Đặc biệt là thói quen nấu nướng và dự trữ thức ăn là một trong những nguyên nhân làm tăng lượng chất thải thực phẩm bị thải bỏ trong các hộ gia đình.. Để giảm thiểu tối đa lượng chất thả
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : ThS Lương Đức Anh
Địa điểm thực tập : Bộ môn Quản lý Môi trường
Hà Nội – 2022
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thông tin trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc và trích dẫn đầy đủ
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và tạo điều kiện từ các cá nhân, tổ chức Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy ThS Lương Đức Anh, giảng viên bộ môn Quản lý Môi trường, Khoa Tài nguyên & Môi trường, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận
Tôi xin cảm ơn các thầy, các cô trong khoa Tài nguyên & Môi trường, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức chuyên môn
bổ ích cho tôi trong 4 năm tham gia học tập tại trường
Đồng thời tôi xin cảm ơn UBND xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh
Trang 4iii
TÓM TẮT
Chất thải thực phẩm đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong toàn xã hội hiện nay, đặc biệt là ở khu vực các thành phố lớn và đang phát triển của Việt Nam Sự gia tăng chất thải thực phẩm có tác động tiêu cực nghiêm trọng đến tính bền vững của môi trường, tài nguyên nước và đất đai, an ninh lương thực toàn cầu cũng như khí hậu và phát thải khí nhà kính Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát sinh và hoạt động quản lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình trên địa bàn xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giảm thiểu phát sinh chất thải thực phẩm tại địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng phát sinh chất thải thực phẩm trung bình của xã Kiêu Kỵ là 0,14 kg/người/ngày, thành phần chất thải từ sơ chế
là 45,02 %; chất thải từ thức ăn thừa là 34,54%; và các loại khác là 20,44% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hành vi đi chợ mua đồ của các hộ gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới lượng chất thải phát sinh trong gia đình Đặc biệt là thói quen nấu nướng và dự trữ thức ăn là một trong những nguyên nhân làm tăng lượng chất thải thực phẩm bị thải bỏ trong các hộ gia đình Để giảm thiểu tối đa lượng chất thải phát sinh nghiên cứu cũng
đã đưa ra một số biện pháp, kiến nghị như: tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân, tuyên tuyền vận động người dân phân loại rác, có những buổi tập huấn về việc đi mua và sử dụng thực phẩm một cách hợp lý
Trang 5iv
M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái niệm chất thải thực phẩm 4
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm tại hộ gia đình 6
1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm tại hộ gia đình 6
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh chất thải thực phẩm từ hộ gia đình 11 1.3 Hiện trạng công tác quản lý chất thải thực phẩm 13
1.3.1 Trên thế giới 13
1.3.2 Tại Việt Nam 15
1.4 Các tác động của chất thải thực phẩm 16
1.4.1 Tác động đến kinh tế 16
1.4.2 Tác động đến môi trường 17
1.4.3 Tác động đến xã hội 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 22
Trang 6v
2.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa 22
2.4.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi 23
2.4.4 Phương pháp xác định hệ số phát sinh chất thải thực phẩm 23
2.4.5 Phương pháp ước tính lượng chất thải thực phẩm phát sinh 23
2.4.6 Phương pháp mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 24
2.4.7 Mô hình hồi quy tuyến tính được cho dưới dạng: 25
2.4.8 Phương pháp phân tích số liệu 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Xã Kiêu Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
3.2 Một số đặc điểm các hộ điều tra 28
3.3 Đặc điểm thói quen đi mua thực phẩm tại các hộ điều tra 29
3.3.1 Địa điểm đi mua thực phẩm 29
3.3.2 Lượng lương thực đi mua trong một lần mua tại hộ điều tra 30
3.3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi mua thực phẩm 31
3.3.4 Thói quen trước khi đi chợ của các hộ gia đình 33
3.3.5 Lượng thức ăn nấu mỗi lần của các hộ gia đình 34
3.4 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm 35
3.4.1 Thành phần chất thải thực phẩm phát sinh tại các hộ gia đình 35
3.4.2 Khối lượng phát sinh chất thải thực phẩm 36
3.5 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số phát sinh chất thải thực phẩm 37
3.6 Hiện trạng quản lý chất thải thực phẩm 38
3.6.1 Hình thức xử lý thức ăn thừa tại các hộ gia đình 38
3.6.2 Dụng cụ dựng chất thải thực phẩm 40
3.6.3 Hình thức phân loại chất thải thực phẩm 41
3.6.4 Phân loại chất thải thực phẩm và công tác tuyên truyền 42
Trang 7vi
3.6.5 Các biện pháp để giảm thiểu lượng chất thải thực phẩm tại các hộ gia đình 43
3.7 Đề xuất các biện pháp phù hợp cho công tác quản lý chất thải thực phẩm tại Xã Kiêu Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội 44
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
4.1 Kết luận 46
4.2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 52
Trang 8vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Trái cây và rau quả trong một thùng rác bỏ đi 4
Hình 2 Lượng chất thải thực phẩm phát sinh tại 7 vùng và khu vực trên thế giới năm 2011 8
Hình 3 Lượng rác thải thực phẩm ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1996-2012 10
Hình 4 Chất thải thực phẩm được đổ vào thùng rác 14
Hình 5 Chất thải sinh hoạt được thu gom để đem đi ủ phân 15
Hình 6 Tác động tới kinh tế của các loại thực phẩm bị lãng phí 16
Hình 7 Sự phát triển khí nhà kính của 20 quốc gia và lãng phí thực phẩm 18
Hình 8 Tỷ lệ phát thải khí CO2 của các loại thức ăn 19
Hình 9 Tổng lượng nước sạch tiêu thụ cho các sản phẩm nông nghiệp ở một số quốc gia và lãng phí thực phẩm 20
Hình 10 Tỷ lệ lượng nước mất đi của các loại thức ăn 20
Hình 11 Sơ đồ vị trí xã Kiêu Kỵ 26
Hình 12 Tần suất đi mua thực phẩm tại các địa điểm 30
Hình 13 Lượng thực phẩm thường mua trong một lần mua 31
