TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tên tác giả:Nguyễn Thị Hồng Anh Mã sinh viên: 639002 Tên đề tài:“Đánh Giá Năng Suất Sinh Sản Của Đàn Nái GF24 Phối Với Các Dòng Đực GF337,GF399 Nuôi Tại
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
BẮC KẠN”
HÀ NỘI – 2022
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA ĐÀN NÁI GF24 PHỐI VỚI CÁC DÒNG ĐỰC GF337, GF399 NUÔI TẠI CHUỒNG 1,2 CỦA TRANG TRẠI LINKFARM BẮC KẠN Ở XÃ BÌNH TRUNG, HUYỆN CHỢ ĐỒN,
TỈNH BẮC KẠN”
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ HỒNG ANH
Lớp : K63-CNTYA
Mã sinh viên : 639002
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI – THÚ Y
Người hướng dẫn : ThS NGUYỄN THỊ NGUYỆT
Bộ môn : SINH HỌC ĐỘNG VẬT
Hà Nội – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Các số liệu mà tôi thu thập trong quá trình thực tập là do tôi trực tiếp theo dõi, ghi chép và thu thập
Các số liệu thu thập là trung thực, khách quan và chưa được công bố ở bất
kỳ báo cáo nào trước đó
Các trích dẫn trong báo cáo là có nguồn gốc cụ thể rõ ràng, chính xác
Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam và trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua với sự cố gắng của bản thân và nhận được
sự giúp đỡ quý báu của các cá nhân và tập thể với tấm lòng kính trọng và biết
ơn tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
Các Thầy, Cô giáo trong khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lòng thành kính đến Ths Nguyễn Thị Nguyệt - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến anh Ma Đình Cương- trưởng trại Link Farm Bắc Kạn cùng tập thể anh chị kỹ thuật của trại lợn Link Farm Bắc Kạn đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè của tôi luôn bên cạnh động viên và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, 12 ngày tháng 6 năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Anh
Trang 5TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên tác giả:Nguyễn Thị Hồng Anh Mã sinh viên: 639002
Tên đề tài:“Đánh Giá Năng Suất Sinh Sản Của Đàn Nái GF24 Phối Với Các
Dòng Đực GF337,GF399 Nuôi Tại Chuồng 1,2 Của Trang Trại LinkFarm Bắc
- Đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Phương pháp nghiên cứu: Thu thập số liệu qua sổ sách tổng hợp của trang trại
và trực tiếp theo dõi, cân, đếm, ghi chép hàng ngày
Kết quả chính và kết luận:Trên cơ sở của quá trình nghiên cứu chúng tôi xin đưa ra một số kết quả như sau:
* Chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái GF24 đạt kết quả tương đối tốt, cụ thể như sau:
- Tuổi động dục lần đầu của lợn nái là: 187,53 ngày
- Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái là: 229,53 ngày
- Tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái là: 344,57 ngày
* Năng suất sinh sản của tổ hợp lai GF399 x GF24 và tổ hợp lai GF337 x GF24 đạt kết quả tốt, cụ thể đạt lần lượt như sau:
- Số con sơ sinh/ổ: 13,37 con/ổ và 13,77 con/ổ
- Số con sơ sinh sống/ổ: 12,83 con/ổ và 13,07 con/ổ
- Số con cai sữa/ổ: 11,96 con/ổ và 12,17 con/ổ
- Khối lượng sơ sinh/ổ: 18,35 kg/ổ và 18,58 kg/ổ
- Khối lượng cai sữa/ổ: 82,47 kg/ổ và 85,06 kg/ổ
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa: 97,46% và 96,8%
Trang 6* Lượng thức ăn tiêu tốn để có 1 kg lợn cai sữa ở tổ hợp lai GF337 x GF24 và
tổ hợp lai GF399 x GF24 tương ứng là: 5,43 kg thức ăn/kg lợn con cai sữa và 5,39 kg thức ăn/kg lợn con cai sữa
* Tình hình dịch bệnh: dịch bệnh tại trại mắc phải là những bệnh phổ biến thường gặp trên cả lợn nái và lợn con theo mẹ
+ Trên lợn nái: bệnh viêm tử cung với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 13,33% và
tỷ lệ khỏi 100%, bệnh viêm khớp tỷ lệ mắc 3,33% và tỷ lệ khỏi là 100%, bệnh viêm vú có 6,67% lợn mắc bệnh với tỷ lệ khỏi là 100%
+ Trên lợn con theo mẹ: Tiêu chảy, viêm phổi, viêm khớp tỉ lệ mắc bệnh lần lượt là 17%; 3,0%; 1% và tỷ lệ khỏi lần lượt là 95,29%; 80%; 80%
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP iii
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIỐNG LỢN NGHIÊN CỨU 3
2.1.1 Dòng lợn đực GF337,GF399 3
2.1.2 Giống lợn nái GF24 4
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN NÁI 4
2.2.1 Sự thành thục về tính 4
2.2.2 Sự thành thục về thể vóc 5
2.2.3 Chu kỳ tính 6
2.2.4 Sự điều hòa hoạt động chu kỳ tính 8
2.2.5 Sinh lý đẻ 8
2.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 9
2.3.1 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 9
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 12
2.4-QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN CON 17
2.4.1 Giai đoạn trong cơ thể mẹ 17
Trang 82.4.2 Đặc điểm về sự phát triển của cơ quan tiêu hoá 18
2.4.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con 20
2.5 SINH TRƯỞNG VÀ TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA LỢN CON CAI SỮA 20 2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 21
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 22
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 24
NGHIÊN CỨU 24
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 24
3.2.1 Khái quát chung về trang trại nghiên cứu 24
3.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái GF24 24
3.2.3 Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản lợn nái GF24 24
3.2.4 Tính tiêu tốn thức ăn/1kg lợn con cai sữa 25
3.2.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 25
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
3.3.2 Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản 25
3.3.3 Xác định tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa 25
3.3.4 Theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con 26
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 26
Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI CỦA TRANG TRẠI NGHIÊN CỨU 27
