Hiện trạng phát sinh và phân loại chất thải thực phẩm trong các hộ gia đình .... Chính những thói quen, lối sống trong tiêu dùng thực phẩm đã làm phát sinh không ít chất thải thực phẩm C
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
- -
NGUYỄN THỊ TỚI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH”
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ TỚI
Mã sinh viên : 621915
Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
Địa điểm thực tập : Thị trấn Chờ, Huyện Yên Phong
Hà Nội – 2022
Trang 3
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thị Tới
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp của các tập thể, cá nhân trong và ngoài học viện
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Tài nguyên và Môi Trường và Học Viện Nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua đã truyền cho tôi những kiến thức quý báu
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hồng Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới UBND thị trấn Chờ, đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, tài chính và trình
độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn đọc để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thị Tới
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm chung và thành phần chất thải thực phẩm 3
1.1.1 Một số khái niệm chung 3
1.1.2 Thành phần của chất thải thực phẩm 3
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.3 Ảnh hưởng của sự phát sinh chất thải thực phẩm đến kinh tế, môi trường và xã hội 10
1.3.1 Tác động đến kinh tế 10
1.3.2 Tác động đến môi trường 11
1.3.3 Tác động đến xã hội 15
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng phát sinh chất thải rắn từ CTTP ở hộ gia đình 16
1.4.1 Số nhân khẩu trong gia đình 16
1.4.2 Thói quen hằng ngày 17
1.4.3 Một số nhân tố khác 18
1.5 Các chính sách giảm thiểu lượng chất thải thực phẩm của một số quốc gia trên thế giới 18
Trang 6iv
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 23
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình bằng bảng hỏi 23
2.4.3 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần chất thải thực phẩm phát sinh 24
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 29
3.2 Một số đặc điểm của đối tượng được phỏng vấn 30
3.3 Hiện trạng phát sinh và phân loại chất thải thực phẩm trong các hộ gia đình 33
3.3.1 Thành phần chất thải thực phẩm 33
3.3.2 Khối lượng chất thải thực phẩm phát sinh trong hộ gia đình 35
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh chất thải thực phẩm ở thị trấn Chờ 37
3.4.1 Thói quen mua sắm và nguồn cung cấp thực phẩm của các hộ gia đình 37
3.4.2 Thói quen chế biến thức ăn tại các hộ gia đình 42
3.4.3 Thức ăn thừa và tuổi của người nội trợ chính trong gia đình 43
3.4.4 Thức ăn thừa và thu nhập của các hộ gia đình 45
3.4.5 Thức ăn thừa và số nhân khẩu của hộ gia đình 46
3.5 Hiện trạng quản lý chất thải thực phẩm 47
3.5.1 Thói quen xử lý thức ăn thừa sau mỗi bữa ăn tại các hộ gia đình 47
3.5.2 Dụng cụ đựng chất thải thực phẩm 48
Trang 7v
3.5.3 Hiện trạng công tác thu gom chất thải thực phẩm 49
3.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu và quản lý lượng thức ăn thừa trong các hộ gia đình tại thị trấn Chờ 50
3.6.1 Giải pháp giảm thiểu lượng CTTP 50
3.6.2 Giải pháp quản lý lượng CTTP 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 58
Trang 8vi
Bảng 1.1: Phân loại thức ăn theo thành phần thực phẩm 5
Bảng 1.2 Nguyên nhân gây ra thất thoát thực phẩm trong chuỗi cung ứng 6
Bảng 1.3: Tỷ lệ các loại thực phẩm lãng phí ở Mỹ 7
Bảng 2.1: Phân loại thức ăn theo thành phần thực phẩm 26
Bảng 3.1: Đặc điểm các hộ gia đình được phỏng vấn 30
Bảng 3.2: Đặc điểm phát sinh CTTP của các hộ gia đình trên địa bàn 35
thị trấn Chờ 35
Bảng 3.3: Diễn biến khối lượng CTTP phát sinh theo ngày ở các thôn của thị trấn Chờ 36
Bảng 3.4: Mức độ thường xuyên nấu thức ăn đủ dùng cho 1 bữa 43
Bảng 3.5: Lượng thức ăn thừa và độ tuổi của người nội trợ trong gia đình 44
Bảng 3.6: Thu nhập và khối lượng thức ăn thừa của các hộ gia đình tại thị trấn Chờ46 Bảng 3.7: Số nhân khẩu và khối lượng thức ăn thừa của các hộ gia đình tại thị trấn Chờ 47
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Lãng phí thực phẩm qua các quá trình của các loại thực phẩm 4
Hình 1.2: Tác động tới kinh tế của các loại thực phẩm bị lãng phí 11
Hình 1.3: Sự phát thải khí nhà kính của 20 Quốc gia và lãng phí thực phẩm 12
Hình 1.4: Tỷ lệ phát thải khí CO2 của các loại thức ăn 13
Hình 1.5: Tổng lượng nước sạch tiêu thụ cho các sản phẩm nông nghiệp ở một số quốc gia và lãng phí thực phẩm 14
Hình 1.6: Tỷ lệ về lượng nước mất đi của các loại thức ăn 14
Hình 3.1: Vị trí địa lý của thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh 27
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế thị trấn Chờ 6 tháng đầu năm 2022 29
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ số người được phỏng vấn là nội trợ chính 31
Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện số thành viên trong các hộ được phỏng vấn 32
Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện nghề nghiệp của các hộ được phỏng vấn 32
Hình 3.6: Khối lượng CTTP theo 17 loại thức ăn trong các hộ gia đình tại thị trấn Chờ 33
Hình 3.7: Một số loại CTTP ở các hộ gia đình tại thị trấn Chờ 34
Hình 3.8: Tần suất đi chợ của các hộ gia đình 38
Hình 3.9: Các hoạt động thường làm trước khi đi chợ của các hộ gia đình 39
Hình 3.10: Nguồn cung cấp thực phẩm của các hộ gia đình 41
Hình 3.11: Thói quen chế biến thức ăn của các hộ gia đình 42
Hình 3.12: Người nội trợ chính trong gia đình 44
Hình 3.13: Thói quen xử lý thức ăn thừa sau mỗi bữa ăn 48
Hình 3.14: Dụng cụ đựng chất thải thực phẩm 49
Hình 3.15: Tỷ lệ rác của các hộ gia đình được thu gom 50
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTTP Chất thải thực phẩm
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
RTSH Rác thải sinh hoạt
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 11tố ảnh hưởng đến phát sinh CTTP gồm: Thói quen mua sắm thực phẩm, người nội