Hì nh 14 Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khi mua thực phẩm 32
Hì nh 15 Mức độ trong những việc khi đi chợ mua đồ của hộ gia đình 34
Hình 16 Lượng thức ăn nấu mỗi lần của các hộ gia đình 35
Hình 17 Thành phần chất thải thực phẩm thải bỏ hàng ngày tại xã Kiêu Kỵ 36
Hình 18 Lượng chất thải thực phẩm của xã Kiêu Kỵ so với thế giới và các khu vực 37
Hì nh 19 Hình thức xử lý thức ăn thừa tại các hộ gia đình 39
Hình 20 Tần suất thải bỏ thực phẩm khi chưa sử dụng 40
Hình 21 Dụng cụ đựng chất thải thực phẩm 40
Hình 22 Hình thức xử lý, phân loại các loại chất thải thực phẩm phát sinh 41
Hì nh 23 Hình thức tái chế/tái sử dụng chất thải thực phẩm 42
Trang 10ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Nguyên nhân gây ra thất thoát thực phẩm trong chuỗi cung ứng 7
B ảng 2 Tỷ lệ các loại thực phẩm lãng phí ở Mỹ 10 Bảng 3 Mô tả các biến và mã hóa biến số trong mô hình hồi quy tuyến tính
đa biến 24 Bảng 4 Đặc điểm của người trả lời 29
B ảng 5 Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 37
Trang 11đe dọa an ninh lương thực trên toàn cầu mà còn là nguồn gốc của nhiều vấn đề liên quan đến môi trường như ô nhiễm và gia tăng khí nhà kính trong bầu khí quyển Lượng thực phẩm lãng phí từ hộ gia đình của các nước Châu Âu và Bắc Mĩ rất lớn, vào khoảng 95-115 kg/người/năm (World Bank, 2019) Vì vậy, việc giảm thiểu lượng lãng phí thực phẩm trong hộ gia đình và chất thải thực phẩm từ thức ăn thừa được coi
là một chính sách quan trọng của các nước như Anh, Mĩ, Nhật và nhiều quốc gia khác Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tỷ lệ lãng phí thực phẩm trong các
hộ gia đình tuy thấp, nhưng cùng với xu hướng phát triển, trong tương lai gần, vấn đề
này sớm sẽ trở thành áp lực cho xã hội (World Bank, 2019)
Việt Nam là một trong những nền kinh tế mới nổi năng động nhất ở khu vực Đông Nam Á, với tốc độ tăng dân số đáng kể (từ 61,1 triệu năm 1986 lên 94,7 triệu người năm 2018 và dự báo tăng lên 120 triệu người vào năm 2050) đi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh (GDP bình quân đầu người tăng 2,7 lần từ năm 2002 đến năm 2018) Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh (tăng
từ 29% năm 2008 lên 38,4% năm 2018) đi kèm với đó là sự gia tăng của số lượng tầng lớp trung lưu thành thị (tăng từ 7,7% năm 2014 lên 13,3% vào năm 2016) và
sự phát triển nhanh chóng của hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, cũng như du lịch
Tổng doanh thu du lịch tăng hơn ba lần từ 200 nghìn tỷ đồng năm 2013 lên 637 nghìn tỷ đồng năm 2018 Những phát triển này dẫn đến việc tiêu thụ ngày càng nhiều thực phẩm, hàng hóa khác cùng với đó là sự giá tăng lượng chất thải thực phẩm phát sinh (World Bank, 2019; Tổng cục thống kê, 2019)
Trang 122
Hà Nội, thủ đô của Việt Nam, là một trong những thành phố sôi động nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, dự kiến sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới Thành phố đang phải đối mặt với một số thách thức trong quản lý chất thải rắn khi nhận thấy sự gia tăng phát sinh chất thải rắn
về số lượng, chủng loại và mức độ độc hại Thành phố thải ra 8629 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày (3.149.723 tấn/năm), và lượng chất thải rắn đô thị (MSW) bình quân đầu người phát sinh hàng ngày là 1,1 kg/người/ngày (World Bank, 2018) Chất thải này được thải ra từ các nguồn của thành phố, bao gồm các hộ gia đình, nhà hàng, chợ và doanh nghiệp Tỷ lệ gia tăng chất thải thực phẩm phát sinh ở Hà Nội trung bình tăng 5% mỗi năm do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế (World Bank, 2018) Ước tính đến năm 2030, hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại Hà Nội sẽ đạt 1,72 kg/người/ngày (World Bank, 2018) Trong khi đó, hơn 80% chất thải rắn sinh hoạt được chôn lấp, góp phần làm tăng phát thải khí nhà kính (GHGs)
Thành phố hiện đang phải đối mặt với một loạt thách thức liên quan đến tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và tính bền vững trong nông nghiệp và hệ thống lương thực, bao gồm an ninh lương thực, an toàn thực phẩm và chất thải thực phẩm, cũng như quản lý chất thải và cải thiện chất lượng cuộc sống, bao gồm cả khu vực ngoại thành
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng phát sinh và công tác quản lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình tại Xã Kiêu Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội” nhằm quản lý và cải thiện chất lượng môi trường tại địa phương nơi tôi sinh sống
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng phát sinh và công tác quản lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình tại Xã Kiêu Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
Trang 133
Đánh giá công tác quản lý chất thải thực phẩm trên địa bàn xã Kiêu Kỵ
Đề xuất các giải pháp phù hợp cho công tác quản lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình trên địa bàn
Trang 15• Hao hụt thực phẩm (food loss): là sự giảm sút về số lượng hoặc chất lượng
của thực phẩm Hao hụt thực phẩm xuất hiện trong các giai đoạn sản xuất và phân phối của chuỗi cung ứng thực phẩm chủ yếu là một chức năng của hệ thống sản xuất và
cung ứng thực phẩm hoặc khuôn khổ thể chế và pháp lý của hệ thống này
• Thực phẩm thừa (một thành phần của sự hao hụt thực phẩm): là loại thực
phẩm bất kỳ bị loại bỏ khỏi chuỗi cung ứng thực phẩm đã hoặc đang ở một thời điểm nào đó phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của con người, hoặc đã hư hỏng hoặc hết hạn sử
dụng, chủ yếu do hành vi kinh tế, quản lý kho kém hoặc sự bỏ mặc
Các thành phần quan trọng của định nghĩa hao hụt thực phẩm bao gồm:
• Lãng phí thực phẩm (food waste) là một phần của hao hụt thực phẩm, nhưng sự phân biệt giữa hao hụt thực phẩm và lãng phí thực phẩm không được xác định rõ ràng
• Thực phẩm được chuyển hướng đến chuỗi không phải là chuỗi thực phẩm (bao gồm thức ăn chăn nuôi, phân bón hoặc thu hồi thành năng lượng sinh học) được tính là thất thoát hoặc lãng phí thực phẩm