4.1.1 Giới thiệu chung về trang trại Linkfarm Bắc Kạn 27
4.1.2 Cơ cấu đàn lợn của trại Linkfarm Bắc Kạn 28
4.1.3 Quy trình chăm sóc –nuôi dưỡng lợn tại trại Linkfarm Bắc Kạn 29
Trang 94.2 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 38
4.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của đàn lợn nái nuôi tại trang trại 38
4.2.2 Năng suất sinh sản của nái GF24 phối với đực GF337, GF399 40
4.3 TIÊU TỐN THỨC ĂN/ 1 KG LỢN CON CAI SỮA 47
4.4 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ ĐÀN LỢN CON 49
4.4.1 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái 50
4.4.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 51
Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 KẾT LUẬN 53
5.2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 58
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC TẬP TẠI TRẠI 65
Trang 10KLCS Khối lượng cai sữa
KLSS Khối lượng sơ sinh
LCCS Lợn con cai sữa
TLSS Tỷ lệ sơ sinh sống
PGLĐ Phối giống lứa đầu
SCSS Số con sơ sinh
SCSS Số con sơ sinh sống
TTTA Tiêu tốn thức ăn
Trang 11DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1:Chỉ tiêu số con đẻ ra/ổ và số con sơ sinh còn sống/ổ của hai công
thức lai được 42 Biểu đồ 4.2 Chỉ tiêu số con để nuôi/ổ và số con cai sữa/ổ của hai công thức lai 44 Biểu đồ 4.3 Chỉ tiêu tỷ lệ sơ sinh sống /ổ và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa/ổ của
hai công thức lai 45 Biểu đồ 4.4 Chỉ tiêu Khối lượng sơ sinh/con và Khối lượng cai sữa/con của hai
công thức lai 46 Biểu đồ 4.5 Chỉ tiêu Khối lượng sơ sinh/ổ và Khối lượng cai sữa/ổ của hai
công thức lai 47
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh sản 12
Bảng 2.2 Nhu cầu năng lượng của lợn nái 14
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại Linkfarm Bắc Kạn 28
Bảng 4.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn 29
Bảng 4.3 Chế độ ăn của lợn nái qua các giai đoạn 29
Bảng 4.4 Lịch tiêm vacxin cho lợn hậu bị cái và đực trẻ làm giống 36
Bảng 4.5 Lịch tiêm vacxin cho đàn nái sinh sản 37
Bảng 4.6 Lịch tiêm vacxin cho đực khai thác và đực thí tình 37
Bảng 4.7 Lịch tiêm vacxin cho lợn con 37
Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của đàn lợn nái GF24 38
Bảng 4.9 Năng suất sinh sản chung của đàn nái GF24 phối với đực GF337 và GF399 41
Bảng 4.10 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con con cai sữa (kg) 48
Bảng 4.11 Tình hình dịch bệnh trên đàn nái GF24 50
Bảng 4.12 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 51
Trang 13PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế hiện nay, ngành chăn nuôi được coi là ngành kinh tế nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam,đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn chiếm 60% giá trị ngành chăn nuôi nước ta Hiện nay, tỷ trọng thịt lợn trong “rổ thực phẩm” vẫn chiếm đến 70% tổng nhu cầu về thịt Đây là ngành kinh tế có từ lâu đời và đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giúp cho người nông dân tăng thêm thu nhập, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người lao động Chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng ngoài ra còn cung cấp phụ phẩm như phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành chế biến Vì vậy nên nước ta đặc biệt quan tâm đến các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn
Ngày nay nền công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng phát triển thì các trang thiết bị phục vụ cho chăn nuôi cũng ngày càng hiện đại, từ đó việc phòng
và trị bệnh cho vật nuôi cũng ưu việt hơn góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Nhờ những thay đổi lớn về giống , nguồn dinh dưỡng thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh mà ngành chăn nuôi lợn đã ngày càng phát triển mạnh mẽ
và có nhiều đóng góp lớn trong nền kinh tế quốc dân, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ dân
Theo kết quả điều tra,đến cuối tháng 9 đầu tháng 10/2021 tổng đàn lợn cả nước là trên 28 triệu con (đứng thứ 6 thế giới) Sản lượng thịt hơi 9 tháng đạt khoảng 2,9 triệu tấn, 16 doanh nghiệp chăn nuôi lớn vẫn duy trì phát triển với tổng đàn lợn thịt trên 6 triệu con ( chiếm 23-24% đàn lợn thịt cả nước)
Ngành chăn nuôi lợn cần phải cải tiến các chỉ tiêu như: tỷ lệ nạc cao, hàm lượng mỡ thấp, thịt có màu sắc đẹp hơn, hương vị thơm ngon, tỷ lệ mỡ dắt cao, không bị tồn dư kháng sinh và các chất kích thích khác để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Vì vậy trong những năm gần đây nước ta đã nhập rất nhiều giống lợn ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain , nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài
Trang 14nước Nhiều công ty lợn giống trong đó có Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam, hiện cũng đã tiến hành lai tạo ra các dòng đực GF337 ,GF399,… và nái GF24 Việc khảo sát năng suất sinh sản của lợn nái khi phối với các dòng đực khác nhau là việc làm cần thiết để từ đó tìm ra các tổ hợp lai tốt mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
năng suất sinh sản của đàn nái GF24 phối với các dòng đực GF337,GF399 nuôi tại chuồng 1,2 của trang trại Linkfarm Bắc Kạn ở xã Bình Trung, huyện Chợ
- Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
- Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
Trang 15Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIỐNG LỢN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Dòng lợn đực GF337,GF399
a Đực GF337
Dòng đực GF337 thuộc giống nội bộ của công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam
Lợn toàn thân có lông rậm, đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cụp,
cổ nhỏ và dài, mình dài, vai- lưng-mông – đùi rất phát triển Bốn móng ở mỗi
nuôi ở Việt Nam