trợ chính, thói quen chế biến thức ăn, độ tuổi, thu nhập, nghề nghiệp và nhân khẩu Trong đó yếu tố độ tuổi của người nội trợ từ 20-29 tuổi phát sinh lượng CTTP cao
nhất là 96 gram/người/ngày, độ tuổi của người nội trợ từ50-59 tuổiphát sinh khối lượng CTTP 52 gram/người/ngày Thu nhập theo tháng càng thấp thì lượng CTTP phát sinh càng ít Những hộ gia đình thu nhập dưới 3 triệu /người/tháng phát sinh 50 gram/người/ngày, những hộ thu nhập lớn hơn 6 triệu /người/tháng phát sinh 160 gram/người/ngày Đối với các hộ gia đình có số nhân khẩu ≤ 2 thì có khối lượng CTTP bình quân lớn nhất là 143 gram/người/ngày Còn các hộ gia đình có số nhân khẩu lớn
nhất (≥ 6) thì lại có khối lượng CTTP bình quân là nhỏ nhất (55 gram/người/ngày) Để
giảm thiểu CTTP của các hộ gia đình Về quản lý CTTP ở địa phương thì hiện nay chưa có, các CTTP vẫn được thu gom chung với RTSH nên cũng tạo thêm áp lực cho bãi chôn lấp, lại không tận dụng được nhiều CTTP gây lãng phí tài nguyên và tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lãng phí thực phẩm là một vấn đề rất được quan tâm trong các thập kỉ gần đây Dựa trên khái niệm của Liên minh châu Âu, lãng phí thực phẩm có nghĩa là việc bỏ đi, không sử dụng bất cứ loại đồ ăn, thức uống nào dù còn sống hay đã nấu chín, một cách vô tình hay cố ý Trên thế giới có khoảng 842 triệu người đang thiếu lương thực, chiếm 12% dân số toàn cầu (FAO, 2012) Vì vậy thực phẩm bị lãng phí đồng nghĩa với lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường và gây ra chi phí cho
việc xử lí chất thải thực phẩm (Williams et al., 2012) Hơn nữa, lãng phí thực phẩm
cũng là vấn đề đáng quan tâm về đạo đức, ước tính trên thế giới có 25.000 người chết vì đói mỗi ngày (FAO, 2010) Và cũng chính lượng rác này không những gây lãng phí về tiền bạc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường xung quanh và đặc biệt là gián tiếp tác động tiêu cực tới an ninh lương thực trên toàn cầu
Việt Nam là quốc gia đang trên đà phát triển, có thể nói an ninh lương thực hiện nay đã trở thành yêu cầu mang tính tất yếu Chính những thói quen, lối sống trong tiêu dùng thực phẩm đã làm phát sinh không ít chất thải thực phẩm (CTTP) của người dân Các lý do gây phát sinh CTTP như tâm lý “để phần” cho những người không có mặt trong bữa ăn cùng gia đình, dự trữ thức ăn trong tủ lạnh và sự lãng quên đồ ăn tích trữ đến khi đồ ăn hỏng, thiếu kiểm soát khẩu phần ăn khi chế biến, nấu nướng, không lập kế hoạch nấu ăn hợp lý dẫn đến tình trạng mua quá nhiều, thừa thãi Điều này dẫn đến gia tăng CTTP, cộng với việc xử lý loại chất thải này không đúng cách đã và sẽ gây ô nhiễm đất và nguồn nước
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Châu thổ sông Hồng, là tỉnh
có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa cao của cả nước Tốc độ phát triển kinh tế -
xã hội của Bắc Ninh trong những năm vừa qua luôn được duy trì ở mức cao và ổn định Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 2020, Bắc Ninh đứng thứ 5 cả nước
về thu nhập bình quân, đạt 5,4 triệu đồng/người/tháng Điều này có nghĩa đời sống của người dân được cải thiện và đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, tài nguyên thiên nhiên Kết quả là các loại chất thải trên địa bàn tỉnh phát sinh ngày một nhiều hơn Theo đề án Tổng thể Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Ninh (2019)
Trang 132
tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh là 870 tấn/ngày, tức là
tốc độ gia tăng lên đến 10%/năm Trong đó riêng huyện Yên Phong là 150 tấn/ngày đêm, đây là huyện có lượng chất thải lớn nhất của cả tỉnh Bắc Ninh Thị trấn Chờ là
trung tâm văn hóa, chính trị của huyện Yên Phong Những năm gần đây, thị trấn đã
có những bước phát triển khá mạnh về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể Do đó kéo theo lượng RTSH ngày càng tăng về khối lượng và một thành phần quan trọng có trong RTSH chính là CTTP Để giảm thiểu và quản lý
hiệu quả CTTP thì cần có những nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố tác động đến tình hình phát sinh chất thải thực phẩm, để từ đó có các biện pháp quản lý và giảm thiểu
loại rác thải này Xuất phát từ những lý do trên nên em tiến hành thực hiện đề tài
Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”
Tìm hiểu thành phần, khối lượng phát sinh CTTP quy mô hộ gia đình;
Xác định một số yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát sinh CTTP hộ gia đình;
Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm giảm thiểu phát sinh và tái sử dụng
CTTP trên địa bàn thị trấn Chờ
Trang 143
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
M ôi trường: Tại Điều 3 Chương I Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy
định: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự
tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”
Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của
môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường (Luật Bảo vệ Môi trường 2020)
R ác thải: Rác thải là bất kỳ loại vật liệu nào ở dạng rắn do con người loại bỏ
mà không được tiếp tục sử dụng như ban đầu (Vũ Quyết Thắng, Lê Đông Phương,
2002)
C hất thải thực phẩm: Theo định nghĩa của FAO: “Chất thải thực phẩm
(Food waste) là toàn bộ thực phẩm bị thải bỏ đi từ nhà, từ các cơ sở thương mại (của hàng tạp hóa, nhà hàng, nhà ăn nhân viên) bởi hành vi của người tiêu dùng và nhà bán lẻ”
Thất thoát thực phẩm (Food loss): Là toàn bộ lượng thực phẩm bị mất đi ở
giai đoạn sản xuất, sau thu hoạch và chế biến, lượng mất đi này có thể được sử dụng cho một số mục đích khác, chẳng hạn như là dùng làm nhiên liệu hoặc thức ăn cho gia súc”
Tổn thất thức ăn (Food wastage): Là thức ăn bị mất do sự mất mát thực
phẩm và tạo thành rác thải từ những thực phẩm đó
FAO đã tính toán rằng khoảng một phần ba lương thực toàn cầu đang bị lãng phí Hình 1.1 dưới đây cho thấy sự mất mát thực phẩm toàn cầu của các loại thực phẩm ở những giai đoạn khác nhau:
Trang 15Theo hệ thống phân loại trong “Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam năm 2007” của Viện dinh dưỡng, Bộ Y tế có thể chia ra thành 17 loại thức ăn
Trang 165
Bảng 1.1: Phân loại thức ăn theo thành phần thực phẩm
Loại 1 Cơm