• Thực vật và động vật được sản xuất để làm thực phẩm có chứa “các bộ phận ăn được” sẽ không được bao gồm trong “thất thoát và lãng phí thực phẩm” (những phần không ăn được này đôi khi được gọi là “chất thải thực phẩm không thể tránh khỏi”)
Liên minh Châu Âu
Ở Liên minh Châu Âu, chất thải thực phẩm được định nghĩa là “bất kỳ thực phẩm nào, sống hoặc chín, bị loại bỏ, hoặc dự định hoặc bắt buộc loại bỏ Từ những năm 1975 đến năm 2000 khi chỉ thị cũ bị bãi bỏ bởi Chỉ thị 2008/98/EC, thì không có định nghĩa cụ thể về chất thải thực phẩm (Defra, 2009; EUR-Lex, 1975) Chỉ thị
Trang 16Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ định nghĩa chất thải thực phẩm ở Hoa Kỳ
là “chất thải từ chế biến thực phẩm và thức ăn thừa từ các khu dân cư và cơ sở thương mại như cửa hàng tạp hóa, nhà hàng và quầy sản xuất, nhà ăn và nhà bếp của cơ quan
và các nguồn công nghiệp như phòng ăn trưa của nhân viên” Các bang tại Hoa Kỳ cũng có thể đưa ra định nghĩa chất thải thực phẩm theo các danh mục khác nhau của
họ Theo Hội đồng Phòng vệ Tài nguyên Thiên nhiên, người Mỹ vứt bỏ tới 40% thực
phẩm vẫn còn an toàn để ăn (Gunders, 2012)
Các định nghĩa khác
Các định nghĩa của Liên hợp quốc và EU đã bị chỉ trích vì đưa thực phẩm được
sử dụng vào mục đích phi thực phẩm vào định nghĩa của họ về chất thải thực phẩm Theo các tác giả của một nghiên cứu (Bellemare & cs., 2017), điều này là sai sót vì hai
lý do: “Thứ nhất, nếu thực phẩm thu hồi được sử dụng làm đầu vào, chẳng hạn như thức ăn chăn nuôi, phân bón hoặc sinh khối để tạo ra đầu ra, thì theo định nghĩa, nó không bị lãng phí Tuy nhiên, có thể có thiệt hại về kinh tế nếu chi phí thực phẩm thu hồi cao hơn chi phí đầu vào trung bình trong cách tái sử dụng với mục đích thay thế, phi thực phẩm Thứ hai, định nghĩa này tạo ra các vấn đề thực tế cho việc đo lường chất thải thực phẩm bởi vì việc đo lường đòi hỏi phải theo dõi sự thất thoát thực phẩm trong mọi giai đoạn của chuỗi cung ứng và tỷ lệ của nó đổ vào mục đích sử dụng phi thực phẩm.” Các tác giả của nghiên cứu lập luận rằng chỉ những thực phẩm cuối cùng
ở các bãi chôn lấp mới được coi là chất thải thực phẩm
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm tại hộ gia đình
1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm tại hộ gia đình
Theo số liệu báo cáo của tổ chức Nông-Lương Liên Hợp Quốc (FAO) năm
2012, mỗi năm thế giới sản xuất ra khoảng 4 tỷ tấn thực phẩm, thì có đến 1,3 tỷ tấn thực phẩm (khoảng 30%-40%) với giá trị khoảng 1 nghìn tỷ USD bị mất mát (food loss) và lãng phí (food waste) Phần lớn chúng trở thành rác thải tại các bãi chôn lấp
Trang 177
Thực trạng đáng buồn hiện nay là trên thế giới vẫn có khoảng 830 triệu người đói Lượng thực phẩm bị mất mát và lãng phí xảy ra trong toàn bộ vòng đời (chuỗi cung ứng thực phẩm) từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, đóng gói, vận chuyển, phân phối, bán lẻ đến giai đoạn tiêu thụ
Theo FAO (2012) chất thải từ thức ăn thừa phát sinh chủ yếu ở giai đoạn tiêu thụ khoảng 35% cao gần gấp 3 so với 12% ở giai đoạn bán lẻ Trong đó thì tại các nước phát triển, chất thải từ thức ăn thừa phát sinh ở giai đoạn bán lẻ và tiêu thụ là nhiều nhất khoảng 33% cao gấp đôi so với 14% ở các nước đang phát triển
B ảng 1 Nguyên nhân gây ra thất thoát thực phẩm trong chuỗi cung ứng
Sản xuất Trong hoặc ngay sau khi thu
hoạch từ các trang trại, khu vườn, cánh đồng
Rau quả các loại sau khi chọn lựa do không đáp ứng tiêu chuẩn (vết sẹo, sứt sẹo do chim hoặc các loài gặm nhấm, thâm nám, dị dạng bị thải bỏ đi)
Lưu trữ và
xử lý
Sau khi sản phẩm rời khỏi trang trại, vận chuyển, lưu trữ
Thực phẩm bị sâu ăn hay bầm tím, sứt sẹo do quá trình vận chuyển, bảo quản không đúng kỹ thuật bị thải bỏ ra
Chế biến
và đóng
gói
Trong quá trình chế biến quy
mô công nghiệp hoặc hộ gia đình, công đoạn đóng gói sản phẩm
Phần trái cây, ngũ cốc dùng được nhưgn
bị loại ra vì được cho là không thích hợp cho chế biến
Sản phẩm dùng được nhưng bị loại bỏ
do yêu cầu khắt khe của khách hàng Sản phẩm hết hạn trước khi được mua, sản phẩm bị bỏ đi do giá trị quá thấp, vv
Tiêu thụ Lãng phí của người tiêu
dùng (nhà hàng, hộ gia đình, )
Sản phẩm ăn được bị loại do yêu cầu chất lượng quá cao Thực phẩm được mua, nấu nhưng không dùng
Nguồn: FAO (2012)
Trang 188
Nguyên nhân của sự lãng phí này là do các nước đang phát triển tại các khu vực như: Nam Á và Đông Nam Á, Châu Phi, Sahara, gặp nhiều hạn chế về tài chính, khả năng quản lý và kỹ thuật trong việc thu hoạch, bảo quản thực phẩm cũng như điều kiện khí hậu, cơ sở hạ tầng, đóng gói và tiếp thị còn nhiều khó khăn Trong khi đó tại những nước phát triển ở các khu vực như: Bắc Mỹ, Châu Âu, các nước công nghiệp phát triển của Châu Á lãng phí thực phẩm lại rơi vào giai đoạn bán lẻ và tiêu dùng với
số lượng lớn lượng lương thực bị lãng phí bởi nhà bán lẻ do hoạt động không hiệu quả hay người tiêu dùng quá chú ý đến hình thức và sự nhầm lẫn ngày trên nhãn mác nên nhanh chóng vứt bỏ thực phẩm ăn được do mua quá nhiều, lưu trữ bảo quản không hiệu quả (Gustavson & cs, 2011) Theo Chương trình “Hành động vì rác thải và nguồn tài nguyên” (WRAP) của Anh dự đoán, nếu như các quốc gia trên thế giới không có những biện pháp phòng ngừa cũng như cùng chung tay để làm giảm lượng thực phẩm
bị mất hay giảm lượng chất thải từ thức ăn thừa thì thực phẩm mất mát và lãng phí có nguy cơ tăng 40% vào năm 2020 Điều này sẽ làm cho lượng chất thải từ thức ăn thừa bình quân trên đầu người tăng lên đến 179 kg/người mỗi năm Xét trên quy mô toàn cầu, thực phẩm bị lãng phí hay chất thải từ thức ăn thừa có mặt ở hầu hết các quốc gia Lượng chất thải từ thức ăn thừa phát sinh do người tiêu dùng tại các khu vực trên thế giới cũng có sự khác nhau và phân cấp một cách rõ rệt Hình 2 cho thấy lượng chất thải thực phẩm thừa theo đầu người từ 7 vùng, khu vực trên thế giới (FAO, 2011)
Hình 2 Lượng chất thải thực phẩm phát sinh tại 7 vùng và khu vực trên thế giới năm
2011