Dòng đực chuẩn cho hiệu quả kinh tế cao với chi phí thấp và tỷ lệ đạt nạc
cao, lợn con có tốc độ tăng trưởng cao và tiêu tốn thức ăn thấp
Tỷ lệ đực: 1:150 với trại mới Nồng độ tinh trùng: 3 tỷ tinh trùng còn sống /liều, 100 tỷ tinh trùng/lần lấy tinh Tần xuất lấy linh: 1.1-1.2/nọc/tuần
Trang 163% hàng năm, góp phần nâng cao năng suất vật nuôi
Lợn có lông màu trắng, màu cơ thể hơi hồng, tai cụp, mõm dài, cổ ngắn, mông đùi phát triển Lợn cái có 12-14 vú (vú đều không teo)
Theo một số nghiên cứu cho thấy các tính trạng về đặc điểm sinh lý , phân
bố thời gian đẻ và năng suất sinh sản của lợn nái được theo dõi trực tiếp trên đàn lợn nái hậu bị và nái sinh sản Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn nái GF24 có khả năng sinh sản tốt, đặc biệt là tính trạng về số con với số lợn con sơ sinh, số con
sơ sinh sống và số con cai sữa/lứa lần lượt đạt 12,8; 12,5 và 12,1 con
Tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu lần lượt là 157,1; 229,8 và 353,7 ngày Chu kỳ động dục của lợn nái GF24 là 21,6 ngày với thời gian động dục kéo dài 7,4 ngày và thời gian từ biểu hiện động dục đến chịu đực là 66,8 giờ, thời gian kéo dài chịu đực là 54,4 giờ Thời điểm bắt đầu đẻ của lợn nái GF24 tập trung chủ yếu vào ban ngày (chiếm 61,3%) Thời gian đẻ từ con đầu đến con cuối và thời gian ra nhau của lợn nái GF24 lần lượt là 254,7 và 116,3 phút
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN NÁI
2.2.1 Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái
Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính:
+ Cơ thể đã phát tiển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện, con cái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh Lúc này, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
Trang 17+ Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: Bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: Lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối
Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển căn bản hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, các kích thích bên ngoài (nhiệt độ, ánh sáng, mùi ) con vật xuất hiện các hiện tượng hưng phấn sinh dục Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
- Giống lợn: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính khác
nhau Các giống lợn nội thành thục về tính sớm hơn so với lợn ngoại.Lợn nội thường thành thục về tính vào 4-5 tháng tuổi còn lợn ngoại và lợn lai thời gian thành thục về tính vào khoảng 6-7 tháng tuổi
- Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý: trong cùng một giống nếu
những cá thể được nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý tốt thì tuổi thành thục sớm hơn
và ngược lại những cá thể được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý không tốt thì sẽ thành thục về tính muộn hơn
- Điều kiện ngoại cảnh: khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự thành
thục của lợn nái Những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu lạnh Việc chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng làm cho gia súc cái thành thục sớm hơn Đối với lợn cái hậu bị nếu như nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu chậm hơn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ có thời gian trao đổi, tổng hợp các chất, có dịp được tiếp xúc với lợn đực nên sẽ có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
2.2.2 Sự thành thục về thể vóc
Thành thục về thể vóc là tuổi mà khi đó toàn bộ cơ quan, bộ phận cơ thể
đã phát triển hoàn thiện Khi đó ngoại hình và thể vóc của con vật đạt tới mức hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn tuổi thành thục về tính
Trang 18Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ vẫn chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này làm ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 – 8 tháng tuổi, khối lượng đạt 40 – 50 kg mới cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 – 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 – 110 kg mới nên cho phối
Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất Việc xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu) không làm ảnh hưởng đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau Ngược lại nếu đưa gia súc vào khai thác quá muộn sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao
2.2.3 Chu kỳ tính
Khi gia súc đã thành thục sinh dục thì ở buồng trứng có trứng chín và rụng Hiện tượng trứng chín và rụng xảy ra theo trình tự thời gian nhất định kèm theo những biểu hiện bên ngoài cơ thể biến đổi có tính quy luật từ khi con gia súc thành thục về tính cho đến hết khả năng sinh sản gọi là chu kỳ tính ( chu kỳ động dục) Chu kỳ này bao gồm các sự kiện để chuẩn bị cho việc giao phối, thụ tinh và mang thai Thời gian một chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước đến lần rụng trứng sau, mỗi loài gia súc có một chu kỳ tính riêng
Lợn có chu kỳ động dục là 18 – 23 ngày, trung bình là 21 ngày Chu kỳ này chia làm 4 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn trước động dục (kéo dài 1-2 ngày)
Kéo dài từ 1-2 ngày và được tính từ khi thể vàng của chu kỳ trước bị thoái hoá đến lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cho đường sinh dục của con cái đón trứng, tiếp nhận tinh trùng và thụ tinh Có các
Trang 19mạc có màu hồng tươi, đến cuốigiai đoạn có lớp nhờn loãng chảy ra, lợn bắt đầu
ăn ít hoặc bỏ ăn, bồn chồn hay kêu rít, thích nhảy lên lưng con khácnhưng không cho con khác nhảy lên lưng nó
- Giai đoạn động dục (kéo dài 2-3 ngày)
Là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, song giai đoạn này chỉ kéo dài 2 – 3 ngày, gồm 3 thời kỳ liên tiếp: hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Dưới tác dụng của LH, tế bào trứng chín rụng, tiết Ostrogen làm thần kinh con vật hưng phấn cao độ Lúc này lượng Ostrogen tiết ra đạt mức cao nhất là 120mg% trong khi mức bình thường là 64mg% Toàn bộ cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục biểu hàng loạt các biến đổi sinh lý.Bên trong cổ tử cung đã hé