Loại 2 Sản phẩm chế biến từ tinh bột (bánh mì, bún, phở, đậu…)
Loại 3 Khoai các loại (khoai lang, khoai tây, khoai sọ…)
Loại 4 Các loại hạt (đậu xanh, đậu cô ve, lạc, dừa…)
Loại 5 Rau ăn lá (rau cải các loại, muống, hành, rau diếp…)
Loại 6 Rau ăn quả (bầu bí, cà các loại, trám, dưa chuột, mướp )
Loại 7 Nấm các loại
Loại 8 Rau ăn củ (su hào, cà rốt…)
Loại 9 Rau ăn mầm (măng, giá đỗ )
Loại 10 Hoa quả (táo, cam, quýt, dưa hấu, vải, nhãn…)
Loại 11 Thịt gia súc (lợn, trâu, bò và các sản phẩm từ thịt )
Nguồn: Bộ Y tế Viện dinh dưỡng, 2007
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải thực phẩm
Theo số liệu báo cáo của tổ chức Nông-Lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2021) Mỗi năm thế giới sản xuất ra khoảng 4 tỷ tấn thực phẩm, thì có đến gần 1 tỷ tấn chất thải thực phẩm, chiếm khoảng 30%-40% với trị giá khoảng 1 nghìn tỷ USD bị mất mát (food loss) và lãng phí (food waste) Năm 2020, tổ chức Nông-Lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho biết, 17% thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng vào năm 2019
đã bị vứt bỏ Chương trình an ninh lương thực toàn cầu (GFS) ước tính rằng có
khoảng 95 – 115 kg/người/năm rác thải từ thực phẩm ở khu vực phát triển như Châu Âu Trong khi đó, ở các quốc gia có thu nhập thấp như Niger, Liberia, Bangladesh thì con số này chỉ là 6 – 11 kg/người/năm Theo bà Nancy Aburto, Phó Giám đốc phụ trách Phát triển kinh tế và Xã hội của Bộ phận Lương thực và
Trang 176
Dinh dưỡng thuộc FAO năm 2021 cho biết: “Tình trạng mất an ninh lương thực, nạn đói và suy dinh dưỡng đang ảnh hưởng đến mọi quốc gia trên thế giới và không quốc gia nào là không bị ảnh hưởng; 811 triệu người bị đói, hai tỷ người bị thiếu vi chất dinh dưỡng - tức là thiếu vitamin và khoáng chất - và hàng triệu trẻ em bị còi cọc và gầy còm, các dạng thiếu dinh dưỡng gây chết người” - bà Aburto nhấn mạnh
và đưa ra cảnh báo, chi phí cao của các chế độ ăn uống “lành mạnh” khiến các chế
độ ăn này “nằm ngoài tầm với” của mọi khu vực trên thế giới, bao gồm cả châu Âu
Lượng thực phẩm bị mất mát và lãng phí xảy ra trong toàn bộ vòng đời sản phẩm từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, đóng gói, vận chuyển, phân phối, bán lẻ đến giai đoạn tiêu thụ
Bảng 1.2 Nguyên nhân gây ra thất thoát thực phẩm trong chuỗi cung ứng
Sản xuất
Trong hoặc ngay sau khi thu hoạch từ các trang trại, khu vườn, cánh đồng
Rau quả các loại sau khi chọn lựa do không đáp ứng tiêu chuẩn (vết sẹo, sứt sẹo do chim hoặc các loài gặm nhấm, thâm nám, dị dạng bị thải bỏ đi)
Lưu trữ và
xử lý
Sau khi sản phẩm rời khỏi trang trại, vận chuyển, lưu trữ
Thực phẩm bị sâu ăn hạy bầm tím, sứt sẹo do quá trình vận chuyển, bảo quản không đúng kĩ thuật bị thải bỏ ra
Chế biến và
đóng gói
Trong quá trình chế biến quy mô công nghiệp hoặc hộ gia đình, công đoạn đóng gói sản phẩm
Phần trái cây, ngũ cốc dùng được nhưng
bị loại ra vì được cho là không thích hợp cho chế biến
Sản phẩm dùng được nhưng bị loại do yêu cầu khắt khe của khách hàng Sản phẩm hết hạn trước khi được mua, sản phẩm bị bỏ đi do giá quá thấp…vv Tiêu thụ
Lãng phí của người tiêu dùng (nhà hàng, hộ gia đình )
Sản phẩm ăn được bị loại do yêu cầu chất lượng quá cao Thực phẩm được mua, nấu nhưng không dùng
Nguồn: FAO, 2011
Trang 187
Theo FAO năm 2019, chất thải từ thức ăn thừa phát sinh chủ yếu ở giai đoạn tiêu thụ, khoảng 35% cao gần gấp ba so với 12% ở giai đoạn bán lẻ Trong đó, tại các nước phát triển, chất thải từ thức ăn thừa phát sinh ở giai đoạn bán lẻ và tiêu thụ
là nhiều nhất, chiếm khoảng 33% cao gấp đôi so với 14% ở các nước đang phát triển
Trung bình mỗi năm, người Mỹ bỏ đi khoảng 25% thực phẩm mà họ mua, ước tính chi phí cho gia đình 4 người trung bình là từ 1.365 USD đến 2.275 USD Trong
đó, thực phẩm bị vứt bỏ đi, lãng phí nhiều nhất là rau, ước tính khoảng 18,2 tỷ pound tương đương 8,2 triệu tấn và nhóm (thịt, cá) khoảng 12,7 tỷ pound tương đương 5,7 triệu tấn thực phẩm với cùng mức lãng phí 22% so với tổng thực phẩm sản xuất được ở các loại thực phẩm đó Còn đối với nhóm thực phẩm bị bỏ đi ít nhất
là nhóm thực phẩm về hạt (điều, dẻ, đậu) khoảng 0,13 triệu tấn
Bảng 1.3: Tỷ lệ các loại thực phẩm lãng phí ở Mỹ
Tổng nguồn thực phẩm
(tỷ pound)
Người tiêu dùng lãng phí
(tỷ pound)
Tỷ lệ (%) thực phẩm lãng phí
Bên cạnh Mỹ, tại Anh, Pháp, Nhật và một số quốc gia phát triển khác, lãng phí thực phẩm cũng xảy ra rất mạnh mẽ Theo ông Benyon, lượng thực phẩm lãng
Trang 198
phí mỗi năm ở Anh có giá trị lên đến 12 tỉ bảng (gần 388.000 tỉ đồng), nghĩa là mỗi
hộ gia đình Anh lãng phí bình quân 50 bảng/tháng (khoảng 1,6 trệu Việt Nam đồng) Hầu như thực phẩm bỏ đi là những thứ không được dùng đúng hạn Trước thực trạng nói trên, ông Benyon cho biết chính phủ sẽ sớm tiến hành các chiến dịch khuyến khích người dân giảm bớt lượng thực phẩm, đồ uống bỏ đi Mỗi năm, trung bình lượng thức ăn mà Nhật Bản bỏ đi là khoảng 25,55 triệu tấn Trong đó, lượng thực phẩm bị vứt đi nhưng vẫn có thể sử dụng mỗi năm là 6,12 triệu tấn năm 2017 Như vậy, trung bình lượng lãng phí thực phẩm của 1 người Nhật là khoảng 48kg/năm Con số trên gấp 1,6 lần lượng lương thực thế giới viện trợ cho những người bị đói trên toàn thế giới (năm 2018 là khoảng 3,9 triệu tấn) Theo Reuters, dữ liệu của chính phủ cho thấy việc thải bỏ hơn 6 triệu tấn rác thải thực phẩm của Nhật Bản khiến nền kinh tế lớn thứ ba thế giới tiêu tốn khoảng 2.000 tỉ yên (19 tỉ USD) mỗi năm Và đây cũng là tình trạng lãng phí thực phẩm trên đầu người cao nhất ở châu Á
Theo báo cáo “Global Food: Waste not, want not” của Viện nghiên cứu Cơ khí Luân Đôn, lãng phí thực phẩm là vấn nạn mà cả thế giới đang quan tâm Bởi vì thức ăn thừa không chỉ là một trong những nguyên nhân gây phát thải khí nhà kính, gia tăng tình trạng biến đổi khí hậu mà còn là sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gián tiếp ảnh hưởng đển da dạng sinh học
1.2.2 Ở Việt Nam
Trên thế giới, hiện đói nghèo thường được cho rằng do thiếu thực phẩm Dù vậy nhưng thực trạng thất thoát và lãng phí thực phẩm đang âm thầm, vô hình và xảy ra với nhiều nguyên nhân Từ đó đẩy sự đói nghèo nhanh đến với mọi người dân hơn Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, nên rất cần những giải pháp cải thiện nhanh chóng