Trang 199
Nguồn: Gustavson & cs., (2011)
Lượng chất thải thực phẩm từ thức ăn thừa tính theo đầu người cao nhất ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Canada, Úc và New Zealand (110 kg/người/năm), gấp gần 14 lần so với của người tiêu dùng ở những nước nghèo ở tiểu vùng cận Sahara - Châu Phi nơi có lượng chất thải từ thức ăn thừa thấp nhất (8 kg/người/năm) Lượng chất thải thực phẩm phát sinh bình quân theo đầu người ở các nước phát triển cũng cao hơn nhiều so với các khu vực Mỹ Latin, Nam Á và Đông Nam Á, những nơi có lượng chất thải lần lượt khoảng 25 kg/người/năm và 15 kg/người/năm Trong khi đó các nước Châu Âu, Trung Quốc cũng có lượng chất thải thực phẩm tương đối cao lần lượt
là 90 kg/người/năm và 80 kg/người/năm
Khi đánh giá hiện trạng lãng phí thực phẩm của các quốc gia, Mỹ được coi là nước có lượng phát sinh chất thải từ thức ăn thừa cao nhất thế giới trong những năm qua Thói quen lãng phí thức ăn đã trở thành “thói quen văn hóa của người Mỹ, khi mà mỗi năm có khoảng 35 triệu tấn thực phẩm, chiếm từ 30%-40% nguồn cung thực phẩm ở nước này bị vứt bỏ, phần lớn trở thành rác thải tại quốc gia này, trong khi đó chỉ có khoảng 3% lượng thức ăn bị bỏ đi được tận dụng làm ủ phân compost Điều này làm Mỹ thiệt hại hơn 161 tỷ USD mỗi năm Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ phần lớn thành phần chất thải từ thức ăn thừa là trái cây và rau củ bị bỏ đi từ các hộ gia đình, nhà hàng, siêu thị và các của hàng (Buzby & cs., 2014) Trung bình mỗi năm, người
Mỹ bỏ đi khoảng 25% thực phẩm mà họ mua, ước tính chi phí cho gia đình 4 người trung bình là từ 1,365 USD đến 2.275 USD Trong đó, thực phẩm bị vứt đi bỏ, lãng phí nhiều nhất là rau, ước tính khoảng 8,2 triệu tấn và nhóm thịt, cá khoảng 5,7 triệu tấn thực phẩm với cùng mức lãng phí 22% so với tổng thực phẩm sản xuất được ở các loại thực phẩm đó Nhóm thực phẩm về hạt (điều, dẻ, đậu phộng) có lượng thực phẩm lãng phí ít nhất khoảng 0,13 triệu tấn
Trang 2010
B ảng 2 Tỷ lệ các loại thực phẩm lãng phí ở Mỹ
STT Loại thực phẩm
Tổng nguồn thực phẩm (triệu tấn)
Ng ười tiêu dùng lãng phí (triệu tấn)
Tỷ lệ thực phẩm lãng phí so với ban đầu (%)
Nguồn: Buzby & cs, (2014)
Chất thải từ thức ăn thừa ở Mỹ có xu hướng tăng nhanh từ những năm 60 của thế kỷ XX cho đến nay Cụ thể thực phẩm bị bỏ đi khoảng 12,2 triệu tấn năm 1960 tăng lên khoảng 35 triệu tấn với giá trị khoảng 180 tỷ USD vào năm 2012 (Hình 3)
Hình 3 Lượng rác thải thực phẩm ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1996-2012
Bên cạnh Mỹ, tại Anh, Pháp, Nhật và một số quốc gia phát triển khác, lãng phí thực phẩm cũng xảy ra rất mạnh mẽ Theo một báo cáo ở Anh có tới 7 triệu tấn lương thực, trị giá hơn 10 tỷ bảng Anh trở thành chất thải từ thức ăn thừa do các hộ gia đình, siêu thị, cửa hàng lãng phí mỗi năm Cũng theo báo cáo này cho biết có đến ¾ các loại
Trang 2111
rau trồng ở Anh bị “lãng phí” tại các siêu thị chỉ vì mẫu mã sản phẩm không đẹp Tác giả của báo cáo, Tiến sĩ Tim Fox, người đứng đầu của Cơ quan năng lượng và môi trường (IME) cho biết, một hộ gia đình ở Anh trung bình bỏ đi lượng thực phẩm có giá trị tương đương khoảng 24.000 bảng Anh Trong đó, bánh mì, khoai tây và bơ sữa là 3 loại thực phẩm lãng phí hàng đầu bởi người tiêu dùng nước này Nhật là một quốc gia phải nhập tới 60% lương thực từ nước ngoài, nhưng nước này lại là một trong số những nước lãng phí nhiều thức ăn nhất Chỉ tính riêng tại thủ đô Tokyo đã lãng phí 6.000 tấn thức ăn/ngày, lượng thực phẩm đủ cung cấp cho 4,5 triệu người ăn trong thời gian tương ứng Theo ước tính chính thức năm 2007, các nhà hàng ăn uống ở Nhật Bản hủy bỏ 3,05 triệu tấn thức ăn thừa của khách Nếu tính cả số thực phẩm bỏ phí của các xí nghiệp chế biến và cửa hàng phân phối thì số lương thực – thực phẩm lãng phí năm 2007 lên tới 11,34 triệu tấn
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh chất thải thực phẩm từ hộ gia đình
• Số nhân khẩu trong gia đình
Trong nghiên cứu theo chương trình Worldwide Responsible Accredited Production – là tên của Tổ chức công nhận trách nhiệm xã hội trong sản xuất toàn cầu tại Anh cho thấy, những người trong hộ gia đình có 1 nhân khẩu lãng phí thức ăn thừa gần như gấp đôi so với các hộ gia đình có 2 nhân khẩu, và những hộ gia đình có nhiều nhân khẩu hơn thì lãng phí nhiều thức ăn thừa so với những hộ gia đình có ít nhân khẩu (trừ hộ gia đình có 1 nhân khẩu) Còn tại Việt Nam, các hộ có số nhân khẩu ít thì lượng chất thải thực phẩm phát sinh trong gia đình sẽ ít hơn các hộ có số nhân khẩu cao
• Thói quen hằng ngày
Thói quen hằng ngày là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới lượng thức ăn thừa Trước khi mua sắm, nếu người tiêu dùng lập kế hoạch cho các bữa ăn và chuẩn
bị một danh sách những thực phẩm cần mua thì sẽ giảm thiểu được đáng kể việc mua những thực phẩm không cần thiết Các kế hoạch cho mua sắm khiến người tiêu dùng mua ít hơn, hợp lý hơn và bỏ qua các quảng cáo từ các nhà hàng hay siêu thị với các món đồ hấp dẫn Theo Wansink and Chandon (2006) hầu hết người tiêu dùng vẫn nhớ được những thực phẩm còn lại ở trong bếp nhà mình nhưng do sự thiếu chuẩn bị danh
Trang 2212
sách những thực phẩm cần mua có thể dẫn đến việc mua những thực phẩm không cần thiết mà cuối cùng không được tiêu thụ Ngoài ra, các siêu thị và các cửa hàng tạp hóa luôn có những thông điệp quảng cáo tích cực với những chương trình khuyến mại hoặc giảm giá Do đó, người tiêu dùng thường mua khối lượng thực phẩm lớn hơn so với nhu cầu thực tế của gia đình mình
Không chỉ vậy, tần suất đi chợ mua sắm cũng có ảnh hưởng tới lượng chất thải rắn từ thực phẩm Theo Brook Lyndhurst (2010) những hộ gia đình có thói quen đi mua thực phẩm dùng trong 1 tuần hoặc cho thời gian dài hơn sẽ gây lãng phí thực phẩm nhiều hơn Trạng thái đói của người tiêu dùng là một trong những nhân tố tác động đến quyết định mua Một người đi mua sắm vơi cái dạ dày trống rỗng sẽ mua nhiều thức ăn dư thừa hơn do sự sai lệch về dự báo., Gilbert & cs (1998) đã tiến hành một nghiên cứu, trong đó ông hỏi một số người mua hàng đã ăn một chút bánh trước khi họ đi mua sắm Kết quả cho thấy số người được ăn đó ít đói hơn và mua các mặt hàng ít hơn 17% so với những người không ăn bánh trước đó