mở và co bóp mạnh, âm hộ chuyển sang màu đỏ hồng có dịch nhờn chảy ra nhiều Lợn cái biếng ăn, đứng nằm không yên, phá chuồng đi tìm con đực, đái rắt, nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên mình, thích gần con đực, khi gần đực đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực Phối ở giai đoạn này sẽ cho tỷ lệ thụ thai cao
- Giai đoạn sau động dục ( thường kéo dài 3-4 ngày)
Bắt đầu từ khi kết thúc động dục và kéo dài 3 – 4 ngày Sau khi trứng rụng trên buồng trứng hình thành xoang máu, LH kích thích tế bào hạt chứa sắc tố vàng, thể vàng dần được hình thành Khi hình thành thể vàng tiết progesterone ức chế GnRH làm trứng không sinh trưởng, chín và rụng Progesterone ức chế thần kinh con vật từ trạng thái hưng phấn sang ức chế, trầm tĩnh Lúc này toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dục dần trở lại trạng thái
sinh lý bình thường
- Giai đoạn yên tĩnh (kéo dài 10-12 ngày)
Là giai đoạn dài nhất kéo dài 12 – 14 ngày Trong buồng trứng sau khi trứng rụng 14 ngày, tử cung tiết gây co mạch nuôi thể vàng và sẽ tiêu hủy trong 24h, lượng progesterone giảm dần không ức chế tiết FSH và LH
Sự phát dục của noãn bào bắt đầu nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng vì con cần vật nghỉ ngơi và phục hồi về
mặt cấu tạo, chức năng của cơ quan sinh dục chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo
Trang 202.2.4 Sự điều hòa hoạt động chu kỳ tính
Hoạt động của chu kỳ tính chịu sự chi phối của nhiều hormon (FSH, LH, progesteron…) trong đó đóng vai trò quan trọng là FSH và LH tuy phân tiết riêng rẽ song nó hoạt động phối hợp rất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau Sự cân bằng nội tiết giữa các hormone này giúp điều tiết hoạt động sinh dục
Cơ chế điều hòa thần kinh và thể dịch
(Nguồn: Phạm Kim Đăng, 2009)
2.2.5 Sinh lý đẻ
Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp, khi lợn mẹ kết thúc thời gian mang thai thì cổ tử cung mở kết hợp với sự co bóp của cơ tử cung, cơ thành bụng cùng với sự răn toàn thân của cơ thể mẹ làm cho thai, màng thai và dịch thai được tống ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ:
* Thời kỳ mở cổ tử cung: Được tính từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên
đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn kéo dài khoảng 2 - 12 giờ
* Thời kỳ đẻ: Tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai cuối cùng
được đẩy ra ngoài, giai đoạn này kéo dài 1-4 giờ Nếu dài quá 6 giờ là hiện
Tử cung Tuyến vú
Trang 21tượng không bình thường gây nguy hiểm cho con mẹ và con con nên ta phải kiểm tra can thiệp kịp thời
* Thời kỳ sổ nhau: Giai đoạn này kéo dài 1 - 4 giờ, nếu dài quá gây hiện
tượng sót nhau dẫn đến viêm tử cung
2.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
2.3.1 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Hiện nay có hai nhóm chỉ tiêu chính thường được sử dụng là nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục và chỉ tiêu về năng suất sinh sản lứa 1
2.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn cái
Tuổi động dục lần đầu (ngày)
Là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên, tùy theo từng giống mà tuổi động dục khác nhau
Tuổi phối giống lần đầu (ngày)
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng lần đầu ít,
do đó nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 trở đi Tuổi phối giống lần đầu thích hợp với lợn nội là 7,5 – 8 tháng tuổi, với lợn ngoại là 8 – 8,5 tháng tuổi
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
Là thời gian lợn được sinh ra cho đến khi lợn đẻ lứa đầu Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống và kết quả phối giống Đối với lợn ngoại tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn
Thời gian mang thai (ngày)
Thời gian mang thai của lợn là một chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn Thời gian này dao động từ 110 – 117 ngày, trung bình 114 ngày Thời gian mang thai không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi lợn nái, mùa vụ hoặc giống lợn
Tỷ lệ thụ thai
Chỉ tiêu này đánh giá trình độ phối giống và kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi trong giai đoạn nái mang thai
Trang 22Số con mang thai (con)
Tỷ lệ thụ thai (%)= x 100
Số con được phối giống (con)
Thời gian động dục sau cai sữa
Là khoảng thời gian lợn nái động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con hay phối giống không đạt Số ngày phối giống có chửa sau khi cai sữa bình thường
là 4- 7 ngày Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện dinh dưỡng và thời gian cai sữa lợn con…
2.3.1.2.Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
Số con đẻ ra/ổ
Là tổng số con đẻ ra trên một lứa của một nái, tính cả những con chết được đẻ ra.Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của con lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi
Số con sơ sinh sống/ổ
Là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2kg đối với lợn nội 0,5kg đối với lợn ngoại
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kĩ thuật chăm sóc lợn nái chửa, kĩ thuật thụ tinh, chất lượng tinh của đực giống
Trang 23 Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau khi đẻ
Công thức tính như sau:
Số con sơ sinh sống đến 24 giờ
Khối lượng sơ sinh/ổ
Là khối lượng cântoàn ổ được cân sau khi lợn con được cắt rốn, lau khô
và chưa cho bú sữa đầu Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng nói lên trình
độ chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
Khối lượng sơ sinh/con