Khảo sát của CEL Consulting - công ty hàng đầu về cung cấp các giải pháp
tư vấn, kỹ thuật, công nghệ và đào tạo trong lĩnh vực chuỗi cung ứng và vận hành thực hiện tại các vùng nông nghiệp lớn của Việt Nam - cho thấy, trung bình trong 3 tháng đầu năm 2018, 1/4 lượng thực phẩm sản xuất bị thất thoát trước khi thực sự đến được các nhà máy chế biến hoặc trung tâm phân phối Tổng thiệt hại ước tính
Trang 20Theo Foodbank Việt Nam, có tới 87% hộ gia đình người Việt thừa nhận đã lãng phí ít nhất hai dĩa thức ăn mỗi tuần Theo định nghĩa của Tổng cục thống kê Việt Nam: Hộ “thiếu đói” là hộ có nguồn dự trữ lương thực và dự trữ bằng tiền, trị giá hàng hóa, tài sản có thể bán được để mua lương thực tính bình quân đầu người đạt dưới 13kg thóc (lúa) hay 9kg gạo một tháng Như vậy, từ năm 2013 – 2017, nước ta có khoảng 283.200 lượt hộ trải qua thời gian đói, 1.185.000 lượt người thiếu đói bình quân hàng năm Nói cách khác, người tự xoay xở mà không đủ tiền mua được 9kg gạo mỗi tháng mới được xem là người thiếu đói Tuy nhiên, ngoài gạo con người cần cả thức ăn với các loại đa dạng nữa (Hoàng Lan, 2021)
Thực trạng thất thoát và lãng phí thực phẩm gây ra thiệt hại không chỉ về kinh tế mà còn ảnh hưởng tới môi trường trên toàn cầu Nguyên nhân của việc thất thoát này có thể kể đến ở khâu sản xuất, chế biến thực phẩm (đối với các nước đang phát triển) và ở khâu phân phối của các nhà bán lẻ và người tiêu dùng ''quá tay’’ trong việc mua thực phẩm hoặc thực phẩm không đáp ứng các tiêu chuẩn về hình thức (đối với các nước phát triển) Còn tại Việt Nam, nguyên nhân tổn thất thực phẩm đã được Th.S Dương Thu Hằng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chỉ
rõ, là do Sản xuất nông nghiệp manh mún thành các trang trại siêu nhỏ; Hệ thống hậu cần kém hiệu quả; Thiếu cơ sở hạ tầng bảo quản và thiếu máy móc cho chế biến bảo quản và thiếu máy móc cho chế biến chuyên sâu; Các biện pháp đóng gói và xử
lý sau thu hoạch trong chuỗi cung ứng chưa đáp ứng được nhu cầu; Hệ thống logistic còn hạn chế
Việc cần làm ngay ở Việt Nam hiện nay để giảm thiểu thất thoát hoặc lãng phí thực phẩm là phải nhanh chóng cải thiện hạ tầng cơ sở bằng việc đẩy mạnh nghiên cứu và xây dựng các nhà xưởng, kho lạnh bảo quản tại các vùng sản xuất tập trung nhằm tránh tổn thất sau thu hoạch; Hệ thống các cơ sở sơ chế, đóng gói hoa
Trang 2110
quả tươi; chuyển giao công nghệ chế biến hiện đại, các tiến bộ kỹ thuật về vật liệu, chế phẩm bảo quản vào sản xuất rau quả có giá trị cao; Phát triển các dịch vụ logistic để giảm chi phí vận chuyển, lưu thông rau quả Những điều trên sẽ góp phần đảm bảo chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, phù hợp với các quy chuẩn quốc tế
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ở bất cứ nhà hàng, quán ăn, một buổi tiệc lớn hay một bữa ăn nhỏ ngay tại gia đình, cũng dễ dàng bắt gặp cảnh tượng thức ăn thừa bị bỏ đi Trong khi thực trạng là nguồn lương thực thực phẩm vẫn đang mất mát bắt nguồn từ tình trạng yếu kém của hạ tầng, kỹ thuật trong sản xuất và đóng gói
và xã hội
1.3.1 Tác động đến kinh tế
Theo FAO, số tiền về lãng phí thực phẩm của thế giới trong năm 2019 đạt
khoảng gần 1 nghìn tỷ USD Số tiền này gần bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Thụy Sỹ trong năm 2020 Trong khi đó số liệu của Chương trình hành động về rác thải và nguồn tài nguyên của Anh (WRAP) lại chỉ ra rằng chất thải thực phẩm gây lãng phí mỗi hộ từ 250 USD đến 400 USD/năm Con số này không bao gồm các chi phí xử lý như thu gom rác, xử lý rác cho các hộ gia đình Trong lĩnh vực khách sạn và nhà hàng, chi phí chất thải từ thức ăn thừa phát sinh từ các bữa ăn tồn và chi phí xử lý là 3,5 tỷ $ một năm, tương đương với 1,3 tỷ bữa ăn
Trang 22và ngũ cốc (18%) Đối với thịt chỉ chiếm khoảng 4% tổng số khối lượng thức phẩm
bị lãng phí, nhưng lại chiếm đến khoảng 21% của tổng chi phí kinh tế của sự lãng phí này Đó là do chi phí sản xuất ra thịt rất lớn Mặt khác, các loại ngũ cốc chiếm 18% tổng chi phí do lãng phí vì đây là loại thực phẩm chiếm khối lượng lãng phí lớn nhất
1.3.2 Tác động đến môi trường
Lãng phí thực phẩm không chỉ đem đến những tác động tiêu cực tới nền kinh
tế mà còn gây ra tác động nghiêm trọng tới môi trường Lượng nước được sử dụng
để tạo ra những thực phẩm mà chúng ta bỏ đi lớn hơn cả lượng nước được sử dụng bởi bất kỳ một quốc gia nào Không chỉ vậy, lượng khí nhà kính được phát thải ra
cũng là con số đáng để quan tâm
Trái Đất Nhưng với nồng độ cao trong khí quyển, CO2 gây ảnh hưởng đến môi
Trang 23những chiếc máy kéo được sử dụng cho việc trồng trọt và thu hoạch, năng lượng dùng cho các thiết bị chế biến và đóng gói
Tổng cộng, lượng phát thải đó nhiều hơn 2 lần so với lượng phát thải từ tất cả các loại ô tô và xe tải ở Hoa Kỳ Nhìn theo một cách khác, nếu coi bản thân lãng phí thực phẩm là một quốc gia thì đó sẽ là nước phát thải khí nhà kính lớn thứ 3 trên thế
giới sau Trung Quốc và Hoa Kỳ (WRI 2012)
Nguồn: FAO, 2013
Trang 24và các loại đậu là 2 nhóm thức ăn phát thải CO2 ít nhất, lần lượt là 5% và 1%
Nước: Trên toàn cầu, lượng nước sạch cho tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp
tạo ra những thực phẩm bị lãng phí được ước tính khoảng 250 km³ (FAO, 2007), nhiều hơn 38 lần so với lượng nước của các hộ gia đình Mỹ (Mekonnen và Hoekstra, 2011) Về khối lượng, nó gấp gần ba lần so với khối lượng của hồ Geneva, hoặc bằng lưu lượng nước hàng năm của sông Volga Nếu coi lượng nước sạch mất đi do lãng phí thực phẩm là sự tiêu thụ nước của một quốc gia thì quốc gia
đó có lượng tiêu dùng nước lớn nhất Và lượng nước này tập trung vào lượng nước được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Trang 26Theo thông tin từ Liên Hợp Quốc, năm 2011 châu Phi chính là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi nạn đói Hiện có khoảng 12 triệu người đã bị ảnh
hưởng bởi cuộc khủng hoảng lương thực tại vùng Sừng châu Phi (bao gồm các nước
như Somalia, Kenya, Ethiopia, Djibouti …) với tỉ lệ người suy dinh dưỡng và trẻ em