Nấu ăn và lưu trữ cũng có ảnh hưởng đến lượng chất thải từ thức ăn thừa Người tiêu dùng Anh thừa nhận rằng họ thường nấu ăn và chuẩn bị thức ăn nhiều hơn nhu cầu của gia đình họ Ngoài ra, thói quen mua sắm không phù hợp dẫn đến mua hàng thực phẩm quá mức cũng ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của việc nấu ăn và chuẩn
bị thức ăn
Bảo quản thực phẩm cũng là một khía cạnh đáng được quan tâm Theo Brook Lyndhurst (2010) cho biết: dung tích của tủ lạnh tương quan với lượng chất thải thực phẩm Người tiêu dùng sử dụng tủ lạnh có dung tích lớn hơn có xu hướng gây lãng phí hơn (32%) so với những tủ lạnh có dung tích thấp (27%) Điều này, có thể được giải thích rằng người tiêu dùng có tủ lạnh dung tích lớn hơn không kiểm soát được hết thực phẩm ở trong tủ lạnh, như vậy họ sẽ hay bỏ qua hoặc quên một số thực phẩm
• Một số nhân tố khác
Chất thải từ thức ăn thừa có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khác nhau như:
đô thị hóa, khác biệt về văn hóa và lối sống, chuẩn mực xã hội và đạo đức, chế độ ăn kiêng, Salhofer & cs (2007) cho thấy rằng các hộ gia đình ở khu vực nông thôn ít lãng phí hơn so với những hộ gia đình ở thành thị Ngoài ra, chất thải từ thức ăn thừa
Trang 231.3 Hiện trạng công tác quản lý chất thải thực phẩm
1.3.1 Trên thế giới
Ngày nay những thiệt hại về môi trường, xã hội và kinh tế do chất thải thực phẩm khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại 2,6 nghìn tỷ USD Các tác động môi trường xảy ra từ cả quan điểm sản xuất thực phẩm và quản lý chất thải thực phẩm Giai đoạn sản xuất yêu cầu 250000 m3 nước và 1,4 tỷ ha đất với khoảng 30% diện tích đất nông nghiệp được sử dụng để sản xuất lương thực Thực phẩm thất thoát và lãng phí cũng thải ra 4,4 Gt CO2eq khí nhà kính, chiếm 8% tổng lượng phát sinh chất thải khí nhà kính do con người gây ra hàng năm Chính vì những thiệt hại mà chất thải thực phẩm gây ra như vậy mà hiện nay các nước trên thế giới đang có những cách quản lý chất thải thực phẩm khác nhau (Papargyropoulou & cs, 2014)
Đi đầu trong cuộc chiến chống chất thải thực phẩm không thể không nhắc đến Pháp Hiện nay ở Pháp đang áp dụng lệnh cấm các siêu thị vứt bỏ thức ăn không qua
sử dụng mà thay thế vào đó là mang đi ủng hộ các tổ chức từ thiện Quy định trên có hiệu lực với tất cả các siêu thị có diện tích trên 400m2 và các nhà chức trách sẽ phải áp dụng mức phát lên tới 3.750 Euro nếu vi phạm (Reardon and Hopkins, 2006)
Tại Vương quốc Anh, các nhà công nghệ đã phát minh ra thiết bị Winnow Vision giúp thu thập kết quả đo khối lượng các thùng đựng rác thải thực phẩm và thông tin từ nhân viên nhà bếp về loại thức ăn đã vứt bỏ Sau đó, thuật toán phân tích
dữ liệu tiến hành đánh giá lượng thực phẩm đã bị lãng phí, trên cả phương diện chi phí
Trang 2414
và tác động đối với môi trường Các đầu bếp có thể sử dụng kết quả phân tích, để tính đến thực đơn của nhà hàng để điều hành hoạt động một cách hiệu quả hơn Điều này cho phép các nhà hàng cắt giảm từ 40 - 70% lượng thực phẩm bị bỏ phí (Martindale, 2014)
Và một trong những thành công nhất ở Anh là chiến dịch "Yêu thực phẩm ghét chất thải' được điều hành bởi WRAP, một công ty tư nhân phi lợi nhuận được tài trợ bởi các chính phủ trên khắp Vương quốc Anh và châu Âu Với mục đích cung cấp cho người tiêu dùng các công cụ để giảm thiểu chất thải, WRAP làm việc với nhiều đối tác, chẳng hạn như các nhà bán lẻ và doanh nghiệp tư nhân của Vương quốc Anh, chính quyền địa phương và cộng đồng (ADB, 2013) Kể từ khi được phát động vào năm 2007, chiến dịch tuyên bố đã tiếp cận được với hai triệu
hộ gia đình trong hai năm và giúp họ giảm thiểu rác thải, do đó ngăn chặn được 137.000 tấn rác thải thực phẩm (ADB, 2013)
Hình 4 Chất thải thực phẩm được đổ vào thùng rác
Gần đây hơn, chiến dịch LFHW ở Tây London đã góp phần giảm 14% lượng rác thải thực phẩm có thể tránh được ở cấp hộ gia đình, trong sáu tháng (từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013) WRAP đã đạt được mức giảm 13% chất thải thực phẩm hộ gia đình trên toàn quốc trong giai đoạn 2007-2011, thông qua các chiến dịch công cộng, nghiên cứu chuyên sâu và các dịch vụ nhằm tái chế, giảm thiểu và tái sử dụng chất thải thực phẩm (ADB, 2013)
Trang 2515
1.3.2 Tại Việt Nam
Việt Nam đã có một hành trình vượt bậc từ thu nhập thấp lên trung bình trong
ba thập kỷ qua Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng này cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong mô hình sản xuất và tiêu
dùng, cũng như mang lại những thay đổi về lối sống, phù hợp với xu hướng tiêu dùng gia tăng và những thói quen thay đổi liên quan đến ăn uống Kết quả là lượng rác thải
đô thị và rác thải thực phẩm phát sinh trên đầu người đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là ở các thành phố lớn và đang phát triển nhanh chóng Điều này đang có tác động bất lợi đến môi trường và tài sản tự nhiên Theo báo cáo, chất thải thực phẩm chiếm khoảng 50-60% (hoặc nhiều hơn ở một số thành phố) trong tổng số chất thải rắn được tạo ra ở các khu vực đô thị, và chất thải này cuối cùng sẽ được xử lý tại các bãi chôn lấp Nghiên cứu hiện tại về vấn đề chất thải thực phẩm ở Việt Nam chủ yếu là quản lý chất thải Có một số phương án quản lý chất thải được xác định, chẳng hạn như cho gia súc
ăn, ủ phân, đốt và chôn lấp Tận dụng chất thải thực phẩm làm thức ăn chăn nuôi được coi là một trong những cách chính để quản lý chất thải thực phẩm ở Việt Nam Tại Thành phố Hồ Chí Minh, có tới 70% tổng lượng thức ăn thừa được sử dụng để làm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, trong các tài liệu hiện có về chất thải thực phẩm ở Việt Nam, người ta ít chú ý đến các yếu tố góp phần tạo ra chất thải thực phẩm ở các giai đoạn khác nhau của chuỗi cung ứng thực phẩm, đặc biệt là trong giai đoạn tiêu dùng