Là khối lượng từng con sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng nuôi thai cũng như mức
độ đồng đều của lợn sơ sinh
Số con cai sữa/ổ:
Số con cai sữa/ổ là số con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện của từng cơ sở và thể trạng của lợn mẹ Trong thực tế người ta thường cai sữa khi lợn con được 21 - 28 ngày tuổi, nhưng cũng có thể ngắn hơn
Là chỉ tiêu sinh sản quan trọng nhất có liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn mẹ và phòng bệnh cho lợn con
Tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa
Số con sống đến cai sữa
Tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa= x 100
Số con để lại nuôi
Trang 24 Khối lượng cai sữa/ổ
Là tổng số con đẻ ra trên một lứa của một nái, tính cả những con chết được đẻ ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của con lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi
Khối lượng cai sữa/con
Khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh trưởng của từng con và khả năng nuôi con của lợn mẹ
Thời gian cai sữa:
Thời gian cai sữa dài hay ngắn thể hiện trình độ, kỹ thuật chăn nuôi Các
cơ sở chăn nuôi có kỹ thuật tốt thường cai sữa lợn con lúc 21 ngày tuổi, trong khi đó vẫn đảm bảo được lợn con sau cai sữa phát triển bình thường Cai sữa sớm cho lợn con sẽ giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, giảm sự hao hụt ở lợn mẹ,
tăng số lứa đẻ/nái/năm
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu và cấu thành
từ nhiều yếu tố khác nhau Mỗi yếu tố lại ảnh hưởng tới một chỉ tiêu theo một mức
độ khác nhau Bên cạnh yếu tố di truyền, năng suất sinh sản của lợn nái còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: biện pháp chăm sóc lợn nái khi đẻ, nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sau cai sữa, công tác thú y, kiểu chuồng trại…
Trang 25Yếu tố di truyền ở đây chính là thành tích sinh sản của giống, mà cụ thể là giống con nái Thành tích này thông thường đặc trưng cho giống và cũng mang tính cá thể Do đó giống là tiền đề quyết định tới hiệu quả chăn nuôi
Theo Legault (1997), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:
Các giống đa dụng như: Landrace, Yorkshire được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
Các giống chuyên dụng “dòng bố” như PiDu, Landrace của Bỉ, Duroc của
Mỹ có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
Các giống chuyên dụng “dòng mẹ” như Landrace, Yorkshine đặc biệtmột
số giống chuyên sản của Trung Quốccó khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sứcsản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môitrường
Biện pháp nhân giống là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ nuôi sống, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa và cả số lượng đàn con
2.3.2.2 Yếu tố ngoại cảnh
Ngoài yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ ràng
và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái Chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng đều có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
Chế độ chăm sóc và dinh dưỡng
Điều quan trọng đối với cái hậu bi ̣ và lợn nái là cần đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để đảm bảo cho khả năng sinh sản tốt Tùy từng giai đoạn mà chế độ dinh dưỡng cho lợn nái là khác nhau Không nên cho lợn nái chửa ăn thức ăn với mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng
tỉ lệ chết phôi và giảm số lượng lợn con sinh ra trong ổ Cho lợn ăn quá mức không những làm lãng phí mà còn làm tăng khả năng chết thai (Diehl và cs., 1996) theo trích dẫn Trịnh Hồng Sơn (2014) Không cho lợn nái chửa ăn quá nhiều vì lợn nái béo sẽ dẫn đến: khó đẻ, có thể đè chết con, tiết sữa kém đặc biệt
Trang 26là sữa đầu, từ đó ảnh hưởng tới sức sống cũng như sự phát triển của đàn con, đàn con có tỷ lệ tiêu chảy cao
Ngược lại không để lợn nái chửa ăn quá ít, lợn sẽ bi ̣ gầy dẫn đến : Dễ mắc bệnh, thiếu sữa nuôi lợn con, lợn nái hao mòn nhiều trong giai đoa ̣n nuôi con và
sẽ lâu đô ̣ng du ̣c trở la ̣i sau khi cai sữa lợn con Nên chia khẩu phần của lợn thành nhiều bữa trong ngày để lợn hấp thu được tốt thức ăn
Bảng 2.2 Nhu cầu năng lượng của lợn nái
Nái Khối lượng lợn nái (kg) ME (kcal/kg)
(Vũ Đình Tôn, 2009)
Ảnh hưởng của khí hậu và mùa vụ và chế độ chiếu sáng
Nhiệt độ, mùa vụ và chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn nái như lợn nái chậm thành thục về tính, tỷ lệ chết thai cao hơn
và tỷ lệ xảy thai tăng lên cũng như số con đẻ ra/ổ giảm Ở Việt Nam, theo Phạm Hữu Doanh (1995), yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng lợn con Lợn con sinh vào mùa đông có khối lượng cao hơn các mùa vụ khác trong năm Khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng cho thấy nếu nhiệt độ lớn hơn 30oC thì sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái, tỷ lệ hao hụt sẽ tăng từ đó kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa, giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi (Pistoni, 1997) Ở giai đoạn nuôi con tỷ lệ nuôi sống kém do lợn mẹ trở mình liên tục dẫn đến đè con Vì vậy vào mùa hè tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra/lứa thường thấp hơn các mùa khác Nếu nhiệt độ quá thấp (dưới 18oC) thì tỷ
lệ lợn con chết do lạnh và tiêu chảy sẽ cao hơn
Tuổi và khối lượng phối giống ban đầu
Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu thích hợp phải đảm bảo cho lợn thành thục về tính và thể vóc Nếu cho lợn phối giống lứa đầu quá sớm thì tuổi lợn quá nhỏ chưa đảm bảo thành thục về tính và thể vóc nên khả năng sinh sản còn kém, chưa đảm bảo cho việc nuôi bào thai và nuôi con Nếu cho phối giống lứa đầu quá
Trang 27muộn thì trước tiên làm giảm hiệu quả kinh tế, hơn nữa nếu phối quá muộn cũng sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