tử vong cao Nguyên nhân là do hạn hán tồi tệ nhất trong 60 năm trở lại đây ở khu vực châu Phi diễn ra trước đó Somalia là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Mỗi ngày có khoảng 4.000 người buộc phải di dời khỏi đất nước này và trở thành người tị nạn ở Kenya và Ethiopia Theo Liên Hợp Quốc số người trên thế giới sống dưới mức nghèo đói đã tăng lên khoảng 71 triệu người Giá cả lương thực, thực phẩm tăng cao
đã kích động nhiều cuộc biểu tình ở Bắc Phi và Trung Đông Đây là kết quả tất yếu của việc thiếu lương thực thực phẩm nghiêm trọng gây nên
Nguy hiểm hơn, đối với mỗi cá nhân nếu không đủ thức ăn là nguyên nhân khiến cơ thể suy kiệt, mất dần sức đề kháng chống chọi với bệnh tật Mỗi năm, khoảng 8 triệu người ra đi vì các căn bệnh như AIDS, lao, phong… Nghị viện châu
Âu đã lấy năm 2014 là “Năm châu Âu chống lãng phí thực phẩm” và quyết tâm giảm 50% lượng thức ăn thừa vào năm 2020
Ở Việt Nam năm 2021, tỷ lệ nghèo là 3,11%, đã giảm nhiều so với những năm trước Tuy nhiên nhiều khu vực ở miền núi nơi sinh sống của các dân tộc ít người vẫn có tỷ lệ tương đối cao, nhất là khu vực miền núi Tây Bắc với 39% là các
hộ nghèo Vì thế mà hiện nay vẫn còn rất nhiều gia đình không lo đủ bữa ăn hàng ngày, phải tiết kiệm, tích cóp từng hạt cơm hạt gạo để có thể mưu sinh cho cuộc sống Đối với họ, một cuộc sống đầy đủ chỉ là khi đã được ăn no bụng Trong 6 tháng cuối năm 2021, cả nước có 2,5 triệu lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 9,9 triệu
Trang 2716
lượt nhân khẩu thiếu đói Để khắc phục tình trạng này, từ đầu năm các cấp, các
ngành đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 149,1 nghìn tấn gạo (Tổng cục Thống kê, 2021)
Không chỉ vậy, sau những thiên tai bão lũ ở Việt Nam cũng đã có hàng triệu người bị thiếu đói, cần sự giúp đỡ từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Trận
lũ năm 2020 càn quét ở miền Trung khiến nhiều người thiếu đói, phải huy động kho gạo của nhà nước và kêu gọi sự hỗ trợ từ nhiều nơi Năm 2021 đi qua cũng để lại những nỗi đau về cả vật chất và tinh thần đối với nhân dân, nhờ sự hỗ trợ từ nhà nước, các tổ chức cá nhân khác mà sự thiếu đói mới được đẩy lùi
Nghèo về dinh dưỡng ở trẻ em cũng là một thách thức đối với Việt Nam khi nước ta đang đứng ở vị trí số một Theo số liệu “Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ
em và phụ nữ Việt Nam năm 2020” ước tính số trẻ em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của con người thì nghèo dinh dưỡng là vấn đề lớn nhất, với tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng lên tới 19,6% Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Việt Nam năm 2020, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng tính theo cân nặng là 2,4% và tính theo chiều cao là 8,6%
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng vẫn còn rất nhiều người, nhiều nơi thiếu ăn, thiếu mặc với những khó khăn chồng chất Và an ninh lương thực ổn định để con người không còn phải chịu đói, chịu khát là ước mong mà họ luôn hướng tới Những thói quen vứt bỏ và lãng phí thực phẩm dù chỉ là rất nhỏ cũng đã góp phần tác động tiêu cực đến an ninh lương thực của cả quốc gia và thế giới Vì vậy, lãng phí thức ăn là gián tiếp bỏ qua cơ hội sống của nhiều người khác Con người hiện đại ngày nay cần sống để mọi người cùng sống, cần biết tiết kiệm
và trân trọng những thứ mà mình đang có
gia đình
Trong nghiên cứ u Arisings WRAP tại Anh cho thấy, những người trong hộ gia đình có 1 nhân khẩu lãng phí thức ăn thừa gần như gấp đôi so với các hộ gia đình có 2 nhân khẩu Nhưng ngược lại thì những hộ gia đình có nhiều nhân khẩu
hơn thì cũng gây lãng phí nhiều thức ăn thừa hơn so với những hộ gia đình có ít
Trang 2817
nhân khẩu (trừ hộ gia đình có 1 nhân khẩu)
Vì vậy, khuyến khích các hộ gia đình nên lên danh sách các thực phẩm cần mua và mua theo danh sách, kiểm tra thực thẩm còn trong nhà bếp, lên kế hoạch cụ thể cho bữa ăn để hạn chế phát sinh CTTP
Thói quen hằng ngày là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới lượng thức ăn thừa Trước khi mua sắm, nếu người tiêu dùng lập kế hoạch cho các bữa ăn và chuẩn bị một danh sách những thực phẩm cần mua thì sẽ giảm thiểu được đáng kể việc mua những thực phẩm không cần thiết Các kế hoạch cho mua sắm khiến
người tiêu dùng mua ít hơn, hợp lý hơn và bỏ qua các quảng cáo từ các cửa hàng hay siêu thị với các món đồ hấp dẫn Theo Chandon và Wansink (2006), hầu hết
người tiêu dùng vẫn nhớ được những thực phẩm còn lại ở trong bếp nhà mình
nhưng do sự thiếu chuẩn bị danh sách những thực phẩm cần mua có thể dẫn đến việc mua những thực phẩm không cần thiết mà cuối cùng không được tiêu thụ hết hoặc để bị quá hạn sử dụng
Ngoài ra, các siêu thị và các cửa hàng tạp hóa luôn có những thông điệp quảng cáo tích cực với những chương trình khuyến mại hoặc giảm giá Do đó, người tiêu dùng thường mua khối lượng thực phẩm lớn hơn so với nhu cầu thực tế của gia đình
mình Vô hình chung điều này làm người tiêu dùng lãng phí thực phẩm nhiều hơn Không chỉ vậy, tần suất đi chợ mua sắm cũng có ảnh hưởng tới lượng chất thải rắn từ thực phẩm Theo Brook Lyndhurst (2007), những hộ gia đình có thói quen đi mua thực phẩm dùng trong 1 tuần hoặc cho thời gian dài hơn sẽ gây lãng phí thực
phẩm nhiều hơn Trạng thái đói của người tiêu dung khi đi mua sắm cũng là một trong những nhân tố tác động đến quyết định mua Một người đi mua sắm với cái
“dạ dày trống rỗng” sẽ mua nhiều thức ăn dư thừa hơn do sự sai lệch trong quá trình
dự báo lượng thức ăn của gia đình Để kiểm tra sự sai lệch về dự báo, Gilbert và cộng sự (1998) đã tiến hành một nghiên cứu, trong đó ông hỏi một số người mua hàng đã ăn một chút bánh trước khi họ đi mua sắm Và kết quả là số người được ăn
đó ít đói hơn và mua các mặt hàng ít hơn 17% so với những người không ăn bánh
trước đó
Trang 2918
Nấu ăn và lưu trữ cũng có ảnh hưởng đến lượng chất thải từ thức ăn thừa
Người tiêu dùng Anh thừa nhận rằng họ thường nấu ăn và chuẩn bị thức ăn nhiều
hơn nhu cầu của gia đình họ Ngoài ra, thói quen mua sắm không phù hợp dẫn đến mua hàng thực phẩm quá mức cũng ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của việc nấu ăn và chuẩn bị thức ăn