Hình 5 Chất thải sinh hoạt được thu gom để đem đi ủ phân
Trang 2616
Hiện nay có một số quản lý chất thải thực phẩm rất hay như là dự án ngân hàng thực phẩm Việt Nam, các mô hình start-up về chất thải thực phẩm, như mô hình biến rác thành tài nguyên ở Hội An hướng đến phong trào du lịch xanh tại đây họ đã tái chế các thức ăn thừa, lá cây thành nước rửa chén, nước xịt côn trùng và phân hữu cơ bón cho vườn rau (Ms Smile, 2021)
1.4 Các tác động của chất thải thực phẩm
1.4.1 Tác động đến kinh tế
Chi phí kinh tế của lãng phí thực phẩm dựa trên giá cả của năm 2007 lấy từ cơ
sở dữ liệu của FAO PricesSTAT bao gồm giá của khoảng 180 sản phẩm nông nghiệp
từ hơn 100 quốc gia Các dữ liệu có sẵn là giá cả sản phẩm trong giai đoạn sản xuất tại các hệ thống nông nghiệp (cổng trang trại, thể hiện bằng USD/tấn) Do thiếu dữ liệu về giá cả, chi phí kinh tế cho cá và thủy sản đã không được tính đến
Theo FAO (2007), số tiền lãng phí thực phẩm của thế giới trong năm 2007 đạt khoảng 750 tỷ USD Số tiền này gần bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Thổ Nhĩ
Kỳ hoặc Thụy Sỹ trong năm 2011 Trong khi đó số liệu của WRAP lại chỉ ra rằng chất thải thực phẩm gây lãng phí mỗi hộ từ 250 USD – 400 USD một năm Con số này không bao gồm các chi phí xử lý như thu gom rác, xử lý rác cho các hộ gia đình Trong lĩnh vực khách sạn và nhà hàng, chi phí chất thải từ thức ăn thừa phát sinh từ các bữa ăn tồn và chi phí xử lý là 3,5 tỷ USD/năm, tương đương với 1,3 tỷ bữa ăn
Hình 6 Tác động tới kinh tế của các loại thực phẩm bị lãng phí
Nguồn: FAO, (2014)
Trang 27Ở một số địa phương của Anh, chính quyền thu gom được 4,6 triệu tấn chất thải
từ thức ăn và nước uống mỗi năm trị giá khoảng 7,5 tỷ USD và họ ước tính chi phí xử
lý cho chúng lên đến 150 – 200 triệu USD mỗi năm Chi phí này thay đổi tùy theo điều kiện xử lý và có thể có giá lên đến 390 triệu USD nếu mang đi chôn lấp Nếu có khoảng 2,8 triệu tấn chất thải từ thức ăn thừa được giảm thiểu thì có thể tiết kiệm cho
xử lý từ 80 triệu đến 270 triệu USD mỗi năm (FAO, 2013)
Ở Trung Quốc, chất thải từ thức ăn thừa được ước tính tiêu tốn 32 tỷ USD trong nền kinh tế Trung Quốc Còn tại Hoa Kỳ, người ta ước tính rằng có 48,3 tỷ USD mất đi mỗi năm vào chất thải thực phẩm (FAO, 2013) Ở Úc, mỗi năm mất khoảng 5,2 tỷ USD cho thức ăn thừa, nhiều hơn cả ngân sách chi tiêu cho quốc phòng của nước này năm 2012
Từ những số liệu ở trên đưa ra, ta thấy được chất thỉa từ thức ăn thừa đã gây thiệt hại không hề nhỏ tới kinh tế của các nước trên thế giới, bao gồm chi phí để sản xuất ra thực phẩm mà không được sử dụng và chi phí bỏ ra để thu gom và xử chất thải
1.4.2 Tác động đến môi trường
Lãng phí thực phẩm không chỉ đem đến những tác động tiêu cực tới nền kinh tế
mà còn gây tác động nghiêm trọng tới môi trường Lượng nước được sử dụng để tạo ra những thực phẩm mà chúng ta bỏ đi lớn hơn của lượng nước được sử dụng bởi bất kỳ một quốc gia nào Không chỉ vậy, lượng khí nhà kính được phát thải ra cũng là con số đáng để quan tâm
Trang 2818
• CO2
CO2 là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất Nhưng với nồng độ cao trong khí quyển, CO2 gây ảnh hưởng đến môi trường, gây gia tăng hiệu ứng nhà kính và có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người
Những thực phẩm bị bỏ đi khi phân hủy cũng tạo ra một lượng CO2 đáng kể, ước tính của cả thế giới đạt 3,3 tỷ tấn CO2 tương đương Con số đó chưa bao gồm năng lượng được dùng để sản xuất lương thực, thực phẩm mà chúng ta không bao giờ
ăn, bao gồm cả nhiên liệu cho những chiếc máy kéo được sử dụng cho việc trồng trọt
và thu hoạch, năng lượng dùng cho các thiết bị đóng gói
Tổng cộng, lượng phát thải CO2 từ lãng phí thực phẩm nhiều hơn 2 lần so với lượng phát thải từ tất cả các loại ô tô và xe tải ở Hoa Kỳ Nhìn theo một cách khác, nếu coi bản thân lãng phí thực phẩm là một quốc gia thì đó sẽ là nước phát thải khí nhà kính lớn thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc và Hoa Kỳ (WRI, 2012)
Hình 7 Sự phát triển khí nhà kính của 20 quốc gia và lãng phí thực phẩm
Nguồn: FAO (2013)
Trang 2919
Ta thấy được ngũ cốc là loại thức ăn tạo ra nhiều khí nhà kính nhất (34%), tiếp sau đó là thịt với 21% (Hình 8) Các sản phẩm từ tinh bột và các loại đậu là 2 nhóm thức ăn phát thải CO2 ít nhất, lần lượt là 5% và 1%
Hình 8 Tỷ lệ phát thải khí CO 2 của các loại thức ăn
do lãng phí thực phẩm là sự tiêu thụ nước của quốc gia thì quốc gia đó có lượng tiêu
thụ nước lớn nhất (Hình 9) Và lượng nước này tập trung vào lượng nước được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Trang 30nước thì lãng phí thực phẩm còn làm tăng hàm lượng những khí nhà kính khác ở trong khí quyển như: CH4, O3 và ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học
Hình 10 Tỷ lệ lượng nước mất đi của các loại thức ăn
Nguồn: FAO (2013)
Trang 3121
1.4.3 Tác động đến xã hội
Trong khi nhiều nơi trên thế giới đang lãng phí thực phẩm thì phần còn lại của
thế giới đang bị nạn đói bao vây và bị đẩy tới bờ vực sống – chết Theo thống kê của FAO (2012), trên hành tinh có khoảng 842 triệu người đang chịu cảnh sống trong đói nghèo, không có đủ thức ăn Châu Phi chính là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi nạn đói Theo thông tin từ Liên Hợp Quốc, năm 2011 có khoảng 12 triệu người đã
bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng lương thực tại vùng Sừng Châu Phi (bao gồm các nước như Somalia, Kenya, Ethiopia, Djibouti, ) với tỉ lệ người suy dinh dưỡng và trẻ
em tử vong cao đáng kinh ngạc Nguyên nhân là do nạn hạn hán tồi tệ nhất trong 60 năm trở lại đây ở khu vực Châu Phi diễn ra trước đó Somalia là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Mỗi ngày có khoảng 4.000 người buộc phải di dời khỏi đất nước này và trở thành người tị nạn ở Kenya và Ethiopia Từ tháng 6 năm 2010, số người trên thế giới sống dưới mức nghèo khổ (dưới 26.000 VNĐ/ngày) đã tăng lên 44 triệu người Giá cả lương thực, thực phẩm cao đã kích động nhiều cuộc biểu tình ở Bắc Phi và Trung Đông Đây là kết quả tất yếu của việc thiếu lương thực thực phẩm nghiên trọng gây nên