Thời điểm và phương pháp phối giống
Thời gian lên giống dài hay ngắn ngày tùy theo giống lợn nhưng thường kéo dài 3 – 5 ngày Tuy nhiên không phải trong khoảng thời gian đó lúc nào nái cũng cho đực phối mà phải đến một thời điểm mà người ta thường gọi là '' phê '' nhất thì nái mới chịu đực và cũng chỉ thời điểm đó nái mới thụ thai Lợn nái kéo dài thời gian động dục 48 giờ bởi vậy tốt nhất là phối giống trước 8 – 12 giờ trước khi trứng rụng
Phương pháp phối giống:
Có 2 phương pháp phối giống cho lợn đó là phối trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Nếu phối giống trực tiếp sẽ tốn thời gian và giảm khả năng đảm nhiệm của lợn đực nhưng làm tăng khả năng thụ thai do lợn cái được kích thích nhiều hơn Tuy nhiên, phương pháp thụ tinh nhân tạo có hiệu quả kinh tế cao hơn và là
phương pháp được dùng phổ biến hiện nay
2.3.2.3 Các yếu tố khác
Phương pháp nhân giống
Lai giống sẽ cho sức sản xuất cao hơn nhân giống thuần chủng nhưng trong trường hợp lợn ngoại cho lai với lợn cái nội thì số con đẻ ra có thể cao hơn lợn ngoại nhưng khối lượng thì nhỏ hơn lợn ngoại và cao hơn lợn nội Theo Gusne và Robinson (1990), lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn 11,3 - 14,3 ngày, tỷ lệ thụ thai cao hơn 2 - 4%, số trứng rụng lớn hơn 0,5 trứng, số con
đẻ ra/ổ nhiều hơn 0,6 - 0,7 con và số con cai sữa/ổ nhiều hơn 0,8 con so với lợn thuần chủng
Số trứng rụng trong 1 chu kỳ
Số trứng rụng nhiều hay ít ảnh hưởng tới số con sinh ra Số trứng rụng chịu ảnh hưởng của mức độ cận huyết, nếu mức độ cận huyết tăng lên 10% thì
số trứng rụng sẽ giảm đi tới 0,6 – 0,7% trứng (Stewart, 1954) Lợn nái hậu bị có
số trứng rụng ít hơn so với nái trưởng thành Số trứng rụng tăng đáng kể trong 4
lứa đẻ đầu tiên và đạt mức ổn định ở lứa thứ 6
Trang 28 Thời gian nuôi con và số con để nuôi
Thời gian nuôi con ảnh hưởng tới khoảng cách lứa đẻ qua đó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm Nếu thời gian nuôi con quá dài sẽ gây ảnh hưởng đến thể trạng và sức khỏe của lợn nái.Thời gian nuôi con ngắn sẽ cho số lứa đẻ/nái/năm cao và nâng cao được số con cai sữa/nái/năm
Qua nghiên cứu, thời gian nuôi con tốt nhất là 21 – 28 ngày, nếu thời gian nuôi con nhỏ hơn 21 ngày thì sẽ tăng lứa/nái/năm nhưng sẽ không tăng được số con cai sữa/nái/năm
Số con để nuôi tốt nhất bằng số vú, nếu số con ít quá sẽ không kinh tế và một số vú sẽ bị lép Số con nhiều sẽ ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và có thể làm tăng tỷ lệ hao hụt của lợn nái, thời gian động dục sau cai sữa sẽ dài hơn và
tỷ lệ thụ thai thấp
Lứa đẻ và khoảng cách lứa đẻ
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
do sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Thông thường số con đẻ ra thấp nhất ở lứa 1 và 2, cao nhất và ổn định từ lứa thứ 3 đến lứa thứ 5-7, sau đó
có chiều hướng giảm đi (Koketsu và cs, 2000 - dẫn theo Vũ Đình Tôn, 2009) Trong sản xuất, người ta thường chú ý giữ vững số lượng con đẻ ra/ổ các lứa thứ
6 trở đi bằng kỹ thuật chăn nuôi, quản lý, chăm sóc sao cho đàn lợn mẹ không quá béo và cũng không quá gầy
Dịch bệnh
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì yếu tố bệnh tật không kém phần quan trọng làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Đó là bệnh truyền nhiễm, nội khoa, sản khoa, ký sinh trùng Quan trọng hơn cả là chăn nuôi lợn nái sinh sản là bệnh sản khoa thường gặp “Hội chứng MMA viêm vú, viêm tử cung, mất sữa” Hội chứng này xuất hiện khá phổ biến ở khu chăn nuôi tập trung Trong đó chủ yếu
là viêm tử cung, bệnh gây thiệt hại đáng kể đối với lợn nái nuôi con thường kém
ăn, lượng sữa giảm, lợn con còi cọc dễ mắc bệnh ỉa chảy dẫn tới chết Lợn động dục mà bị viêm tử cung nếu vẫn phối giống thì tỷ lệ thụ thai không cao
Trang 292.4-QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN CON 2.4.1 Giai đoạn trong cơ thể mẹ
Lợn mang thai trung bình 114 ngày, quá trình phát triển của bào thai đực
chia lam 3 giai đoạn:
- Giai đoạn phôi thai (từ ngày thứ 1 đến ngày 22)
Bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, 20 giờ sau khi thụ tinh, hợp tử bắt đầu phân chia chuyển dần vào hai bên sừng tử cung
và làm tổ ở đó, trong sừng tử cung hợp tử lại tiếp tục phân chia thành hàng trăm
tế bào phôi Túi phôi được hình thành sau đó 5 – 6 ngày, túi phôi chứa chất lỏng Màng ối hình thành sau 7 – 8 ngày, đây là màng ngoài cùng bao bọc lấy bào thai trong có chứa dịch ối Dịch ối có tác dụng giúp cho bào thai nằm thoải mái, đệm
đỡ cho bào thai không bị va chạm với các cơ quan xung quanh của cơ thể lợn
mẹ Màng niệu được hình thành sau khoảng 10 ngày, là màng giữa có chứa dịch niệu, chứa nước tiểu của bào thai, chứa kích tố nhau thai, trong dịch niệu cũng chứa một số chất dinh dưỡng cung cấp cho bào thai Màng đệm được hình thành sau khoảng 12 ngày là màng ngoài cùng tiếp giáp với niêm mạc tử cung của lợn
mẹ, trên bề mặt của màng đệm có nhiều lông nhung để hút các chất dinh dưỡng
từ cơ thể lợn mẹ Cuối thời kì này thì trọng lượng của phôi đạt 1 – 2 g, hình dáng và các cơ quan bộ phận như: đầu, hố mắt, tim, gan được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, sự gắn kết giữa cơ thể mẹ và bào thai chưa chắc chắn nên dễ bị sảy thai
- Giai đoạn tiền thai( từ ngày thứ 23 đến ngày 39)
Thời kì này nhau thai được hình thành, sự gắn kết giữa nhau thai và cơ thể
mẹ chắc chắn hơn nên ít xảy ra hiện tượng sảy thai Thai lấy chất dinh dưỡng từ
cơ thể mẹ qua nhau thai Cuối thời kì này hầu hết các cơ quan bộ phận đã được hình thành nhưng khối lượng còn nhỏ, chỉ đạt khoảng 6 – 7 g/thai
- Giai đoạn bào thai( từ ngày thứ 40 đến khi đẻ)
Ở thời kì này quá trình trao đổi chất của bào thai diễn ra mạnh mẽ để hoàn thành nốt những bộ phận còn lại như: da, lông, răng, thể hiện đặc điểm của giống Thai phát triển mạnh nhất là từ ngày thứ 90 trở đi và thường 60% khối