Bảo quản thực phẩm cũng là một khía cạnh đáng được quan tâm Brook Lyndhurst (2007) cho biết: dung tích của tủ lạnh tương quan với lượng chất thải thực phẩm Người tiêu dùng sử dụng tủ lạnh có dung tích lớn hơn có xu hướng gây lãng phí hơn (32%) so với những tủ lạnh có dung tích thấp (27%) Điều này có thể được giải thích rằng người tiêu dùng có tủ lạnh dung tích lớn không kiểm soát được hết thực phẩm ở trong tủ lạnh, như vật họ sẽ hay bỏ qua hoặc quên một số thực phẩm
Chất thải từ thức ăn thừa có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khác như: đô thị hóa, khác biệt về văn hóa và lối sống, chuẩn mực xã hội và đạo đức, chế độ ăn kiêng… Salhofer và cộng sự (2007) cho thấy rằng các hộ gia đình ở khu vực nông thôn ít lãng phí hơn so với những hộ gia đình ở thành thị Ngoài ra, chất thải từ thức
ăn thừa các khu vực nông thôn biến động thời vụ lớn hơn hoặc chất thải từ thức ăn thừa phát sinh vào vào mùa hè sẽ lớn hơn so với mùa đông
Các quốc gia trên toàn thế giới có sự khác biệt trong văn hóa nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng, do vậy việc tiêu thụ thực phẩm và rác thải từ những thực phẩm đó cũng có điểm khác biệt Ở Hàn Quốc, để lại thức ăn trên đĩa được coi là thói quen của người lịch sự Theo WRAP (2007), lựa chọn lối sống ảnh hưởng đến thói quen chuẩn bị bữa ăn Hộ gia đình có những người thường xuyên ăn ở bên ngoài không không thường xuyên ăn ở nhà của họ Như vậy, lượng CTTP ở gia đình đó sẽ có thể nhiều hơn ở các hộ gia đình khác
trên thế giới
Các nhà nghiên cứu cho biết, không ai mua thực phẩm với ý định vứt bỏ và lượng nhỏ bị loại bỏ mỗi ngày có vẻ không đáng kể Do đó, việc nâng cao nhận
Trang 3019
thức của người dân về rác thải là rất quan trọng, như thông qua việc thu gom rác thải thực phẩm riêng biệt của chính quyền địa phương Chính phủ và doanh nghiệp cần phải có hành động, nhưng hành động của từng cá nhân là rất quan trọng, chẳng hạn như đo khẩu phần gạo và mì ống, kiểm tra tủ lạnh trước khi mua sắm và tăng cường kỹ năng nấu ăn để tận dụng thức ăn đã mua
Pháp
Đi đầu trong cuộc chiến chống lãng phí thực phẩm không thể không nhắc đến Pháp Hiện Pháp là nước ít lãng phí thực phẩm nhất thế giới Đây cũng là quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng lệnh cấm các siêu thị vứt bỏ thức ăn không sử dụng mà thay vào đó mang ủng hộ các tổ chức từ thiện Quy định trên có hiệu lực với tất cả siêu thị có diện tích từ 400m2 trở lên và nhà chức trách áp dụng mức phạt 3.750 euro nếu vi phạm
Ngoài ra, Pháp cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ sáng kiến “tủ lạnh đoàn kết” Bắt đầu ở Paris, “tủ lạnh đoàn kết” nhanh chóng lan ra nhiều thành phố trên toàn nước Pháp, Đây là nơi các chủ nhà hàng để món ăn còn thừa hay những thực phẩm như sữa, các loại nước uống, trái cây, rau quả hay đồ hộp không bán hết cho ai có nhu cầu đều có thể lấy về dùng Mô hình này không những làm giảm lãng phí thực phẩm mà còn chứa thông điệp ý nghĩa Đó là giúp đỡ những người khó khăn để có những bữa ăn đầy đủ hơn
Anh
Tại Vương quốc Anh, thiết bị Winnow Vision giúp thu thập kết quả đo khối lượng các thùng đựng rác thải thực phẩm và thông tin từ nhân viên nhà bếp về loại thức ăn đã vứt bỏ Sau đó, thuật toán phân tích dữ liệu tiến hành đánh giá lượng thực phẩm đã bị lãng phí, trên cả phương diện chi phí và tác động đối với môi trường Bà Clementine O'Connor, Tư vấn Chương trình thực phẩm tại UNEP cho biết, nước Anh đã thực sự đóng vai trò hàng đầu trong việc giảm thiểu chất thải thực phẩm và là một trong số rất ít quốc gia đạt được mức giảm đáng kể Theo WRAP,
từ năm 2007 đến năm 2018, rác thải thực phẩm ăn được đã giảm gần một phần ba, mặc dù tổng lượng rác thải thực phẩm vẫn là 19% vào tháng 11-2020 Việc dành nhiều thời gian hơn cho việc lập kế hoạch và nấu nướng tại nhà trong thời gian
Trang 3120
phong tỏa vì đại dịch ở Anh dường như đã giảm lượng rác thải đi 20% WRAP đã khởi động Tuần lễ hành động về chất thải thực phẩm ở quốc gia đầu tiên là Anh từ ngày 1 đến 7-3-2020, đưa ra thông điệp về việc lãng phí thực phẩm gây ra biến đổi khí hậu
Australia
Tại Australia, Tổ chức Nghiên cứu khoa học và Công nghệ (CSIRO) đã thử nghiệm thành công biến súp lơ và bông cải xanh bỏ đi thành thuốc bổ Nhu cầu về các chất bột và chất bổ sung giàu dinh dưỡng sẽ tạo ra thị trường mới cho các loại rau quả, giúp giải quyết vấn đề chất thải nông nghiệp, góp phần giải quyết được tình trạng bỏ phí như hiện nay
Trung Quốc
Quốc hội Trung Quốc ngày 29/4/2021 đã thông qua Luật Chống lãng phí thực phẩm Bộ luật này nhằm đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định cho khoảng 1,4 tỷ dân, chống lại các hành vi ăn uống xa xỉ, thừa thãi vốn tồn tại đã lâu trong đời sống ở nước này
Theo bộ luật này, các nhà hàng hướng dẫn sai, khiến thực khách gọi đồ ăn quá mức cần thiết có thể bị phạt lên đến 10 nghìn Nhân dân tệ (khoảng 36 triệu VNĐ) Đặc biệt, hành vi sản xuất, chiếu phát các chương trình video truyền bá việc
ăn uống vô độ sẽ phải chịu mức phạt tối đa lên tới 100 nghìn Nhân dân tệ (khoảng
360 triệu đồng)
Bên cạnh đó, bữa ăn trong các hoạt động công vụ cũng không được vượt quá tiêu chuẩn quy định Người tiêu dùng ăn hết đồ ăn, tức tham gia "Chiến dịch vét sạch bát đĩa" có thể được thưởng, trong khi hành vi gọi món ăn gây lãng phí thực phẩm có thể bị thu phí xử lý rác thải thực phẩm
Nhật Bản
Sản xuất phân bón hữu cơ từ rác thải thực phẩm là mô hình vừa đem lại lợi ích cho nông nghiệp, vừa đảm bảo môi trường Đây là một trong những giải pháp chủ yếu mà Nhật Bản áp dụng để xử lý khoảng 6,5 triệu tấn thực phẩm thải loại hàng năm theo quy định của Luật Tái chế thực phẩm Theo phóng viên TTXVN tại Nhật Bản, những nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ từ nguồn nguyên liệu là rác
Trang 3221
thải thực phẩm được coi như cơ sở xử lý rác cho các nhà hàng, nơi sản xuất, kinh doanh thực phẩm… tại đất nước "Mặt trời mọc" Do đó, nhà máy phân bón hữu cơ loại này sẽ có 2 nguồn thu: một nguồn từ việc bán các sản phẩm phân bón hữu cơ và nguồn khác từ chính các nhà hàng, nơi sản xuất kinh doanh thực phẩm, chi trả