Nguy hiểm hơn, đối với mỗi cá nhân, không đủ thức ăn là nguyên nhân khiến
cơ thể suy kiệt, mất dần sức đề kháng chống chọi với bệnh tật Mỗi năm, khoảng 8 triệu người chết vì các căn bệnh như AIDS, lao, phong, trong đó suy dinh dưỡng và cái đói cũng góp phần không hề nhỏ Nghị viện Châu Âu đã lấy năm 2014 là “Năm Châu Âu chống lãng phí thực phẩm” và quyết tâm giảm 50% lượng thức ăn thừa vào năm 2020 Quãng đường vận chuyển thức ăn từ trang trại tới bàn ăn qua rất nhiều công đoạn kém hiệu quả trong khi chúng ta có thể cải thiện các khâu này mà không tốn mất công sức và con người cần phải làm điều đó Lãng phí thức ăn chính là tiếp tay giết chết đồng loại Chúng ta hãy sống sao cho người khác cùng sống, cần biết tiết kiệm và trân trọng những gì mình đang có
Trang 3222
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải thực phẩm phát sinh từ hộ gia đình tại Xã Kiêu Kỵ - Huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: 09/03/2022 – 01/08/2022
- Phạm vi không gian: Xã Kiêu Kỵ - Huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội Xã Kiêu Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
- Hiện trạng phát sinh thành phần chất thải thực phẩm từ hộ gia đình tại Xã Kiêu
Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh chất thải từ hộ gia đình trên địa bàn xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Hiện trạng công tác quản lý chất thải thực phẩm phát sinh từ hộ gia đình tại Xã
xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Các giải pháp phù hợp cho công tác quản lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình trên địa bàn xã
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập tài liệu thứ cấp tại UBND xã cùng với các nguồn tài liệu có sẵn như sách báo, các đề tài nghiên cứu, tài liệu trong thư viện, mạng internet,
2.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Bằng trực quan tiến hành khảo sát tại một số địa điểm thu gom, vận chuyển để nắm được thông tin:
- Phương pháp thu gom, hình thức vận chuyển
- Tình trạng môi trường tại khu vực khảo sát
- Ý thức của người dân trong việc phân loại và thu gom rác
Phát phiếu điều tra, túi thu rác cho từng hộ gia đình để thu thập về khối lượng và phân loại rác (chất thải nấu nướng, thức ăn thừa, thực phẩm thải bỏ do bị hư hỏng, )
Trang 3323
2.4.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Tiến hành thiết kế phiếu phỏng vấn đối với hộ gia đình để điều tra các thông tin:
- Thông tin chung về hộ gia đình
- Thói quen sinh hoạt liên quan đến hoạt động mua, chế biến thực phẩm
- Thông tin về lượng chất thải thực phẩm phát sinh, cách thức phân loại, xử lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình
- Thông tin về nhận thức của người dân đối với vấn đề chất thải thực phẩm Tiến hành phỏng vấn: điều tra phỏng vấn 30 hộ gia đình ngẫu nhiên tại Xã Kiêu
Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
2.4.4 Phương pháp xác định hệ số phát sinh chất thải thực phẩm
Nghiên cứu tiến hành thực hiện phương pháp cân rác tại hộ gia đình liên tiếp trong vòng 2 tuần với 14 hộ gia đình Mục đích của phương pháp cân rác này là nhằm xác định hệ số phát sinh và thành phần chất thải thực phẩm phát sinh từ hộ gia đình trên địa bàn xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Tại mỗi hộ gia đình tiến hành đặt 2 túi nilon (1 túi để đựng chất thải nấu nướng, túi còn lại để chất thải thừa sau mỗi bữa ăn) và nhờ các hộ phân loại giúp và bỏ vào các túi Thời gian để túi từ 8h sáng hôm trước tới 8h sáng hôm sau 8h sáng mỗi ngày tiến hành đến từng hộ thu rác, đánh dấu số cho từng hộ và tập kết về một chỗ Sau đó tiến hành phân loại chất thải thực phẩm ra thành từng nhóm nhỏ và tiến hành cân khối lượng chất thải thực phẩm trong từng nhóm đó
2.4.5 Phương pháp ước tính lượng chất thải thực phẩm phát sinh
Lượng chất thải thực phẩm phát sinh trên địa bàn xã được ước tính theo công thức sau:
Trong đó:
- Eps: Lượng chất thải thực phẩm phát sinh
- Ei: Hệ số phát sinh chất thải thực phẩm theo đầu người (kg/người/ngày)
- Fi: Dân số (người)
Trang 3424
2.4.6 Phương pháp mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lượng chất thải thực phẩm phát sinh Biến phụ thuộc là hệ số phát sinh chất thải thực phẩm theo đầu người Các biến độc lập được mô tả trong Bảng 3
B ảng 3 Mô tả các biến và mã hóa biến số trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
1 Thu nhập V1 Mã hóa thu nhập bình quân theo đầu người thành biến
giả với 2 nhóm: thu nhập cao (>5 triệu đồng/tháng), thu nhập trung bình thấp (3-5 triệu đồng/tháng); trong
đó, lấy nhóm thu nhập cao làm tham chiếu so sánh
2 Số nhân khẩu V2 Mã hóa số nhân khẩu thành biến giả với 2 nhóm hộ: cao
(> 4 nhân khẩu) và thấp (<= 4 nhân khẩu); trong đó lấy nhóm hộ có số nhân khẩu cao làm tham chiếu so sánh
một ngày
V3 Mã hóa thành biến giả với 2 nhóm hộ: nhóm thỉnh
thoảng mua đồ đủ dùng cho một ngày và nhóm thường xuyên mua lượng thức ăn đủ cho một ngày; trong đó nhóm thỉnh thoảng mua đủ thức ăn cho một ngày là nhóm tham chiếu so sánh
4 Kiểm tra các thực
phẩm còn trong
nhà trước khi đi
mua
V4 Mã hóa thành biến giả với 2 nhóm hộ: nhóm thường
xuyên và nhóm thỉnh thoảng kiểm tra các thực phẩm còn trong nhà trước khi mua; trong đó nhóm thỉnh thoảng là nhóm tham chiếu so sánh
5 Lên kế hoạch cụ
thể cho các bữa
ăn
V5 Mã hóa thành biến giả với 2 nhóm hộ: nhóm hộ thỉnh
thoảng kế hoạch cụ thể cho bữa ăn và nhóm thường xuyên lên kế hoạch cụ thể cho bữa ăn; trong đó nhóm thỉnh thoảng lên kế hoạch cụ thể cho bữa ăn là nhóm tham chiếu so sánh
6 Cất tủ lạnh để ăn
bữa sau
V6 Mã hóa thành biến giả với 2 nhóm hộ: thường xuyên
và nhóm thỉnh thoảng cất thức ăn thừa vào tủ lạnh để
ăn bữa sau; trong đó nhóm thỉnh thoảng là nhóm tham chiếu so sánh
Trang 35: hệ số hồi quy của biến Vi