Trang 30lượng bào thai tăng lên ở giai đoạn này Đến cuối thời kì, mỗi thai nặng khoảng
1300 – 1400 g Khi các cơ quan đã phát triển hoàn chỉnh thì cơ thể mẹ đẩy thai
ra ngoài
Thực tế người ta chia 84 ngày đầu là chửa kì 1, 30 ngày sau là chửa kì 2
do khối lượng bào thai trong thời kì đầu thấp, cơ thể mẹ chưa cần nhiều chất dinh dưỡng Chửa kì 2 thai phát triển nhanh nên nhu cầu dinh dưỡng của lợn mẹ
sẽ tăng lên
Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể lợn mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng
từ 110 – 118 ngày) Thời gian đẻ trung bình từ 2 – 6 giờ Nếu có hiện tượng khó
đẻ (do thể trạng lợn mẹ yếu, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu, ) thì cần
có những biện pháp can thiệp ngay để giảm thiểu tối đa thiệt hại
Thời gian mang thai của lợn còn có thể chia làm 2 thời kỳ:
Chửa kỳ I (84 ngày đầu)
Chửa kỳ II (30 ngày cuối)
2.4.2 Đặc điểm về sự phát triển của cơ quan tiêu hoá
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc
Trang 31tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế
sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức
ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh
ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi,
Trang 32chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
2.4.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001), ở lợn con khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp
dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh, nhất là bệnh ỉa phân trắng
2.5 SINH TRƯỞNG VÀ TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA LỢN CON CAI SỮA
Để đánh giá năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoài các chỉ tiêu sinh sản người ta còn quan tâm đến khả năng sinh trưởng phát triển của đàn lợn con và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa
Trang 33Tăng khối lượng lợn con từ sơ sinh đến cai sữa (g/con/ngày)
Là một chỉ tiêu hết sức quan trọng đánh giá trực tiếp khả năng sinh trưởng của con vật Khả năng tăng khối lượng/ngày thay đổi theo giai đoạn và tùy vào
độ tuổi của đàn lợn Khả năng tăng khối lượng/ngày càng cao thì khối lượng lợn
càng lớn và đem lại hiệu quả cao cho người chăn nuôi
Tiêu tốn thức ăn/1 kg lợn con cai sữa (kg)
Chỉ tiêu này phản ánh trình độ kỹ thuật, chế độ chăm sóc của người chăn nuôi đồng thời cho thấy khả năng tiết sữa của lợn mẹ, thỏa mãn sự phát triển của lợn con
Để xác định được tiêu tốn thức ăn/1kg lợn con cai sữa phải xác định lượng thức ăn của nái chửa kỳ I, chửa kỳ II, nuôi con của lợn mẹ và lượng thức
ăn của lợn con tập ăn trong giai đoạn theo mẹ
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi và sự quan tâm của nhà nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển cho ngành chăn nuôi nước
ta Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu nhằm đánh giá và đưa ra các biện pháp nâng cao năng suất sinh sản, chất lượng sản phẩm cho đàn lợn ngoại đã được nhập về nước ta Và đã có rất nhiều kết quả được công bố về năng suất sinh sản và sinh trưởng của các giống lợn ngoại
Ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái ngoại Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2006) về năng suất sinh sản của lợn F1(Landrace x Yorkshire) cho biết: Tổng số con sơ sinh/ổ là 10,97 con; Số con đẻ ra còn sống là 10,41 con/ổ, số con để nuôi/ổ là 9,88 con, khối lượng sơ sinh/ổ là 14,60 kg, số con 21 ngày tuổi/ổ đạt 9,35 con, thời gian cai sữa là 23,05 ngày, số con cai sữa/ổ đạt 9,32 con, khối lượng cai sữa/ổ là 52,28 kg và khối lượng cai sữa/con là 5,67 kg
Cũng theo Hoàng Nghĩa Duyệt (2008) khi đánh giá các chỉ tiêu sinh sản lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) nuôi ở huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam cho biết: số con đẻ ra 9,67 con/ổ, khối lượng sơ sinh 1,41 kg/con, số con cai sữa
Trang 349,0 con/ổ, khối lượng cai sữa lúc 27,1 ngày là 5,5 kg/con và hệ số lứa đẻ là 2,41 lứa/năm Nguyễn Thị Viễn và cs (2005) nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn
F1(Landrace x Yorkshire) tại cơ sở chăn nuôi 2, Viện khoa học kỹ thuật miền Nam có kết quả là số con đẻ ra 10,51 con/ổ, khối lượng sơ sinh 12,12 kg/ổ, số con cai sữa 9,14 con/ổ, khối lượng cai sữa lúc 22,3 ngày là 46,33kg/ổ
Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và cộng sự (2010) về năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc cho biết: Số con đẻ ra/ổ là 12,05 con, số con còn sống là 11,75 con/ổ, số con để nuôi/ổ là 11,30 con, khối lượng sơ sinh/ổ là 15,30 kg, thời gian cai sữa là 26,45 ngày, số con cai sữa/ổ đạt 10,60 con, khối lượng cai sữa/ổ là 66,85 kg và khối lượng cai sữa/con là 6,35kg
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới công tác nâng cao chất lượng và số lượng con giống luôn được quan tâm hàng đầu Từ nửa sau thế kỷ XX, do có thêm hiểu biết mới về ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo nên ở các nước có nền chăn nuôi tiên tiến đã phát triển mạnh về việc lai các giống lợn với nhau nhằm tạo ra con giống đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi
Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) cho biết lai hai hay ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như sau: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với nhân giống thuần (10,9 so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa Vì vậy, việc sử dụng hai, ba giống để lai là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt thương phẩm
Trên thế giới hiện nay các giống lợn Landrace và Yorkshine được nuôi phổ biến bởi đặc điểm ưu việt của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh,