Công ty sản xuất phân bón hữu cơ Taihi Puranto, tỉnh Hiroshima một ngày
có thể xử lý được từ 5 đến 10 tấn rác thải thực phẩm Công ty này đang hợp tác với
24 công ty khác chuyên thu gom thực phẩm dư thừa Trên 60% thu nhập của Taihi Puranto do các nhà hàng, cơ sở chế biến thực phẩm chi trả để xử lý rác thải hữu cơ Tại Nhật Bản, phân hữu cơ được nông dân thường xuyên sử dụng sau khi kết thúc một mùa vụ và chuẩn bị cho một mùa vụ mới Việc sử dụng phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp sẽ làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo đất hiệu quả, trả lại cho đất lượng hữu cơ đã bị mất Đây là giải pháp để nền nông nghiệp phát triển bền vững
Luật tái chế thực phẩm sửa đổi năm 2015 của Nhật Bản yêu cầu trách nhiệm tái chế đến 95% đối với cơ sở chế biến thực phẩm, 70% đối với doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm, 55% đối với cửa hàng bán lẻ thực phẩm và 50% đối với quán ăn Hành vi cố tình vứt bỏ thực phẩm số lượng lớn, gây ô nhiễm môi trường có thể bị
áp dụng hình phạt hết sức nghiêm khắc
Rác thải hữu cơ như thực phẩm dư thừa được cho là nguyên nhân chủ yếu gây ra mùi khó chịu tại các bãi rác Mô hình sản xuất phân bón hữu cơ từ rác thải thực phẩm đang góp phần hiệu quả vào bảo vệ môi trường sống Đây là kinh nghiệm tốt cho nhiều quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề khử mùi tại các bãi rác tập trung
Việt Nam
Việt Nam không đứng ngoài trong cuộc chiến chống lãng phí thực phẩm
Năm 2018, Kế hoạch hành động quốc gia về “Không còn nạn đói ở Việt Nam đến
năm 2025” đã được thông qua Một trong những mục tiêu của Kế hoạch là đến năm
2025 “lương thực không bị thất thoát, lãng phí”
Tại Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 2015, Trung tâm Hành động và Liên kết
vì Môi trường và Phát triển – CHANGE cùng Phong trào toàn cầu về Biến đổi khí
Trang 3322
hậu 350.org Việt Nam đã chính thức phát động dự án “Ngừng lãng phí thức ăn” kéo dài ba năm với mục đích nâng cao nhận thức cộng đồng về tính nghiêm trọng của việc lãng phí thức ăn Dự án này là một chương trình dài hạn kéo dài khoảng 3 năm với nhiều giai đoạn, kêu gọi cộng đồng giảm lãng phí thực phẩm và các nguồn tài nguyên; bao gồm nhiều hoạt động đi từ truyền thông cộng đồng trên mạng xã hội, vận động các nhà hàng khách sạn cùng tham gia khuyến khích thực khách cùng thay đổi hành vi, kêu gọi các nghệ sĩ nổi tiếng trở thành các đại sứ thiện chí, áp dụng các
mô hình hạn chế lãng phí thức ăn hiệu quả, cung cấp các bữa ăn cho trẻ em đói nghèo và từ đó hỗ trợ cho nhà nước có những chính sách thiết thực hạn chế vấn nạn lãng phí này chương trình sẽ khởi động bằng một chiến dịch trên mạng xã hội mang tên “ĂN HẾT RỒI” diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2015 với sự tham gia hai đại sứ là ca sĩ Hà Okio và Thảo Trang Chiến dịch khuyến khích cộng đồng
ăn hết phần ăn của mình, sau mỗi thực khách đăng tải hình ảnh lên mạng xã hội Chiến dịch kỳ vọng sẽ tạo nên một làn sóng lan tỏa trên mạng xã hội cùng hình ảnh tích cực của các nhà hàng gắn với các hoạt động vì cộng đồng, thân thiện với môi trường Với sự hỗ trợ của các đại sứ thiện chí, dự án dự kiến kết hợp với 30 nhà hàng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh để xây dựng quỹ “2000 bữa ăn cho trẻ em nghèo” tại các mái ấm, các tổ chức từ thiện hoặc bệnh viên tại địa bàn thành phố Đồng thời tạo ra một trào lưu thay đổi hành vi lãng phí thức ăn
Trang 3423
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Chất thải thực phẩm trong các hộ gia đình
- Phạm vi không gian: Thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian: 6 tháng (Từ 01/2022 đến 6/2022)
Xác định thành phần và ước tính khối lượng phát sinh CTTP ở hộ gia đình thị trấn Chờ;
Tìm hiểu, thu thập thông tin và phân tích về các nhân tố như: Độ tuổi, nghề nghiệp, số nhân khẩu, thu nhập dẫn tới tình trạng phát sinh và lãng phí thực phẩm thừa từ hộ gia đình trên địa bàn thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh;
Tìm hiểu hiện trạng quản lý CTTP;
Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu phát sinh, tái sử dụng chất thải thực phẩm trên địa bàn thị trấn Chờ
Đề tài tiến hành thu thập các thông tin, dữ liệu, số liệu từ các nguồn đáng tin
cậy như các công trình nghiên cứu, các báo cáo, bài báo khoa học và các số liệu
thống kê sẵn có liên quan tới đề tài, bao gồm:
o Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thị trấn;
o Số liệu thống kê về lượng rác thải phát sinh trên địa bàn thị trấn;
o Công tác quản lý rác thải và các văn bản pháp luật có liên quan đến CTTP
Đề tài tiến hành xây dựng phiếu điều tra để phỏng vấn các hộ gia đình nhằm thu thập thông tin về thói quen sử dụng thực phẩm và các yếu tố tác động đến việc phát sinh chất thải thực phẩm trên địa bàn thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Trang 3524
Nội dung của phiếu điều tra gồm các thông tin nhằm tìm hiểu các đặc điểm của các hộ liên quan tới mức sống, thu nhập, ngành nghề lao động chính, số nhân khẩu, độ tuổi, số lượng nhân khẩu, cách thức xử lý CTTP, nhận thức và công tác thu gom rác,… làm cơ sở để phân tích sự khác biệt về lượng phát sinh CTTP giữa các
hộ
Đề tà tiến hành phỏng vấn tại 5 thôn thuộc thị trấn Chờ: Nghiêm Xá, Trác Bút, Ngân Cầu, Phú Mẫn, Trung Bạn
Hiện nay, trên địa bàn thị trấn Chờ có tổng số hộ gia đình là 4501 hộ chia làm
5 thôn Đề tài xác định dung lượng mẫu điều tra dựa trên việc áp dụng theo công
thức Yamanne (1978):
n = N/(1+Ne2)
Trong đó: n: Dung lượng mẫu
N: Tổng số mẫu
e: Sai số mong muốn với mức ý nghĩa
Em lựa chọn mức sai số cho phép là 10% với độ tin cậy là 90%, nên em có dung lượng mẫu điều tra là:
n = 4501/(1+4501*0,12)
= 97,8 (hộ gia đình)
Như vậy, đề tài tiến hành phỏng vấn 98 hộ gia đình, trong đó 20 phiếu thôn Trung Bạn, 20 phiếu thôn Ngân Cầu, 20 phiếu thôn Trác Bút, 20 phiếu thôn Nghiêm Xá, 18 phiếu thôn Phú Mẫn trên địa bàn thị trấn Chờ, huyện Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh
2.4.3 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần chất thải thực phẩm phát sinh
Để nắm được khối lượng và thành phần CTTP phát sinh, sau khi phỏng vấn 98