Dấu của hệ số được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của biến Vi lên hệ số
phát thải chất thải thực phẩm theo đầu người
2.4.8 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu khi được thu thập thì sẽ tổng hợp lại và được xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel, R,
Trang 3626
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Xã Kiêu Kỵ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Kiêu Kỵ là một xã nằm ở phía Nam của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Việt Nam Xã Kiêu Kỵ có diện tích 5,88 km², dân số năm 2022 là 13.340 người, mật
độ dân số đạt 2.268 người/km2
Hình 11 Sơ đồ vị trí xã Kiêu Kỵ
Ranh giới xã Kiêu Kỵ được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp với xã Dương Xá
- Phía Tây giáp với xã Đa Tốn
- Phía Đông giáp xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Phía Nam giáp với xã Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Xã Kiêu Kỵ gồm các thôn: Trung Dương, Kiêu Kỵ, Gia Cốc, Xuân Thụy, Chu
Xá, Hoàng Xá, Báo Đáp, và 2 khu dân cư: Liên Cơ, Thảm Len
Xã Kiêu Kỵ nằm trên trục đường tỉnh lộ 179, đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng chạy qua xã, đường liên tỉnh từ Bát Tràng đi thị trấn Như Quỳnh chạy qua địa bàn xã, đường trong khu đô thị Vinhomes Ocean Park,
Trang 3727
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Kiêu Kỵ mang đầy đủ những đặc trưng của một vùng châu thổ sông Hồng, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp
Theo tổng điều tra dân số năm 2021, diện tích đất tự nhiên 561 ha và trong đó đất canh tác là 185 ha
Ruộng đất làng Kiêu Kỵ màu mỡ phì nhiêu được bồi đắp bởi con sông Hồng tải nặng phù sa và hai con sông nhỏ là sông Nghĩa Trụ và sông Đào Sông Nghĩa Trụ chảy qua Lê Xá, Phú Thị đến Xuân Cầu, Văn Giang (Hưng Yên) Sông Đào từ Cổ Bi chảy
về hướng đông đến Khương Tự nối với sông Nghĩa Trụ ở Xuân Áng
Ruộng đất Kiêu Kỵ được chia làm 2 loại – vùng cao và vùng thấp, chênh lệch nhau từ 0,5 đến 1,2 mét, vùng cao có độ cao trung bình từ 4,2 đến 4,6 mét (so với mặt nước biển), trồng được hai vụ lúa, một vụ mầu/năm Vùng thấp chỉ trồng được hai vụ lúa năm, không trồng thêm được vụ hoa mầu
Khu vực nghiên cứu là Xã Kiêu Kỵ bao gồm có 13.340 nhân khẩu và 3031 hộ gia đình sinh sống Cùng với tốc độ của sự phát triển kinh tế Xã Kiêu Kỵ cũng có những sự dịch duyển rõ rệt từ nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp
Với tiềm năng đất đai, nguồn lao động dồi dào và lợi thế về vị trí địa lý, Kiêu
Kỵ có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế
Kiêu Kỵ lấy nông nghiệp đa canh làm nguồn sống chính, 90% diện tích được cấy, trồng nhiều loại lúa, rau mầu; ngoài thâm canh, người dân còn trồng xen canh gối vụ
Là một xã sản xuất nông nghiệp nhưng Kiêu Kỵ có nghề thủ công truyền thống may da và dát vàng quỳ, do đó kinh tế xã ngàng càng phát triển Thu nhập hàng năm lên tới hàng trăm triệu đồng/hộ Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao
Hiện nay, Kiêu Kỵ đang tập trung quy hoạch quỹ đất thành từng khu vực để kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng, phát triển khu công nghiệp, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí… trên địa bàn Đồng thời, xây dựng quy hoạch hệ thống đường giao thông để tạo hành lang kinh tế cho phát triển Với những cơ chế, chính sách thông thoáng cùng sự đồng thuận của
Trang 3828
chính quyền và nhân dân địa phương một ngày không xa, Kiêu Kỵ sẽ trở thành một xã phát triển toàn diện của huyện Gia Lâm (Vũ Thị Minh Phượng, 2011)
3.2 Một số đặc điểm các hộ điều tra
Các khu nông nghiệp mọc lên ngày càng nhiều đồng nghĩa với việc số lượng người từ các nơi tụ họp về càng đông Song hành với sự phát triển nhanh về kinh tế là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng lượng rác thải trong đó đặc biệt phải nhắc đến chất thải trong sinh hoạt Trong quãng thời gian 2 năm qua khi dịch bệnh covid hoành hành, lượng chất thải thực phẩm phát sinh được giảm xuống mức thấp nhất từ trước đến nay Nhưng sau dịch, khi cả nước trở lại với trạng thái bình thường mới (là trạng thái mà ở đó đất nước vừa tập trung chống dịch vừa khôi phục và phát triển lại nền kinh tế như trước khi xảy ra đại dịch) thì lượng chất thải thực phẩm gia tăng đáng kể
địa bàn xã tôi đã tiến hành phân loại và tổng hợp chi tiết về những người được hỏi, bao gồm: giới tính, tuổi, nghề nghiệp, học vấn và thu nhập hộ gia đình (Bảng 4) Do khảo sát bảng câu hỏi được thực hiện thông qua phỏng vấn cá nhân nên tỷ lệ thu thập thông
nam và 23 nữ Độ tuổi được phân bố từ 20 đến trên 60 tuổi, trong đó nhóm lớn nhất rơi vào độ tuổi từ 40 đến 49 (43%) Trình độ học vấn từ bậc phổ thông đến sau đại học,
đại học Thu nhập tại các hộ gia đình hàng tháng giao động từ 2 đến trên 5 triệu đồng
hộ (47%) có thu nhập trên 5 triệu đồng/người/tháng Tại các hộ gia đình được phỏng vấn, phần lớn là học sinh, sinh viên là 41 người, số người làm công nhân là 36 người,
số thành viên làm công chức/viên chức là 22 người và phần còn lại là nông dân, các bà nội trợ toàn thời gian, những người bán thời gian và cả những người về hưu
Trang 393.3 Đặc điểm thói quen đi mua thực phẩm tại các hộ điều tra
3.3.1 Địa điểm đi mua thực phẩm
Số liệu Hình 12 minh họa tần suất khi đi mua thực phẩm của các hộ gia đình tại các địa điểm
Trang 40ít Trên toàn bộ xã, cứ mỗi 3 thôn là có ít nhất 1 chợ vậy nên tần suất mua hàng rong
và chợ tạm chợ cóc là hiếm khi, không đáng kể Hiện tại, ở các cửa hàng tạp hóa hầu như có đầy đủ các mặt hàng đồ ăn thiết yếu như trong siêu thị vậy nên người dân họ cũng giảm dần tần suất mua sắm tại siêu thị Mức độ mua hàng online nằm ở mức ít, vài lần một tuần hoặc vài lần một tháng và chủ yếu là ở các hộ gia đình có học sinh, sinh viên
3.3.2 Lượng lương thực đi mua trong một lần mua tại hộ điều tra
Hình 13 cũng phản ánh thói quen của các hộ gia đình trong việc mua thực phẩm Thói quen phổ biến của các hộ là đi chợ một lần một ngày và mua thức ăn đủ dùng cho cả ngày (13/30 hộ điều tra)