tỷ lệ nạc cao, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt Cho tới nay, có rất nhiều nghiên cứu về năng suất sinh sản của các giống lợn như Landrace, Yorkshire, và tổ hợp lai của chúng
Việc lai giống góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái ở một số nước Châu Âu: ở Liên Xô (cũ), Hungari, Đức… kết quả lai giống đã làm tăng số
Trang 35lợn con sơ sinh trung bình/ổ là 12 – 16% Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa cao hơn từ
10 – 15% so với lợn thuần, khả năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian vỗ béo từ 25 – 30 ngày, đạt khối lượng giết mổ 100 kg Nhiều kết quả nghiên cứu
đã chứng minh, lợn lai khác giống vượt lợn thuần chủng về số lượng lợn con nuôi sống và vỗ béo đến khi xuất chuồng, tiêu tốn thức ăn thấp hơn Tác giả nhận xét lợn lai từ 2 giống có số con trung bình/ổ lúc sơ sinh cao hơn 11,6%, giảm thời gian nuôi thịt là 17 ngày và tiết kiệm được 28 kg thức ăn cho một đời lợn nuôi thịt đạt khối lượng 100 kg/con so với lợn thuần Lợn lai từ 3 giống có
số con đẻ ra/ổ trung bình cao hơn 7,2% so với lợn lai 2 giống và cao hơn 19,6%
so với lợn thuần
Việc nghiên cứu chọn lọc dòng cao sản và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt
số con sơ sinh sống/ổ cao, tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng thấp đã thành công lớn ở các nước có trình độ chăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc (Hermesch và cs., 1995; Alfonso và cs., 1997) Theo Gerasimov và cs., (1997) lai hai, ba, bốn giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Lai giống nhằm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 con so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan
Missohu và cs (1999) ,công bố về năng suất sinh sản của nái Yorkshine nuôi tại Togo được nghiên cứu trên 369 con lợn nái như sau: Tuổi đẻ lứa đầu 317,7 ngày; khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 170,7 ngày; số con cai sữa/ổ là 8,3 con; số con cai sữa/nái/năm 16,88 con; khối lượng cai sữa/con 5,25 kg
Tummaruk và Dalin (2000) cho biết, khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshine nuôi tại Thụy Sĩ là: Số con sơ sinh/ổ của lợn Landrace là 11,4 ±2,6 ở lợn Yorkshine là 11,3 ± 2,7; tương tự số con còn sống/ổ lần lượt là 10,7 ± 2,5 và 10,4 ± 2,7 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 167,9 ± 19 và 163,3 ± 19,3 ngày; tuổi đẻ lứa đầu
là 355,0 ± 27,9 và 371,4 ± 32,6 ngày; tỷ lệ đẻ là 81,6 và 79,2%
Trang 36PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 60 con lợn nái GF24 được phối với đực GF337 và GF399 và đàn lợn con theo mẹ của đàn nái trên
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 23/03/2022 đến 23/07/2022
- Địa điểm nghiên cứu đề tài: tại trại Linkfarm Bắc Kạn ở xã Bình
Trung-huyện Chợ Đồn-tỉnh Bắc Kạn
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Khái quát chung về trang trại nghiên cứu
3.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái GF24
- Tuổi động dục lần đầu (ngày)
- Tuổi phối giống lần đầu (ngày)
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian mang thai (ngày)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Thời gian chờ phối (ngày)
3.2.3 Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản lợn nái GF24
- Số con đẻ ra/ổ (con)
- Số con sơ sinh sống/ổ (con)
- Số con để nuôi/ổ (con)
- Số con cai sữa/ổ (con)
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/con
Trang 37- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa(%)
3.2.4 Tính tiêu tốn thức ăn/1kg lợn con cai sữa
3.2.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập các số liệu từ sổ theo dõi của trang trại và theo dõi trực tiếp trong thời gian thực tập tại trang trại
3.3.2 Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản
Đếm: số con sơ sinh, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa,
số con chết từng ổ, ghi chép số liệu theo dõi
Cân khối lượng toàn ổ lúc sơ sinh sau khi lợn con đã được lau khô, cắt rốn, chưa bú sữa đầu bằng cân đồng hồ loại 30 kg, quan sát và ghi chép số liệu theo dõi
Cân khối lượng lợn con vào thời điểm cai sữa, trước khi cho ăn, cân toàn
ổ bằng cân đồng hồ loại 100 kg, quan sát và ghi chép số liệu theo dõi
3.3.3 Xác định tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa
Để xác định TTTA chúng tôi tiến hành theo dõi thức ăn trên các đàn nái
từ khi chờ phối đến khi cai sữa lợn con Hàng ngày cân thức ăn trước khi cho ăn
và cân thức ăn thừa, ghi chép vào sổ theo dõi Tính lượng thức ăn thu nhận, bao gồm:
- Thức ăn cho lợn nái chửa
- Thức ăn cho lợn nái nuôi con
- Thức ăn cho lợn con tập ăn đến cai sữa
Từ đó xác định TTTA/kg lợn cai sữa theo công thức sau:
Tổng thức ăn tiêu thụ/ổ TTTA/kg lợn cai sữa (kg) =
Khối lượng cai sữa/ổ (Tổng thức ăn tiêu thụ/ổ = Thức ăn chửa kỳ I, II + Thức ăn cho nái nuôi con + Thức ăn lợn con tập ăn)
Trang 383.3.4 Theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con
Hàng ngày theo dõi sức khỏe lợn nái và lợn con 2 lần, buổi sáng và buổi chiều Xác định lợn bệnh chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và ghi chép vào sổ theo dõi
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Các số liệu thu thập được, được xử lý bằng phần mềm Microsoft Ofice Excel 2010 và Minitab 16.0 Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích phương sai (ANOVA) một nhân tố Sự sai khác giữa các giá trị trung bình được xác định bằng phương pháp Turkey ở mức anpha 0,5
Trang 39Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI CỦA TRANG TRẠI NGHIÊN CỨU
4.1.1 Giới thiệu chung về trang trại Linkfarm Bắc Kạn
b Diện tích trang trại:
Trang trại có tổng diện tích là 9ha , trong đó diện tích chăn nuôi là 5ha
Hệ thống chuồng nuôi gồm: khu chuồng nuôi lợn đực giống, khu chuồng phát triển hậu bị, khu chuồng đẻ, khu chuồng cách ly và khu chuồng mang thai