn nuôi gia cầm có những bước tiến nhảy vọt Nhiều giống gia cầm có lông màu, năng suất trứng và thịt khá được nhập vào nước ta, thích hợp với chăn nuôi (thả vườn) trong gia đình như gà Tam Hoàng, Kabir, Lương Phượng, gà Ai Cập; các giống vịt siêu thịt (Super meat), siêu trứng (Khakicampbell, Cv.2000) Không chỉ gà
mà nhiều đối tượng gia cầm khác cũng được nhập nội và khuyến khích phát triển như bồ câu Pháp (Titan, Mimas), ngan Pháp (dòng R31, R51, R71 ), chim cút, đà điểu Tuy vậy dịch cúm gia cầm trong các năm 2003-2005 và ngay cả hiện tại đã và đang gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi nói riêng và nền kinh tế nói chung
Theo Nguyễn Xuân Trúc và cs (2000) nghiên cứu khả năng sinh sản của gà
bố mẹ cho thấy; gà Kabir hơn hẳn các giống gà lông màu khác về các chỉ tiêu sinh
Trang 29sản Cụ thể sức đẻ trứng của gà bố mẹ Kabir CT3 đạt 80,5% lúc 225 ngày tuổi Tỉ
lệ đẻ cao duy trì ở mức 70-80% trong thời gian 4 tháng liên tục và trên 80% trong
4 tuần Sau khi đẻ đạt đỉnh cao thì tỉ lệ đẻ giảm dần nhưng vẫn giữ ở mức trung bình Tính đến 60 tuần tuổi (35 tuần đẻ), tỉ lệ đẻ đạt bình quân 65% (157,19 quả/mái), đạt 95,2% so với chỉ tiêu của hãng (165 quả/mái) Tỉ lệ trứng có phôi rất cao 96-98% nên tỉ lệ gà loại I cũng khá cao 89,6%
Theo Phùng Đức Tiến và Cs (2004) cho biết kết quả nghiên cứu chọn lọc một số tính trạng sản xuất của gà Ai Vập thì năng suất trứng ở thế hệ thứ V đạt
150 quả /mái/40 tuần đẻ, tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng giảm 2,27 kg xuống còn 1,92 kg
Theo Trần Thị Mai Phương (2004) nghiên cứu trên giống gà Ác Việt Nam cho kết quả tuổi thành thục sinh dục từ 113-125 ngày, sản lượng trứng trên 90,4%, khối lượng trứng trên 31g, tỉ lệ phôi 93,49%
Theo Đào Thị Hằng (2001), Nghiên cứu trên giống gà H’Mông tại Viện Chăn nuôi cho biết tuổi thành thục sinh dục vào 21 tuần tuổi, năng suất trứng đạt 74,6 quả/mái/năm
Theo Nguyễn Thị Mười (2006) năng suất trứng gà Lương Phượng Hoa qua 48 tuần tuổi đạt trung bình 159 quả /mái
Theo Nguyễn Tất Thắng (2008) năng suất trứng gà Isa Brown / 70 tuần tuổi đạt 307 quả/mái Theo Trịnh Thị Tú (2015) năng suất trứng gà Isa Brown trên 45 tuần tuổi đạt 150 quả/mái
Năm 2004, một năm thật sự khó khăn, người chăn nuôi phải đối phó với dịch cúm gia cầm, nhưng ngành chăn nuôi vẫn đạt mức tăng trưởng 8%/năm với tổng sản lượng thịt hơi 2,63 triệu tấn tăng 10,85% đưa mức bình quân thịt hơi/người/năm đạt 31,5 kg
Ngành chăn nuôi gia cầm đã tiếp cận một số công nghệ tiên tiến của thế giới về giống, thức ăn, thuốc thú y và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng Ở nước ta cũng đã hình thành nhiều cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô lớn Theo ước tính,
Trang 30đến nay cả nước có trên 100.000 hộ chăn nuôi theo hình thức trang trại tại 8 vùng sinh thái khác nhau, thay thế dần kiểu chăn nuôi tự cấp, tự túc, tận dụng sản phẩm phụ của trồng trọt như trước đây bằng kiểu chăn nuôi hàng hóa quy
mô vừa và một số ít trang trại có quy mô chăn nuôi hàng hóa lớn đã xuất hiện
Ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam trong những năm gần đây dù còn gặp không ít khó khăn nhưng đã đạt được những thành tựu to lớn Việt Nam đang đứng ở vị trí 20 trên thế giới về sản lượng thịt gia cầm, đứng ở vị trí thứ 2 thế giới (sau Trung Quốc) về số lượng đàn vịt, thuộc TOP 10 trên thế giới về sản lượng thịt vịt và trứng vịt