hộ, em rà soát và tìm ra 30 hộ gia đình đại diện 30 hộ này chia đều cho 6 hộ/thôn của thị trấn Chờ và giữa các hộ có sự đa dạng về các yếu tố như độ tuổi trung bình của hộ, ngành nghề, số nhân khẩu, tần suất đi chợ,… Em tiến hành đặt túi tại 30 hộ này, sau đó thu rác vào mỗi buổi sáng hoặc tối hôm sau (tuỳ vào thời điểm đặt túi, sao cho để túi được 24 giờ) Em thực hiện cân CTTP thu được từ các hộ gia đình
Trang 3625
nhằm xác định khối lượng và thành phần từng loại CTTP của các hộ Thời gian cân CTTP trong vòng 1 tuần (thôn Trung Bạn từ ngày 22/04/2022 – 28/04/2022, thôn Phú Mẫn và Ngân Cầu từ 20/04/2022 – 26/04/2022, thôn Nghiêm Xá và Trác Bút từ 19/04/2022 – 25/04/2022)
Dụng cụ: Cân treo mini loại 5kg, túi nilon và găng tay để cân
Song song với việc đặt túi rác ở 30 hộ thì em cũng tiến hành ghi chép nhật ký vào mỗi buổi sáng của từng hộ để biết được lượng thức ăn đã mua và bỏ đi trong ngày, giá cả của các loại thức ăn thừa bị thải bỏ cũng như nguyên nhân dẫn tới việc thải bỏ, các biện pháp mà hộ gia đình đã áp dụng để xử lý các loại chất thải đó Thời gian ghi nhật ký cũng giống với thời gian cân ở mỗi thôn Việc ghi chép được thực hiện theo mẫu nhật ký được thiết kế sẵn (phụ lục)
Cùng với việc ghi chép nhật ký, em cũng kết hợp quan sát, xác định nhanh, trực tiếp vấn đề liên quan đến nguồn phát sinh và các biện pháp xử lý chất thải ở các
hộ gia đình để có cái nhìn khách quan và chính xác liên quan đến vấn đề quản lý và
xử lý chất thải thực phẩm
Có nhiều phương pháp, tiêu chí để phân loại chất thải thực phẩm, tùy thuộc vào từng mục đích phân loại khác nhau mà sử dụng những cách phân loại khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, em sử dụng hệ thống phân loại trong “Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam năm 2007” của Bộ Y tế Viện dinh dưỡng để chia ra thành 17 loại thức ăn để có thể nắm rõ nhóm CTTP nào đang phát sinh nhiều nhất
Trang 3726
Bảng 2.1: Phân loại thức ăn theo thành phần thực phẩm
Loại 1 Cơm
Loại 2 Sản phẩm chế biến từ tinh bột (bánh mì, bún, phở, đậu…)
Loại 3 Khoai các loại (khoai lang, khoai tây, khoai sọ…)
Loại 4 Các loại hạt (đậu xanh, đậu cô ve, lạc, dừa…)
Loại 5 Rau ăn lá (rau cải các loại, muống, hành, rau diếp…)
Loại 6 Rau ăn quả (bầu bí, cà các loại, trám, dưa chuột, mướp )
Loại 7 Nấm các loại
Loại 8 Rau ăn củ (su hào, cà rốt…)
Loại 9 Rau ăn mầm (măng, giá đỗ )
Loại 10 Hoa quả (táo, cam, quýt, dưa hấu, vải, nhãn…)
Loại 11 Thịt gia súc (lợn, trâu, bò và các sản phẩm từ thịt )
Trang 38Thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có diện tích 838,51 ha, dân
số theo số liệu thống kê mới nhất năm 2022 là 19.215 người với 4.501 hộ gia đình, mật độ dân số đạt 2.291 người/km²
- Phía đông giáp các xã Đông Tiến và Trung Nghĩa
- Phía tây giáp các xã Yên Phụ và Hòa Tiến
- Phía nam giáp các xã Văn Môn và Đông Thọ
- Phía bắc giáp xã Tam Giang
Thị trấn Chờ là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của huyện Yên Phong,
có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đi qua, thuận lợi cho việc giao thương phát triển kinh tế
Hình 3.1: Vị trí địa lý của thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh
Nguồn: Google map
Trang 3928
Đặc điểm địa hình, địa mạo
Thị trấn Chờ được bao bọc bởi 03 con sông Sông Cầu phía Bắc; Sông Cà Lồ phía Tây; Sông Ngũ Huyện Khê bao phía Nam Thị trấn có địa hình tương đối bằng phẳng, dốc từ tây bắc xuống đông nam, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 07m
Điều kiện khí hậu
Thị trấn Chờ nằm trong vùng khí hậu Sông Hồng, có tính nhiệt đới, chia hai mùa nóng lạnh rõ rệt Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,4° Nhiệt độ trung bình mùa nóng là từ 24° - 29° Nhiệt độ trung bình mùa lạnh từ 16° - 21°
Thủy văn
Thị trấn Chờ có con sông Cầu trải dài gần 5km cùng với hệ thống kênh mương, thủy lợi nội đồng tương đối tốt để cung cấp nước phục vụ đất sản xuất và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, cũng như tiêu nước chống úng kịp thời khi có hiện tượng mưa nhiều gây nên ngập úng cục bộ
Các tài nguyên
• Tài nguy ên đất
Đất đai được hình thành do quá trình bồi tụ của sông cầu Theo bản đồ đất huyện Yên Phong xây dựng đất đai thị trấn Chờ chủ yếu là:
- Đất phù sa bồi tụ quanh năm: Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có độ pH=4,5 - 5,5; kali 8 - 10%; lân 0,03 - 0,04%
- Đất phù sa không được bồi tụ: Đất có địa hình cao, thành phần cơ giới đất thịt nhẹ, độ pH=4 - 4,5; thành phần cacbon 1,5 – 2%, đất nghèo nàn
- Đất phù sa úng nước: Đất địa hình trũng, thành phần cơ giới đất thịt nặng đến sét, hàm lượng mùn khá, cacbon tổng số 2 – 3,5%, độ pH= 3,5 – 4
• Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Thị trấn Chờ có nguồn nước mặt khá phong phú, lượng mưa đổ vào các kênh mương, ao, hồ tạo thành nguồn nước mặt chủ yếu phục
vụ sản xuất và nhu cầu nhân dân trong thị trấn
Trang 4029
- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa được khảo sát tính toán cụ thể song qua thực tế
sử dụng giếng đào của nhân dân trên địa bàn thị trấn cho thấy nguồn nước ngầm của thị trấn tương đối dồi dào và chất lượng tốt
Năm 2022, kinh tế của thị trấn Chờ có mức tăng trưởng cao, thu nhập bình quân đầu người đạt 60 triệu đồng/người/năm; Tính riêng khu vực đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh đứng thứ 2 (chỉ sau thủ đô Hà Nội) và đạt trung bình 6 triệu đồng/người/tháng Tốc độ đô thị hóa nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất các ngành thương mại - dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế thị trấn Chờ 6 tháng đầu năm 2022
Nguồn: UBND thị trấn Chờ, 2022
Như vậy, kinh tế tại thị trấn đang có những bước chuyển mình đáng kể, tạo
ra nhiều việc làm và nguồn thu nhập cho người dân Từ đó mà cuộc sống của người dân tại thị trấn ngày càng được cải thiện và nâng cao hơn, đó cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lượng RTSH nói chung và CTTP nói riêng tại thị trấn
Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2022, dân số thị trấn Chờ 19.215 nhân khẩu Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên năm 2022 là 1,08%, tương đương so với cùng