Cơ cấu giống gia cầm 80% là các giống địa phương, chỉ có 20% là các giống cao sản nhập nội, và những giống gia cầm cao sản này được nuôi chủ yếu theo phương thức chăn nuôi công nghiệp
Phân bố đàn gia cầm: Đàn gà chủ yếu tập trung tại các tỉnh phía Bắc 75%, còn 25% tập trung ở phía Nam Đàn vịt chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long (55%), còn lại phân bố ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong vài thập niên trở lại đây, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới phát triển mạnh về cả số lượng và chất lượng Đó là kết quả của việc áp dụng những thành tựu di truyền chọn giống kết hợp với các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng
có cơ sở khoa học
Do lợi thế thấp hơn cả về giá thành sản xuất và về giá bán cho người dùng, lại có lợi thế hơn hẳn các loại thịt khác: để sản xuất một đơn vị sản lượng thịt thì gia cầm tiêu thụ ít nước ngọt nhất, và thải khí nhà kính thấp nhất, mức độ đảo bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cao,… nên tăng sản xuất thịt gia cầm là ưu tiên mà các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển lựa chọn để thay thế dần một phàn thịt lợn
Theo như FAO dự đoán : thập niên 2015 – 2025 là thập niên của sản xuất thịt gia cầm, lần đầu tiên trong lịch sử ngành sản xuất thịt thế giới: Sản lượng
Trang 31thịt gia cầm toàn cầu đang đuổi kịp và vượt sản lượng thịt lợn Sản xuất thịt gia cầm toàn cầu tiếp tục có tốc độ tăng cao hơn so với thịt lợn và thịt trâu bò Tới năm 2020 sản lượng thịt gia cầm toàn cầu sẽ đạt tương đương sản lượng thịt lợn
và tới năm 2025 sẽ vượt sản lượng của thịt lợn 254 ngàn tấn
Chăn nuôi gia cầm đã chuyển từ phương thức chăn nuôi - nông nghiệp sang phương thức chăn nuôi - công nghiệp Các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được nghiên cứu, ứng dụng nhanh chóng trong chăn nuôi gia cầm Kết quả của quá trình này là các đơn vị chăn nuôi gia cầm quy mô lớn thay thế dần cho các
cơ sở chăn nuôi nhỏ - một sự chuyển đổi cơ bản trên tất cả các lĩnh vực của ngành sản xuất chăn nuôi gia cầm Nhờ việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về di truyền, giống, dinh dưỡng, công nghệ sản xuất, máy ấp trứng mà chăn nuôi gia cầm thế giới đã phát triển nhanh cả về số lượng đầu con, sản lượng trứng, thịt, chất lượng sản phẩm, giá thành trong sản xuất sản phẩm gia cầm giảm đi, chất dinh dưỡng cung cấp cho con người với giá rẻ ngày càng tăng lên nhờ vào nguồn trứng và thịt gia cầm
Năm 2015, tổng sản lượng trứng gia cầm toàn cầu đạt mức kỷ lục là 70,8 triệu tấn với 1338 tỷ quả trứng, tăng 1,6% so với năm 2014 (tăng 1,11 triệu tấn) Theo FAO dự kiến, sản lượng trứng toàn cầu sẽ đạt tới 100 triệu tấn năm 2035
So với năm 2000, sản lượng trứng toàn cầu 2015 đã tăng 38,7%, bình quân tăng 2,2% trên năm
Trong chăn nuôi gia cầm thì chủ yếu là chăn nuôi gà, đàn gà chiếm trên 80% tổng đàn gia cầm và sản lượng thịt gà chiếm 88% tổng sản lượng thịt gia cầm Trên thế giới gà được nuôi chủ yếu ở khu vực Châu Á, trong cả thời kỳ
2000 đến 2013 đàn gà ở Châu Á luôn chiếm trên 50% tổng đàn gà của toàn thế giới, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm gần 30% và đàn gà ở Châu Âu chiếm khoảng 10% tổng đàn gà của toàn thế giới Nếu xét cho từng quốc gia thì Trung Quốc là cường quốc số một về chăn nuôi gà, năm 2009 đàn gà ở Trung Quốc là 4.702,2
là triệu con và năm 2013 có khoảng 5.000 triệu con, nhì là Indonesia năm 2009
có 1.341,7 triệu con và năm 2013 là hơn 1.420 triệu con, ba là Brazil năm 2009